Việc trao đối mua bán giữa các nước đòi hỏi phải ký kết những hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế viết tắt là HĐMBHHQT nên việc hiểu và nắm rõ luật áp dụng cho HĐMBHHQT là điều cần thiết v
Trang 1* CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐÓNG MUA BÁN ¥
Ạ HANG HOA QUOC TE - DE XUAT CHO VIET NAM Ạ
\ Ạ
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS Lê Minh Trung Huỳnh Văn Sáng
MSSV: 5095458 Lớp: Luật thương mại 2 — K35
> CAN THO, 2013 <
2 ¢ SK 9 =
Trang 2
NHAN XET CUA GIANG VIEN
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU -2-222222 rrrrrriei
1 Tính cấp thiết của đề tài 22 22cc22E2n 2E 221.21112.c re 1
2 Mục đích nghiên cứỨu - cc cececeeeeeseseseseeceeeceeesescneeeseseseeneeeeseaeaeee 2
KNyurìi0/02) 200.0 2
4 Phương pháp nghiên cứu - +5 5S H101 rrờ 2 5 Kết cấu luận văn -2 ©22-+22+22E2111127111227111271111711127111 111 Eee 2 CHƯƠNG 1: MỘT SÓ VÁN ĐÈ CHUNG VÈ HỢP DONG MUA BAN HANG HOA QUOC TE VA CHON LUAT AP DUNG TRONG HỢP ĐÔNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ .-2 ©2s22EEt2EEE2EEEcEErerrer 4 1.1 Một số vấn đề chung về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 4
In si 4
1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa -©ce©cccccscseces 4 1.1.1.2 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế . -+ 5
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế -:-+ 8
1.1.2.1 Chủ thể của hợp đông mua bán hàng hóa quốc tẾ -¿ 8
1.1.2.2 Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tỄ 9
1.1.2.3 Đông tiền thanh toán trong hợp đông mua bán hàng hoá quốc tễ 11
1.1.2.4 Hình thức của hop đông mua bán hàng hóa quốc t : 11
1.1.3 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại quéc té 12
1.2 Chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 13
1.2.1 Khái niệm về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
ÔÖÔÖÔÖÔÖÔÖÖÖÖÔ Ô,ÔỎ 13
1.2.2 Vai trò của việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 41.2.3 Nguồn luật được chọn đề áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
1.2.3.2 Tập quán thương mại quốc tế .l7
1.2.3.3.Pháp luật quốc 8Ì4 e5 EEE2E12111111211221111111.1 1e 17
CHƯƠNG 2: CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐÒNG MUA BÁN
HÀNG HOÁ QUỐC TÉ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẺN - 20
2.1 Nguyên tắc chọn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
' .LL 20
2.1.1 Trường hợp các bên lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng
hóa quỐC tẾ 2-2 ©5£©S29SE9EE9EE92E12E192157112112111212112112111711112112111111 21111 Xe 21 2.1.1.1 Hình thức chọn luGt Gp Aung ccccecccescccscceseceseessecnseceneceseesseesseesseeseeeaees 21 2.1.1.2 Phạm vị chọn luật áp dung cceesccesccssccesseeseeeseesneesteeseesseeeseeseeeseeseeeeaees 21 2.1.1.3 Thời điểm chọn luật áp dụng và thay đổi luật được lựa chọn 23
2.1.2 Trường hợp các bên không lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua
2.2 Yêu cầu về sự thể hiện của điều khoản chọn luật cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tẾ 2 ©22¿+2E2E2tEEE11227111127111227111271122711.2.11Xe 25 2.3 Hạn chế đối với sự tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tẾ -2-©222222E11EEEE1112711112111122711122111.2.011 xe 27
2.3.1 Hợp đồng nội địa 5-©26- 2< 221 22122112711271127112712211 211211211 xe 27 2.3 2 Luật lựa chọn phải có mối quan hệ thực chất với hợp đồng " 29
2.3.3 Thỏa thuận chọn nguyên tắc quốc tế dé điều chính hợp đồng 29
2.3.4 Hạn chế quyền chọn luật áp dụng đối với một số hợp đồng nhất định 32 2.3.5 Quy phạm xung đột của Việt Nam xác định hệ thống pháp luật của nước
nào sẽ được sử dụng đề điều chỉnh quan hệ hợp đỗng 222222 32
GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Huỳnh Văn Sáng
Trang 52.4 Hạn chế sự áp dụng của luật trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được lựa chọn bởi các bên . -222cc2ccvvrcrrrrrvrrcree 33
2.4.1 Trong một số trường hợp, các bên chỉ được chọn pháp luật nước ngoài khi pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thê .-. ¿ 5¿5c+z52sz+zsecss+ 33 2.4.2 Chọn pháp luật nước ngoài nhưng việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp
dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP
ĐÔNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TÉ VÀ ĐÈ XUẤT HOÀN THIỆN
OO VIET NAM 0H 36
3.1 Thực trạng chọn luật áp dụng và những hạn chế trong việc chọn luật
áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt Nam 36
3.1.1 Thực trạng chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO),
điều này đặt Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội cũng như không ít thách thức Cơ hội
ở đây là Việt Nam có được những điều kiện thuận lợi để xuất cũng như nhập những
hàng hóa từ các nước khác từ đó giúp kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta không ngừng được tăng cao, đây là nguồn lợi vô cùng lớn, không những vậy nó còn quảng
bá được hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế
Việc trao đối mua bán giữa các nước đòi hỏi phải ký kết những hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết tắt là HĐMBHHQT) nên việc hiểu và nắm rõ luật áp dụng
cho HĐMBHHQT là điều cần thiết vì một khi tranh chấp xảy ra thì luật nào được áp
dụng sẽ dẫn đến những quyền và nghĩa vụ tương ứng cho các bên ký kết hợp đồng, điều này là vô cùng quan trọng vì lợi ích của các bên sẽ gắn liền với quyền và nghĩa
vụ đó
Trước xu thế phát triển mạnh mẽ của các quan hệ thương mại quốc tế trên phạm vi toàn cầu, pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế là một trong những vấn
đề quan trọng được các quốc gia quan tâm, đây được coi là công cụ pháp lý phổ biến
dé thực hiện các giao dịch trong các quan hệ thương mại quốc tế
Do tính chất đặc thù của hợp đồng quốc tế là loại hợp đồng có liên quan đến
hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, nên trong quá trình giao kết và thực hiện
