1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

466 Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Ngân hàng thương Mại ở Việt Nam

47 783 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Người hướng dẫn Cô Giáo Nguyễn Thị Hồng Thúy
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 270,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

466 Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Ngân hàng thương Mại ở Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đối mới mộtcách căn bản về mô hình tổ chức, cơ chế điều hành và nghiệp vụ … Có thể nóihoạt động của hệ thống ngân hàng đã có những đóng góp đáng kể trong sựnghiệp đổi mới và phát triển kinh tế đất nước Bên cạnh những kết quả đạt được,

hệ thống ngân hàng Việt Nam bộc lộ những yếu kém trong điều hành và hoạtđộng nghiệp vụ, đặc biệt là việc quản lý hoạt động của các ngân hàng Thươngmại với các loại hình sở hữu khác nhau Những yếu kém đó là khó tránh khỏikhi các lý thuyết cũng như kinh nghiệm về quản lý các ngân hàng thương mạitrong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta chưa được nghiêncứu đầy đủ

Hoạt động kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh có rất nhiều rủi ro, dễ

bị tổn thương khi có gian lận và sai sót, việc bảo đảm an toàn trong hoạt độngkinh doanh của ngân hàng thương mại không những được các nhà kinh doanhngân hàng quan tâm mà còn là mối quan tâm của người gửi tiền, của các cơquan quản lý Nhà nước, của toàn xã hội về sự phá sản của một ngân hàng có thểgây nên đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống tài chính – ngân hàng, ảnh hưởng rấtlớn đối với toàn bộ nền kinh tế Để ngăn ngừa những tổn thất và các rủi ro có thểxảy ra trong quá trình hoạt đông kinh doanh ngân hàng, ngoài các biện phápthanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước, trước hết đòi hỏingân hàng thương mại phải có những biện pháp hữu hiệu Mà biện pháp quantrọng nhất là ngân hàng thương mại phải thiết lập được hệ thống kiểm soát nội

bộ một cách đầy đủ và có hiệu quả Ý thức được tầm quan trọng của việc thiếtlập hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam tôi

đã quyết định lựa chọn đề tài: “ Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam” để mong tìm hiểu thêm về hệ thống ngân

hàng thương mại ở Việt Nam

Trang 2

Theo đó, đề án được xây dựng ngoài phần mở đầu và kết luận còn gồm 3chương:

Trang 3

- Chương I: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ.

- Chương II: Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

- Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung và của bộ phận kiểm toán nội bộ nói riêng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Để hoàn thành đề án này em đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tìnhcủa Cô giáo Nguyễn Thị Hồng Thuý Mặt khác do kiến thức còn hạn chế, bàiviết không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự đóng góp ý kiếncủa các thầy cô giáo, các bạn và những người quan tâm để hoàn thiện đề án này

Trang 4

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ

I HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ VAI TRÒ CỦA KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG KIỂM TRA KIỂM SOÁT.

1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ.

và mục đích quan trọng đối với doanh nghiệp Những chế độ và thể thức nàyđược gọi là các quá trình kiểm soát, và kết hợp lại hình thành nên cơ cấu kiểmsoát nội bộ của doanh nghiệp

Như vậy hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ các chính sách, các thủ tụckiểm soát do đơn vị thiết lập và duy trì nhằm điều hành toàn bộ các hoạt độngcủa đơn vị đảm bảo các mục tiêu sau:

- Bảo vệ tài sản và sổ sách kế toán

- Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin

- Bảo đảm duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp lý, cacchính sách có liên quan đến hoạt động của đơn vị

Trang 5

- Bảo đảm hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý.

1.1.2 Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ.

Đối với công tác kiểm toán, Cơ quan Kiểm toán Nhà nước đã ban hành

hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước Theo chuẩn mực thực hành thứ 5 “khixác định phạm vi, thời gian, nội dung phương pháp kiểm toán, kiểm toán viên(KTV) phải nghiên cứu đẩy đủ về hệ thống KSNB của đơn vị được kiểm toán”.Thực hiện chuẩn mực này giúp KTV đánh giá độ tin cậy của hệ thống KSNBphục vụ cho việc xây dựng kế hoạch và thu thập bằng chứng kiểm toán thíchhợp Trong thực tế, hoạt động của hệ thống KSNB có mặt ở hầu hết các yếu tốquan trọng liên quan đến quá trình kiểm toán Nếu kết quả đánh giá hệ thốngKSNB hoạt động tốt và có độ tin cậy cao thì có thể thu hẹp phạm vi, nội dung,khối lượng công việc kiểm toán và tiết kiệm chi phí kiểm toán Mặt khác đánhgiá không đúng về tình hình, độ tin cậy của hệ thống KSNB thì KTV có thể sẽ

bỏ sót những nội dung trọng yếu và không tránh khỏi rủi ro kiểm toán Do vậy,việc KTV có sự hiều biết và biết cách đánh giá hệ thống KSNB có ý nghĩa rấtquan trọng trong quá trình kiểm toán

1.2.Các nội dung của hệ thống kiểm soát nội bộ.

Cách tiếp cận chung để nghiên cứu KSNB là đạt được sự hiều biết về hệ thốngKSNB gồm 4 nội dung:(1)Môi trường kiểm soát (2)Hệ thống kế toán (3)Hoạt độngkiểm soát (4)Giám sát độc lập hoạt động kiểm soát

Môi trường kiểm soát (MTKS): Là thái độ, khả năng, sự nhận biết và các hoạt

động của người quản lý, các chính sách, thủ tục kiểm soát, tính trung thực và giátrị đạo đức, cơ cấu tổ chức, sự phân công trách nhiệm, phân chia quyền lực,chính sách về nhân sự MTKS là thành phần quan trọng nhất trong bốn thànhphần của hệ thống KSNB, nếu thiếu MTKS hữu hiệu thì chắc chắn hệ thốngKSNB sẽ không có hiệu quả, kể cả khi ba thành phần khác của hệ thống KSNB

có chất lượng tốt Hiệu quả của hệ thống KSNB luôn phụ thuộc vào quan điểmcủa người quản lý cao cấp Nếu người quản lý cao nhất coi trọng công việc kiểmtoán thì các nhân viên trong đơn vị sẽ tuân thủ nghiêm túc và thận trọng quy chế

