1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện

124 463 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểm toán Các Khoản Nợ Phải Trả Trong Kiểm Toán Báo Cáo Tài Chính Do Công Ty Kiểm Toán Và Định Giá Việt Nam Thực Hiện
Tác giả Đặng Thị Hương Giang
Người hướng dẫn ThS. Phan Trung Kiên
Trường học Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam
Chuyên ngành Kiểm toán
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trên thế giới, dịch vụ kiểm toán được coi là một trong những dịch vụ có tínhchuyên nghiệp cao và có ý nghĩa lớn trong việc tạo lập một môi trường kinh doanhminh bạch và hiệu quả Ở Việt Nam, mặc dù hoạt động kiểm toán độc lập mới chỉthực sự xuất hiện từ sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế nhưng do đòi hỏi khách quancủa nền kinh tế cũng như sự khuyến khích phát triển của nhà nước, ngành dịch vụkiểm toán đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam Cho tới nay, số lượng các công tykiểm toán đã tăng lên đáng kể, các dịch vụ cung cấp không ngừng được đa dạnghóa Tuy nhiên, kiểm toán tài chính vẫn được xem là một dịch vụ quan trọng hơn cả

vì các Báo cáo tài chính do các doanh nghiệp lập ra là đối tượng quan tâm của rấtnhiều người Trong các phần hành của kiểm toán Báo cáo tài chính thì kiểm toán nợphải trả là một nội dung quan trọng vì nó có liên quan trực tiếp tới khả năng thanhtoán và do đó cũng ảnh hưởng tới sự tồn tại của đơn vị Chính vì vậy, kiểm toánkhoản mục nợ phải trả được xem là một phần việc quan trọng đối với các công tykiểm toán

Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam là một trong những công ty có uy tínlớn trong ngành kiểm toán Qua thời gian thực tập tại công ty, em đã nắm bắt đượcrất nhiều kiến thức thực tiễn liên quan đến kiểm toán Báo cáo tài chính nói chung vàkiểm toán khoản mục nợ phải trả nói riêng Đây chính là cơ sở để em hoàn thành

luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán

Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện” Trong

phạm vi luận văn, em xin tập trung đi sâu vào nghiên cứu kiểm toán các khoản phảitrả nhà cung cấp và vay ngắn hạn, vay dài hạn

Nội dung của luận văn gồm 3 phần chính:

Phần 1: Cơ sở lí luận về kiểm toán khoản mục nợ phải trả trong kiểm toán Báocáo tài chính

Trang 2

Phần 2: Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán Báo cáo tài chính doCông ty Kiểm toán và định giá Việt Nam (VAE) thực hiện.

Phần 3: Một số nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán cáckhoản nợ phải trả do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo ThS PhanTrung Kiên cùng sự giúp đỡ của toàn thể các anh chị kiểm toán viên trong công ty

đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Hà Nội, tháng 6/2006

Trang 3

PHẦN 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI TRẢ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

I. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1 Khái niệm và mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính

1.1 Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính

Thuật ngữ “kiểm toán” mới chỉ thực sự xuất hiện và được sử dụng ở nước ta

từ hơn chục năm trở lại đây Trên thế giới, có rất nhiều quan niệm về kiểm toán vàcho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất Song nhìn chung có thể kháiquát quan niệm hiện đại về kiểm toán như sau: “Kiểm toán là hoạt động xác minh

và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phươngpháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểmtoán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý cóhiệu lực”

Kiểm toán có thể phân loại dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau: theo đối tượng

cụ thể, theo phương pháp áp dụng, theo quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểmtoán Nếu căn cứ theo đối tượng cụ thể thì kiểm toán bao gồm ba loại: kiểm toánbáo cáo tài chính, kiểm toán nghiệp vụ (hoạt động) và kiểm toán liên kết Trong đókiểm toán báo cáo tài chính được xem là loại hình kiểm toán lâu đời và có ý nghĩanhất ngay từ khi ra đời và phát triển “kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động xácminh và bày tỏ ý kiến về sự trình bày trung thực và hợp lý của các bảng khai tàichính do các kiểm toán viên chuyên nghiệp tiến hành theo luật định”

1.2 Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính

Trong cơ chế thị trường, có rất nhiều người quan tâm đến tình hình tài chính

và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: các cơ quan nhà nước cần có thông tin đểđiều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật hay chính sách kinh tế nói chungđối với mọi thành phần kinh tế, các nhà đầu tư cần có thông tin để có hướng đầu tưđúng dắn, các khách hàng và nhà cung cấp cũng cần hiểu rõ về tình hình hoạt độngcủa doanh nghiệp để có quyết định kinh doanh phù hợp Những thông tin quantrọng về doanh nghiệp lại được phản ánh khá đầy đủ trên Báo cáo tài chính: “báo

Trang 4

cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiệnhành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu củađơn vị” (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bảnchi phối kiểm toán báo cáo tài chính) Do đó các bảng khai tài chính mà bộ phậnquan trọng là các Báo cáo tài chính trở thành đối tượng quan tâm của nhiều người.Tuy nhiên, để những thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp thực sự hữuích thì những thông tin đó phải là những thông tin trung thực, hợp lý, phản ánhđược khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp Do đó kiểm toán tài chính rađời với ý nghĩa quan trọng là tạo niềm tin cho những người quan tâm Điều này lànhân tố quyết định chi phối mục tiêu hoạt động của loại hình kiểm toán này

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bảnchi phối kiểm toán báo cáo tài chính “mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính làgiúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáotài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc đượcchấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trêncác khía cạnh trọng yếu hay không?” Như vậy có thể thấy rằng mục tiêu của kiểmtoán tài chính là nhằm đảm bảo báo cáo tài chính được trình bày trung thực và hợp

lý xét trên các khía cạnh trọng yếu chứ không đảm bảo rằng tất cả các thông tin trênbáo cáo tài chính đều là những thông tin trung thực vì hoạt động kinh tế của doanhnghiệp rất đa dạng, các nghiệp vụ phát sinh nhiều, việc đảm bảo rằng tất cả cácthông tin trình bày trên báo cáo tài chính đều trung thực,hợp lý là điều rất khó khăn,tốn kém và cũng không cần thiết đối với những người sử dụng Báo cáo tài chính Ngoài mục tiêu trên, “mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp chođơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng caochất lượng thông tin tài chính của đơn vị” (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200).Những yếu điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như cách thức khắc phục đượckiểm toán viên trình bày trong thư quản lý

Tuy nhiên, người sử dụng báo cáo tài chính cũng cần hiểu rằng “ý kiến củakiểm toán viên làm tăng thêm sự tin cậy của báo cáo tài chính nhưng người sử dụngbáo cáo tài chính không thể cho rằng ý kiến của kiểm toán viên là sự đảm bảo vềkhả năng tồn tại của doanh nghiệp trong tương lai cũng như hiệu quả và hiệu lực

Trang 5

điều hành của bộ máy quản lý” (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, đoạn 12).Trên thực tế đã xảy ra khá nhiều vụ kiện các công ty kiểm toán do quan niệm sailầm này.

2 Phương pháp tiếp cận của kiểm toán báo cáo tài chính

Các cuộc kiểm toán được thực hiện bằng cách chia các báo cáo tài chính thànhtừng phần nhỏ hoặc từng yếu tố cấu thành Việc phân chia này giúp cho cuộc kiểmtoán được thực hiện dễ dàng hơn Có hai cách cơ bản để phân chia các Báo cáo tàichính thành các phần hành cơ bản: phân theo khoản mục hoặc phân theo chu trình

Phân theo khoản mục là cách phân chia máy móc từng khoản mục hoặc nhóm

các khoản mục theo thứ tự trong các Báo cáo tài chính vào một phần hành Cáchphân chia này đơn giản nhưng không hiệu quả do tách biệt những khoản mục ở vịtrí khác nhau nhưng lại có liên hệ chặt chẽ với nhau như: doanh thu và các khoảnphải thu khách hàng Tuy nhiên hiện nay, cách thức tiếp cận này vẫn được phần lớncác công ty kiểm toán ở Việt Nam áp dụng

Phân theo chu trình là cách chia các loại nghiệp vụ và các khoản mục có mối

liên hệ chặt chẽ với nhau vào cùng một phần hành Ví dụ như các nghiệp vụ về tiềnlương, các khoản trích theo lương đều nằm trong chu trình lao động và tiền lương.Cách phân chia này hiệu quả hơn do đã tính đến mối liên hệ vốn có của các nghiệp

vụ và khắc phục được nhược điểm của phương pháp tiếp cận các báo cáo tài chínhtheo khoản mục Theo cách phân chia này, kiểm toán báo cáo tài chính thường gồmcác phần hành cơ bản sau: + Kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền

+ Kiểm toán tiền mặt (tại két, tại ngân hàng hoặc tiền đang chuyển)

+ Kiểm toán chu trình mua hàng – thanh toán

+ Kiểm toán chu trình tiền và nhân viên

+ Kiểm toán chu trình hàng tồn kho

+ Kiểm toán chu trình huy động – hoàn trả vốn

Trang 6

II. QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI TRẢ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1 Khái quát chung về khoản mục nợ phải trả

1.1 Nội dung khoản mục nợ phải trả

Nợ phải trả là các nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp, phát sinh từ các giaodịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp sẽ phải thanh toán từ các nguồn lực củamình

Nợ phải trả là một chỉ tiêu quan trọng góp phần hình thành nên tài sản củadoanh nghiệp, thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào các nguồn lực bênngoài Trên thực tế, không có một doanh nghiệp nào chỉ sử dụng hoàn toàn nguồnvốn chủ sở hữu để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh vì hoạt động củadoanh nghiệp rất đa dạng, nguồn vốn chủ sở hữu có thể không đủ để đáp ứng yêucầu thanh toán của doanh nghiệp Hơn nữa việc kết hợp sử dụng một cách đúng đắngiữa nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn đi chiếm dụng là một cách thức hiệu quảgiúp doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh Tuy nhiên, nếu nợ phải trả không được quản lý chặt chẽ sẽ làmcho doanh nghiệp mất cân đối về tài chính và mất khả năng thanh toán, đe dọa đến

sự tồn tại của doanh nghiệp

Trong các khoản nợ phải trả thì nợ phải trả người bán và các khoản vay ngắnhạn, dài hạn được xem là nguồn tài trợ quan trọng cho tài sản của doanh nghiệp Do

đó trong phạm vi luận văn, ngoài các khoản nợ phải trả nói chung, em xin đi sâuvào nghiên cứu các khoản mục: nợ phải trả người bán và vay ngắn hạn, dài hạn

Nợ phải trả người bán là những món nợ chưa thanh toán về hàng hóa và dịch

vụ nhận được trong tiến trình kinh doanh bình thường Nợ phải trả người bán baogồm các món nợ của việc mua vào nguyên vật liệu, thiết bị, điện nước, sửa chữa vàrất nhiều sản phẩm, dịch vụ khác mà doanh nghiệp nhận được trước ngày kết thúcnăm

1.2 Phân loại các khoản nợ phải trả.

Theo cách phân chia để trình bày trên BCĐKT thì nợ phải trả được phân thành

nợ ngắn hạn và nợ dài hạn tùy theo thời hạn của chu kỳ kinh doanh bình thường củadoanh nghiệp, cụ thể như sau:

Trang 7

Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 thángthì nợ phải trả được thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toánnăm được xếp vào nợ ngắn hạn Nợ phải trả được thanh toán sau 12 tháng kể từngày kết thúc kỳ kế toán năm được xếp vào loại dài hạn.

Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường dài hơn 12 tháng thì

nợ phải trả được thanh toán trong vòng một chu kỳ kinh doanh bình thường đượcxếp vào loại ngắn hạn Nợ phải trả được thanh toán trong thời gian dài hơn một chu

kỳ kinh doanh bình thường được xếp vào loại dài hạn

Đối với doanh nghiệp do tính chất hoạt động không thể dựa vào chu kỳ kinhdoanh để phân biệt giữa ngắn hạn và dài hạn thì nợ phải trả được trình bày theo tínhthanh khoản giảm dần

Thông thường các doanh nghịêp sử dụng các khoản nợ ngắn hạn để tài trợ chotài sản lưu động, còn khoản nợ dài hạn được sử dụng để tài trợ cho tài sản cố định

và đầu tư dài hạn do các doanh nghiệp muốn đảm bảo khả năng thanh toán củamình ở mức an toàn

1.3 Kiểm soát nội bộ đối với các khoản nợ phải trả.

Kiểm soát nội bộ đối với các khoản nợ phải trả là các thủ tục kiểm soát do đơn

vị thiết lập nhằm ngăn chặn những gian lận và sai sót xảy ra đối với các khoản nợphải trả Các thủ tục kiểm soát này rất phong phú vì còn phụ thuộc vào nhu cầu củatừng đơn vị cũng như phong cách điều hành của nhà quản lý Ở đây, em xin tậptrung vào các thủ tục kiểm soát nội bộ quan trọng được áp dụng đối với các khoảnphải trả nhà cung cấp và các khoản vay

Kiểm soát nội bộ đối với các khoản phải trả nhà cung cấp: nợ phải trả người

bán gắn liền với quá trình mua hàng và thanh toán do đó các thủ tục kiểm soát nội

bộ đối với nợ phải trả người bán cũng gắn liền với chu trình mua hàng và thanhtoán Các thủ tục kiểm soát chủ yếu đó là:

+Các hóa đơn mua hàng được đánh số thứ tự để tránh việc ghi trùng cũng nhưghi thiếu các nghiệp vụ phát sinh

+Doanh nghiệp có thủ tục quy định việc ghi sổ càng sớm càng tốt sau khi nhậnđược hàng hóa và dịch vụ để các nghiệp vụ mua hàng được ghi sổ đúng lúc, tránhviệc ghi thiếu cũng như ghi nhầm sang kỳ sau

Trang 8

+Đối với những hóa đơn mua hàng đã thanh toán phải được kẹp với phiếu chi(nếu doanh nghiệp thanh toán bằng tiền mặt).

+Có sự tách biệt trách nhiệm giữa kế toán thanh toán và kế toán tiền mặt tránhviệc cá nhân lợi dụng để rút tiền của đơn vị

+Đối với các nhà cung cấp thường xuyên, doanh nghiệp phải mở sổ chi tiếttheo dõi cho từng đối tượng Các nhà cung cấp vãng lai có thể được theo dõi trêncùng một sổ chi tiết

+Vào cuối tháng, doanh nghiệp có thực hiện việc đối chiếu giữa sổ chi tiếtngười bán với báo cáo hàng tháng của nhà cung cấp đó và báo cáo của ngân hàng.Công việc này phải được thực hiện bởi một người độc lập

Kiểm soát nội bộ đối với các khoản vay:

Kiểm soát nội bộ đối với các khoản vay chủ yếu là thực hiện nguyên tắc ủyquyền và phê chuẩn từ lúc khoản vay được hình thành cho đến khi hoàn trả Đối vớicác khoản vay nhỏ hay có tính chất tạm thời, Ban Giám đốc có thể quyết định theochính sách của đơn vị Những khoản vay lớn hay dài hạn cần có sự chấp thuận củaHội đồng quản trị hoặc người được ủy quyền Người phụ trách về tài chính phảichuẩn bị một báo cáo về kế hoạch vay trong đó phải có giải trình về nhu cầu và hiệuquả của khoản vay

Các khoản vay phải được theo dõi trên sổ chi tiết mở cho từng chủ nợ và theotừng khoản vay Hàng tháng, số liệu này phải được đối chiếu với sổ cái và nhữngkhoản vay dài hạn phải định kỳ đối chiếu với chủ nợ

2 Vai trò và mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính

2.1 Vai trò kiểm toán khoản mục nợ phải trả

Nợ phải trả là một khoản mục quan trọng trên Báo cáo tài chính vì những sailệch về các khoản nợ phải trả có thể gây ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính

về các mặt: + Tình hình tài chính: Các tỷ suất quan trọng phản ánh khả năng thanhtoán và tình hình tài chính của doanh nghiệp đều có liên quan đến khoản mục nợphải trả:

Trang 9

 Nhóm tỷ suất phản ánh khả năng năng thanh toán:

-Tỷ suất thanh toán hiện hành (Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn/ Nợ ngắnhạn): tỷ suất này bằng 2 được xem là hợp lý, tỷ suất này càng lớn hơn 2 thì khảnăng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn tuy nhiên nếu tỷ suất nàyquá cao thì cũng không tốt vì doanh nghiệp nên đảm bảo sự phù hợp và cân bằnggiữa việc bị chiếm dụng vốn và đi chiếm dụng vốn

-Tỷ suất thanh toán nhanh (Vốn bằng tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạn + Cáckhoản phải thu/ Nợ ngắn hạn) (tỷ suất này bằng 1 là thỏa đáng, càng lớn hơn 1 thìkhả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp càng cao, ngược lại thì doanh nghiệpcàng khó khăn trong thanh toán công nợ ngắn hạn)

-Tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn (Tổng tài sản lưu động/ Tổng số nợ phảitrả): tỷ suất này không những có ý nghĩa đối với việc đánh giá khả năng thanh toán

mà còn có tác dụng xem xét khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp để có ýkiến nhận xét thích hợp trong Báo cáo Kiểm toán Tỷ suất này càng nhỏ hơn 1 thìnguy cơ phá sản của doanh nghiệp càng lớn

Ngoài ra nợ phải trả còn có liên quan đến một số tỷ suất phản ánh khả năngthanh toán khác như: tỷ suất khả năng thanh toán tức thời (Vốn bằng tiền + Đầu tưtài chính ngắn hạn/Nợ ngắn hạn)

 Nhóm tỷ suất về cấu trúc tài chính: tỷ suất nợ (Tổng số nợ phải trả/ Tổngnguồn vốn); tỷ suất tự tài trợ (1 - tỷ suất nợ): tỷ suất nợ càng nhỏ (có nghĩa là tỷsuất tự tài trợ càng lớn) thì khả năng độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp đốivới các chủ nợ càng lớn

Các tỷ suất tài chính trên có ảnh hưởng rất lớn đến đánh giá về tình hình tàichính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp nên những sai lệch về nợ phải trả sẽdẫn đến những sai lệch về tình hình tài chính cũng như khả năng thanh toán củadoanh nghiệp

+ Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: để phục vụ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh, doanh nghiệp cần phải mua hàng hóa dịch vụ từ các nhà cung cấp, phầnlớn hoạt động mua bán này không được thanh toán ngay, do bút toán ghi sổ kép nênnhững sai lệch về khoản nợ phải trả có thể sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các khoản mụckhác: nguyên vật liệu, chi phí quản lý doanh nghiệp, những sai lệch này sẽ làm ảnh

Trang 10

hưởng đến các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp: giá vốn hàngbán, lợi nhuận trước thuế

Với tầm quan trọng như trên, các kiểm toán viên cần phải rất thận trọng khixây dựng chương trình kiểm toán cho các khoản mục nợ phải trả

2.2 Mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải trả

Tính hợp lý chung: số dư các tài khoản nợ phải trả và các số dư chi tiết trong

sổ hạch toán chi tiết nợ phải trả đều hợp lý

Các mục tiêu đặc thù:

Tính có thật: các khoản nợ phải trả được phản ánh trên sổ sách kế toán là thực

sự xảy ra, không có khoản nào bị ghi khống

Tính đầy đủ: tất cả các khoản nợ phải trả đều được ghi sổ, không có khoản nào

bị bỏ sót

Sự đánh giá: các khoản nợ phải trả được đánh giá đúng đắn

Tính chính xác cơ học: các khoản nợ phải trả được tính toán và cộng dồn,chuyển sổ, sang trang chính xác

Phân loại và trình bày: các khoản nợ phải trả được phân loại và trình bày đúngtheo các quy định của chuẩn mực kế toán hiện hành

Quyền và nghĩa vụ: tất cả các khoản nợ phải trả đang được phản ánh đều lànghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp

3 Quy trình kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính.

Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểmtoán cũng như để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán có hiệu lực làm căn cứ chonhững ý kiến của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của các Báo cáo tàichính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn: lập

kế hoạch kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, và kết thúc kiểm toán Kiểmtoán các khoản nợ phải trả là một phần hành trong kiểm toán do đó quy trình kiểmtoán các khoản nợ phải trả cũng gắn liền với quy trình chung của cuộc kiểm toán

3.1 Lập kế hoạch kiểm toán

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 - Lập kế hoạch kiểm toán:

“Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán đế đảm bảo cuộc

Trang 11

kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả”, và “Kế hoạch kiểm toán phải đượclập cho mọi cuộc kiểm toán”.

Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán, có vaitrò quan trọng chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểmtoán Do đó các công ty phải xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp với đơn vị mình

và phù hợp với từng nhóm khách hàng cụ thể

Ý nghĩa của lập kế hoạch kiểm toán:

+ Kế hoạch kiểm toán được lập một cách đầy đủ sẽ giúp kiểm toán viên thuđược bằng chứng đầy đủ và có hiệu lực vì kế hoạch kiểm toán giúp cho các kiểmtoán viên phối hợp ăn ý với nhau trong công việc cũng như không thực hiện sót cáccông việc cần thiết Cuộc kiểm toán được thực hiện tốt sẽ giúp công ty giữ vữngđược uy tín nghề nghiệp và duy trì được khách hàng

+ Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên có thể kiểm soát và giữ chi phí ởmức phù hợp Các công ty kiểm toán cũng là một doanh nghiệp hoạt động vì mụctiêu lợi nhuận, lợi nhuận là yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển củacông ty Chi phí kiểm toán cao dẫn đến phí dịch vụ kiểm toán cao, do đó công tykhó có đủ sức cạnh tranh trên thị trường

+ Kế hoạch kiểm toán thích hợp giúp công ty kiểm toán hạn chế những bấtđồng với khách hàng Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập, kiểm toán thống nhấtvới khách hàng về nội dung công việc cần thực hiện, sự phối hợp, giúp đỡ củakhách hàng đối với các kiểm toán viên, trách nhiệm của mỗi bên

+ Ngoài ra, kế hoạch kiểm toán còn là căn cứ để kiểm soát và đánh giá chấtlượng công việc kiểm toán, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả cuộc kiểmtoán

Lập kế hoạch kiểm toán (bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạchkiểm toán chi tiết) gồm sáu bước công việc như sau:

Trang 12

Sơ đồ 1.1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán

3.1.1 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán

Quy trình kiểm toán được bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán thunhận một khách hàng Trong một lĩnh vực phải chịu nhiều cạnh tranh như kiểmtoán, việc có và giữ được một khách hàng tuy có thể khó khăn nhưng kiểm toánviên vẫn cần thận trọng khi tiếp nhận khách hàng bởi vì nếu cuộc kiểm toán khôngđược thực hiện tốt thì trách nhiệm pháp lý mà các công ty kiểm toán phải gánh chịu

là rất lớn Nhìn chung các công ty kiểm toán phải cân nhắc các vấn đề sau đây:

Đánh giá khả năng thực hiện kiểm toán: việc đánh giá này dựa vào:

+ Khả năng có thể kiểm toán của khách hàng: khả năng có thể kiểm toán củakhách hàng được xác định căn cứ vào một số yếu tố: tính liêm chính của Ban Giámđốc và hệ thống kế toán của khách hàng

+ Năng lực và tính độc lập của công ty kiểm toán: Theo chuẩn mực Kiểmtoán Việt Nam số 220 - Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán “Trong quá trìnhduy trì khách hàng hiện có và đánh giá khách hàng tiềm năng, công ty kiểm toánphải cân nhắc đến tính độc lập và năng lực phục vụ khách hàng của công ty kiểm

Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán

Thu thập thông tin cơ sở

Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ tục phân tích

Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán

Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi

ro kiểm soát

Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo

chương trình kiểm toán

Trang 13

toán” Công ty kiểm toán không nên nhận lời kiểm toán khi tính độc lập không đượcđảm bảo hoặc xét thấy không đủ năng lực phục vụ khách hàng.