đã gây ra không ít những vấn đề pháp lý phức tạp Đặc biệt, khi phát sinh các tranh chấp về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại quốc tế, các bên trong tranh chấp thường lúng túng, không biết việc giải quyết các tranh chấp đó sẽ ra sao?, hậu quả pháp lý như thế nào do không hiểu biết về hệ thống pháp luật sẽ được đem ra áp dụng để giải quyết tranh chấp)
Nhận thấy tầm quan trọng cũng như sự quan tâm của nhiều người về vấn đề nêu trên, người viết đã đi sâu nghiên cứu đề tài: “Lý luận và thực tiễn về chọn luật
áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - đề xuất cho Việt Nam”
Trang 72 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tiếp cận nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật về chọn luật áp dụng cho HĐMBHHQT giữa
các bên cũng như thực tiễn thi hành các quy định này, đồng thời có sự so sánh giữa
các quy định của luật và thực tiễn thực hiện Bên cạnh đó người viết cũng so sánh giữa quy định của Việt Nam với các nước về vấn đề được đặt ra Từ đó sẽ tìm ra
những thiếu sót, bất cập trong các quy định của luật về vấn đề liên quan, sau cùng là
đề xuất phương hướng hoàn thiện để nhằm góp phần thu hẹp dần sự khác biệt giữa
pháp luật quốc gia với pháp luật các nước
3 Phạm vi nghiên cứu
Vì là HĐMBHHQT nên việc xem xét nó thật sự là một vấn đề rất quan trọng
và đầy phức tạp Do đề tài chỉ đừng lại ở “Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong HĐMBHHQT - đề xuất cho Việt Nam” cho nên người viết chỉ tập trung nghiên
cứu vây quanh phần kỹ thuật trong chọn luật áp dụng và một số nội dung cơ bản của chọn luật áp dụng
4 Phương pháp nghiên cứu
Vấn đề về chọn luật áp dụng trong HĐMBHHQT rat rộng nên về mặt thực tiễn người viết khó có thể sưu tầm, trải nghiệm thực tế, do đó người viết chỉ lựa chọn sử
dụng phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích luật viết theo Công ước Viên 1980, Công ước Rome 1980, Quy tắc Rome I 2008 và quy định của luật
Việt Nam, bên cạnh là một số văn bản, trang web bổ sung cho quá trình nghiên cứu
5 Kết cấu luận văn
Với mục đích và phạm vi nghiên cứu ở trên, đề tài ngoài mục lục, lời mở đầu, tài liệu tham khảo, về kết cầu luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: MOT SO VAN DE CHUNG VE HOP DONG MUA BAN HÀNG HOA QUOC TE VA CHON LUAT AP DUNG TRONG HOP DONG MUA BAN
HANG HOA QUOC TE Trong chuong nay nguoi viét sẽ đề cập đến những vấn đề
Trang 8chung của HĐMBHHQT, khái niệm, vai trò của chọn luật áp dụng cũng như nguồn
luật điều chỉnh trong HĐMBHHQT
Chương 2 CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐÔNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TÉ - LÝ LUẬN VÀ THỤỰC TIẾN Chương 2 đi chỉ tiết vào các nguyên tắc chọn luật áp dụng trong HDMBHHQT, han chế trong việc chọn luật trong
HĐMBHHQT
Chương 3 THỰC TRẠNG CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐÔNG MUA BAN HÀNG HÓA QUỐC TÉ VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN Ở VIỆT NAM Chương cuối là những thực trạng, hạn chế và đề xuất những hướng hoàn thiện về việc chọn luật áp dụng trong HĐMBHHQT ở Việt Nam
Mặc dù đã cố gắng hết sức trong quá trình nghiên cứu luận văn nhưng do đây
là vấn đề còn khá mới mẽ, thời gian nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo còn hạn
chế Quan trọng hơn hết, do kiến thức của người viết còn hạn hẹp, lại chưa có điều kiện tiếp cận nhiều với thực tiễn do đó có những ý tưởng trong luận văn phần lớn mang tính lý thuyết và có thể không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, người viết hy vọng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn đọc để
bài viết này được hoàn thiện tốt hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 9CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE HOP DONG MUA BAN HÀNG HOA QUOC TE VA CHON LUAT AP DUNG TRONG HOP
DONG MUA BAN HANG HOA QUOC TE
1.1 Một số vấn đề chung về hợp đồng mua ban hàng hóa quốc tế
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Luật thương mại năm 2005 có một chương quy định về mua bán hàng hóa
(Chương II) nhưng không xác định cụ thể, trực tiếp về khái niệm và phạm vi nội hàm
của hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo khoản 2 và khoản § Điều 3 Luật thương mại 2005: “Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kế cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền
với đất đai”
“Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao
hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có
nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”
Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức
pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa Trước tiên, hợp đồng mua bán hàng hóa có
bản chất chung của một hợp đồng, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa! Mặc dù Luật thương mại
2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng trên cơ sở Điều
428 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hợp đồng mua bán tài sản và khoản 8 Diéu 3 Luật thương mại 2005, chúng ta có thê vận dụng để rút ra khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: Hợp đông mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên,
1 Theo Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005
Trang 10theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua
có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiễn cho bên bán Như vậy, hợp đồng mua bán hàng
hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản trong pháp luật dân sự (hiểu theo nghĩa rộng)
1.1.1.2 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hoạt động thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể
khác nhau vượt quá biên giới lãnh thổ của một quốc gia, hoạt động thương mại quốc
tế chủ yếu là hoạt động xuất nhập khẩu Công cụ pháp lý được sử dụng cho hoạt động này chính là hợp đồng
Hiện nay có rất nhiều tên gọi khác nhau cho loại hợp đồng này: Hợp đồng