Trang 6

quản lý của đơn vị đã được xây dựng và ngược lại Do vậy kết quả đánh gía vềMTKS nói chung và quan điểm của người lãnh đạo nói riêng có ảnh hưởng lớnđến dánh gía toàn bộ hệ thống KSNB KTV phải nhận biết được từng nội dung,yếu tố của MTKS được thiết lập và thực hiện theo các phương pháp sau:

Cập nhật và đánh giá đúng mức tài liệu ( báo cáo khảo sát, báo cáo kiểm toán )

và kinh nghiệm của các KTV đã thực hiện kiểm toán trước đó Bởi vì hệ thống

và công việc kiểm soát thường không thay đổi liên tục, thông tin này có thểđược cập nhật và được áp dụng phù hợp cho công việc kiểm toán những nămtiếp theo

Tiến hành trao đổi, phỏng vấn người quản lý cấp cao và các nhân viên quản lýcủa đơn vị được kiểm toán về các nội dung của KSNB Nội dung trao đổi cầnđược chuẩn bị chu đáo, có thể dưới dạng các nội dung hoặc bằng câu hỏi trả lời

“có”, “không”, “hoặc không sử dụng” Cần đặc biệt chú ý đến các nội dung:

- Đối với thái độ của người quản lý: Thể hiện bởi quá trình đào tạo và việcnắm bắt các nội dung kiểm soát nếu những người quản lý cao cấp được đào tạochính quy, đúng chuyên ngành, kết quả phỏng vấn cho thấy họ hiều biết côngviệc kiểm soát cùng với hệ thống chính sách thủ tục kiểm soát được ban hànhđầy đủ, đó là biểu hiện của người quản lý có năng lưc, quan tâm và coi trọngcông tác kiểm soát thì hệ thống KSNB hoạt động có hiệu quả

- Tính trung thực và giá trị đạo đức: Thông qua việc đối chiếu kết quả traođổi với người quản lý cấp cao và kết quả trao đổi với các nhân viên kết hợpnhưngx xem xét, quan sát khác để đánh giá tính trung thực và đạo đức của ngườilãnh đạo đơn vi Đây là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hành vi ứng xử,tính trung thực của nhân viên trong công việc và độ tin cậy của các thông tin thuthập được cũng như độ tin cậy của hệ thống KSNB và báo cáo tài chính

- Chính sách về nhân sự: Một chính sách đối đãi, thăng chức và đào tạotốt sẽ đảm bảo cho các hoạt động kiểm soát được thực hiện nghiêm túc và cóhiệu lực

Trang 7

- Thu thập, nghiên cứu các tài liệu, ghi chép có liên quan đến MTKS :gồm các chính sách, quy chế, thủ tục về KSNB được thiết lập: như quy định vềquy trình, thủ tục, quan hệ giữa các bộ phận trong quản lý thu chi, sử dụng vàbảo quản tài sản Một hệ thống các chính sách, quy chế, thủ tục về KSNB đầy

đủ là biều hiện của một MTKS có hiệu lực

Quan sát: KTV có thể lựa chon một số công việc kiểm soát xuyên suốtmọi hoạt động của đơn vụ để quan sát thực tế, ví dụ: nghiệp vụ mua vật tư, từkhi lập kế hoạch, phê duyệt, thực hiện, thủ tục kiểm tra chất lượng hàng nhậpkho, bảo quản và xuất dùng

Tổng hợp dể quả của bốn phương pháp trên sẽ cho phép KTV sự hiều biếtđầy đủ về MTKS nội bộ của đơn vị được kiểm toán

Hệ thống kế toán: Thực hiện nghiêm túc công tác kế táon đó chính là một

trong những điều kiện phát huy được tác dụng tự kiẻm tra của kế toán Nghiêncứu hệ thống kế toán càn xem xét việc chấp hành quy định của Nhà nước ở cácnội dung: chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán, báo cáo kế toán vàquá trình kiểm tra kế toán Tương tự như phương pháp để nhận biết môi trườngkiểm soát Tuỳ điều kiện cụ thể KTV có thể sử dụng một số hoặc tất cả phươngpháp đã nêu ở trên để xem xết, xác định:(1)các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu của đơnvị; (2)các nghiệp vụ về kinh tế này được bắt đầu như thế nào;(3)hiện được ghi vàonhững sổ sách kế toán nào và bản chất của chúng là gì; (4)các nghiệp vụ kinh tếđược sử lý như thế nào từ khi bắt đầu cho đến khi hoàn thành; (5) quá trình lậpcác báo cáo của kế toán Thông thường việc nghiên cứu này được thực hiệnbằng cách theo dõi một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu xuyên suốt hoạt động củađơn vị Bằng chứng thu thập được từ việc tìm hiểu nghiên cứu tài liệu sẽ có độtin cậy cao

Hoạt động kiểm soát: Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ

tục để đảm bảo những hoạt động cần thiết sẽ được thiết lập và thực hiện nhằmđạt đựoc các kế hoạch, mục tiêu đã để ra Có ba loại hoạt động kiểm soát cơ bảnsau:(1)Sự cách ly thích hợp về trách nhiệm, (2)sự phân chia quyền lực đúng dắn

Trang 8

trong quản lý và hoạt động, (3)bảo quản tài sản tài liệu, sổ sách và giữ bí mật cácthông tin.

