Quản trị chuỗi cung ứng gắn liền với hầu như tất cả các hoạtđộng của các doanh nghiệp từ việc hoạch định và quản lý quá trình tìm nguồn hàng,thu mua, sản xuất thành phẩm từ nguyên liệu t
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Số liệuđược nêu trong luận văn là trung thực và cú trớch nguồn Kết quả nghiên cứutrong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Phương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình theo học chương trình đào tạo cao học với chuyên ngànhQuản trị kinh doanh tổng hợp tại Viện Quản trị kinh doanh thuộc trường Đại họcKinh tế quốc dân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo củaViện Quản trị kinh doanh cũng như của trường Với sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS
Lờ Cụng Hoa và các thầy, cô giáo trong Viện, đến nay Luận văn tốt nghiệp chươngtrình cao học của tôi đã được hoàn thành
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lờ Cụng Hoa đã dành nhiềuthời gian, công sức hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Chânthành cảm ơn các thầy, cô giáo của Viện Quản trị kinh doanh, các chuyên gia, cácđồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tuy đã có cố gắng, nhưng do vốn kiến thức của tôi còn hạn chể nên khôngtránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành
đề tài luận văn tốt nghiệp, rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo của các thầy côgiỏo, cỏc chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu này
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤCLỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, BẢNG vi
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP 6
1.1 Khái niệm và vai trò chuỗi cung ứng của doanh nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm và mục tiêu của chuỗi cung ứng 6
1.1.2 Vai trò của chuỗi cung ứng đối với doanh nghiệp 8
1.2 Nội dung quản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp 9
1.2.1 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng 9
1.2.2 Các nội dung của quản trị chuỗi cung ứng 10
1.3 Một số nhân tố ảnh hưởng tới quản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp 34
1.3.1 Các nhân tố bên ngoài 34
1.3.2 Các nhân tố bên trong 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN DỊCH VỤ XĂNG DẦU NAM ĐỊNH 39
2.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty 39
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ, sơ đồ tổ chức của Công ty 39
2.1.2 Tình hình sản xuất, kinh doanh của Công ty thời gian vừa qua 452.1.3 Đặc điểm sản phẩm và thị trường tiêu thụ 46
2.3 Thực trạng quản trị quan hệ cung ứng nội bộ tại Công ty TNHH một thành viên dịch
vụ xăng dầu Nam Định 52
Trang 42.5 Đánh giá chung quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH một thành viên dịch vụxăng dầu Nam Định 62
3.1 Định hướng phát triển và yêu cầu của Công ty đối với quản trị chuỗi cung ứng
64
3.1.1 Định hướng cơ bản 64
3.1.2 Những quan điểm kinh doanh chủ yếu của Công ty 64
3.1.3 Mục tiêu phát triển của Công ty đến năm 2015 65
3.1.4 Yêu cầu đối với quản trị chuỗi cung ứng tại công ty TNHH một thành viêndịch vụ xăng dầu Nam Định để thực hiện mục tiêu 67
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH một thànhviên dịch vụ xăng dầu Nam Định 68
3.2.1 Cải thiện mối quan hệ với nhà cung ứng đầu vào 68
3.2.2.Tổ chức lại công tác vận tải hàng hoá 68
3.2.3.Bố trí ca làm việc hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả kho tồn trữ, cũng như nănglực vận tải của Công ty 70
3.2.4 Hoàn thiện các kênh thông tin giữa các bộ phận phục vụ công tác điều hành, tác nghiệp 71