+ Nhận diện các lí do kiểm toán của công ty khách hàng: thực chất của việcnhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng là việc xác định người sửdụng Báo cáo tài chính và mục đích sử dụng của họ: nếu các Báo cáo tài chính được

sử dụng càng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lý của các thông tin trên Báo cáotài chính được đòi hỏi càng cao do đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thậpcàng nhiều

Về cơ bản, khách hàng của các công ty kiểm toán được chia thành hai nhóm:nhóm khách hàng tiềm năng và nhóm khách hàng cũ Đối với nhóm khách hàng cũ,kiểm toán viên đã có những thông tin nhất định thu được qua lần kiểm toán trước,

do đó kiểm toán viên chỉ cần cập nhật, bổ sung các thông tin mới về khách hàng.Đối với khách hàng mới: nếu những khách hàng này trước đây chưa từng đượcCông ty kiểm toán nào kiểm toán thì để có thông tin về khách hàng, kiểm toán viên

có thể tìm hiểu qua sách báo, tạp chí chuyên ngành, thẩm tra các bên có liên quannhư ngân hàng, cố vấn pháp lý, các bên có mối quan hệ tài chính buôn bán vớikhách hàng thậm chí có thể thuê các nhà điều tra chuyên nghiệp để điều tra về vấn

đề cần thiết khác Trong trường hợp đơn vị khách hàng đã có kiểm toán viên tiềnnhiệm thì kiểm toán viên mới phải chủ động liên lạc với kiểm toán viên cũ vì đây lànguồn thông tin đầu tiên để đánh giá khách hàng: tính chính trực của các nhà quản

lý đơn vị, các bất đồng giữa hai bên (nếu có), lý do khiến họ không tiếp tục cộng tácvới nhau Tuy nhiên việc thiết lập mối quan hệ giữa kiểm toán viên kế tục với kiểmtoán viên tiền nhiệm phải được sự chấp thuận của khách hàng Kiểm toán viên phảirất thận trọng trong các trường hợp sau:

+ Khách hàng không đồng ý cho tiếp xúc với kiểm toán viên tiền nhiệm

+ Đã xảy ra những bất đồng nghiêm trọng giữa kiểm toán viên tiền nhiệm vớicông ty khách hàng

+ Qua ý kiến của kiểm toán tiền nhiệm, kiểm toán viên mới đã phát hiện ranhững vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến đánh giá của kiểm toán viên về khảnăng có thể kiểm toán được của công ty khách hàng

Trang 14

Ngoài việc tiếp xúc với kiểm toán viên tiền nhiệm, kiểm toán viên mới có thểthu thập thông tin về khách hàng tiềm năng giống như cách thức thu thập thông tinđối với khách hàng cũ.

Lựa chọn đội ngũ nhân viên

Sau khi đánh giá khả năng có thể chấp nhận cuộc kiểm toán, công ty kiểmtoán tiến hành lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán Đội ngũ nhân viênkiểm toán phải đảm bảo hai yếu tố: năng lực chuyên môn và tính độc lập TheoChuẩn mực Kiểm toán chung được thừa nhận GAAS “quá trình kiểm toán phảiđược thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ thành thạo nhưmột kiểm toán viên” Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu và nguyêntắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính có quy định: kiểm toán viên khôngđược nhận làm kiểm toán cho các đơn vị mà mình có quan hệ kinh tế hoặc quyền lợikinh tế cũng như những đơn vị mà bản thân có quan hệ họ hàng thân thuộc (bố, mẹ,

vợ, chồng, con cái, anh chị em ruột) với những người trong bộ máy quản lý của đơn

vị được kiểm toán

Ngoài ra, đối với khách hàng lâu năm, một mặt tổ chức kiểm toán nên hạn chếviệc thường xuyên thay đổi kiểm toán viên vì những kiểm toán viên đã thực hiệnviệc cung cấp dịch vụ cho khách hàng thì họ đã nắm được những nét đặc thù trongkinh doanh cũng như đặc điểm quan trọng của công ty khách hàng, do đó tiết kiệmđược chi phí kiểm toán năm tiếp theo và duy trì được mối liên hệ mật thiết giữa haibên Mặt khác, tổ chức kiểm toán phải có chính sách luân chuyển kiểm toán viên đểtránh việc quá quen thuộc với khách hàng dẫn đến sức ỳ về tâm lý và kiểm tra theolối mòn hoặc mất đi tính khách quan độc lập

Kí kết hợp đồng kiểm toán

Khi đã chấp nhận kiểm toán cho khách hàng, bước cuối cùng trong giai đoạnchuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán mà Công ty kiểm toán phải thực hiện là ký kết hợpđồng kiểm toán Hợp đồng kiểm toán là sự thỏa thuận chính thức giữa khách hàng

và công ty kiểm toán về các vấn đề liên quan đến cuộc kiểm toán “Hợp đồng kiểmtoán phải được lập và ký chính thức trước khi tiến hành công việc kiểm toán nhằmbảo vệ lợi ích của khách hàng và của công ty kiểm toán (Chuẩn mực Kiểm toánViệt Nam số 210 - Hợp đồng kiểm toán)

Trang 15

Hợp đồng kiểm toán thường bao gồm các nội dung chính sau: mục đích vàphạm vi kiểm toán, trách nhiệm của Ban giám đốc công ty khách hàng và kiểm toánviên, hình thức thông báo kết quả kiểm toán, thời gian tiến hành cuộc kiểm toán,căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán.

3.1.2 Thu thập thông tin cơ sở

Những thông tin cơ sở mà kiểm toán viên cần thu thập được để phục vụ choquá trình lập kế hoạch bao gồm:

Thu thập kiến thức chung về ngành nghề kinh doanh của khách hàng: để hiểu

được đầy đủ ý nghĩa của các thông tin thu được trong suốt cuộc kiểm toán, kiểmtoán viên phải hiểu được những đặc thù nổi bật trong lĩnh vực kinh doanh của kháchhàng Mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh có hệ thống kế toán và nguyên tắc kếtoán riêng Thêm vào đó, tầm quan trọng của mỗi nguyên tắc kế toán cũng thay đổitheo ngành kinh doanh của khách hàng Thí dụ, trong lĩnh vực bán lẻ thì việc đánhgiá hàng tồn kho là rất quan trọng nhưng trong lĩnh vực xây dựng thì điều quantrọng lại là tiêu chuẩn xác định doanh thu Những kiến thức này kiểm toán viên cóthể thu thập thông qua sách báo chuyên ngành, các Hiệp hội ngành số liệu củangành có thể lấy từ Niên giám thống kê do Tổng cục Thống kê phát hành hằng năm

Thu thập kiến thức về hoạt động kinh doanh của khách hàng: trong cùng một

lĩnh vực, ngoài những đặc thù chung của ngành thì mỗi công ty lại có những đặcđiểm riêng biệt khác nhau ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh: vốn, cơcấu tổ chức, dây chuyền và các dịch vụ sản xuất Kiểm toán viên có thể thu thậpnhững kiến thức này thông qua:

+Xem xét Báo cáo tài chính và hồ sơ kiểm toán các năm trước (nếu có) củađơn vị: những tài liệu này thường chứa đựng rất nhiều những thông tin đặc trưngcủa khách hàng và xu hướng thay đổi, phát triển của khách hàng trong tương lai.+Xem xét các chính sách của công ty: những chính sách này ảnh hưởng quantrọng tới hoạt động của khách hàng: chính sách tín dụng nhưng lại không đượcphản ánh trong số sách kế toán và có thể thay đổi qua các năm

+Tham quan nhà xưởng: việc tham quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp hoạtđộng kinh doanh của khách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắtthấy tai nghe về quy trình sản xuất kinh doanh của khách hàng Ngoài ra, kiểm toán

Trang 16

viên cũng có những nhận định ban đầu về phong cách quản lý của Ban giám đốc,tính hệ thống trong việc tổ chức, sắp đặt công việc

+Ngoài ra, kiểm toán viên có thể thu thập thông tin qua việc trao đổi với nhânviên của khách hàng, với các kiểm toán viên khác và các nhà tư vấn

Nhận diện các bên hữu quan: Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 550 –

Các bên liên quan: “các bên được coi là liên quan nếu một bên có khả năng kiểmsoát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với bên kia trong việc ra quyết định tài chính

và hoạt động” Các nghiệp vụ giữa các bên hữu quan có có ảnh hưởng lớn đến nhậnđịnh của người sử dụng Báo cáo tài chính Do vậy, kiểm toán viên phải xác định cácbên hữu quan và nhận định sơ bộ về mối quan hệ này ngay trong giai đoạn lập kếhoạch kiểm toán

Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài: Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam

số - Sử dụng tư liệu của chuyên gia: “chuyên gia là một cá nhân hoặc tổ chức cónăng lực, kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn cao trong một lĩnh vực riêng biệtngoài lĩnh vực kế toán và kiểm toán” Kiểm toán viên phải dự kiến nhu cầu chuyêngia để đảm bảo chuyên gia đã có sẵn khi cần và có đủ năng lực, tính khách quan đểđảm nhận công việc

3.1.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ tục phân tích

Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự điều tiết của rất nhiều các quyđịnh khác nhau Những quy định này không chỉ là các văn bản pháp luật mang tínhcưỡng chế của nhà nước đối với các tế bào trong nền kinh tế mà còn là các quy địnhriêng doanh nghiệp phải tuân thủ trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.Những quy định này được thể hiện trong các tài liệu sau:

+Giấy phép thành lập và điều lệ công ty: đây là tài liệu quy định những vấn đềmang tính chất nội bộ của đơn vị: cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của cácphòng ban, thủ tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu

+Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc: lànhững tài liệu chính thức về các vấn đề quan trọng: xét duyệt mua bán, phê chuẩngiải thể hoặc hợp nhất các đơn vị trực thuộc