Sự cách ly thích hợp về trách nhiệm (trước đây ta thường gọi là bất năngkiêm nhiệm) là việc phân chia nhiệm vụ đảm bảo tách rời việc thực hiện nhữngcông việc mà nếu cùng một người làm dễ xảy ra những sai sót và gian lận vìmưu lợi cá nhân

+ Cách ly việc bảo quản tài sản với kế toán, như thủ quỹ phải tách rời kếtoán thanh toán

+ Cách ly quyền phê chuẩn các nghiệp vụ với việc bảo quản tài sản cóliên quan Ví dụ ké toán trưởng phải tách rời việc giữ kho hàng hoá

+ Cách ly trách nhiệm điều hành với trách nhiệm ghi sổ như: quá trình ghi

sổ tại các phân xưởng thường giao cho một bộ phận riêng biệt thuộc quyền kếtoán trưởng

- Sự phân chia quyền lực đúng đắn trong quản lý và hoạt động: Hoạt độngkiểm soát chỉ có nề nếp khi quyền phê chuẩn các nghiệp cụ kinh tế phải đượcquy định rõ ràng Ví dụ: việc bán hàng phải có bảng giá cố định được niêm yết,quy định giới hạn dư nợ của khách hàng

- Bảo quản tài sản, tài liệu sổ sách và giữ bí mật các thông tin

Bảo vệ và quản lý tài sản, tài liệu sổ sách sẽ giữ bí mật các thông tin lànhững nội dung quan trọng của công việc kiểm soát Một hệ thống kiểm soát tốtphải có các nội dung, biện pháp cụ thể để bảo vệ an toàn, quản lý khoa học tàisản và những ghi chép, như nơi cát trữ an toàn, quy chế về sử dụng

Giám sát độc lập hoạt động kiểm soát: Là sự xem xét lại cẩn thận và liên

tục hoặc theo giai đoạn ba nội dung trên của hệ thống KSNB Để hoạt động này

có hiệu quả đòi hỏi nó phải dộc lập với các hoạt động kiểm soát Nhu cầu giámsát này phát sinh do cơ cấu kiểm soát nội bộ có khuynh hướng thay đổi qua thờigian, nhân viên có khả năng quên hoặc vô ý không tuân theo các thủ tục kiểmsoát, hoặc trở nên cẩu thả và gian lận trừ khi có người giám sát đánh giá việcthực hiện của họ Việc giám sát độc lâp hoạt động đảm bảo công việc kiểm soát

Trang 9

đang dược tiến hành theo đúng quy định và có mục đích; có thể hạn chế được rủi

ro và thay đổi bổ sung kịp thời những khiếm khuyết của hệ thống KSNB thíchhợp với sự thay đổi họat động của đơn vị theo điều kiện cụ thể Đối với nhữngcông ty lớn hoạt động giám sát do phòng kiểm toán nội bộ thực hiện Việc nhậnbiết hoạt động kiểm soát và giám sát độc lập hoạt động kiểm soát có thể sử dụngcác phương pháp nhận biết MTKS đã trình bày ở trên

Khi đã có được sự hiểu biết về hệ thống KSNB của đơn vị từ các bằngchứng thu thập được.KTV tiến hành dánh giá những mặt mạnh, yếu kém, hiệuquả hoạt động và độ tin cậy của hệ thống KSNB Những yếu kém được nhận rachính là sự thiếu hụt hoạt động kiểm soát phù hợp mà có thể dẫn tới sai lệchthông tin có liên quan trọng báo cáo tài chính Có bốn bước tiếp cận có thể sửdụng để nhận thức được những yếu kém quan trọng.(1)KTV trước tiên cần phảibiết những hình thức kiểm soát nào đang tồn tại; (2) những hoạt động kiểm soátmấu chốt thiếu hụt; (3)hậu quả có thể đem lại do thiếu hoạt động kiểm soát quantrọng, mức độ quan trọng của yếu kém;(4) xem xét liệu có các biện pháp bổ sung

để bù lại sự yếu kém Khi nhận ra được yếu kém của kiểm soát có thể đánh giárủi ro kiểm tra ở các mức độ thấp, trung bình, hoặc cao cho từng nội dung kiểmtoán Từ đó có thể xác định trọng yếu kiểm toán, là nơi rủi ro kiểm soát đượcđánh gía là cao và các sai sót, gian lận có nhiều khả năng xảy ra

Việc nghiên cứu hệ thống KSNB thực hiện tuỳ thuộc vào quy mô của đơn

vị được kiểm toán Đối với những đơn vị nhỏ, việc thiêt lập một hệ thống KSNBđầy đủ là tốn kém và không hiệu quả Do vậy KTV chỉ nên nhận biết một số nộidung của hệ thống KSNB đủ để xác định báo cáo tài chính có thể kiểm toánđược hay không Việc thực hiện kiểm toán trên phải dựa cơ sở đánh giá đầy đủmức độ rủi ro kiểm soát Mặt khác, tuỳ vào nội dung và loại hình kiểm toán mànghiên cứu hệ thống KSNB ở một mức độ và phương pháp phù hợp Không nhấtthiết phải dùng cả bốn phương pháp cho mọi trường hợp Tuy nhiên, đánh giá hệthống KSNB phải được thực hiện cả trong giai đoạn khảo sát và tiến hành kiểmtoán

Trang 10

Nghiên cứu đầy đủ hệ thống KSNB của đơn vị được kỉêm toán để phục vụ choviệc xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp là vấn đề rất khó; song để có mộtbáo cáo khảo sát và kết quả kiểm toán đảm bảo chất lượng nhất thiết phải thựchiện tốt công việc này, qua đó mới có thể giúp đơn vị được kiểm toán hoàn thiệncông tác quản lý và nâng cao hiệu quả trong các hoạt động kinh tế.

1.3 Vị trí của kiểm toán nội bộ trong kiểm tra, kiểm soát nội bộ.

Hệ thống kiểm soát nội bộ trong một doanh nghiệp thường được xem gồm

4 yếu tố cấu thành nên đó là: Môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, thủ tụckiểm soát và giám sát độc lập hoạt động kiểm soát

Kiểm toán nội bộ là một nhân tố cơ bản trong MTKS Kiểm toán nội bô thựchiện việc kiểm tra, giám sát và đánh giá thường xuyên về hoạt động của đơn vịbao gồm cả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua việc kiểm tra hoạtđộng và kiểm toán tuân thủ Từ đó, bộ phận này sẽ giúp cho đơn vị có nhữngthông tin kịp thời, xác thực về hoạt động của đơn vị và chất lượng của các thủtục kiểm soát nhằm điều chỉnh, bổ sung các thủ tục thích hợp và có hiệu lựchơn

Bên cạnh vai trò của mình trong MTKS của đơn vị, kiểm toán nội bộ còn

có thể góp phần làm giảm chi phí kiểm toán thuê ngoài bằng cách trực tiếp cungcấp sự giúp đỡ cho các kiểm toán viên độc lập Nếu kiểm toán viên bên ngoài có

đủ bằng chứng, chứng minh cho tính khách quan, chính trực và năng lực củakiểm toán viên nội bộ thì kiểm toán viên bên ngoài dựa trên công việc của kiểmtoán viên nôị bộ theo nhiều cách

Như vậy, kiểm toán nội bộ là một phần trong hệ thống kiểm soát nội bộ.Hơn thế nữa, theo chức năng của mình kiểm toán nội bộ còn góp phần hoànthiện hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua việc thực hiện kiểm toán hoạt động vàkiểm toán tuân thủ, làm lành mạnh hoá và hiệu qủa hoá hệ thống kiểm soát nộibộ

Trang 11

II KIỂM TOÁN NỘI BỘ.