mua bán trong tư pháp, hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa, hợp đồng mua bán quốc tế, hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân
nước ngoài, Tuy có nhiều cách gọi khác nhau nhưng tất cả đều có chung một cách
nhìn đó là hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế
Mặc dù có chung cách nhìn nhận về hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế, nhưng cách hiểu của các nước lại khác nhau
Theo tinh thần Điều I của Công ước Lahaye 1964 về mua bán quốc tế động
sản hữu hình thì một hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là HĐMBHHQT khi các bên chủ thể có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng hóa trong hợp đồng được dịch chuyển qua biên giới và hợp đồng được xác lập ở các nước khác nhau Theo khoản 1 Điều 1 của Công ước Viên 1980 về HĐMBHHQT, yếu tố nước ngoài của hợp đồng là yếu tố chủ thể của hợp đồng Chủ thể của hợp đồng là các bên có trụ
sở thương mại ở các nước khác nhau Cả hai công ước đều không đề cập đến yếu tố
quốc tịch mà có chung quan điểm thống nhất tiêu chuẩn xác định yếu tố nước ngoài của HĐMBHHQT là các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau Tiêu chuẩn
này có lợi cho các bên khi tham gia ký kết hợp đồng có thể xác định được trụ sở
thương mại một cách dễ dàng
Trang 11Theo pháp luật của Cộng hòa nhân dân Trung hoa về hoạt động kinh tế đối
ngoại thì “hợp đồng ngoại thương là tất cả các hoạt động mà trong đó có một bên là
công dân nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài và nội dung của chúng là những
hoạt động kinh doanh gắn liền với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa” Theo quan
điểm trên, yếu tổ quốc tế trong HĐMBHHQT được thể hiện khi chủ thể tham gia HĐMBHHQT phải có quốc tịch khác nhau và hàng hóa là đối tượng phải được dịch
chuyền qua biên giới
Theo cách nhìn nhận của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì dấu hiệu quốc tế là bên mua và bên bán phải có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau Quốc tịch của các bên không phải là yêu tố để phân biệt cho dù người mua và người
bán có quốc tịch khác nhau nhưng việc mua bán được thực hiện trên cùng một lãnh
thô quốc gia cũng không được xem là HĐMBHHQT
Ở Pháp, người ta căn cứ vào hai tiêu chuẩn để xác định tính quốc tế của hợp
đồng Đó là tiêu chuẩn pháp lý và tiêu chuẩn kinh tế Theo tiêu chuẩn pháp lý, HĐMBHHQT nó bị chỉ phối bởi tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú, nơi thực hiện nghĩa vụ .; còn theo tiêu chuẩn kinh tế thì HĐMBHHQT là
hợp đồng tao ra sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước
Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam cũng không quy định về khái niệm
của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hoặc yếu tố quốc tế, nước ngoài của hợp
đồng mua bán hàng hóa mà chỉ có định nghĩa về mua bán hàng hoá quốc tế tại Điều
27 Luật thương mại 2005 như sau:
“1 Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuắt, tái nhập và chuyền khẩu
2 Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng
van ban hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”
Từ đó có thể suy luận rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật
Việt Nam là văn bản thỏa thuận của các cá nhân, tổ chức trong việc xuất khẩu, nhập
Trang 12khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyên khẩu hàng hóa Hai hay nhiều bên tham gia giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế - một loại giao dịch dân sự” hoặc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - một loại hợp đồng dân sự theo pháp luật Việt Nam có thể là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài
có nơi cư trú hoặc trụ sở ở Việt Nam hoặc nước ngoài Nghĩa là, theo quy định của Luật thương mại 2005, hoạt động mua bán hàng hóa được coi là mua bán hàng hóa quốc tế không phụ thuộc vào nơi cư trú, trụ sở hay quốc tịch của các bên là Việt Nam
hay nước ngoài Luật thương mại 2005 lấy tiêu chí vận chuyển hàng hóa qua biên giới đễ xác định một quan hệ mua bán hàng hóa là mua bán hàng hóa quốc tế
Mặt khác, Điều 758 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tô
chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ
dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ đề xác lập, thay đối, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” Như vậy, khái niệm “mua bán hàng hóa quốc tế” với tư cách là hoạt động thương mại hoặc quan hệ thương mại theo khoản I Điều 27 Luật thương mại 2005 có phạm vi hẹp hơn so với “mua bán hàng
hóa có yếu tố nước ngoài” xuất phát từ khái niệm “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” theo Điều 758 Bộ luật dân sự 2005 Căn cứ “quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài” tại Điều 758 Bộ luật dân sự 2005, chúng ta có thể xác định các dấu hiệu của
một quan hệ mua bán hàng hóa là “có yếu tố nước ngoài” như sau:
- Ít nhất một trong các bên tham gia mua bán hàng hóa là cơ quan, tô chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
? Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm đứt
quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 121 Bộ luật Dân sự 2005)
3 Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 388 Bộ luật dân sự 2005)
Trang 13- Các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ đề xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ mua bán hàng hóa theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại
nước ngoài
- Hàng hóa - đối tượng mua bán ở nước ngoài
Trong khi đó, “mua bán hàng hóa quốc tế” theo Luật thương mại 2005 chỉ căn
cứ vào tiêu chí duy nhất là hàng hóa được vận chuyển qua biên giới
về nguyên tắc, Bộ luật dân sự với tư cách là đạo luật “gốc” sẽ có hiệu lực áp dụng đối với các hoạt động thương mại chưa được điều chính bởi Luật Thương mại
Theo khoản 3 Điều 4 Luật thương mại 2005: “Hoạt động thương mại không được quy
định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự”