3.2.5 Phối hợp tốt giữa các bộ phận để giảm thiểu chí phí vay, gửi hàng 713.2.6 Xây dựng chương trình quản lý khách hàng hợp lý, tăng cường công tác dịch
vụ khách hàng 73
3.2.7.Quản trị hoạt động kênh phân phối hợp lý 75
3.3 Kiến nghị về điều kiện thực hiện 75
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN 87
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 WTO: Tổ chức thương mại thế giới
2 SXKD: Sản xuất kinh doanh
3 SCM: Quản trị chuỗi cung ứng
4 SRM: Quản trị quan hệ nhà cung ứng
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Chuỗi cung ứng điển hình 6
Sơ đồ 1.2: Cấu trúc chuỗi cung ứng 11
Sơ đồ 1.3: Cấu trúc khung của quản trị chuỗi cung cấp 12
Sơ đồ 1.4: Các yếu tố dịch vụ khách hàng 14
Sơ đồ 1.6: Chi phí dự trữ 28
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Công ty TNHH một thành viên 41
Sơ đồ 2.2: Hệ thống thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty 45
Sơ đồ 2.3: Chuỗi cung ứng của công ty TNHH một thành viên dịch vụ xăng dầu NĐ 52
Sơ đồ 2.4: Mô hình đường vận động của hàng hoá theo kho 53
Sơ đồ 2.5: Mô hình đường vận động của hàng hóa 54
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ mức tiêu thụ sản phẩm 46
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ thị phần của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp 48
Biểu đồ 2.1: Phàn nàn chung về dịch vụ khách hàng 60
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh lựa chọn một hoặc nhiều nhà cung ứng 33
Bảng 1.2: Thị trường cung cấp xăng dầu 8 tháng năm 2011 35
Bảng 2.1 Mức tiêu thụ sản phẩm 45
Bảng 2.2 Doanh số tiêu thụ sản phẩm của Công ty 46
Bảng 2.3: Sản lượng và thị phần của các đổi thủ cạnh tranh trực tiếp 48Bảng 2.4 Hệ thống cửa hàng bán lẻ tại Nam Định 49
Bảng 2.5: Dự báo sản lượng tiêu thụ 51
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Như chúng ta đã biết, quản trị chuỗi cung ứng có vai trò rất quan trọng trongcác doanh nghiệp Quản trị chuỗi cung ứng gắn liền với hầu như tất cả các hoạtđộng của các doanh nghiệp từ việc hoạch định và quản lý quá trình tìm nguồn hàng,thu mua, sản xuất thành phẩm từ nguyên liệu thô, linh kiện, phụ tựng…đến việcphối hợp với các đối tác, nhà cung ứng, cỏc kờnh trung gian, nhà cung cấp dịch vụkhách hàng
Trước đây, việc xây dựng và quản trị chuỗi cung ứng hàng hoá chưa được chútrọng và quan tâm phát triển nờn cỏc sản phẩm được sản xuất ra không đáp ứng ngayđược nhu cầu khi con người muốn tiêu dùng Bởi vậy, đã gây ra các bất cập như:
- Chi phí sản xuất, cung ứng cao
- Giá trị sản phẩm gia tăng thấp
- Không thỏa mãn tối đa nhu cầu người tiêu dùng ở cỏc vựng miền khác nhau…
Từ đó dẫn đến tính cạnh tranh thấp, không đáp ứng được nhu cầu của kháchhàng, hiệu quả kinh doanh thấp…
Ngành quản trị chuỗi cung ứng ra đời đó giỳp cỏc doanh nghiệp có thể sửdụng tận dụng các nguồn lực một cách tối ưu Chính vì thế mà giá trị sản phẩmhàng hoá đã được gia tăng (phần giá trị thời gian, giá trị địa điểm), hàng hóa khôngcòn được tiêu thụ chính tại nơi sản xuất ra nó, mà còn được tiêu thụ ở xa và khácnơi sản xuất, đồng thời với các kết hợp chặt chẽ từ khâu nguyên liệu đầu vào đếnkhâu tiêu thụ sản phẩm đã giảm thiểu chi phí sản xuất kinh doanh, tạo ra lợi thếcạnh tranh lớn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh khốcliệt Vì vậy quản trị chuỗi cung ứng được coi như mạch máu của các doanh nghiệptrong nền kinh tế thị trường hiện nay
Công ty TNHH một thành viên dịch vụ xăng dầu Nam Định là một đơn vịkinh doanh mặt hàng xăng dầu, do mới thành lập được hơn 10 năm, với nguồn lực