1.1 Bản chất của kiểm toán nội bộ:

Thuật ngữ “Kiểm toán” thực sự mới xuất hiện và được sử dụng ở Việt

Nam từ những năm đầu của thập kỷ 90 Trên thế giới thuật ngữ kiểm toán đã có

từ lâu, từ khi xuất hiện nhu cầu xác định tính trung thực, độ tin cậy của cácthông tin báo cáo tài chính, kế toán và thực trạng tài sản của một chủ thể trongquan hệ kinh tế

Kiểm toán gồm nhiều loại hình khác nhau Nếu căn cứ vào chủ thể kiểmtoán(một tiêu thức phân loại phổ biến)thì kiểm toán bao gồm: kiểm toán độc lập,kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ Các loại hình kiểm toán này khác nhau

về chức năng, tính chất, địa vị pháp lý, phạm vi và hoàn toàn không thể thay thếcho nhau Trong đó kiểm toán nội bộ là loại kiểm toán do các kiểm toán viên nội

bộ ở các nước có nền kinh tế thị trường cho thấy kiểm toán nội bộ là một nghềnghiệp mới mẻ Tuy lúc đầu kiểm toán nội bộ mang tính chất không chuyên,không tồn tại ở các doanh nghiệp hoặc được coi như một phần của kiểm toánđộc lập, nhưng về sau nó đã trở thành một nghề có tính chuyên nghiệp Kiểmtoán nội bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị tiến hành côngviệc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ đơn vị

Theo các chuẩn mực thực hành kiểm toán nội bộ do Viện kiểm toán nội

bộ Hoa Kỳ ban hành năm 1978, “kiểm toán nội bộ là một chức năng đánh giá độc lập được thiết kế trong một tổ chức để kiểm tra, đánh giá các hoạt động của

tổ chức như là một hoạt động phục vụ cho một tổ chức” Mục tiêu của kiểm toán

nội bộ là giúp đỡ các thành viên của tổ chức một cách có hiệu quả

Theo Liên đoàn kế toán Quôc tế (IFAC), kiểm toán nội bộ là “một hoạt động được đánh giá được lập ra trong một doanh nghiệp như là một loại dịch

vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp

và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”.

Khi một tổ chức đặt ra kế hoạch ở tât cả các vị trí và thực hiện các kếhoạch ở đó qua các nghiệp vụ, thì tổ chức đó phải làm một số việc để theo dõicác nghiệp vụ nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đã định Những việc làm

Trang 12

tiếp theo sau đó có thể hiểu là “kiểm soát” Chức năng kiểm toán nội bộ tự nó

cũng là một loại kiểm soát được sử dụng Tuy nhiên, cũng có nhiều loại kiểmsoát khác và vai trò đặc biệt của kiểm toán viên nội bộ vừa phải hiểu bản thânvai trò của mình là một kiểm soát, vừa phải hiều bản chất và phạm vi của nhữngloại kiểm soát khác

Tất cả những điều đó có nghĩa rằng, kiểm toán viên nội bộ- những ngườilàm tốt công việc của họ, đã trở thành chuyên gia trong lĩnh vực làm cho việcthiết kế và thực hiện các dạng kiểm soát trở nên tốt nhất có thể được Kỹ năngthành thạo này bao gồm sự hiểu biết mối tương quan giữa các dạng kiểm soát và

sự đan xen tốt nhất có thể, theo nhiều kiểu giữa chúng với nhau trong toàn bộ hệthống kiểm soát nội bộ Như vậy là qua cái cửa tổ chức và giúp đỡ tối đa cho tổchức Kiểm toán viên nội bộ không thể sánh ngang- chứ chưa nói là vượt- kỹnăng tinh thông nghiệp vụ kỹ thuật liên quan đến các hoạt động muôn vẻ của tổchức Nhưng kiểm toán viên nội bộ có thể giúp những người có trách nhiệm đạtkết quả tốt hơn bằng việc xác minh công việc kiểm soát hiện có và nêu ra căn cứcải tiến những công việc kiểm soát đó

1.2.Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu và quyền hạn của kiểm toán nội bộ.

1.2.1.Chức năng của kiểm toán nội bộ.

Kiểm toán nội bộ hình thành do nhu cầu quản lý nên chức năng của nócũng trải qua quá trình phát triển từ thấp tới cao cùng với khoa học quản lý kinh

tế, trình độ và kinh nghiệm quản lý của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Mặc dùtheo kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, chức năngcủa kiểm toán nội bộ hiện đại là đánh giá độc lập hệ thống kiểm soát nội bộ,nhưng chức năng truyền thống của kiểm toán nội bộ là xem xét, đánh giá độ tincậy, thống nhất của các thông tin tài chính, đánh giá việc sử dụng tiết kiệm, hữuhiệu vốn và tài sản của doanh nghiệp Chính vì thế, việc quy định chức năng,nhiệm vụ cho kiểm toán nội bộ cần phải xem xét phù hợp với điều kiện cụ thểcủa từng quốc gia, từng khu vực kinh tế, từng ngành và từng đơn vị cụ thể

Trang 13

1.2.2.Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ.