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và HĐMBHHQT có một số điểm tương đồng như: bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho
bên mua và nhận thanh toán còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và chuyển quyền sở hữu (Điều 428 Bộ luật dân sự 2005; khoản 8 Điều 3 Luật thương mại 2005) Trong khoa học pháp lý có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này,
song theo người viết HĐMBHHQT khác với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước
ở tính quốc tế của nó (tính quốc tế của hợp đồng đã được phân tích ở phần khái niệm)
Chính tính quốc tế của hợp đồng đã làm cho HĐMBHHQT có những đặc điểm quan
trọng
1.1.2.1 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trên thực tế thì pháp luật thương mại quốc tế không có sự điều chính đặc biệt nảo đối với chủ thê của HĐMBHHQT Điều này được giải thích bởi chủ thể của hoạt
động này (pháp nhân hay cá nhân — thương nhân) có được quyền ký kết hợp đồng hay
không thì phải phù hợp với pháp luật quốc gia áp dụng đối với các chủ thể đó Theo
quy định của pháp luật Việt Nam, HĐMBHHQT được coi là hợp pháp khi chủ thể của
Trang 14hợp đồng hợp pháp, tức là cĩ năng lực pháp luật và người ký kết cĩ năng lực hành vi
Đối với chủ thể phía Việt Nam, tư cách pháp lý của họ được xác định dựa theo
Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật cĩ liên quan Khi tham gia vào các HĐMBHHQT, chủ thể của hợp đồng thường là các thương nhân Đối tượng cũng được xem là một trong những đặc điểm quan trọng của HĐMBHHQT
1.1.2.2 Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hĩa quốc tế
Đối tượng của HĐMBHHQT là các hàng hĩa được phép mua bán Thơng
thường, pháp luật các nước trên thế giới đều xác định những đối tượng nào được coi
là hàng hĩa
Hàng hĩa theo quan điểm của Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ là tat cả
các vật, bao gồm cả những hàng hĩa đặc biệt mà cĩ thê chuyên dịch vào thời điểm xác định đối với hợp đồng mua bán hàng hĩa, các chứng khốn đầu tư và các vật đang trong quá trình kiện tụng Hàng hĩa cũng bao gồm con chưa sinh ra của động vật, mùa màng đang phát triển và những vật khác hình thành trong tương lạŠ
Cơng ước Viên 1980 khơng đưa ra một khái niệm trực tiếp về hàng hĩa Nhưng tại Điều 2 Cơng ước cĩ quy định: Cơng ước sẽ khơng áp dụng trong các trường hợp mua bán đấu giá, hàng hĩa dùng cho cá nhân, mua chứng khốn, tàu thủy, máy bay, Vậy ta cĩ thể nĩi rằng, việc mua bán hàng hĩa ngồi những hàng hĩa mà Điều 2 Cơng ước Viên 1980 quy định thì đĩ chính là đối tượng của HĐMBHHQT
* Giáo trình luật hợp đơng thương mại quốc tế - Khoa kinh tế - Trường Đại học quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, Nxb.Đại học quốc gia thành phĩ Hồ Chí Minh, 2005, tr I
3 Nguyễn Vũ Hồng: Về các tiêu chí xác định hợp đơng mua bán hàng hĩa quốc tế, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số I1 (187)/2003, tr.25
Trang 15Ở Việt Nam, khái niệm hàng hóa được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật thương mại 2005 Theo đó, hàng hóa là tất cả các loại động sản, kế cả động sản hình
thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất
Như vậy, pháp luật các nước nói chung có những quan điểm khác nhau về hàng hóa Sự khác nhau này dẫn đến hệ quả là cùng một thực thê nhưng theo pháp luật nước này thì được phép mua bán, còn theo pháp luật nước khác thì có thể bị cắm
mua bán
Đối với các HĐMBHHQT thông thường hàng hóa được mua bán sẽ được dịch
chuyên qua lại biên giới hải quan một hoặc nhiều quốc gia khác nhau, dễ thấy nhất là
các hợp đồng xuất nhập khẩu Cho nên, những hàng hóa này không những chỉ đơn thuần là được phép mua bán mà phải còn được phép xuất khẩu theo quy định của pháp luật các quốc gia hữu quan
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp hàng hóa không cần hoặc không thể dịch chuyền qua lại biên giới Điều đó được khẳng định qua ví dụ, một hợp đồng mua bán
hàng hóa được giao kết giữa một bên công dân Việt Nam định cư tại Việt Nam và một
bên công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, và hàng hóa mà các bên hướng đến
đang tồn tại ở Việt Nam Khi đó, dù hàng hóa có được chuyền ra khỏi lãnh thổ Việt
Nam hay không, thì hợp đồng đó vẫn được xem là HĐMBHHQT do đã thỏa mãn điều
kiện chủ thể của hợp đồng là các bên của hợp đồng cư trú tại các quốc gia khác nhau
Hơn nữa, nếu hàng hóa đó là vật gắn liền với đất thì rõ ràng hàng hóa đó cũng không
thể vận chuyên được
Như vậy, có thê khẳng định rang, hang hóa là đối tượng của HĐMBHHQT có
thể hoặc không thê được di chuyển qua lại biên giới Hàng hóa có hợp pháp hay
không cũng rất quan trọng, nếu hàng hóa đó là hàng hóa bị pháp luật quốc gia hay
pháp luật quốc tế cắm thì xem như là đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện
được
Trang 161.1.2.3 Đông tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Đối với các hợp đồng mua bán trong nước, đồng tiền thanh toán thường là nội
tệ Trong HĐMBHHQT, các bên có thê thỏa thuận chọn đồng tiền thanh toán là đồng tiền của nước người mua, nước người bán hoặc của một nước thứ ba nào đó Do đó,
đồng tiền thanh toán trong HĐMBHHQT thường là ngoại tệ đối với ít nhất một bên
hoặc cả hai bên của hợp đồng Ví dụ, một doanh nghiệp Việt Nam bán một lô hàng
thủy sản đông lạnh cho một doanh nghiệp Mỹ Các bên chọn đồng tiền thanh toán là
đồng đô la Mỹ Đồng đô la Mỹ là ngoại tệ đối với doanh nghiệp Việt Nam Trong
trường hợp nếu hai bên của hợp đồng thỏa thuận là thanh toán bằng đồng EURO thì
lúc này đồng EURO là ngoại tệ đối với cả hai bên Việt Nam và Mỹ Nếu các bên có thỏa thuận động tiền thanh toán là của nước thứ ba thì nên sử dụng đồng USD hoặc
đồng EURO để thanh toán vì tương đối ổn định và thường được sử dụng rộng rải hơn
các loại tiền tệ khác
1.1.2.4 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Một hợp đồng có hiệu lực khi nó được các bên ký kết theo hình thức do luật định Pháp luật của nhiều nước cho phép các bên được tự đo trong việc lựa chọn hình