Trang 9còn nhiều hạn chế nên việc cạnh tranh từ các doanh nghiệp khác kinh doanh cùngmặt hàng gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra theo các cam kết khi Việt Nam gia nhậpWTO, chúng ta sẽ phải mở cửa dần trong lĩnh vực năng lượng từ năm 2009 Quathời gian tìm hiểu và nghiên cứu tại Công ty TNHH một thành viên dịch vụ xăngdầu Nam Định, tôi nhận thấy hoạt động quản trị chuỗi cứng tại đơn vị còn một sốhạn chế như quản trị khách hàng, quản trị chuỗi cung cấp nội bộ, quản trị các nhàcung ứng…
Do vậy, tụi đó chọn đề tài “Hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng xăng dầu tại Công ty TNHH một thành viên dịch vụ xăng dầu Nam Định” làm luận văn
Thạc sỹ cho khóa học Quản trị kinh doanh của mình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng của công
ty nhằm đáp ứng các mục tiêu kinh doanh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị chuỗi cung ứng xăng dầu tại
công ty tính cả khâu đầu vào, nội bộ và khách hàng tiêu dùng
- Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung: Hoạt động quản trị chuỗi cung ứng xăng dầu tại Công ty TNHHmột thành viên dịch vụ xăng dầu Nam Định bao gồm từ đầu vào cho đến đầu ra.Địa lý: Diễn tả quản trị chuỗi cung ứng xăng dầu của doanh nghiệp tại địa bànmiền Bắc
Thời gian nghiên cứu: - Số liệu thứ cấp 2008 đến nay
- Số liệu sơ cấp thu thập năm 2011
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Quy trình nghiên cứu
4.2 Phương pháp thu thập thứ cấp
- Nguồn số liệu thứ cấp lấy từ báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chínhnăm 2008 đến năm 2010 của công ty Các thông tin được lấy bao gồm sản lượngtiêu thụ, doanh thu bán hàng……
- Ngoài ra thông tin còn được thu thập ở Báo chí, Internet liên quan ngànhxăng dầu Các thông tin được lấy bao gồm báo cáo thị trường tiêu thụ xăng dầu,thông tin chung về quản trị chuỗi cung ứng …
4.3 Phương pháp thu thập sơ cấp
a Phỏng vấn sâu đối với ban lãnh đạo Công ty
- Thu thập thông tin thông qua phỏng vấn sâu 02 lãnh đạo của Công ty làGiám đốc và Trưởng phòng kinh doanh thương mại
Nội dung phỏng vấn: Nội dung được xoay quanh về thực trạng quản trị
chuỗi cung ứng ở cỏc khõu như dịch vụ khách hàng, kho bãi và giao nhận và cácgiải pháp để hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng cho Công ty Bờn cạnh đó tìm hiểu
Số liệu thứ cấp
Số liệu sơ cấp
Yêu cầu nội dung quản trị chuỗi cung ứng tại DN
Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng cuả
DN
Đưa ra những hạn chế và nguyên nhân hạn chế
Đề xuất giải pháp chuỗi cung ứng
Cơ sở lý luận
Trang 11cách đánh giá về chất lượng quản trị chuỗi cung ứng, đưa ra những tiêu chí mà Công tyđánh giá về mức độ cảm nhận của khách hàng về dịch vụ và mức độ quan tâm của lãnhđạo Công ty đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ
b Phương pháp phỏng vấn sâu đối với khách hàng
Tác giả đã tiến hành điều tra với 2 nhóm khách hàng là khách hàng đang sửdụng dịch vụ sau bán hàng tại Công ty TNHH một thành viên dịch vụ xăng dầuNam Định và nhóm khách hàng trước đây đã từng sử dụng nhưng nay đã chuyểnsang nhà cung cấp dịch vụ khác
Số lượng khách hàng tham gia phỏng vấn sâu gồm:
- Đang sử dụng dịch vụ: 9 đại lý, trong đó 5 đại lý cấp 1 và 4 đại lý cấp 2
- Đại lý không sử dụng dịch vụ: 5 đại lý
b1 9 Đại lý đang sử dụng dịch vụ của Công ty
Với khách hàng hiện tại của Công ty TNHH một thành viên dịch vụ xăngdầu Nam Định,tỏc giả phỏng vấn trực tiếp khi họ đến giao dịch tại công ty, đến cáctrạm đại lý xăng dầu hoặc qua điện thoại…
b2 05 đại lý đã sử dụng dịch vụ của công ty nhưng đã chuyển sang nhà cung cấp khác.