Về cơ bản nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ bao gồm các nhiệm vụ sau:

- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu, số liệu kế toán,việc chấp hành chế độ, thể lệ kế toán tài chính của nhà nước, kiểm tra việc tuânthủ các chính sách, các quy định, các kế hoạch và các thủ tục hiện hành

- Kiểm tra tính trung thực và độ tin cậy của thông tin trong đó chủ yếu làkiểm tra và xác định mức độ trung thực, hợp lý của các báo cáo quyết toán do kếtoán và các bộ phận khác trong doanh nghiệp lập ra Kiểm toán viên nội bộ phảikiểm tra tính trung thực và độ tin cậy của thông tin không chỉ của bản thân cácthông tin tài chính mà cả các hoạt động và phương tiện được sử dụng để xácminh, đo đạc, phân loại và báo cáo các thông tin đó Việc kiểm tra hệ thốngthông tin này là cơ sở để khẳng định các sổ sách trên báo cáo tài chính chứađựng các thông tin chính xác, kịp thời và hữu ích

- Kiểm tra việc tuân thủ các mục tiêu để ra đối với các chương trình haycác hoạt động nghiệp vụ Kiểm tra xác nhận giá trị vốn góp của doanh nghiệp vàcác đối tác tham gia liên doanh với doanh nghiệp Kiểm tra xác minh tính trungthực, hợp lý, đầy đủ của số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của đơn vị liêndoanh

- Kiểm tra các phương tiện bảo đảm an toàn cho tài sản Kiểm tra tínhhiệu quả và pháp lý của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đó có hệ thống kế toán.Giám sát sự hoạt động và tham gia hoàn thiện chúng

- Đánh gía việc thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động của các nguồnlực

- Thẩm tra các thủ tục kiểm soát để xác định tính thích hợp và ưu việt của

nó Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của quy chế kiểm soát nội bộ, đồngthời có kiến nghị hoàn thiện các quy chế này

- Các nhiệm vụ đặc biệt khác: ngoài các nhiệm vụ chính trên, kiểm toánnội bộ có thể được giao bất cứ nhiệm vụ gì mà có ích cho Ban giám đốc chẳnghạn như: điều tra về cá nhân, đại diện cho Ban giám đốc hoặc giám sát trong cácthoả thuận, tham gia vào các chương trình đào tạo đơn vị

Trang 14

Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên, kiểm toán nội bộ có tráchnhiệm hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ kế toán và các cán bộ nghiệp vụ khác cóliên quan, để xuất các quyết định quản lý, xử lý về tài chính kế toán và các nộidung xử lý khác.

1.2.3 Quyền hạn của kiểm toán nội bộ.

Do đặc trưng của kiểm toán nội bộ là thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu nêutrên, cho nên kiểm toán nội bộ có những quyền hạn riêng để đảm bảo mục đích

hoạt động Kiểm toán nội bộ có quyền:

- Kiểm toán nội bộ độc lập với các bộ phận khác trong doanh nghiệp, độclập về chuyên môn nghiệp vụ trong phạm vi khuôn khổ pháp luật và các chuẩnmực, phương pháp nghiệp vụ chuyên môn

- Có quyền yêu cầu các bộ phận và các cá nhân có liên quan cung cấp đầy

đủ, kịp thời các tài liệu về kế toán, tài chính và các tài liệu khác có liên quan tớinội dung được kiểm toán

- Có quyền đối chiếu xác minh các thông tin kinh tế có liên quan tới đốitượng được kiểm toán ở trong và ngoài doanh nghiệp

- Có quyền kiến nghị với chủ thể được kiểm toán có biện pháp sửa chữasai phạm và có quyền ghi kiến nghị của mình vào báo cáo kiểm toán

- Để xuất với lãnh đạo doanh nghiệp những kiến nghị và biện pháp vềquản lý

Đó là một số quyền hạn cơ bản của kiểm toán nội bộ, bên cạnh đó tuỳthuộc vào từng doanh nghiệp, từng điều kiện mà kiểm toán nội bộ có thể cóthêm các quyền khác

1.3 Nội dung phạm vi hoạt động và các loại hình kiểm toán nội bộ.

1.3.1.Đối tượng phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ.

Tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài đều phải tổ chức công tác kiểm toán nội bộ phù hợp với quy mô,

yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Trước mắt, quy định bắt buộc đối với các doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt đối với các Tổng công ty Tuy nhiên, Nhà

Trang 15

nước cũng khuyến khích, hướng dẫn thực hiện công tác kiểm toán nội bộ đốivới các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế.

1.3.2 Phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ.

“Miền xác định” hoạt động của kiểm toán nội bộ khá rộng lớn Thật vậy, để

đạt được mục tiêu chung nhất của hoạt động kiểm toán nội bộ, các kiểm toánviên phải tham gia vào các quá trình trong mọi hoạt động của đơn vị hay tổ chứckinh tế, kiểm toán viên nội bộ phải đảm bảo tất cả loại công việc mà không mộtloại hình kiểm toán đơn lẻ nào có thể đáp ứng được

Những chức năng của hoạt động kiểm toán sẽ đưa kiểm toán viên với tất cả cáclĩnh vực trong doanh nghiệp Các lĩnh vực cụ thể để đánh gía và kiểm toán trong

phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ là:bao gồm cả Kiểm toán hoạt động, kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, trong đó trọng tâm là kiểm toán

tuân thủ

1.3.3.Các loại hình kiểm toán nội bộ.

- Theo phân loại chung hiện nay, hoạt động kiểm toán có 3 loại hình:

Kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán tài chính.

- Dựa vào thời gian tiến hành cuộc kiểm toán, có các loại hình kiểm toán :

Kiểm toán trước quá trình hoạt động, kiểm toán trong quá trình hoạt động và kiểm toán sau quá trình hoạt động.

- Dựa vào công việc cụ thể của hoạt động kiểm toán, các loại hình kiểm

toán được chia thành: Kiểm toán bộ phận,kiểm toán chức năng, kiểm toán các hoạt động quản trị, kiểm toán điều hành, kiểm toán toàn diện.

- Dựa vào chu kỳ của kiểm toán, có thể có các loại hình kiểm toán sau:

Kiểm toán thường xuyên và kiểm toán định kỳ.

1.4 Tổ chức hệ thống kiểm toán nội bộ.

1.4.1.Nguyên tắc, nhiệm vụ của tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ.