thức của hợp đồng ngoại trừ một số trường hợp nhất định pháp luật bắt buộc phải tuân
theo một hình thức nhất định
Theo quy định của khoản 4 Điều 81 Luật thương mại Việt Nam năm 1997, thì HĐMBHHQT phái được ký kết bằng văn bản Luật thương mại năm 2005 cũng quy định hợp đồng phải được ký kết bằng văn bản hoặc những hình thức khác tương đương (khoán 2 Điều 27) Tuy nhiên có thể nói rang hợp đồng mua bán hàng hóa nói
chung và HĐMBHHQT nói riêng, trong mọi trường hợp nên được ký kết bằng văn bản
Theo Điều 11 Công ước Viên 1980 quy định rằng, HĐMBHHQT không nhất thiết phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay tuân thủ một yêu cầu nào khác
về hình thức hợp đồng Sự tồn tại của hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, trong đó có cá lời khai của người làm chứng Với quy định tại Điều 11 như vậy
Trang 17ta thấy thuận lợi cho các bên giao kết hợp đồng Nhưng nó chỉ thật sự thuận lợi đối
với những quốc gia có nền kinh tế phát triển, đối với những quốc gia có tốc độ kinh tế
chậm phát triển, thì khả năng quản lý chưa cao, nên việc quy định quá thoáng như vậy
đôi khi sẽ gây tác dụng ngược lại Chẳng hạn, các quốc gia này cho rằng quốc gia mình chỉ có khả năng quản lý, thực hiện các hợp đồng bằng văn bản, như vậy sẽ hạn chế sự tham gia của các quốc gia vào Công ước Và nó sẽ đi ngược lại với mong
muốn của Ủy ban thương mại quốc tế và những nhà soạn thảo là tạo ra một luật chung
thống nhất áp dụng cho tắt cả HĐMBHHQT với sự tham gia của càng nhiều quốc gia thì hiệu quả càng cao Công ước Viên 1980 không dừng lại ở đây mà lại quy định thêm ở Điều 96 của Công ước, nếu luật một quốc gia thành viên nào quy định hợp
đồng phải được ký kết đưới hình thức văn bản mới có giá trị thì yêu cầu phải được thê hiện dưới hình thức văn bản phải được tôn trọng (kế cả trong trường hợp chỉ cần một
trong các bên có trụ sở thương mại tại quốc gia có luật quy định hợp đồng phải được
thể hiện ngoài hình thức văn bản)
Có quá nhiều sự khác biệt trong quan điểm của các nước về đối tượng, về chủ
thể và hình thức của HĐMBHHQT Vì vậy, vẫn đề chọn luật điều chỉnh hợp đồng cần phải được đặt ra
1.1.3 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại quốc tế
Ngày nay, hoạt động xuất nhập khẩu đã trở thành một lĩnh vực mũi nhọn trong
hoạt động kinh tế đối ngoại của mọi quốc gia Trao đối hàng hóa quốc tế trở thành
một hoạt động sống còn của tất cả các nước bởi vì không một quốc gia nào trên thế
giới tồn tại độc lập mà không có mối quan hệ với các quốc gia bên ngoài, đặc biệt là
trong lĩnh vực kinh tế Tắt cá các hoạt động mua bán hàng hóa với bên ngoài đều phải
thông qua hợp đồng Vì thế HĐMBHHQT đã trở thành hình thức luật gián tiếp quản
lý hoạt động thương mại quốc tế
Thông qua việc ký kết và thực hiện HĐMBHHQT, các chủ trương, đường lối, chính sách ngoại thương của Nhà nước được thực hiện Do đó, HĐMBHHQT trở thành công cụ góp phần quan trọng vào việc cũng có, mở rộng và phát triển quan hệ
Trang 18kinh tế giữa các quốc gia với nhau Mặt khác, nó là chiếc cầu nối trong quan hệ cung
cầu giữa bản thân một quốc gia với quan hệ cung cầu ở quốc gia khác, thông qua đó
góp phần đây mạnh và phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động, khai thác có
hiệu quả nguồn tài nguyên cũng như tiềm năng về lao động ở mỗi nước
Về mặt pháp lý, có thể nói HĐMBHHQT là công cụ pháp lý duy nhất và có hiệu quả để các bên bảo vệ lợi ích của mình trong điều kiện nguồn luật điều chính
HĐMBHHQT phức tạp và đa dạng, nếu không thông qua hợp đồng đề quy định chỉ tiết, chặt chế quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, có thể dẫn đến những hậu quả
nghiêm trọng Mặt khác, giá trị được tạo ra từ HĐMBHHQT là rất lớn, nên chỉ cần
một sơ suất nhỏ đôi khi dẫn đến những thiệt hại không lường”
1.2 Chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.2.1 Khái niệm về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Chọn luật áp dụng trong HĐMBHHQT là sự lựa chọn luật để áp dụng bởi các
bên tham gia hợp đồng có thể là: Điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, tập quán quốc
tế, Sự lựa chọn này là hoàn toàn do các bên quyết định trên cơ sở thỏa thuận nhưng trong một phạm vi nhất định Việc chọn luật áp dụng đảm bảo cho các bên biết mà
thực hiện đúng và để khi có tranh chấp xảy ra có căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích
của họ
1.2.2 Vai trò của việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Về nguyên tắc, các vấn đề lý luận chung của hợp đồng quốc tế phù hợp với lý luận về hợp đồng trong pháp luật quốc gia Trong hệ thống pháp luật của nhiều nước, nguyên tắc tự do ý chí, tự do thỏa thuận là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong pháp
luật về hợp đồng Pháp luật nhiều nước cũng thừa nhận hợp đồng là “luật giữa các
bên” do vậy lời lẽ và các từ ngữ trong hợp đồng luôn tiềm ấn sức mạnh ràng buộc trách nhiệm của các bên và nhằm “báo vệ mong muốn giữa các bên” Tuy nhiên,
nguyên tắc tự do ý chí trong hợp đồng cũng có giới hạn của nó, và pháp luật về hợp
5 Diệp Ngọc Dũng, Cao Nhất Linh: Tập bài giáng Tư pháp quốc tế, Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, 2002, tr.95
Trang 19đồng của mỗi quốc gia sẽ vạch ra giới hạn đó Do vậy, khi giao kết các hợp đồng quốc
tế, các bên cũng cần biết giới hạn sự tự do thỏa thuận của mình như thế nào và cần căn cứ vào cơ sở pháp lý nào đề xác định Trên thực tế mặc dù các bên có quyên tự do
giao kết hợp đồng cũng luôn nằm trong khuôn khổ cho phép của pháp luật Không có
hợp đồng nào nằm ngoài một một hệ thống pháp luật nhất định cả, nói cách khác “hợp dong luôn chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp nhất định”, và không tồn tại khái
niệm “hợp đồng không luật”
Vì lý do đó, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên cần quan
tâm hợp đồng giữa họ sẽ được chỉ phối, hoặc được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật
nước nào?