Đối với nhóm khách hàng thuộc nhúm đó chuyển sang nhà cung cấp dịch vụkhác, thông qua danh sách dữ liệu của Công ty đã lưu, tác giả đã phỏng vấn theophương thức sau: gặp trực tiếp, qua điện thoại…
c, Phương pháp quan sát
Dùng phương pháp quan sát trực tiếp và ghi chép lại
Đối tượng quan sát gồm:
- Quy trình tiếp nhận và xử lý đơn hàng cuả khách hàng
- Thủ tục xuất hàng và bố trí xe để giao hàng
- Cách thức giao hàng cho khách hàng
- Thời gian hoàn tất một đơn hàng
Trang 12Quan sát bằng cách:
- Trò chuyện với những người tham gia quan sát
- Sử dụng các tài liệu khác liên quan đến diễn biến để đối chiếu
- Quan sát lặp lại lần thứ hai hay nhiều lần nếu thấy cần thiết
- Nhờ người có trình độ cao hơn quan sát lại để kiểm nghiệm lại kết quả
4.4 Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
Phương pháp này được áp dụng để tìm hiểu, phân tích các tài liệu liên quanđến đề tài nghiên cứu Các tài liệu được phân tích gồm: Các thông tin từ website,sỏch, bỏo, tạp chí, báo cáo, các văn bản liên quan đến hoạt động kinh doanh củaCông ty TNHH một thành viên dịch vụ xăng dầu Nam Định
Tiếp cận hệ thống thống kê, phân tích số liệu và so sánh kết quả bằng excel
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bàyqua 3 chương
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị cung ứng hàng hóa của doanh nghiệp.
- Chương 2: Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng xăng dầu tại Công ty TNHH một thành viên dịch vụ xăng dầu Nam Định.
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng xăng dầu tại Công ty TNHH một thành viên dịch vụ xăng dầu Nam Định.
Trang 13CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và vai trò chuỗi cung ứng của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và mục tiêu của chuỗi cung ứng
Khái niệm
Nếu như khái niệm chuỗi cung ứng đối với các nhà quản trị Việt Nam vẫncòn chưa rõ ràng và hầu như chưa được quan tâm đúng với tầm quan trọng của nóthì ngược lại, đối với các doanh nghiệp trên thế giới thì “chuỗi cung ứng là một tàisản chiến lược” Các công ty dẫn đầu như Wal-Mart và Dell hiểu rằng chuỗi cungứng có thể là một sự khác biệt mang tính sống còn Họ liên tục tìm ra những cáchthức để tạo thêm giá trị và mở rộng các ranh giới của hiệu quả hoạt động kinhdoanh Và họ luôn phải sàng lọc chuỗi cung ứng của mình để có thể luôn đi trướcmột bước trong cạnh tranh Họ biết rằng lợi thế cạnh tranh ngày hôm nay sẽ là hàngrào cản bước đối thủ vào ngày mai
Vậy, chuỗi cung ứng là gì? Tại sao các tập đoàn trên thế giới lại coitrọng nó như vậy? Ta có thể thấy rõ hơn qua sơ đồ chuỗi cung ứng điển hình(Sơ đồ 1.1) như sau:
Trang 14Sơ đồ 1.1: Chuỗi cung ứng điển hình
Trong sơ đồ 1-1, ta thấy có rất nhiều các bên tham gia vào chuỗi cung ứngnhư: nhà cung cấp nguyên vật liệu chính, nhà vận chuyển, nhà sản xuất trung gian,nhà sản xuất chính, nhà phân phối và khách hàng Như vậy, với một chuỗi cung ứng
cụ thể cho một ngành hàng, ta có thể chia ra thành 3 đối tượng chính đó là: nhàcung cấp, nhà sản xuất và khách hàng Nguồn tạo ra lợi nhuận cho toàn chuỗi đó làkhách hàng cuối cùng Do đó, mục tiêu thỏa mãn khách hàng cuối cùng là mục tiêuchung của một chuỗi cung ứng liên kết
Hiện nay, đã có rất nhiều khái niệm về chuỗi cung ứng được nhắc đến như:Chopra Sunil và Pter Meindl (2001, Upper Saddle Rivern NI: Prentice Hallc.1) “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp,đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất
và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân kháchhàng”
Ganeshan & Harrison [18], “Chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trìnhbắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay ngườitiêu dùng cuối cùng Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối
và các phương tiện để thực hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu nàyqua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay ngườitiờu dựng”
Lee & Billington [5], “Chuỗi cung ứng là hệ thống các công cụ để chuyểnhoá nguyên liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người tiêu dùngthông qua hệ thống phân phối”
M.Porter (1990) [6], “Chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyênvật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phốitới tay khách hàng cuối cựng”
Từ các khái niệm trên có thể thấy hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng chuỗicung ứng là bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan trong việc sản
Trang 15xuất ra sản phẩm cung cấp đến tay khách hàng cuối cùng Như vậy, ta có thể hiểuchuỗi cung ứng của một mặt hàng như sau:
Chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng.