Trang 17

+Các hợp đồng và cam kết quan trọng: hợp đồng mua, bán hàng

+Ngoài ra, các quy định mà doanh nghiệp phải tuân thủ còn được thể hiệntrong các công văn của cơ quan quản lý Thí dụ: công văn của Cục Hải quan đồng ýcho doanh nghiệp có sử dụng nguyên vật liệu, phụ tùng nhập khẩu áp dụng tỉ lệ nộiđịa hóa đối với một số mặt hàng

Thực hiện các thủ tục phân tích

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520 – Quy trình phân tích: “Quytrình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng qua đótìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn vớicác thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”.Chuẩn mực này cũng quy định kiểm toán viên phải thực hiện thủ tục phân tích trongtất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán Trong giai đoạn lập kế hoạch, thủ tục phântích giúp kiểm toán viên: +Tăng cường hiểu biết về công việc kinh doanh của kháchhàng: thông qua thủ tục phân tích, kiểm toán viên có thể nhận biết được tình hình tàichính và những biến động quan trọng trong hoạt động kinh doanh của khách hàng.+Xác định những vùng có thể có rủi ro: những chênh lệch lớn ngoài dự kiếngiữa số liệu tài chính chưa được kiểm toán ở năm hiện hành so với số liệu so sánh làvấn đề quan trọng mà kiểm toán viên cần phải lưu ý và tìm ra nguyên nhân vì khảnăng xảy ra sai phạm trong các trường hợp này là rất lớn

+Đánh giá khả năng hoạt động liên tục của khách hàng: giả định hoạt độngliên tục là một nguyên tắc cơ bản khi lập và trình bày báo cáo tài chính do đó khilập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên không thể không xem xét đến tính liên tụchoạt động của doanh nghiệp “trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toánviên và công ty kiểm toán phải cân nhắc những sự kiện hoặc điều kiện có thể gây ra

sự nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị” (Chuẩn mực Kiểmtoán Việt Nam số 570 - Hoạt động liên tục) Thủ tục phân tích chính là một công cụhữu hiệu giúp kiểm toán viên đánh giá vấn đề này Thí dụ: dựa trên các tỷ suất thểhiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp, kiểm toán viên có thể đánh giá liệudoanh nghiệp có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình với các đối tác không?Nếu không thì đây chính là một yếu tố quan trọng đe dọa đến khả năng hoạt độngliên tục của doanh nghiệp

Trang 18

Thủ tục phân tích được kiểm toán viên sử dụng gồm hai loại cơ bản:

+Phân tích ngang (phân tích xu hướng): là việc phân tích dựa trên cơ sở sosánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính Các chỉ tiêu phân tíchngang thường sử dụng:

 So sánh số liệu giữa các kỳ với nhau

 So sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch hoặc số liệu ước tính củakiểm toán viên

 So sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu chung của ngành

+Phân tích dọc (phân tích tỷ suất): là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các

tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên Báo cáo tài chính.Các tỷ suất tài chính thường dùng trong phân tích dọc bao gồm: các tỷ suất về khảnăng thanh toán, tỷ suất về khả năng sinh, tỷ suất về cơ cấu vốn

Như vậy, thông qua thủ tục phân tích, kiểm toán viên có thể xác định được nộidung cơ bản của cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính Mức độ, phạm vi và thời gian ápdụng các thủ tục phân tích thay đổi tùy thuộc vào quy mô và tính chất phức tạptrong hoạt động kinh doanh của khách hàng

3.1.4 Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán

Đánh giá tính trọng yếu

Như trên đã nói, mục tiêu của kiểm toán Báo cáo tài chính là giúp cho kiểmtoán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến về sự trung thực và hợp lý của các Báocáo tài chính trên các khía cạnh trọng yếu Điều này có nghĩa là khi thực hiện cuộckiểm toán, kiểm toán viên chỉ cần quan tâm đến các sai phạm trọng yếu Vậy, trọngyếu là gì? Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 – Tính trọng yếu trongkiểm toán: “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thôngtin (một số liệu kế toán) trong BCTC Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa lànếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đếncác quyết định của người sử dụng Báo cáo tài chính” và “Tính trọng yếu của thôngtin phải xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính”

Như vậy, để đưa ra mức trọng yếu thích hợp, kiểm toán viên phải có hiểu biết

về những người sử dụng BCTC và các quyết định sẽ đưa ra của họ trong các trường

Trang 19

hợp khác nhau Do đó, xét đoán về tính trọng yếu là một công việc khó khăn và chủyếu dựa vào kinh nghiệm của kiểm toán viên.

Báo cáo Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế SAS 47 quy định “kiểm toán viên nênxem xét rủi ro kiểm toán và vấn đề trọng yếu trong khi lập kế hoạch kiểm toán vàthiết kế các thủ tục kiểm toán cũng như khi đưa ra kết luận kiểm toán” Các bướccông việc liên quan đến trọng yếu kiểm toán viên phải thực hiện trong giai đoạn lập

kế hoạch kiểm toán:

+ Ước lượng sơ bộ về tính trọng yếu: Sự ước lượng bước đầu về tính trọng yếu

là lượng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ở mức đó các báo cáo có thể bị sai nhưngvẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết định của những người sử dụng hợp lý Sự ướclượng này sẽ thường xuyên thay đổi trong suốt cuộc kiểm toán khi các tình huốngthay đổi hoặc có sự xuất hiện các nhân tố mới

Ước lượng sơ bộ về tính trọng yếu thường được kiểm toán viên đánh giá theoquy mô Có hai hướng đánh giá: quy mô tuyệt đối và quy mô tương đối

Kiểm toán viên có thể sử dụng con số tuyệt đối để đánh giá tính trọng yếu.Tuy nhiên một sai số có quy mô nhất định có thể là trọng yếu đối với một công tynhỏ nhưng lại không trọng yếu đối với một công ty lớn hơn Do đó, quy mô tươngđối được kiểm toán viên sử dụng phổ biến hơn

Căn cứ để tính toán mức trọng yếu có thể được quy định như sau:

Bảng 1.1 Căn cứ để tính toán mức trọng yếu

+Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục: Mứctrọng yếu đối với từng khoản mục chính là sai lệch tối đa được phép đối với từngkhoản mục Số tiền này được tính dựa trên mức trọng yếu tổng thể đã được ướclượng Đây là một công việc cần thiết vì trước khi đưa ra ý kiến kết luận về tính

Trang 20

trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải đánh giá tính trungthực và hợp lý cho từng bộ phận, khoản mục trên Báo cáo tài chính.

Kiểm toán viên thường phân bổ tính trọng yếu cho các tài khoản trên BCĐKTthay vì phân bổ cho các tài khoản trên BCKQKD vì: các sai phạm ảnh hưởng đếnBCKQKD thì đều ảnh hưởng tới BCĐKT vì bút toán ghi sổ kép và hầu hết các thểthức thường tập trung vào các tài khoản trên BCĐKT

Kiểm toán viên phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục theo hai phía: sai

số theo hướng lớn hơn tức là số liệu trên sổ sách lớn hơn thực tế (overstatement) vàsai số theo hướng nhỏ hơn tức là số liệu trên sổ sách nhỏ hơn thực tế(understatement) Căn cứ để kiểm toán viên tiến hành phân bổ là:

+Chi phí kiểm toán đối với từng khoản mục

+Kinh nghiệm của kiểm toán viên về khả năng sai phạm của từng khoản mục,nghiệp vụ và mức độ ảnh hưởng của sai phạm đó tới tính trung thực hợp lý của Báocáo tài chính

Phân bổ mức trọng yếu cho các khoản nợ phải trả: các khoản nợ phải trả thểhiện nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp nên các khoản này thường bị cố tình khaithiếu để làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hơn Do đó, kiểm toánviên thường phân bổ mức trọng yếu theo hướng số liệu trên sổ sách nhỏ hơn so vớithực tế Ngoài ra, đối với nợ phải trả cho người bán và các khoản vay (vay ngắnhạn, vay dài hạn) là những khoản mục có liên quan đến bên thứ 3, đòi hỏi sự trìnhbày trung thực, hợp lý càng cao nên kiểm toán viên thường phân bổ mức trọng yếuthấp cho các khoản mục này

Đánh giá rủi ro kiểm toán

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soátnội bộ: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ýkiến nhận xét không thích hợp khi Báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn cónhững sai sót trọng yếu Rủi ro kiểm toán bao gồm 3 bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi

ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”

Mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau Mứctrọng yếu càng thấp thì rủi ro kiểm toán càng cao và ngược lại

Trang 21

Kiểm toán viên thường đưa ra một mức rủi ro kiểm toán mong muốn, là mức rủi rochấp nhận được về việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét không xác đáng về Báocáo tài chính đã được kiểm toán Mỗi kiểm toán viên sẽ đưa ra một mức rủi ro kiểm toánkhác nhau cho các cuộc kiểm toán khác nhau Điều này phụ thuộc vào xét đoán nghềnghiệp của kiểm toán viên Một số nhân tố có ảnh hưởng đến xét đoán nghề nghiệp củakiểm toán viên về mức rủi ro kiểm toán mong muốn, đó là:

+Số người sử dụng Báo cáo tài chính của đơn vị: Báo cáo tài chính của đơn vịđược càng nhiều người quan tâm thì mức rủi ro kiểm toán mong muốn càng thấp

Để đánh giá xem liệu Báo cáo tài chính của đơn vị có được nhiều người quan tâmkhông, kiểm toán viên có thể dựa vào: quy mô của công ty khách hàng, số người sởhữu công ty và bản chất, quy mô công nợ

+Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toánđược công bố

+Quan niệm của kiểm toán viên về mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được: mỗikiểm toán viên có quan niệm về mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được khác nhau.Một số kiểm toán rất thận trọng, họ luôn muốn hạn chế tối đa nguy cơ bị kiện và bịmất uy tín nghề nghiệp

+Trình độ, kinh nghiệm làm việc của kiểm toán viên: các kiểm toán viên giỏi

sẽ dễ dàng thực hiện một cuộc kiểm toán có chất lượng cao với chi phí thấp Do đó,

họ thường đưa ra một mức rủi ro kiểm toán thấp hơn những kiểm toán viên khác.+Đạo đức của kiểm toán: một số kiểm toán viên luôn mong muốn thực hiệnmột cuộc kiểm toán chất lượng cao để đảm bảo quyền lợi cho những người sử dụngBáo cáo tài chính kể cả khi họ phải chấp nhận một mức lợi nhuận thấp hơn

Rủi ro kiểm toán mong muốn đối với các khoản nợ phải trả được kiểm toánviên xác định dựa vào rủi ro kiểm toán mong muốn đối với toàn bộ Báo cáo tàichính vì nhìn chung rủi ro kiểm toán thường được xác định ở cùng một mức cho tất

cả các khoản mục, nghiệp vụ Tuy nhiên, đối với một số khách hàng mà kiểm toáncho rằng các khoản công nợ phải trả là đặc biệt quan trọng thì rủi ro kiểm toánmong muốn đối với các khoản nợ phải trả sẽ thấp hơn

Trang 22

Mối quan hệ giữa các loại rủi ro được thể hiện qua mô hình sau:

AR = IR x CR x DRHay: DR = AR/(IR x CR)

IR (rủi ro tiềm tàng): là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng khoản mục,

nghiệp vụ trong Báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trọng yếu khi tính riêng

rẽ hoặc tính gộp mặc dù có hay không hệ thống kiểm soát nội bộ (Chuẩn mực Kiểmtoán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ)