Mặt khác, không có hợp đồng nào là hoàn hảo cả, vì sự thỏa thuận của các bên
không phải lúc nào cũng lường trước mọi tình huống có thể phát sinh trong tương lai,
do vậy nếu hợp đồng không quy định một vấn đề nào đó thì khi tranh chấp phát sinh,
để giải quyết cần căn cứ vào hệ thống luật áp dụng cho hợp đồng đó
Như vậy, mối quan hệ giữa pháp luật và hợp đồng là gì? Sự cần thiết của việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng vì thế được đặt ra với các bên ngay từ khi đàm
phán thương lượng xây dựng hợp đồng và với các cơ quan tài phán khi có tranh chấp
phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng quốc tế Việc lựa chọn luật áp dụng đối với các hợp đồng quốc tế có ý nghĩa quan trọng vì những lý do sau:
Thứ nhất, đối với các bên tham gia giao kết hợp đồng: luật áp dụng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm các quyền lợi chính đáng của họ, vì họ thường lựa
chọn hệ thống pháp luật gần gũi nhất với họ và họ hiểu rõ nhất về sự lựa chọn đó, còn đối với các cơ quan tài phán thì luật áp dụng đối với hợp đồng còn là cơ sở pháp lý để xem xét giá trị pháp lý của hợp đồng và giải quyết tranh chấp, vì nếu chỉ căn cứ vào
hợp đồng thì trong nhiều trường hợp, hợp đồng không quy định hết mọi vấn đề có thé
phát sinh trong quá trình thực hiện
7 Xem Bùi Thị Thu: Một số vấn đề về chọn luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế theo công
ước Rome 19/6/1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11 (211), 2005, tr.71
Trang 20Thứ hai, việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng còn nhằm đảm bảo sự ổn
định, tính thống nhất cho việc thực hiện các hợp đồng quốc tế, tránh sự thiếu hiểu biết lẫn nhau, gây bất đồng tranh chấp Đặc biệt, có thể coi luật áp dụng cho hợp đồng là
một hành lang pháp lý an toàn, đảm bảo khả năng dự liệu trước mọi tình huống có thé phát sinh trong tương lai, tránh rủi ro, thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra
Như vậy, việc chọn luật áp dụng đối với các hợp đồng quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng vì chỉ căn cứ vào luật áp dụng của hợp đồng đó mới xác định được liệu hợp đồng có giá trị pháp lý hay không
1.2.3 Nguồn luật được chọn dé áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
HĐMBHHQT là một hình thức pháp lý của quan hệ thương mại quốc tế Vì
vậy, việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh loại hợp đồng này tương đối phức tạp
HĐMBHHQT có thể chịu sự điều chỉnh của các nguồn luật khác nhau như các điều ước về mua bán hàng hóa quốc tế, các tập quán quốc tế về thương mại, pháp luật của các quốc gia tùy từng trường hợp cụ thê
1.2.3.1 Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế là một hình thức chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế
Đó là cam kết của các quốc gia đối với nhau trong các lĩnh vực nhất định Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế định nghĩa: “Điều ước quốc tế là tất cả các văn bản được ký kết giữa các quốc gia và do Luật quốc tế điều chỉnh”
Khoản I Điều 2 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005 của Việt Nam đã định nghĩa: “ Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác”
Như vậy, có thê định nghĩa điều ước quốc tế về thương mại là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa hai hoặc nhiều quốc gia ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ
Trang 21bản của Luật quốc tế để ấn định, thay đổi hoặc chấm đứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ thương mại quốc tế
Xét về chủ thể ký kết, điều ước quốc tế thương mại có thể phân thành hai loại
là điều ước quốc tế song phương và điều ước quốc tế đa phương Một điều ước quốc
tế quan trọng trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế là Công ước Viên 1980 Ngày nay đã có hơn 70 nước phê chuẩn công ước này
Công ước Viên là kết quả của quá trình thống nhất hóa luật về mua bán hàng
hóa quốc tế của Liên hiệp quốc, nhằm loại bỏ những trở ngại do những quy định khác
nhau trong hệ thống pháp luật quốc gia về thủ tục ký kết và thực hiện hợp đồng giữa
các bên
Việt Nam chưa phải là thành viên của Công ước Viên nhưng công ước này
cũng có thể được các doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn điều chỉnh quan hệ mua bán của mình với các chủ thể ký kết ở nước ngoài Tuy nhiên, nêu Việt Nam chính thức
tham gia công ước Viên sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi và thống nhất cho hoạt động mua bán giữa thương nhân Việt Nam với các thương nhân nước ngoài
Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết hơn 90 Hiệp định thương mại song phương),
quan trọng nhất phải kế đến:
- Hiệp định mua bán hàng dệt may Việt Nam — EU là hiệp định thương mại
chứa đựng những điều khoản liên quan đến xuất xứ của hàng hóa, điều khoản liên
quan đến hạn ngạch (quota) và quy định danh mục mặt hàng Hiệp định này trực tiếp điều chỉnh hoạt động xuất nhập khâu hàng dệt may của các doanh nghiệp nước ta với
các thương nhân trong khối EU
- Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, được ký kết ngày 13 — 7 — 2000 tại Washington, D.C và có hiệu lực từ ngày I1 — 12 — 2001
8 Tinh đến 05 tháng 3 năm 2013, theo báo cáo của UNCITRAL da có 79 quốc gia đã áp dụng CISG (Nguồn: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/countries/cntries.html)
?Bộ ngoại giao Việt Nam: Những thành tựu trong tiễn trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam,
http:/www.mofahem.gov.vn/vi/mofa/nr09 1019080134/nr091019083649/ns 1203 14091238/newsitem_ print_preview, [truy cập ngày 13-04-2013]
Trang 22Các hiệp định này là cơ sở pháp lý quan trọng đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa thiết lập giữa doanh nghiệp của Viêt Nam với các doanh nghiệp thuộc các
quốc gia ký kết
1.2.3.2 Tập quán thương mại quốc tế
Các tập quán được hình thành từ lâu đời trong các quan hệ thương mại quốc tế, khi được các chủ thể ký kết hợp đồng mua bán quốc tế chấp nhận sẽ trở thành nguồn luật điều chỉnh đối với các hợp đồng giữa các chủ thể đó với nhau