Mục tiêu của chuỗi cung ứng
Trước hết, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các thành tố của chuỗi; những tácđộng của chúng đến chi phí và vai trò trong việc sản xuất sản phẩm phù hợp với nhucầu khách hàng Như vậy, mục tiêu trong phân tích chuỗi cung ứng như sau:
- Thứ nhất: tạo mối liên kết với nhà cung cấp của các nhà cung ứng và
khách hàng của khách hàng vì họ có tác động đến kết quả và hiệu quả của chuỗicung ứng
Thứ hai: hữu hiệu và hiệu quả trên toàn hệ thống Nói cách khác, mục tiêu
của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ thống
1.1.2 Vai trò của chuỗi cung ứng đối với doanh nghiệp
1.1.2.1 Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng đối với nền kinh tế
- Hỗ trợ các luồng giao dịch trong nền kinh tế
- Tăng cường hiệu quả hoạt động của nền kinh tế nói chung
- Tăng cường khả năng hội nhập của nền kinh tế
- Giúp cho nền kinh tế sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn có
- Góp phần hình thành một văn hoá hợp tác toàn diện trong kinh doanh
- Góp phần nâng cao dịch vụ khách hàng; đưa người tiêu dùng nói chungthành trung tâm của các hoạt động sản xuất kinh doanh…
Tóm lại, xét dưới góc độ nền kinh tế, quản trị chuỗi cung ứng mang đến mộtmôi trường kinh doanh lành mạnh, với triết lý hai bên cùng có lợi, sử dụng hiệu quảtối đa các nguồn lực trong xã hội cả về con người, nguồn lực tự nhiờn… do vậyhiệu quả của nền kinh tế nhìn chung cũng được nâng lên
1.1.2.2 Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng đối với doanh nghiệp
Trang 16Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) có ý nghĩa vô cùng to lớn trong họat động củadoanh nghiệp, bởi nó xuyên suốt hầu như mọi hoạt động của doanh nghiệp, từ việcmua nguyên vật liệu nào?, từ ai?, sản xuất như thế nào?, sản xuất ở đâu?, phân phối
ra sao? Tối ưu hoá từng quá trình này sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí và nângcao khả năng cạnh tranh, một yêu cầu sống còn đối với mọi doanh nghiệp hoạt độngSXKD
Mặt khác, trong SCM, việc quản lý nhà cung cấp, quản lý chất lượng nguyênliệu đầu vào cũng giúp doanh nghiệp kiểm soát chất lượng đầu ra tốt hơn; hệ thốngthông tin giúp doanh nghiệp thuận tiện hơn trong quản lý sản phẩm theo từng lôhàng, cho phép doanh nghiệp có khả năng xử lý kịp thời trong việc truy xuất nguồngốc sản phẩm khi phát sinh về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao bì … để có thể đề
ra những phương án khắc phục, điều chỉnh kịp thời
1.2 Nội dung quản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng
Có rất nhiều khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng:
Quản trị chuỗi cung ứng là việc thiết kế và quản lý các tiến trình xuyên suốt,tạo giá trị cho tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng.( “Glossary of key purchasing and supply terms”, The Institute for supplymanagement, 2000)
Quản trị chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phốinhằm thực hiện các chức năng thu mua, nguyên vật liệu, chuyển đổi nguyên vật liệuthành bán thành phẩm và thành phẩm phân phối cho khách hàng.( An introduction
to supply chain management, Ganesham, Ram and Terry P.Harrison – 1995)
Quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý cung và cầu, xác định nguồn nguyênvật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho hàng và tồn kho tiếp nhận đơnhàng và quản lý đơn hàng, phân phối cỏc kờnh và đến khách hàng cuối cùng( Courtesy of Supply chain Council)
Trang 17Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp một cách hệ thống chiến lược các chứcnăng kinh doanh truyền thống trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệptrong chuỗi cung ứng với mục địch cải thiện thành tích dài hạn của từng doanhnghiệp đơn lẻ và của cả chuỗi cung ứng ( Courtesy of the Council of logisticsManagement).