Rủi ro tiềm tàng phải được xác định cụ thể cho từng khoản mục, nghiệp vụliên quan đến từng cơ sở dẫn liệu Mặc dù đối với những doanh nghiệp khác nhauthì đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro tiềm tàng đối với các khoản nợ phải trả làkhác nhau nhưng nhìn chung rủi ro tiềm tàng đối với các khoản nợ phải trả đượcđánh giá theo các cơ sở dẫn liệu như sau:

Đầy đủ: đây là cơ sở dẫn liệu dễ bị vi phạm nhất liên quan đến các khoản nợphải trả vì như trên đã nói: nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp nên dễ

bị khai thiếu để làm cho tình hình tài chính phản ánh trên Báo cáo tài chính tốt hơnthực tế Rủi ro tiềm tàng đối với cơ sở dẫn liệu này cao

Tồn tại hoặc phát sinh: mặc dù cơ sở dẫn liệu này ít bị vi phạm hơn nhưng vẫn cónhững trường hợp nợ phải trả bị khai khống để rút tiền của đơn vị một cách bất hợp pháp.Phân loại và trình bày: sự phân loại sai đối với các khoản nợ phải trả cũng làmngười sử dụng Báo cáo tài chính hiểu sai khả năng thanh toán thực tế của đơn vị do

đó đây cũng là cơ sở dẫn liệu dễ bị vi phạm Rủi ro tiềm tàng đối với cơ sở dẫn liệunày cũng được đánh giá ở mức cao

Tính giá: đây là cơ sở dẫn liệu dễ bị vi phạm đối với các khoản nợ phải trả cógốc ngoại tệ Doanh nghiệp phải nắm vững và cập nhật các nguyên tắc hạch toán cơbản đối với các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ

CR (rủi ro kiểm soát): phụ thuộc vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị Hệ

thống kiểm soát nội bộ của đơn vị càng hiệu quả thì rủi ro kiểm soát càng thấp vàngược lại Vấn đề này sẽ được xem xét kỹ hơn trong phần sau

DR (rủi ro phát hiện): Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong

từng khoản mục, nghiệp vụ trong Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp

mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện

Trang 23

ra được Rủi ro phát hiện là yếu tố chính của mô hình vì “mức độ rủi ro phát hiện cóliên quan trực tiếp đến thử nghiệm cơ bản của kiểm toán viên” (Chuẩn mực Kiểmtoán Việt Nam số 400, đoạn 43).

Rủi ro phát hiện được kiểm toán viên xác định dựa vào rủi ro kiểm toán, rủi rotiềm tàng và rủi ro kiểm soát Mối quan hệ của rủi ro với bằng chứng kiểm toánphải thu thập được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.2 Các mối quan hệ của rủi ro với bằng chứng phải thu thập

Rủi ro kiểmsoát

Rủi ro pháthiện

Số lượng bằng chứngcần thu thập

2 Thấp Thấp Thấp Trung bình Trung bình

3 Thấp Cao Cao Thấp Trung bình

4 Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình

5 Cao Thấp Trung bình Trung bình Trung bình

Nguồn: Auditing – Alvin A.Arens, Jame K.Loebbecke

3.1.5 Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát.

Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểmsoát là một phần việc hết sức quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện tronggiai đoạn lập kế hoạch kiểm toán “Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống

kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toántổng thể và chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả” (Chuẩn mực Kiểm toánViệt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiếm soát nội bộ)

Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từngkhoản mục trong Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kếtoán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện vàsửa chữa kịp thời Ngoài ý nghĩa là giúp kiểm toán viên đưa ra mức rủi ro phát hiện

dự kiến, rủi ro kiểm soát còn có ảnh hưởng trực tiếp đến các phương pháp kiểmtoán cần áp dụng: vấn đề này sẽ được xem xét dưới đây

Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục nhằm bốnmục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảođảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả hoạt động

Hệ thống kiểm soát của đơn vị bao gồm 4 yếu tố chính:

Trang 24

+Môi trường kiểm soát: gồm các yếu tố bên trong (đặc thù về quản lý, cơ cấu

tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, ủy ban kiểm soát ) và các yếu tốbên ngoài đơn vị (sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, môitrường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước ) Môi trường kiểm soát mạnh sẽ

hỗ trợ đáng kể cho các thủ tục kiểm soát phát huy tác dụng

+Hệ thống kế toán: là các quy định về kế toán và các thủ tục kế toán mà đơn vịđược kiểm toán áp dụng để thực hiện các ghi chép kế toán và lập Báo cáo tài chính +Các thủ tục kiểm soát: là các quy chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vị thiếtlập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể Cácthủ tục kiểm soát này được thiết lập trong đơn vị dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản:nguyên tắc phân công, phân nhiệm; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; nguyên tắc ủyquyền và phê chuẩn

+Kiểm toán nội bộ: là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị tiếnhành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộđơn vị

Kiểm toán viên xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị trên hai mặt:thiết kế và hoạt động liên tục, có hiệu lực của kiểm soát nội bộ Những hiểu biết củakiểm toán viên về hệ thống kiểm soát nội bộ thường được thể hiện theo một trong 3cách sau: bảng tường thuật về kiểm soát nội bộ, bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soátnội bộ và lưu đồ Ngoài ra, kiểm toán viên có thể sử dụng kết hợp cả ba loại trên để

có hiểu biết rõ nét hơn về hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng

Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá là có hiệu quả thì rủi ro kiểmsoát thấp và ngược lại Rủi ro kiểm soát luôn tồn tại do hệ thống kiểm soát nội bộ

dù được thiết kế hoàn hảo đến đâu cũng không thể ngăn ngừa hay phát hiện mọi saiphạm có thể xảy, đó là những hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ

Quá trình đánh giá rủi ro kiểm soát đối với các khoản nợ phải trả được thựchiện theo các bước sau:

+Nhận diện các mục tiêu kiểm soát chủ yếu đối với các khoản nợ phải trả:mục tiêu kiểm soát chủ yếu đối với các khoản nợ phải trả cũng là các cơ sở dẫn liệu

dễ bị vi phạm vì hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế để ngăn chặn, phát hiện và

Trang 25

sửa chữa những sai phạm có thể xảy ra trong đơn vị Do đó, mục tiêu quan trọng đốivới các khoản nợ phải trả là đầy đủ và trình bày.

+Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù: Quá trình kiểm soát đặc thù là cácthủ tục kiểm soát có ảnh hưởng lớn nhất đến việc thỏa mãn các mục tiêu kiểm soátchủ yếu Thí dụ: đối với cơ cở dẫn liệu “đầy đủ” của nợ phải trả người bán thì quátrình kiểm soát đặc thù là đánh số thứ tự các hóa đơn mua hàng, có sự đối chiếugiữa Sổ chi tiết công nợ phải trả với Báo cáo của người bán vào cuối tháng Quátrình kiểm soát nội bộ đối với nợ phải trả người bán đã được trình bày ở phần trên.+Nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ: sựthiếu sót của các quá trình kiểm soát thích đáng sẽ làm tăng rủi ro kiểm soát Kiểmtoán viên so sánh giữa thủ tục kiểm soát cần có với thủ tục kiểm soát hiện tại củadoanh nghiệp để tìm ra nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ

+Đánh giá rủi ro kiểm soát: theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 –Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “Kiểm toán viên thường đánh giá rủi ro kiểmsoát ở mức độ cao đối với cơ sở dẫn liệu của Báo cáo tài chính trong trường hợp:

 Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không đầy đủ

 Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không hiệu quả

 Kiểm toán viên không được cung cấp đầy đủ cơ sở để đánh giá sự đầy

đủ và hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức tối đa thì kiểm toán viên sẽ bỏ quacác thử nghiệm kiểm soát nhưng nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp hơn tối đathì các thử nghiệm kiểm soát sẽ được thực hiện ở giai đoạn hai của cuộc kiểm toán.Các thử nghiệm này sẽ chứng minh liệu đánh giá ban đầu của kiểm toán viên về rủi

ro kiểm soát là đúng hay sai

3.1.6 Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và soạn thảo chương trình kiểm toán.

Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300 - Lập kế hoạch kiểm toán: “Kếhoạch kiểm toán tổng thể là việc cụ thể hóa kế hoạch chiến lược và phương pháptiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến của các thủ tục kiểmtoán” và “Kế hoạch kiểm toán tổng thể phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán”

Trang 26

Hình thức và nội dung của kế hoạch kiểm toán tổng thể phụ thuộc vào quy môkhách hàng và tính chất phức tạp của công việc kiểm toán Những vấn đề mà kiểmtoán viên phải trình bày trong kế hoạch kiểm toán tổng thể là các thông tin chung

mà kiểm toán viên đã thu thập trong 5 bước trên: hiểu biết về hệ thống kế toán và hệthống kiểm soát nội bộ; đánh giá rủi ro và mức độ trọng yếu

Soạn thảo chương trình kiểm toán

Chương trình kiểm toán là những chỉ dẫn cho kiểm toán viên và trợ lý kiểmtoán về mục tiêu kiểm toán từng phần hành, nội dung, lịch trình và phạm vi của cácthủ tục kiểm toán cụ thể cũng như thời gian ước tính cần thiết cho từng phần hành.Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300 - Lập kế hoạch kiểm toán quy định:

“Chương trình kiểm toán phải được lập và thực hiện cho mọi cuộc kiểm toán trong

đó xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cần thiết đểthực hiện kế hoạch kiểm toán tổng thể”

Kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán sẽ được sửa đổi, bổsung trong quá trình kiểm toán nếu có những tình huống mới phát sinh nằm ngoài

dự đoán hoặc đánh giá ban đầu của kiểm toán viên

Chương trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả là những chỉ dẫn cho kiểmtoán viên và trợ lý kiểm toán viên về mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải trả, nộidung, lịch trình, phạm vi cũng như thời gian của các thủ tục kiểm toán cần thực hiệnđối với các khoản nợ phải trả

Kiểm toán khoản mục nợ phải trả là một bộ phận quan trọng của kiểm toánBCTC nên việc xây dựng chương trình kiểm toán cho khoản mục này là một côngviệc không thể thiếu trong bất kỳ cuộc kiểm toán nào

Chương trình kiểm toán đối với các khoản phải trả gồm bốn nội dung sau:+Các thủ tục kiểm toán cần sử dụng: là những hướng dẫn chi tiết về các thủtục kiểm toán cần sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán về các khoản phải trả.Các thủ tục này bao gồm: thử nghiệm kiểm soát, thủ tục phân tích và thủ tục kiểmtra chi tiết Các thủ tục kiểm toán này sẽ được trình bày cụ thể trong phần thực hiệnkiểm toán

+Quy mô mẫu chọn: kiểm toán viên phải tiến hành chọn mẫu do các nghiệp vụphát sinh liên quan đến nợ phải trả rất lớn, kiểm toán viên không thể kiểm tra hết

Trang 27

được Riêng đối với các khoản vay, đặc biệt là vay dài hạn, các nghiệp vụ phát sinh

có thể không nhiều nên kiểm toán viên có thể kiểm toán đối với toàn bộ tổng thể.+Khoản mục được chọn: kiểm toán viên phải chọn được mẫu có tính đại diện

để giảm rủi ro do chọn mẫu Rủi ro chọn mẫu là khả năng mà kết luận của kiểmtoán viên dựa trên mẫu sai lệch so với kết luận mà kiểm toán viên cũng dùng thửnghiệm tương tự để áp dụng đối với toàn bộ tổng thể Đối với các khoản nợ phải trả,đặc biệt là nợ phải trả người bán, kiểm toán viên thường tiến hành chọn mẫu bằng

kỹ thuật phân tầng (phân tổ):