Bộ máy kiểm toán bao gồm con người và các phương tiện chứa đựng cácyếu tố cấu thành của kiểm toán để thực hiện chức năng của kiểm toán

Trang 16

Tổ chức bộ máy kiểm toán chính là việc tạo ra các mối liên hệ giữa cácyếu tố cấu thành kiểm toán, giữa các phân hệ trong hệ thống kiểm toán và chínhgiữa bản thân của hệ thống kiểm toán với các yếu tố khác trong mội trường hoạtđộng của kiểm toán Chính từ việc tổ chức bộ máy kiểm toán mà các mối liên hệđược duy trì đảm bảo cho hệ thống thực hiện tốt chức năng xác minh và bày tỏ

ý kiến

* Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải đảm bảo:

- Tính khoa học: tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải phù hợp với

nguyên lý chung của lý thuyết kiểm toán.Tuỳ theo đặc điểm tổ chức của doanhnghiệp là tổ chức theo phương pháp chức năng hay trực tuyến tham mưu mà đưa

ra mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ cho phù hợp

- Tính nghệ thuật: tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải chú ý tới nhân

- Tuỳ theo cơ cấu của doanh nghiệp như thế nào mà tổ chức kiểm toán

nội bộ cho phù hợp sao cho đem lại hiệu quả cao nhất, tốn chi phí ít nhất

- Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ: tập trung dân chủ thích ứng với từng bộ phận kiểm toán

- Hệ thống bộ máy kiểm toán nội bộ bao gồm các mối liên hệ trong và

ngoài khác nhau và phải phù hợp với nguyên lý chung của lý thuyết tổ chức

và quy luật biện chứng về mối liên hệ.

* Để tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ thì cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Phải xác định kiểu mô hình tổ chức phù hợp với đặc điểm,cơ cấu tổ chứccủa doanh nghiệp

- Xác định kiểu liên hệ trong từng mô hình

Trang 17

- Xây dựng mối liên hệ giữa các yếu tố cơ bản cấu thành nên hệ thốngkiểm toán nội bộ với kiểm toán viên.

Đó là những nguyên tắc và nhiệm vụ cần phải tuân thủ khi tiến hành tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ.

1.4.2 Mô hình tổ chức:

Bộ máy kiểm toán nội bộ gồm: trưởng phòng kiểm toán nội bộ, phó trưỏngphòng kiểm toán nội bộ(nếu có), nhóm trưởng kiểm toán nội bộ và kiểm toánviên nội bộ Số lượng kiểm toán viên nội bộ phụ thuộc vào quy mô kinh doanh,địa bàn hoạt động, số lượng các đơn vị thành viên, tính chất phức tạp của côngviệc, yêu cầu quản lý kinh doanh và trình độ, năng lực nghề nghiệp của kiểmtoán viên

Ở các tập đoàn sản xuất ( Tổng công ty, liên hiệp các xí nghiệp ) phải tổchức phòng(ban) kiểm toán nội bộ có đủ lực lượng và năng lực để kiểm toántrong đơn vị và các đơn vị thành viên

Bộ phận kiểm toán nội bộ được tổ chức độc lập với các bộ phận quản lý

và điều hành kinh doanh trong doanh nghiệp ( kể cả phòng kế toán- tài chính);chịu sự chỉ đạo và lãnh đạo trực tiếp của (Tổng) Giám đốc doanh nghiệp

Theo yêu cầu của bộ phận kiểm toán nội bộ, ( Tổng) Giám đốc có thể cửchuyên gia thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác trong doanh nghiệp, hoặc thuêchuyên gia bên ngoài( nếu cần thiết) tham gia một số nội dung hoặc toàn bộ mộtcuộc kiểm toán

Đứng đầu phòng (ban) kiểm toán nội bộ là trưởng phòng( hoặc trưởngban) kiểm toán nội bộ doanh nghiệp

Ở doanh nghiệp Nhà nước, Trưởng phòng (hoặc trưởng ban) kiểm toánnội bộ do (Tổng) Giám đốc bằng văn bản của Tổng cục, Cục quản lý vốn và tàisản nhà nước tại doanh nghiệp (Bộ tài chính),

Trưởng phòng kiểm toán nội bộ là người ký, chịu trách nhiệm trước(Tổng) giám đốc và trước pháp luật về báo cáo kiểm toán nội bộ

Trưởng phòng kiểm toán nội bộ có nhiệm vụ và quyền hạn:

Trang 18

1 Chủ động xây dựng kế hoạch và lập chương trình kiểm toán hàng năm.

Tổ chức các cuộc kiểm toán trong nội bộ doanh nghiệp theo nhiệm vụ kếhoạch và chương trình kiểm toán đã được( Tổng ) Giám đốc phê duyệt

2 Quản lý, bố trí, phân công công việc cho kiểm toán viên và thực hiệncác biện pháp đào tạo và huấn luyện kiểm toán viên , đảm bảo không ngừngnâng cao trình độ và năng lực công tác của kiểm toán viên và bộ máy kiểm toánnội bộ

3 Đề xuất với ( Tổng) Giám đốc về việc để bạt, bổ nhiệm, khen thưởng,

kỷ luật đối với kiểm toán viên nội bộ

4 Để nghị trưng tập kiểm toán viên ở các đơn vị thành viên hoặc chuyênviên các bộ phận khác liên quan trong doanh nghiệp để thực hiện các cuộc kiểmtoán khi cần thiết

5 Kiến nghị các thay đổi về chính sách, đường lối nhằm nâng cao hiệuquả trong công tác quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh

6 Khi phát hiện có hiện tưọng vi phạm pháp luật hoặc những quyết địnhtrái với chủ trương, chính sách, chế độ phải có trách nhiệm báo cáo các cấp cóthẩm quyền đưa ra các giải pháp để giải quyết kịp thời

Mô hình: Kiểm toán nội bộ trực thuộc (Tổng ) Giám đốc của doanh nghiệp

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ (HĐQT)

Tổng giám đốc (Giám đốc)

Trang 19

Chú thích:

Quan hệ trực thuộc:

Quan hệ kiểm tra:

Luồng thông tin phản hồi:

Cách tổ chức theo mô hình này phù hợp với điều kiện thực tiễn của cácdoanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên để kiểm toán nội bộthực sự có hiệu quả thì người đứng đầu bộ phận kiểm toán nội bộ phải đượcquyền tự do báo cáo kết quả kiểm toán với Ban kiểm soát của Hội đồng quản trị(nếu doanh nghiệp có Hội đồng quản trị)