Các tập quán thương mại, khi được dẫn chiếu vào HĐMBHHOQT, sẽ có hiệu lực bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể ký kết Một tập quán thông dụng trong buôn
bán quốc tế được Phòng Thương mại quốc tế (ICC) tổng kết, soạn thảo và ban hành là Incoterms!° Sở đĩ Incoterm được các thương gia thỏa thuận thừa nhận trong thương
mại quốc tế là do nó giúp các bên tiết kiệm nhiều công sức và thời gian khi tham gia
quan hệ hợp đồng, khi nó có các quy định cụ thể về nội dung từng điều kiện và các
bên chỉ cần lựa chọn một điều kiện là đã chấp nhận tất cả các nội dung của điều kiện
đó Chẳng hạn nó giúp người bán chào giá một cách đơn giản mà các bên điều hiểu là
trong đó đã có sự phân bổ rõ ràng về chi phí và rủi ro trong chuyên chở quốc tế giữa
người bán và người mua Tương tự như vậy là trách nhiệm bảo hiểm và nghĩa vụ làm
và chịu chi phí về thủ tục hải quan
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng áp dụng tập quán quốc tế một cách thường xuyên hơn
1.2.3.3.Pháp luật quốc gia
Trong thực tiễn ký kết và thực hiện HĐMBHHQT, bên cạnh các điều ước quốc
tế, tập quán thương mại quốc tế, luật quốc gia có vai trò quan trọng trong điều chỉnh
các quan hệ hợp đồng
Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho HĐMBHHQT trong các trường hợp:
- Khi các bên ký kết hợp đồng thỏa thuận trong điều khoản luật áp dụng của
hợp đồng về việc chọn luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng Ví dụ trong hợp
!9 Incoterms 2000 và ấn bản mới nhất là Incoterms 2010
Trang 23đồng bán đồng hồ giữa công ty của Thụy Điển và một công ty của Việt Nam có điều
khoản: “Quyền và nghĩa vụ của các bên không được quy định, hoặc quy định chưa
đầy du trong hợp đồng này sẽ được giái quyết theo luật của Thụy Điền”
- Khi điều khoán về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán quốc tế được quy định trong các điều ước quốc tế liên quan xác định luật của một quốc gia đương nhiên trở thành luật áp dụng cho các hợp đồng đó Luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường là luật của nước bên bán, nhưng cũng có thê là luật của
nước bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật nơi ký kết hợp đồng, luật của nước
mà các bên mang quốc tịch, luật nơi thực hiện hợp đồng
- Khi trong luật của chính quốc gia đó có quy định phải áp dụng luật trong
nước như theo đoạn 2 khoản I Điều 769 Bộ luật dân sự 2005: “Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Trong quá trình đàm phán HĐMBHHQT điều khoản luật áp dụng thường được ghi một cách rõ ràng trong hợp đồng để tránh tình trạng khó xác định luật quốc gia
điều chỉnh các quan hệ hợp đồng Việc thỏa thuận lựa chọn luật quốc gia áp dụng cho HĐMBHHQT là một vấn đề phức tạp, cho nên các chủ thể ký kết không những phải thông thạo luật nước mình, mà còn phải tìm hiểu kỹ luật của nước có quan hệ hợp đồng, thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng để đảm bảo quyền lợi của mình, tránh được những thiệt thòi do sự thiếu hiểu biết pháp luật gây ra
Một nguồn luật điều chỉnh cũng nằm trong hệ thống luật quốc gia đó là án lệ
(tiền lệ pháp) Án lệ là các quy tắc pháp luật hình thành từ thực tiễn xét xử của tòa án Đối với một số nước án lệ đã được thừa nhận áp dụng còn một số nước vẫn còn đang xem xét việc áp dụng
Án lệ là nguồn luật không khá phổ biến áp dụng ở các nước theo hệ thống civil
law cũng như Việt Nam, nhưng tại các nước theo hệ thống pháp luật Anh — Mỹ tòa án
thường sử dụng một hoặc một số phán quyết của tòa án đã được công bố để làm
khuôn mẫu áp dụng cho việc giải quyết các tranh chấp tương tự Trong lĩnh vực
Trang 24thương mại quốc tế, việc công nhận và sử dụng các phán quyết của tòa án cũng được thừa nhận
Có nhiều quan điểm về việc áp dụng án lệ làm nguồn luật điều chỉnh Việt Nam thừa nhận luật viết là nguồn luật điều chỉnh chính nên án lệ chưa được thừa nhận
là nguồn điều chính ở Việt Nam, nhưng do sự thiếu vắng của một số quy phạm pháp
luật trong các văn bản luật và dưới luật, việc xét xử các tranh chấp về kinh tế - thương
mại thường dựa vào các công văn hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao đề làm cơ
sở giải quyết các tranh chấp tương tự
Trang 25CHƯƠNG 2 CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐÒNG MUA BÁN HANG HOA QUOC TE - LY LUAN VA THUC TIEN
2.1 Nguyên tắc chọn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Từ cuối thế kỷ thứ XVI do ảnh hưởng tư tưởng triết học của chủ nghĩa tự do,
nguyên tắc tự đo ý chí (principe đ'autonomie) đã được thừa nhận trong pháp luật về hợp đồng của các nước phương tây Nguyên tắc tự do hợp đồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đây các giao dich trong lĩnh vực thương mại quốc tế
Nội dung của nguyên tắc này là các bên có toàn quyền trong việc đàm phán
thỏa thuận tất cả mọi vấn đề có liên quan tới hợp đồng (tất nhiên là trừ một số trường
hợp ngoại lệ) Do vậy, ngay cả vấn đề lựa chọn luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ
hợp đồng cũng đo các bên tự do định đoạt Đây được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất, được hình thành từ một nguyên tắc tập quán trong thương mại quốc tế
và nó được coi là “ nén tảng của trật tự kinh tế quốc tế mang tính cạnh tranh và theo
định hướng thị trường mở cửa”!!,
Nguyên tắc này cũng được ghi nhận trong Quy tắc Rome I 2008 tại Điều 3 khoản I và Công ước Lahay 1986 Điều 7 khoán 1: “Hop đồng được điều chỉnh bởi
luật do các bên lựa chọn”
Việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng quốc tế có thể thực hiện theo hai cách thức hoặc do các bên trong hợp đồng tự thể hiện ý chí mong muốn lựa chọn một hệ
thống pháp luật nào đó (có thể bằng một điều khoản trong hợp đồng) hoặc nếu các bên không chọn luật thì cơ quan tài phán (tòa án hoặc trọng tài) có thắm quyền giải quyết tranh chấp sẽ là cơ quan chọn luật trên cơ sở các nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế
!! Xem Bùi Thi Thu: Mét sd vấn đề về chọn luật áp dụng trong hợp đông thương mại quốc té theo
công ước Rome 19/6/1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,
sô L1 (211), 2005, tr.72
Trang 262.1.1 Trường hợp các bên lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế
Trên cơ sở nguyên tắc “Tự do ý chí” ngay từ khi giao kết hợp đồng các bên có
thể thê hiện ý chí của mình trong việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng theo một
“Trong hợp động này, mọi vấn đề liên quan đến hoặc phát sinh từ việc hình
thành cũng như hiệu lực, giải thích và thực hiện hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi
pháp luật của ”
Vậy luật áp dụng đối với hợp đồng điều chỉnh những vấn đề gì trong hợp
đồng? Thông thường, với một điều khoán chọn luật như trên thì luật áp dụng cho hợp
đồng sẽ điều chỉnh những vấn đề được quy định trong điều khoản đó Ví du như các vân đề về điều kiện hình thành hợp đồng (điều kiện về hình thức, về nội dung, về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng ), các vấn đề về hiệu lực, giải thích, quyền và nghĩa vụ
của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng Tuy nhiên cũng cần chú ý một điểm
là việc lựa chọn luật áp dụng trong hợp đồng nói trên bởi các bên là chọn luật về nội
dung, còn đối với luật hình thức thì do cơ quan tài phán quyết định lựa chọn theo các
nguyên tắc của tư pháp quốc tế
2.1.1.2 Phạm vị chọn luật áp dụng
Đối với vấn đề này, Công ước Rome 1980 và Quy tắc Rome I 2008 quy định
đều cho phép các bên chọn luật áp dụng cho chỉ một phần hoặc toàn bộ hợp đồng Điều 3 của cả hai văn bán đều quy định: “Bằng thỏa thuận của mình, các bên có thé
Trang 27chọn luật áp dụng cho toàn bộ hoặc chỉ một phần của hợp đồng” Pháp luật Việt Nam trong phạm vi Điều 769 của Bộ luật dân sự 2005 không quy định rõ vẫn đề này Theo người viết nên cho phép các bên chọn luật áp dụng cho một phần hoặc toàn
bộ hợp đồng
Khi cho phép các bên lựa chọn luật áp dụng cho một phần của hợp đồng có thế
xảy ra trường hợp các phần hợp đồng khác nhau được các bên lựa chọn áp dụng nhiều
hệ thống luật khác nhau Ngay cả khi chọn luật áp dụng cho toàn bộ hợp đồng, vẫn có
trường hợp các bên lựa chọn nhiều luật áp dụng cho hợp đồng của họ đề phòng ngừa những tình huống mà một hệ thống không quy định hết Bởi ngay cả những hệ thống pháp luật được cho là lớn trên thế giới cũng có những khe hở hoặc những quy định không rõ ràng Vậy, pháp luật các nước có cho phép nhiều luật áp dụng cho hợp đồng không? Trong Công ước Rome 1980 và Quy tắc Rome I 2008 thì không nói rõ Tuy
nhiên, nhiều chuyên gia châu Âu về Tư pháp quốc tế cho rằng nên chấp nhận, nên cho phép các bên chọn hai hay nhiều hệ thống pháp luật đề chi phối hợp đồng giữa họ Ở Việt Nam, Bộ luật dân sự 2005 không có quy định về vấn đề này, nhưng một số văn
bản pháp luật chuyên ngành lại quy định hợp đồng có thê được chi phối bởi hai hay
nhiều hệ thống pháp luật khác nhau 2
Về nguyên tắc, các bên có thể lựa chọn bất cứ hệ thống pháp luật nước ngoài
nào mà họ muốn với điều kiện hợp đồng đó không vi phạm các quy phạm mệnh lệnh
(thuộc lĩnh vực trật tự công) của pháp luật quốc gia đó (Điều 3 Quy tắc Rome I 2008
về luật áp dụng đối với hợp đồng quốc tế), và trừ một số trường hợp ngoại lệ khác Ví dụ: pháp luật Việc Nam không thừa nhận giá trị pháp lý của các hợp đồng có liên quan đến việc mua bán phụ nữ, trẻ em
Tuy nhiên, trong thực tiễn các bên thường lựa chọn hệ thống pháp luật có mối quan hệ với hợp đồng, hệ thống pháp luật mà họ am hiểu va gần gũi với lợi ích của
!2 Ví dụ: khoản 1 Điều 17 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
2006 quy định: “Hợp đồng cung ứng lao động phải phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của
nước tiệp nhận lao động ” Như vậy, Hợp đồng cung ứng lao động đồng thời chịu sự điêu chỉnh của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiệp nhận lao động
Trang 28các bên Về mặt nguyên tắc, trong hợp đồng quốc tế các bên có thể lựa chọn một
trong các loại nguồn luật sau:
- Hệ thống pháp luật của một quốc gia: Luật nơi giao kết, hoặc nơi thực hiện hợp đồng, luật nơi một trong các bên có trụ sở chính
- Điều ước quốc tế (ví đụ chọn Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc
tế)
- Tập quán quốc tế, nếu chúng được pháp luật của các bên công nhận giá trị pháp lý (Ví dụ như Incoterms 2010)
Tuy nhiên, các bên có thể lựa chọn luật áp dụng là các quy định không thuộc
hệ thống pháp luật quốc gia hay không?, ví du như “Các nguyên tắc cơ bản về hợp
đồng thương mại quốc tế” của UNIDROIT Đây có thé là trường hợp các bên không chọn luật áp dụng đối với hợp đồng (chúng ta sẽ xem xét ở phần sau)
2.1.1.3 Thời điểm chọn luật áp dụng và thay đổi luật được lựa chọn
Cũng trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng, việc chọn luật áp dụng vào thời
điểm nào cũng do các bên quyết định Các bên có thê chọn luật áp dụng vào thời điểm giao kết hợp đồng bằng một điều khoán trong hợp đồng, hoặc có thể sửa đối điều khoản đó trong hoặc sau quá trình thực hiện hợp đồng, họ cũng có thê thay đổi việc
lựa chọn luật áp dụng bằng một hệ thống pháp luật khác so với sự lựa chọn ban đầu
(Khoản 2 Điều 3 Quy tắc Rome I 2008) Quy định này đã khẳng định thêm về quyền
tự do cho các bên trong việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng, đám bảo nguyên tắc
“hợp đồng luôn chịu sự chỉ phối, điều chỉnh của một hệ thống pháp luật nhất định” Tuy nhiên cần lưu ý, nếu sau khi ký kết hợp đồng các bên mới chọn luật áp dụng, hoặc có sự thay đổi thì điều khoản luật áp dụng mới này vẫn có hiệu lực tính từ khi giao kết trừ hai trường hợp ngoại lệ:
- Nếu hợp đồng đã có hiệu lực về hình thức thì việc chọn hệ thống pháp luật khác phải không làm ảnh hưởng đến hiệu lực về hình thức hợp đồng
- Việc lực chọn luật áp dụng mới không làm ánh hưởng đến quyền lợi của bên thứ ba