Quản trị chuỗi cung ứng là sự hợp nhất cỏc dũng thông tin và các hoạt động cóliên quan đến vòng đời sản phẩm từ nguyên liệu thô tới khi sản xuất và phân phốitới người tiêu dung thông qua việc cải thiện mối quan hệ trong chuỗi để tạo lợi thếcạnh tranh
Quản trị chuỗi cung ứng là quá trình thiết lập kế hoạch, thực thi các kế hoạch
đó để kiểm soát các hoạt động của chuỗi cung ứng để đảm bảo mục tiêu cuối cùng
là thỏa mãn yêu cầu của khách hàng ở mức tốt nhất
Tóm lại, quản trị chuỗi cung ứng là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểmsoát có hiệu lực, hiệu quả việc chu chuyển và dự trữ hàng hoá, dịch vụ … và nhữngthông tin có liên quan, từ điểm đầu đến điểm cuối cùng với mục tiêu thoả mãn nhucầu của người tiêu dùng
1.2.2 Các nội dung của quản trị chuỗi cung ứng
Một dây chuyền chuỗi cung ứng sản xuất bao gồm ba yếu tố: Nhà cung cấp,bản thân đơn vị sản xuất và khách hàng
- Nhà cung cấp: Là các công ty bán sản phẩm, dịch vụ là nguyên liệu đầu vàocần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh Thông thường, nhà cung cấp được hiểu
là đơn vị cung cấp nguyên liệu trực tiếp như vật liệu thụ, cỏc chi tiết của sản phẩm.Các công ty cung cấp dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh được gọi là nhà cung cấpdịch vụ
- Đơn vị sản xuất: Là nơi sử sử dụng nguyên liệu, dịch vụ đầu vào và áp dụngcác quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng Các nghiệp vụ về quản lý sảnxuất được sử dụng tối đa tại đây nhằm tăng hiệu quả, nâng cao chất lượng sảnphẩm, tạo nên sự thông suốt của dây chuyền cung ứng
Trang 18- Khách hàng: Là người sử dụng sản phẩm của đơn vị sản xuất.
Cấu trúc chuỗi cung cấp có thể được thể hiện theo mô hình dưới đây:
Sơ đồ 1.2: Cấu trúc chuỗi cung ứng
(Nguồn: Souviron (2006), “Bài giảng về Quản trị chuỗi cung cấp”)
Tương ứng với cấu trúc của chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm
3 quá trình chủ yếu:
-Quản trị khách hàng đầu ra: Quản trị quan hệ khách hàng: Đó là quá trìnhtìm kiếm, chọn lọc, xây dựng phát triển và duy trì mối quan hệ lâu dài với kháchhàng nhằm nắm bắt nhanh nhất những nhu cầu của họ và thỏa mãn nhu cầu đó
- Quản trị chuỗi cung cấp nội bộ: Các quá trình trong nội bộ công ty
- Quản trị các nhà cung ứng đầu vào
Tất cả các quá trình tập trung vào giao diện giữa công ty với nhà cung ứng vàcác nhà phân phối, khách hàng
Trang 19Sơ đồ 1.3: Cấu trúc khung của quản trị chuỗi cung cấp
(Nguồn: Souviron (2006), “Bài giảng về Quản trị chuỗi cung cấp”)
Hoạt động chuỗi cung ứng gồm ba quá trình là quản trị các nhà cung ứng đầu
ra, quản trị cung ứng nội bộ, quản trị khách hàng đầu ra Trong mỗi quá trình củaquản trị chuỗi cung ứng đều bao gồm các hoạt động sau: dịch vụ khách hàng, hoạtđộng phân phối hàng hóa, hệ thống thông tin, quản trị dự trữ, hoạt động vận tải, khobãi và giao nhận, quản trị quan hệ nhà cung ứng đầu vào.Tuy nhiên tùy thuộc vàomỗi quá trình mà doanh nghiệp xác định những khâu nào quan trọng nhất và cầnđược chú trọng Qua đó hiểu được quản trị cung ứng bao gồm những khâu nào vàmỗi khâu cần doanh nghiệp chú trọng ra sao đồng thời khắc phục những mặt cònyếu kém trong cỏc khõu