Như vậy, qua việc phân tích những chức năng, đặc điểm của kiểm toán nội

bộ thì việc hình thành kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp trong điều kiệnnền kinh tế thị trường phát triển đa chiều, cạnh tranh gay gắt là một điều cần thiết

để nâng cao tính hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp, chỉ ra các vấn đề,các hướng để hoàn thiện hệ thống chính sách, hệ thống kế toán trong doanhnghiệp, đồng thời tuỳ theo mỗi nhu cầu tự thân, mỗi điều kiện hoàn cảnh của cácdoanh nghiệp mà có cơ cấu tổ chức kiểm toán và kiến nghị chiến lược cho cácnhà quản trị trong quá trình lãnh đạo doanh nghiệp ở cả tầm vĩ mô và vi mô

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề kiểm toán nội bộ còn mới mẻ nên cần quantâm trước hết đến việc xây dựng đội ngũ kiểm toán viên nội bộ, đặc biệt trongquá trình cải tiến quản lý Nhà nước và Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước.Ngay ở các đơn vị quốc doanh cũng phải tách biệt chức năng kiểm toán ra khỏichức năng tổ chức kế toán, tài chính của kế toán trưởng

CHƯƠNG II XÂY DỰNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BÔ TRONG CÁC

NGÂN HÀNG THƯƠNG MAỊ Ở VIỆT NAM.

I TÌM HIỂU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

1.1 Khái quát chung.

Ngân hàng là một trong những ngân hàng tổ chức tài chính quan trọngnhất của nền kinh tế Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộtiêu dùng ( cá nhân, hộ gia đình) và vói hầu hết các cơ quan chính quyền điạ

Trang 20

phương ( thành phố, tỉnh ).Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địaphương, từ người bán rau quả cho tới người kinh doanh ô tô, ngân hàng là tổchức cung cấp tín dụng cơ bản phục vụ cho việc mua hàng hoá dự trữ hoặc mua

ô tô trưng bày Khi doanh nghiệp và người tiệu dùng phải thanh toán cho cáckhoản mua hàng hoá và dịch vụ họ thường dùng phải thanh toán cho các khoảnmua hàng hoá và dịch vụ họ thường sử dụng séc, thẻ tín dụng hay tài khoản điện

tử Và khi cần thông tin tài chính hay cần lập kế hoạch tài chính, họ thường tìmđến ngân hàng để nhận được lời tư vấn

Trên toàn thế giới, ngân hàng là loại hình tổ chức trung gian tài chínhcung cấp các khoản tín dụng trả góp cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất.Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên qua trọng nhất trênthị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành để tài trợcho các công trình công cộng, từ những hội trường, sân bóng đá cho đến sân bay

và đường cao tốc Ngân hàng cũng là một trọng tổ chức tài chính cung cấp vốnlưu động quan trọng nhất cho các doanh nghiệp và trong những năm gần đây,ngân hàng đã tăng cường mở rộng cho vay dài hạn đổi mới hay mua sắm máymóc thiết bị mới Với tất cả những lí do đó và hơn thế nữa, ngân hàng là mộttrong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất của xã hội

Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch

vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh

toán-và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tài chính kinhdoanh nào trong nền kinh tế

1.2.Vai trò và chức năng cơ bản của ngân hàng.

Sơ đồ : Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay

20

Chức năng uỷ thác Chức năng tín dụng

Chức năng thanh toán

Trang 21

*) Vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế.

Trong khi nhiều người tin rằng các ngân hàng chỉ đóng một vai trò rất nhỏtrong nền kinh tế – nhận tiền gửi và cho vay- thì trên thực tế hiện đã phải thựchiện nhiều vai trò mới để có thực hiện để duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứngnhu cầu của xã hội các ngân hàng ngày nay có những vai trò cơ bản sau:

Vai trò trung gian: chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình,các thành phần khác để đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác

Vai trò thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việcmua hàng hoá, dịch vụ ( như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạnglưới thanh toán điện tử , kết nối các quĩ và phân phối tiền giấy)

Vai trò người bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàngmất khả năng thanh toán ( chẳng hạn như phát hành thư tín dụng)

Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, pháthành hoặc chuộc lại chứng khoán( thường được thực hiện tại phòng uỷ thác)

Vai trò thực hiện chính sách: thực hiện chính sách kinh tế của chính phủ,góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội

2.1 Sự cần thiết của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại việt nam.

Ngân hàng thương mại và những trung gian tài chính, nói chung cũnggiống như những doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường: chúng đềuđược tổ chức ra để kinh doanh kiếm lợi cho mình và cho chủ nợ Để hoạt động

Trang 22

kinh doanh các ngân hàng thương mại phải có vốn và phải bảo toàn, phát triểnvốn của mình Trong tổng số nguồn vốn của các ngân hàng thương mại , nguồnvốn huy động chiếm một tỷ trọng lớn, xu hướng hoạt động luôn được mở rộngtheo nhiều hướng : huy động vốn tăng để mở rộng cho vay và đầu tư.

Khác với các doanh nghiệp bình thường, ngân hàng thương mại là mộtloại hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tíndụng thanh toán, liên quan đến toàn bộ nền kinh tế Tuy hoạt động ngân hànghiện nay, bao gồm nhiều loại nguồn vốn nhưng tựu trung lại đây là loại hìnhkinh doanh tiền tệ, tín dụng của một hệ thống trung gian, tài chính đặc biệt quantrọng trong nền kinh tế, dựa trên cơ sở thu hút tiền của khách hàng (dưới hìnhthức nhận tiền gửi, huy động bằng trái phiếu, kỳ phiếu, và đi vay ), với tráchnhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư và các nguồn vốn thanhtoán như vậy ngân hàng thương mại tiến hành các hoạt động nghiệp vụ củamình thông qua việc, sử dụng không chỉ bằng nguồn vốn tự có mà chủ yếu bằngnguồn vốn huy động vủa khách hàng Nếu ngân hàng thương mại không thu hộiđược số nợ vay mà họ đã cho vay ra, thì không những họ bị mất nguồn vốn tự cócủa bản thân, mà còn có nguy cơ không thể hoàn trả được số tiền đã huy độngcủa khách hàng Trong hoạt động ngân hàng thương mại tổn thất trong kinhdoanh là một tất yếu, khó tránh khỏi Việc đảm bảo an toàn vốn tiền gửi củakhách hàng và đảm bảo an toàn vốn đầu tư không những được các nhà kinhdoanh tiền tệ quan tâm đặc biệt mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội vì vậy,yêu cầu đầu tiên đặt ra nhằm đảm bảo hoạt động bình thường là ngân hàngthương mại phải thường xuyên thu hồi được số vốn đã cho vay, để duy trì khảnăng hoàn trả số tiề đã huy động của khách hàng và bảo toàn nguồn vốn tự cócủa bản thân sự an toàn vững chắc trong kinh doanh của ngân hàng thương mại