 Phân chia các nghiệp vụ phát sinh vào các nhóm khác nhau dựa theo quy

mô (sự phân chia này được áp dụng đối với từng nhà cung cấp) Thí dụ: đối với nhàcung cấp A, kiểm toán viên xếp các nghiệp vụ phát sinh có quy mô từ 1 triệu đến 50triệu vào một nhóm vì kiểm toán viên cho rằng mức trọng yếu và rủi ro ở quy mônày gần như nhau Việc phân tầng sẽ làm giảm sự khác biệt trong cùng một tầng vàgiúp kiểm toán viên tập trung vào những nghiệp vụ chứa đựng nhiều khả năng saiphạm Ngoài việc phân nhóm dựa theo quy mô nghiệp vụ phát sinh, kiểm toán viên

có thể dựa vào thuộc tính của các khoản phải trả để đưa vào một nhóm: kiểm toánviên có thể xếp tất cả các khoản có số dư Có vào một nhóm vì những khoản này cókhả năng xảy ra sai phạm lớn hơn

 Đối với mỗi nhóm, kiểm toán viên áp dụng cách thức chọn mẫu khácnhau Ví dụ: đối với nhóm có quy mô nghiệp vụ và số lượng phát sinh nhỏ (khôngtrọng yếu) kiểm toán viên có thể bỏ qua, đối với nhóm có quy mô nghiệp vụ lớn màkiểm toán viên đánh giá là rất trọng yếu thì kiểm toán viên có thể kiểm tra toàn bộtổng thể, các nhóm khác có thể áp dụng cách thức chọn mẫu ngẫu nhiên hoặc chọnmẫu phi xác suất

+Thời gian thực hiện: là thời gian bắt đầu và kết thúc việc thực hiện kiểm toáncác khoản nợ phải trả

3.2 Thực hiện kiểm toán

Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình triển khai một cách chủ động vàtích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác thực

về mức độ trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính trên cơ sở những bằng chứngđầy đủ và tin cậy Như vậy, kế hoạch kiểm toán chỉ là những hướng dẫn chi tiết, còn

Trang 28

trong quá trình thực hiện kiểm toán, kinh nghiệm và xét đoán của kiểm toán viên rấtquan trọng vì khi lập kế hoạch, kiểm toán viên không thể lường hết những sự kiệnbất ngờ có thể xảy ra cũng như xét đoán ban đầu của kiểm toán viên về một số vấn

đề có thể chưa đúng Mặc dù vậy, tính khoa học của tổ chức vẫn đòi hỏi kiểm toánviên phải tôn trọng các nguyên tắc cơ bản sau:

+Kiểm toán viên phải tuân thủ chương trình kiểm toán đã xây dựng Mọi thayđổi về nội dung, phạm vi, trình tự kiểm toán đều phải có ý kiến thống nhất giữachủ nhiệm kiểm toán và khách hàng

+Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi chépnhững nhận định về các nghiệp vụ, các con số, các sự kiện nhằm tích lũy bằngchứng cho các kết luận kiểm toán

+Định kỳ tổng hợp kết quả kiểm toán để nhận định rõ mức độ thực hiện so vớikhối lượng công việc chung

Dựa trên chương trình kiểm toán đã xây dựng cho các khoản nợ phải trả, kiểmtoán viên thực hiện các thủ tục kiểm toán sau: thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm

cơ bản (thủ tục phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết số dư, nghiệp vụ) Trong đó thủtục kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ được xem là thủ tục tốn nhiều thời gian vàchi phí nhất nên kiểm toán viên cố gắng hạn chế quy mô của các thủ tục này

Thử nghiệm kiểm soát

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500 - Bằng chứng kiểm toán: “Thửnghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ thống kiểm soát) là việc kiểm tra để thu thập bằngchứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kếtoán và hệ thống kiểm soát nội bộ” Thử nghiệm kiểm soát được thực hiện càngnhiều thì thử nghiệm cơ bản được thực hiện càng ít do đó tiết kiệm được thời gian

và chi phí kiểm toán

Tuy nhiên, kiểm toán viên chỉ sử dụng thử nghiệm kiểm soát khi đánh giá banđầu của kiểm toán viên về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng là tồn tại vàhoạt động có hiệu lực

Các phương pháp cụ thể được áp dụng trong kiểm tra hệ thống kiểm soát nội

bộ bao gồm: điều tra, phỏng vấn, thực hiện lại, kiểm tra từ đầu đến cuối (walkthrough test) và kiểm tra ngược lại Để khẳng định rằng đánh giá ban đầu của kiểm

Trang 29

toán viên về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng là đúng, các bằng chứngkiểm toán phải chứng minh được:

+Thiết kế các hoạt động kiểm soát cụ thể của khách hàng thích hợp để ngănngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trọng yếu

+Hoạt động kiểm soát đã được triển khai theo đúng yêu cầu của thiết kế.Đối với các khoản nợ phải trả, nếu đánh giá ban đầu của kiểm toán viên về hệthống kiểm soát nội bộ của khách hàng đối với các khoản nợ phải trả là tốt thì kiểmtoán viên sẽ thực hiện các thử nghiệm kiểm soát

Để thực hiện thử nghiệm kiểm soát cũng như để đưa ra kết luận về rủi ro kiểmsoát đối với các khoản nợ phải trả, kiểm toán viên cần phải hiểu rõ về các thủ tụckiểm soát nội bộ cơ bản cần có đối với các khoản mục này Sau khi thực hiện thửnghiệm kiểm soát, kiểm toán viên phải trả lời được các câu hỏi sau:

+Liệu thiết kế các thủ tục kiểm soát của khách hàng đối với khoản nợ phải trả

có đảm bảo yêu cầu kiểm soát chung cũng như đảm bảo các yêu cầu kiểm soát riêngphù hợp với tình hình của đơn vị hay không?

+Liệu doanh nghiệp có thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm soát nội bộ đã đượcthiết kế đối với khoản mục nợ phải trả hay không?

Nếu sau khi thực hiện thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên cho rằng hệ thốngkiểm soát nội bộ đối với các khoản nợ phải trả không tốt như đánh giá ban đầu thìkiểm toán viên phải mở rộng phạm vi các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệpvụ

Cần phân biệt sự khác nhau giữa thể thức để đạt được sự hiểu biết về hệ thốngkiểm soát nội bộ và thử nghiệm kiểm soát đối với các khoản nợ phải trả:

+Các thể thức để có được sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ đối vớicác khoản nợ phải trả được thực hiện trong tất cả các cuộc kiểm toán nhưng thửnghiệm kiểm soát chỉ được thực hiện khi đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát củacác khoản nợ phải trả thấp hơn mức tối đa

+Thể thức để đạt được sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ được thựchiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán trong khi thử nghiệm kiểm soát đối vớicác khoản nợ phải trả được thực hiện trong giai đoạn thực hiện kiểm toán

Trang 30

+Các thể thức để đạt được sự hiểu biết chỉ được thực hiện cho một hoặc một

số nghiệp vụ kinh tế để có được đánh giá sơ bộ về tính đầy đủ và hiệu quả của cácthủ tục kiểm soát đối với các khoản nợ phải trả trong khi các thử nghiệm kiểm soátđược áp dụng với quy mô lớn hơn Hơn nữa, các thể thức của thử nghiệm kiểm soátkhông chỉ bao gồm các phương pháp của thể thức để đạt được sự hiểu biết mà còn

có thêm phép thử walk through (kiểm tra từ đầu đến cuối)

Thủ tục phân tích

Như trên đã nói, thủ tục phân tích được áp dụng trong tất cả các giai đoạn củacuộc kiểm toán Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, thủ tục phân tích được sửdụng để so sánh, đối chiếu và đánh giá tính hợp lý trên số dư các tài khoản Nếu thủtục phân tích cho thấy biểu hiện bất thường về mức độ biến động của một khoảnmục hay một loại tài sản thì kiểm toán viên sẽ thận trọng khi tiến hành kiểm tra chitiết số dư và nghiệp vụ Thủ tục phân tích thường được áp dụng đối với nợ phải trảngười bán và các khoản vay như sau:

+Đối với nợ phải trả người bán:

 So sánh tổng chi phí mua hàng năm nay với năm trước

 Tính tỷ lệ nợ phải trả người bán so với tổng hàng mua trong kỳ

 Tính tỷ lệ nợ phải trả người bán trên tổng nợ ngắn hạn

 So sánh các khoản phải trả của từng nhà cung cấp với các năm trước

 Xem xét sổ chi tiết phải trả người bán nhằm tìm ra những quan hệ đốiứng bất thường Ví dụ: những khoản phải trả lớn thường được thanh toán qua ngânhàng, nếu kiểm toán viên thấy rằng những khoản này được đơn vị thanh toán bằngtiền mặt thì kiểm toán viên sẽ đặt ra nghi vấn đối với những nghiệp vụ này

+Đối với các khoản vay:

 So sánh giữa chi phí lãi vay với số ước tính của kiểm toán viên (căn cứvào số dư nợ vay bình quân và lãi suất bình quân)

 So sánh chi phí lãi vay năm nay với các năm trước

 So sánh số dư nợ vay cuối năm và đầu năm

Sau khi đã áp dụng thủ tục phân tích, kiểm toán viên sử dụng đánh giá chuyênmôn để để rút ra kết luận về bằng chứng thu thập được:

Trang 31

+Nếu chênh lệch giữa dự đoán của kiểm toán viên với số liệu thực tế lớn hơnrất nhiều so với mức chênh lệch theo kế hoạch thì kiểm toán viên phải điều tra, tìmhiểu nguyên nhân, tính chất của chênh lệch.