1.2.2.1 Dịch vụ khách hàng
Dịch vụ khách hàng là một khái niệm rất rộng và được định nghĩa theo nhiềucách khác nhau:
Trang 20- Dịch vụ khách hàng là những hoạt động cụ thể của công ty nhằm giảiquyết tốt các đơn đặt hàng của khách hàng, những hoạt động đó có thể là: lập
bộ chứng từ, làm thủ tục hải quan, xử lý, truy soát đơn hàng, giải quyết cáckhiếu nại, …
- Dịch vụ khách hàng là việc thực hiện những công việc cụ thể, được đánh giábằng những thông số cụ thể, những quy chuẩn sẵn có, ví dụ: khả năng hoàn thành98% đơn hàng trong vòng 24 tiếng đồng hồ; đến thăm khách hàng chính trong vòng
6 tháng một lần; giải quyết khiếu nại trong vòng 15 ngày; hoàn thành thủ tục hảiquan trong vòng 2 tiếng; …
- Dựa vào triết lý của tổ chức, người ta định nghĩa dịch vụ khách hàng là mộtphần trong triết lý chung của công ty, phải thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mộtcách tốt nhất
Định nghĩa thứ ba mang tính toàn diện, khái quát và linh hoạt hơn hai địnhnghĩa trờn Nú nờu được tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng, nó yêu cầucác bộ phận của công ty, các nhân viên phải chăm sóc khách hàng hơn chínhbản thân mình Do nhu cầu của khách hàng luôn thay đổi không ngừng nờncỏc thông số quy chuẩn cũ có thể trở nên lỗi thời, đòi hỏi phải được điềuchỉnh cho phù hợp với điều kiện mới nờn cỏc định nghĩa thứ nhất và thứ haimặc dù chi tiết, cụ thể nhưng không nói lên được bản chất của dịch vụ kháchhàng như ở định nghĩa thứ ba
Tóm lại, dịch vụ khách hàng là quá trình diễn ra giữa người mua, người bán,
và bên thứ ba (các trung gian) Kết quả của quá trình này là tạo ra giá trị gia tăngcho sản phẩm hay dịch vụ được trao đổi cho người tiêu dùng Nói ngắn gọn hơn,dịch vụ khách hàng là quá trình cung cấp các tiện ích từ giá trị gia tăng cho dâychuyền cung ứng với chi phí hiệu quả nhất
Trang 21Các yếu tố dịch vụ khách hàng
Sơ đồ 1.4: Các yếu tố dịch vụ khách hàng
o Các yếu tố trước giao dịch: Các yếu tố trước giao dịch chủ yếu tập trung
vào việc xây dựng chính sách dịch vụ khách hàng và chuẩn bị các điều kiện thựchiện Việc này có ảnh hưởng lớn đến nhận thức của khách hàng về tổ chức cũngnhư mức độ hài lòng của họ Không phải mọi yếu tố trước giao dịch đều liên quantrực tiếp đến hoạt động quản trị chuỗi cung ứng Chúng được thiết lập trước khi tổchức tiến hàng các dịch vụ khách hàng và có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt độngquản trị chuỗi cung ứng
Các yếu tố trước giao dịch bao gồm:
Các yếu tố trước giao dịch
Tính ổn định của quá trình thực hiện đơn hàng;
Khả năng thực hiện các chuyến hàng đặc biệt;
Khả năng điều chuyển hàng hoá;
Thủ tục thuận tiện;
Sản phẩm thay thế
Các yếu tố sau giao dịch
Lắp đặt, bảo hành, sửa chữa và các DV khác;Theo dõi sản phẩm;
Giải quyết những than phiền khiếu nại, trả lại sản phẩm của khách hàng;
Cho khách hàng mượn sản phẩm
Dịch vụ
khách
hàng
Trang 22+ Xây dựng chính sách phục vụ khách hàng: Chính sách được xây dựng dựatrên cơ sở nhu cầu của khách hàng và khả năng của công ty Trong chính sách phục