có thể được hiểu là sự đảm bảo an toàn về mặt quyền lợi của người gửi tiền cũngnhư đối với chính bản thân ngân hàng

Nước ta đang trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường, trongđiều kiện nhiều vấn đề chưa được giải quyết đồng bộ, như các yếu tố về luật

Trang 23

pháp, luật định, quy chế do đó việc điều hành quản trị hoạt động ngân hàng ítnhiều bị ảnh hưởng Thực tế xảy ra nhiều ngân hàng có những biểu hiện khôngđồng bộ không thống nhất, các vụ việc vi phạm quy chế, nghiệp vụ vẫn lặp đilặp lại, chưa được giải quyết triệt để Muốn uốn nắn và phát hiện sai sót kịp thờinhằm nâng cao chất lượng kinh doanh ngân hàng, ngoài các biện pháp thanh tra,kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước trước hết đòi hỏi ngânhàng thương mại phải có những biện pháp hữu hiệu, mà biện pháp quan trọngnhất là ngân hàng thương mại phải thiết lập được hệ thống kiểm toán nội bộ.Nhưng việc hình thành một tổ chức kiểm toán nội bộ trong ngân hàng sẽ đượccác lợi ích mang lại từ kiểm toán đây là một trong những lí do làm cho các ngânhàng , nhất là các ngân hàng có quy mô hoạt động nhỏ chưa có tổ chức bộ phậnkiểm toán các ngân hàng này thường kết hợp giữa bộ phận kế toán và bộ phậnkiểm toán điều này trái với nguyên tắc “ bất kiêm nhiệm” và không đúng vớitính chất nội dung của kiểm toán nội bộ

Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng hiện nay đã có bộ phận kiểm toán nội bộnhưng hoạt động còn yếu kém lỏng lẻo chỉ mang tính chất hình thức, nên tácdụng giám định và kiểm tra yếu kém Một phần do bản thân kiểm toán viên chưađược đào tạo đầy đủ về chuyên môn kiểm toán, thiếu kinh nghiệm trong kiểmtoán, mặt khác kiểm toán viên cũng chưa đựơc giao đầy đủ “quyền hạn , tráchnhiệm” Vì vâỵ công tác kiểm toán đôi khi mất tính khách quan Chỉ kiểm toán

và đưa ra những kết luận tốt những mặt ưu điểm còn sai sót thì bỏ qua Vì thế cómột số ngân hàng hoàn thành kế hoạch báo cáo các kết quả đều tốt nhưng khi cóđoàn thanh tra đến làm việc thì mọi khuyết điểm , yếu kém thực sự sẽ được đưa

ra Do vậy, điều thiết yếu ở đây là phải thiết lập được hệ thống kiểm toán nội bộmột cách đầy đủ và có hiệu quả

Qua thực trạng công tác kiểm toán nội bộ tại các ngân hàng thương mạiViệt Nam, rõ ràng còn nhiều hạn chế tồn tại và khó khăn vì thế việc hình thành

và hoàn thiện công tác này là một điều rất cần thiết không những cho riêng bảnthân các ngân hàng mà còn cho toàn bộ nền kinh tế

Ngày đăng: 25/03/2013, 17:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sách Kiểm toán tài chính: Chủ biên GS -TS Nguyễn Quang Quynh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Kiểm toán tài chính
Tác giả: GS -TS Nguyễn Quang Quynh
3. Quản trị ngân hàng thương mại: Peter S.Rose Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: Peter S.Rose
4. Sách tài liệu về Kiểm toán nội bộ:PGS, PTS Đặng Văn Thanh, Vụ trưởng vụ CĐKT-BTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách tài liệu về Kiểm toán nội bộ
Tác giả: PGS, PTS Đặng Văn Thanh
Nhà XB: Vụ trưởng vụ CĐKT-BTC
6. Chuyên đề kiểm toán:1,2/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề kiểm toán
Năm: 2000
7. Tạp chí Kiểm toán số: 2,3/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kiểm toán
Năm: 1998
8. Tạp chí ngân hàng số:1,2,7,9/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí ngân hàng
Năm: 2003
9. Tạp chí ngân hàng số:1,2,3,6/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí ngân hàng
Năm: 2002
10.Tạp chí ngân hàng số:9,10/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí ngân hàng
Năm: 2001
12.Tạp chí ngân hàng số:5/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí ngân hàng
Năm: 1997
5. Tạp chí Kiểm toán số: 4/2000 Khác
11.Tạp chí ngân hàng số:4,10/1998 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ : Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay - 466 Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Ngân hàng thương Mại ở Việt Nam
h ững chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay (Trang 20)
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức hệ thống giám sát nội bộ hiện nay tại các ngân - 466 Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Ngân hàng thương Mại ở Việt Nam
Sơ đồ 1 Mô hình tổ chức hệ thống giám sát nội bộ hiện nay tại các ngân (Trang 28)
Sơ đồ 2:  Đề xuất mô hình tổ chức bộ máy giám sát nội bộ tại các ngân hàng thương mại nhà nước - 466 Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Ngân hàng thương Mại ở Việt Nam
Sơ đồ 2 Đề xuất mô hình tổ chức bộ máy giám sát nội bộ tại các ngân hàng thương mại nhà nước (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w