+Nếu chênh lệch thấp hơn đáng kể mức chênh lệch theo kế hoạch, kiểm toánviên có thể kết luận rằng mục tiêu kiểm toán đã đạt được

+Nếu chênh lệch này xấp xỉ chêch lệch theo kế hoạch, kiểm toán viên sử dụngđánh giá của mình để xem xét liệu có nên chấp nhận chêch lệch này là chênh lệchkiểm toán và chuyển nó vào bảng tóm tắt chênh lệch kiểm toán chưa được điềuchỉnh hay tiến hành kiểm tra chi tiết để bổ sung thêm cho ý kiến của mình

Thủ tục kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ

Kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cụ thể của trắc nghiệmtin cậy thuộc trắc nghiệm công việc và trắc nghiệm trực tiếp số dư để kiểm toántừng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên khoản mục hay loại nghiệp vụ Kiểm tra chi tiết được xem là thủ tục kiểm toán đem lại bằng chứng có độ tincậy cao nhất và không thể thiếu được trong mọi cuộc kiểm toán Tuy nhiên việcthực hiện thủ tục này mất nhiều thời gian và chi phí nên các kiểm toán viên thườngtăng cường áp dụng thử nghiệm kiểm soát và thủ tục phân tích để giảm thủ tục kiểmtra chi tiết trên số dư và nghiệp vụ

Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với Nợ phải trả người bán và thủ tục kiểm tra chitiết đối với các khoản vay được thể hiện ở Bảng 1.3 và Bảng 1.4 như sau:

Bảng 1.3 Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với Nợ phải trả người bán Mục tiêu kiểm toán Kiểm tra chi tiết số dư Nợ phải trả

người bán

Tính hợp lý chung

Số dư tài khoản nợ phải trả người bán

và các số dư trong sổ hạch toán chi tiết

các khoản phải trả, các tài khoản tài

sản và chi phí liên quan đều hợp lý

So sánh chi phí mua hàng của năm nay vớinăm trước

Xem xét các khoản phải trả nhằm phát hiệnnhững khoản bất hợp lý

Đối chiếu các khoản phải trả trong sổ chitiết của năm nay với các năm trước để pháthiện những biến động bất thường

Các mục tiêu đặc thù Cộng tổng danh sách (Bảng kê) các khoản

Trang 32

Các khoản phải trả trong danh sách

(Bảng kê) thống nhất với sổ hạch toán

chi tiết Các khoản phải trả Số tổng

Các khoản phải trả trong sổ hạch toán

chi tiết phải có căn cứ hợp lý

Đối chiếu danh sách các khoản phải trả vớicác hóa đơn và các Bảng kê (nếu có) củangười bán

Lấy xác nhận các khoản phải trả, chú trọngcác khoản phải trả lớn và bất thường.Các khoản phải trả hiện có đều ở trong

danh sách (Bảng kê) các khoản phải

trả

Kiểm tra chi tiết các khoản nợ quá hạn

Các khoản phải trả trong danh sách

(Bảng kê) được đánh giá đúng đắn

Kiểm tra sổ hạch toán chi tiết các khoảnphải trả

Việc phản ánh nợ phải trả người bán

trong chu kỳ mua hàng và thanh toán

được vào sổ đúng kỳ

Thực hiện việc kiểm tra công nợ quá hạn.Đối chiếu với số liệu kiểm toán chu trìnhHàng tồn kho, xem xét hồ sơ hàng mua điđường

Tài khoản nợ phải trả người bán trong

chu trình mua hàng và thanh toán

được trình bày đúng đắn

Kiểm tra các khoản phải trả để đảm bảo nợphải trả người bán, nợ ngắn hạn và dài hạn(chịu lãi) được tách riêng

Nguồn: Kiểm toán tài chính – GS.TS Nguyễn Quang Quynh

Do khoản phải trả nhà cung cấp còn liên quan đến nhiều khoản mục khác:hàng tồn kho, vốn bằng tiền nên trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toánviên có thể trao đổi với các kiểm toán viên phụ trách các phần hành có liên quan để

bổ sung thêm thông tin về khoản mục này Sự hỗ trợ giữa các kiểm toán viên trongquá trình kiểm toán sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí và tăng hiệu quả cuộckiểm toán

Bảng 1.4 Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với các khoản vay Mục tiêu kiểm toán Thủ tục khảo sát chi tiết phổ biến

Tính hợp lý chung So sánh các khoản vay hiện tại với niên độ trước

Trang 33

Các khoản vốn vay và lãi

tính dồn, chi phí lãi vay

đều hợp lý

Tính lại chi phí lãi vay dựa trên lãi suất trung bình và

số tiền vay phải trả hàng tháng

So sánh tổng số dư các khoản vay, lãi tính dồn và chiphí lãi vay để thấy tính hợp lý của chúng

Các mục tiêu đặc thù

Các khoản vốn vay phải

trả hiện có đều được phản

ánh đầy đủ trên bảng kê

tiền vay

Đối chiếu từ chứng từ của các khoản vay với các sổ chitiết tiền vay để phát hiện những trường hợp bỏ sótThu thập các bảng xác nhận của ngân hàng và các chủvốn vay, đối chiếu cụ thể từng khoản vay với các bảngxác nhận đó để xác định sự tồn tại thực tế của cáckhoản vay

Thu thập các bảng xác nhận của ngân hàng và các chủ

nợ của các khoản vay trước đây nhưng hiện nay đãthanh toán hết để xác nhận rằng số dư của các khoảnvay này thực sự bằng 0

Phân tích chi phí lãi vay để phát hiện những khoảnthanh toán tiền vay hoặc lãi vay cho các chủ vốn vaykhông có thực

Xem xét lại các biên bản họp của Giám đốc, Hội đồngquản trị về các khoản vay đã được phê chuẩn nhưngchưa được vào sổ

Các khoản vốn vay đang

Đối chiếu sổ chi tiết tiền vay với các chứng từ có liênquan để tìm ra những trường hợp ghi khống

Kiểm tra việc đánh dấu các chứng từ nợ đã thanh toán

để bảo đảm là chúng không bị ghi sổ hai lần

Xác nhận các khoản vay phải trả

Các khoản vốn vay, lãi

vay phải trả được tính

Trang 34

liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước công bố tạitừng thời điểm.

Tính lại tiền lãi tính dồn và so sánh với tiền lãi tính dồn

đã hạch toán và ghi trên bảng liệt kê tiền vay

Các khoản vốn vay đều

được phân loại đúng đắn

Kiểm tra thời hạn vay, ngày đến hạn trả của từngkhoản để xác định tính đúng đắn của việc hạch toáncác khoản vay đó vào tài khoản “Vay ngắn hạn”, “Vaydài hạn” và “Nợ dài hạn đến hạn trả”

Kiểm tra việc sử dụng tiền vay theo mục đích đã camkết bằng cách xem xét thực tế sử dụng tiền vay so vớicam kết ghi trên hợp đồng hoặc khế ước vay

Các khoản vốn vay được

hạch toán đúng kỳ và kịp

thời

Kiểm tra và đối chiếu giữa ngày phát sinh nghiệp vụvay và thanh toán với ngày ghi sổ

Các khoản vốn vay, lãi

tiền vay tính dồn được

Sau khi tiến hành thực hiện các thể thức kiểm toán cho các khoản nợ phải trả,kiểm toán viên căn cứ vào các sai số trên mẫu để suy ra tổng sai số cho toàn bộ tổngthể (sai sót dự kiến) Ví dụ: nếu kiểm toán viên tìm thấy sai số thiếu đối với cáckhoản phải trả là 5 triệu đồng trong một mẫu 100 triệu của một tổng thể 900 triệuthì sai số ước tính cho toàn bộ các khoản phải trả là 45 triệu đồng Sau đó, kiểmtoán viên so sánh sai sót dự kiến của các khoản nợ phải trả với mức trọng yếu đượcphân bổ cho các khoản mục này để đánh giá về sự trình bày trung thực và hợp lýcủa các khoản mục này trên Báo cáo tài chính

Theo nguyên tắc chung, kiểm toán viên chỉ tiến hành điều chỉnh những saiphạm có ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp

Trang 35

tuy nhiên đối với các khoản phải trả có liên quan đến bên thứ 3, đặc biệt là khoảnphải trả người bán và các khoản vốn vay, các sai phạm dù không trọng yếu nhưngkiểm toán viên vẫn tiến hành điều chỉnh để đảm bảo sự thống nhất giữa hai bên.

3.3 Kết thúc kiểm toán.

Khâu cuối cùng của quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính là công việc lập báocáo kiểm toán về Báo cáo tài chính Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính là loạibáo cáo bằng văn bản do kiểm toán viên lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thứccủa mình về Báo cáo tài chính của một đơn vị đã được kiểm toán Báo cáo kiểmtoán có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng tùy theo yêu cầu của khách hàng Tuynhiên, trước khi đưa ra ý kiến của mình, kiểm toán viên cần tổng hợp các kết quảthu được và thực hiện một số thử nghiệm có tính chất bổ sung Các công việc nàybao gồm:

Xem xét các khoản công nợ ngoài dự kiến

Trên thực tế, có những sự kiện đã phát sinh trong năm và có thể dẫn đến mộtkhoản công nợ hay thiệt hại mà cho đến thời điểm khóa sổ vẫn chưa thể xác định là

có chắc chắn xảy ra hay không và số tiền cụ thể là bao nhiêu Những khoản có thểphải bồi thường đó là công nợ ngoài dự kiến Nghĩa vụ này nằm ngoài khả năngkiểm soát của đơn vị Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng Báo cáotài chính, đơn vị vẫn phải công bố các khoản công nợ ngoài dự kiến trọng yếu trênthuyết minh báo cáo tài chính Để xem xét liệu đơn vị có các khoản công nợ ngoài

dự kiến hay không, kiểm toán viên có thể trao đổi với các nhà quản lý, luật sư hay

tư vấn pháp lý của đơn vị hoặc xem xét các biên bản họp Hội đồng quản trị

Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 560: “các sự kiện phát sinh sau ngàykhóa sổ kế toán lập Báo cáo tài chính là những sự kiện có ảnh hưởng đến Báo cáotài chính đã phát sinh trong khoảng thời gian từ sau ngày khóa sổ kế toán lập Báocáo tài chính để kiểm toán đến ngày ký báo cáo kiểm toán và những sự kiện đượcphát hiện sau ngày ký báo cáo kiểm toán” Có hai loại sự kiện xảy ra sau ngày khóa

sổ kế toán lập Báo cáo tài chính:

Trang 36

+Các sự kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến Báo cáo tài chính và đòi hỏi phảiđiều chỉnh Báo cáo tài chính: đây là những sự kiện cung cấp bằng chứng bổ sung về

sự việc đã xảy ra trước ngày kết thúc niên độ và chúng có ảnh hưởng đến sự đánhgiá đối với những khoản mục có liên quan trong Báo cáo tài chính: kết quả vụ kiện,các tài sản không sử dụng được và nhượng bán sau ngày khóa sổ

+Các sự kiện không ảnh hưởng trực tiếp đến Báo cáo tài chính nhưng cần phảicông bố trên thuyết minh Báo cáo tài chính: đây là các sự kiện chỉ thực sự phát sinhsau ngày kết thúc niên độ, không phải điều chỉnh lại số liệu trên Báo cáo tài chínhnhưng do tầm quan trọng của vấn đề, đơn vị vẫn phải công bố trên thuyết minh Báocáo tài chính

Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 560 quy định: “Kiểm toán viên phải xâydựng và thực hiện các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểmtoán thích hợp để xác định tất cả những sự kiện đã phát sinh đến ngày ký báo cáokiểm toán xét thấy có ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính và phải yêu cầu đơn vị điềuchỉnh hoặc thuyết minh trong Báo cáo tài chính”

Để xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ, kiểm toán viên có thểkiểm tra các nghiệp vụ quanh thời điểm khóa sổ, các kế hoạch tài chính, biên bảncác cuộc họp quan trọng hoặc yêu cầu giám đốc hay tư vấn pháp lý của đơn vịcung cấp thêm thông tin

Xem xét giả định hoạt động liên tục

“Một đơn vị được coi là hoạt động liên tục trong một tương lai gần có thể dựđoán được (ít nhất là một năm kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán) khi không có ýđịnh hoặc yêu cầu phải giải thể, ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạtđộng, tìm kiếm sự bảo hộ từ các chủ nợ theo pháp luật và các quy định hiện hành”(Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 570 - Hoạt động liên tục)

Chuẩn mực này cũng quy định: kiểm toán viên và công ty kiểm toán có tráchnhiệm xem xét tính hợp lý của giả định hoạt động liên tục mà BGĐ đơn vị đã sửdụng khi lập và trình bày BCTC

Kiểm toán viên có thể căn cứ vào một số dấu hiệu sau để đánh giá về khả nănghoạt động liên tục của công ty khách hàng:

Trang 37

 Dấu hiệu về mặt tài chính: đơn vị có các chỉ số tài chính xấu hơn mức bìnhthường, không có khả năng thanh toán khi nợ đến hạn, mất nguồn hỗ trợ tài chính

 Dấu hiệu về mặt hoạt động: đơn vị bị thiếu thành phần lãnh đạo chủ chốtkhông thể thay thế, đơn vị bị mất một thị trường lớn hoặc mất một nhà cung cấpquan trọng

 Các dấu hiệu khác: thay đổi về mặt pháp luật hoặc chính sách của Nhànước làm ảnh hưởng bất lợi tới đơn vị

Đánh giá kết quả và đưa ra ý kiến kiểm toán

Trước khi lập báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá tổng quát vềcác kết quả thu được Thủ tục phân tích là một công cụ hữu hiệu để đánh giá tínhđồng bộ và xác thực của các thông tin tài chính thu thập được đồng thời hạn chếnhững thiếu sót hoặc phiến diện của các thủ tục kiểm toán áp dụng cho từng bộphận riêng lẻ

Kiểm toán viên so sánh mức trọng yếu ban đầu (hoặc đã điều chỉnh) của toàn

bộ BCTC với các sai sót tổng hợp chưa được điều chỉnh để đưa ra ý kiến Nếu cácsai sót tổng hợp lớn hơn mức trọng yếu thì kiểm toán viên sẽ đánh giá rằng đangcòn tồn tại một lượng lớn các sai phạm trọng yếu trên BCTC Ngược lại, kiểm toánviên phải xem xét, đánh giá từng khoản mục trên BCTC để xem xét liệu có khoảnmục nào còn tồn tại sai phạm trọng yếu

Căn cứ vào kết quả đánh giá, kiểm toán viên đưa ra một trong các loại ý kiến

về BCTC như sau:

 Ý kiến chấp nhận toàn phần: ý kiến chấp nhận toàn phần được sửdụng trong trường hợp kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng Báo cáo tàichính phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chínhcủa đơn vị được kiểm toán, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Namhiện hành (hoặc được chấp nhận)

 Ý kiến chấp nhận từng phần: ý kiến này được sử dụng khi kiểm toánviên cho rằng Báo cáo tài chính chỉ phản ánh trung thực và hợp lý nếu không bị ảnhhưởng bởi yếu tố ngoại trừ hoặc yếu tố tùy thuộc mà kiểm toán viên nêu trong báocáo kiểm toán

Trang 38

 Ý kiến không chấp nhận: ý kiến không chấp nhận được đưa ra trongtrường hợp các vấn đề không thống nhất với Giám đốc là quan trọng hoặc liên quanđến một số lượng lớn các khoản mục đến mức độ mà kiểm toán viên cho rằng ýkiến chấp nhận từng phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ sai sót trọngyếu của Báo cáo tài chính.

 Ý kiến từ chối: ý kiến từ chối được đưa ra trong trường hợp hậu quảcủa việc giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc thiếu thông tin liên quanđến một số lượng lớn các khoản mục tới mức mà kiểm toán viên không thể thu thậpđầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để có thể cho ý kiến về Báo cáo tàichính

Nợ phải trả là một khoản mục quan trọng trên BCTC nên kết quả kiểm toánkhoản mục này có ảnh hưởng rất lớn đến ý kiến của kiểm toán viên về BCTC:trong trường hợp chưa xét đến kết quả kiểm toán các khoản mục khác, nếu kiểmtoán viên nhận thấy có một lượng lớn sai phạm trọng yếu liên quan đến khoản mục

nợ phải trả chưa được điều chỉnh hoặc có những giới hạn về thời gian, phạm vikiểm toán làm cho kiểm toán viên không thể tiến hành đầy đủ các thủ tục kiểm toánđối với khoản mục này thì kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần.Hơn nữa, do nợ phải trả là một trong hai nguồn hình thành nên tài sản của doanhnghiệp nên trong một số trường hợp tùy vào tầm quan trọng của khoản mục này (vídụ: khoản mục nợ phải trả chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn) kiểmtoán viên còn có thể đưa ra ý kiến không chấp nhận hoặc ý kiến từ chối

Ngoài báo cáo kiểm toán chính thức, trong một số trường hợp kiểm toán viên cóthể lập thêm phần phụ lục đính kèm để bổ sung thêm thông tin về kết quả cuộc kiểmtoán hoặc kèm theo thư quản lý để giúp đơn vị chấn chỉnh công tác quản lý tài chính,

kế toán, xây dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ

Trang 39

PHẦN 2: KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN NỢ PHẢI TRẢ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ ĐỊNH GIÁ VIỆT NAM (VAE) THỰC HIỆN

I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ ĐỊNH GIÁ VIỆT NAM

1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Kiểm toán

và định giá Việt Nam

Công ty cổ phần kiểm toán và định giá Việt Nam được thành lập vào ngày21/12/2001 theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số : 0103000692 dưới hìnhthức công ty cổ phần gồm 6 cổ đông sáng lập với số vốn điều lệ ban đầu là 1 tỷVND Vốn điều lệ này được chia làm 10 000 cổ phần, được phát hành dưới hìnhthức cổ phiếu, giá trị 1 cổ phiếu là 100 000 VND Hiện nay, số vốn điều lệ của công

ty lên tới 2 tỷ đồng

Tên giao dịch của công ty là: VIET NAM AUDITING AND EVALUATIONJOINT STOCK COMPANY (VAE., JSC) Trụ sở chính của công ty đặt tại tầng 11tòa nhà sông Đà, Cầu Giấy, Hà Nội Ngoài ra công ty còn có 3 văn phòng đại diệnđặt ở 3 tỉnh: Hà Giang, Sơn La, Tp Hồ Chí Minh

Công ty cổ phần Kiểm toán và định giá Việt Nam được thành lập nhằm cácmục tiêu sau: +Góp phần tạo lập một môi trường kinh doanh minh bạch và hiệuquả: Đây là phương châm hoạt động của công ty, bằng các dịch vụ của mình công

ty giúp cho những người quan tâm có được những báo cáo tài chính có độ tin cậycao để họ có thể đưa ra những quyết định đúng đắn

+Không ngừng nâng cao lợi nhuận và lợi ích hợp pháp của cổ đông: Cũnggiống như các đơn vị hoạt động kinh doanh khác, lợi nhuận là mục tiêu quan trọng

và là yếu tố có ảnh hưởng sống còn đến sự tồn tại và phát triển lâu dài của công ty.Ngoài ra, với tư cách là một công ty cổ phần, việc đảm bảo cho lợi ích của các cổđông cũng là một yếu tố không thể thiếu

+Không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp: không chỉcung cấp dịch vụ kiểm toán, công ty còn mở rộng sang các lĩnh vực khác: tư vấn tài

Trang 40

chính, dịch vụ định giá Hiện nay, số lượng các loại hình dịch vụ mà công ty đăng

ký cung cấp trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh gồm 8 loại sau:

 Dịch vụ kiểm toán độc lập

Dịch vụ kế toán

Dịch vụ định giá tài sản

Tư vấn tài chính, kế toán, thuế

Tư vấn đầu tư

Đào tạo, giới thiệu việc làm trong lĩnh vực kế toán tài chính, thuế, kiểm toán,chứng khoán bảo hiểm

Sản xuất và cung cấp phần mềm tin học

Lập, tư vấn và quản lý, tổ chức thực hiện các dự án đầu tư xây dựng lập tổng

dự toán, thẩm định tổng dự toán, giám sát thi công

+Thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước: song song với sự phát triển củamình, số thuế thu nhập doanh nghiệp công ty nộp cho ngân sách nhà nước ngàycàng tăng Trong năm 2005, số thuế này lên tới hàng tỷ đồng

Sau hơn 4 năm hoạt động, công ty đã đạt được những sự phát triển vượt bậc,cho tới nay, số lượng công nhân viên của công ty lên tới khoảng 100 người trong đó

có 10 kiểm toán viên đăng ký hành nghề kiểm toán Sự lớn mạnh này còn được thểhiện thông qua kết quả hoạt động của công ty trong 3 năm 2002, 2003, 2004 nhưsau (đơn vị: VND)

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu thể hiện kết quả hoạt động của công ty

Chỉ tiêu Năm 2002 3 quý đầu Năm 2003 Năm 2004Doanh thu thuần 2.150.315.190 1.700.455.000 7.115.687.964Lợi nhuận trước thuế 639.156.123 840.694.330 1.013.167.070

Bảng 2.2: Cơ cấu doanh thu theo loại dịch vụ cung cấp (đơn vị: %)

Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004

Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư 25 24 20

Ngày đăng: 25/03/2013, 17:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Sơ đồ 1.1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán (Trang 12)
Bảng 1.2 Các mối quan hệ của rủi ro với bằng chứng phải thu thập - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 1.2 Các mối quan hệ của rủi ro với bằng chứng phải thu thập (Trang 23)
Bảng 1.3 Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với Nợ phải trả người bán Mục tiêu kiểm toán Kiểm tra chi tiết số dư Nợ phải trả - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 1.3 Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với Nợ phải trả người bán Mục tiêu kiểm toán Kiểm tra chi tiết số dư Nợ phải trả (Trang 31)
Bảng 1.4 Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với các khoản vay - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 1.4 Thủ tục kiểm tra chi tiết đối với các khoản vay (Trang 32)
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu thể hiện kết quả hoạt động của công ty - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu thể hiện kết quả hoạt động của công ty (Trang 39)
Bảng 2.3: Số lượng hợp đồng tương ứng với các loại hình dịch vụ - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.3 Số lượng hợp đồng tương ứng với các loại hình dịch vụ (Trang 40)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty VAE - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty VAE (Trang 45)
Bảng 2.5 Phương pháp kiểm toán một số tài khoản chủ yếu - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.5 Phương pháp kiểm toán một số tài khoản chủ yếu (Trang 59)
Bảng 2.6 Dự kiến kế hoạch và nội dung kiểm toán - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.6 Dự kiến kế hoạch và nội dung kiểm toán (Trang 60)
Bảng 2.8 Thủ tục kiểm toán để kiểm tra hệ thống kiểm soát - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.8 Thủ tục kiểm toán để kiểm tra hệ thống kiểm soát (Trang 65)
Bảng 2.10 Giấy tờ làm việc WP – N100 (Khách hàng VIC) - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.10 Giấy tờ làm việc WP – N100 (Khách hàng VIC) (Trang 72)
Bảng 2.11 Trích giấy tờ làm việc WP – N100 (Khách hàng STAR) - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.11 Trích giấy tờ làm việc WP – N100 (Khách hàng STAR) (Trang 73)
Bảng 2.14 Giấy tờ làm việc WP – N310/2 (Khách hàng STAR) - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.14 Giấy tờ làm việc WP – N310/2 (Khách hàng STAR) (Trang 77)
Bảng 2.16 Giấy tờ làm việc WP – N30 (Khách hàng VIC) - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.16 Giấy tờ làm việc WP – N30 (Khách hàng VIC) (Trang 81)
Bảng 2.17 Giấy tờ làm việc WP – N110 (Khách hàng STAR) - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.17 Giấy tờ làm việc WP – N110 (Khách hàng STAR) (Trang 83)
Bảng 2.18 Giấy tờ làm việc WP – N120 (Khách hàng STAR) - 366 Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và định giá Việt Nam thực hiện
Bảng 2.18 Giấy tờ làm việc WP – N120 (Khách hàng STAR) (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w