vụ khách hàng, cần xác định rừ cỏc dịch vụ khách hàng và tiêu chuẩn của chúng, đó
là các thước đo về thực hiện các dịch vụ khác, dựa vào đó có thể đánh giá đượctrách nhiệm và quy kết trách nhiệm cho các bộ phận có liên quan Chính sách cũngnêu rõ chế độ kiểm tra, báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ
+ Giới thiệu và cung cấp các văn bản về chính sách dịch vụ khách hàng củacông ty cho khách hàng: Văn bản này sẽ giúp khách hàng biết được các dịch vụ củacông ty, đồng thời giúp bảo vệ công ty trước những sự cố ngoài dự kiến Nội dungvăn bản ngoài việc cung cấp cho khách hàng những thông tin cần thiết và các loạidịch vụ, còn cho khách hàng biết cần phải làm gì trong trường hợp dịch vụ kháchhàng không được công ty đáp ứng
+ Tổ chức bộ máy thực hiện các dịch vụ: ở các công ty khác nhau, thì bộ máy
tổ chức thực hiện dịch vụ khách hàng sẽ khác nhau, đa phần là do các giám đốc(trưởng phòng) quan hệ khách hàng quản lý Vị trí này phải có vai trò quan trọng và
có tầm nhìn rộng trong toàn công ty Cơ cấu tổ chức phải cho phép hỗ trợ, phối hợpcác chính sách đối nội cũng như đối ngoại, việc thực hiện các chính sách đó và cảnhững hoạt động điều chỉnh khi cần thiết Khách hàng phải được tiếp cận một cách
rõ ràng đến mỗi cá nhân trong tổ chức, những người có thể đáp ứng được nhu cầucủa khách hàng cũng như trả lời được các câu hỏi của họ Hãy hình dung sự tứcgiận của một khách hàng khi họ gặp phải một vấn đề nào đó đối với sản phẩm hoặcdịch vụ được cung cấp và điện thoại đến công ty bán hàng để than phiền nhưng phảiđợi điện thoại, rồi lại được chuyển cho hết người này đến người khác để phải nghegiải thích đi giải thích lại toàn bộ vấn đề của mình Chắc chắn sau sự kiện đó, vịkhách hàng sẽ rời bỏ công ty, không tiếp tục làm ăn nữa
+ Các biện pháp phòng ngừa rủi ro: Dịch vụ khách hàng cũng chứa nhiều yếu
tố rủi ro, vì thế khi xây dựng chính sách dịch vụ khách hàng, cần chuẩn bị sẵn một
số biện pháp và điều kiện thực hiện để phòng ngừa rủi ro Điều này cho phép tổ
Trang 23chức phản ứng một cách thành công trước những sự kiện không thể lường trước,như: thiên tai, địch họa, đình công, bãi công, …
+ Quản trị dịch vụ: Ngoài việc quản trị các hoạt động nêu trên một cách khoahọc, chặt chẽ, thông qua việc phát hành các tài liệu hướng dẫn, tổ chức hội thảohoặc tư vấn trực tiếp, công ty cũn giỳp khách hàng mua hàng sao cho tốt nhất, cảitiến công tác quản lý kho và dự trữ, tổ chức hệ thống đặt hàng tự động …Cỏc dịch
vụ này có thể cung cấp miễn phí hoặc cú phớ (tùy vào điều kiện cụ thể của từngcông ty) Khách hàng có thể được hưởng những dịch vụ thuộc nhóm này độc lậpvới quy trình đặt hàng thông thường
Những yếu tố trước giao dịch có xu hướng tương đối ổn định, ít thay đổi trongmột thời gian khá dài Do đó khách hàng có khả năng nghiên cứu, lựa chọn để đápứng nhu cầu của mình một cách tốt nhất
o Các yếu tố trong giao dịch:
+ Tình hình dự trữ hàng hoá: Lượng hàng hoá dự trữ cho thấy khả năng sẵnsàng cung cấp sản phẩm, đăp ứng yêu cầu của khách hàng Hàng dự trữ cần đượcquản lý, theo dõi chặt chẽ theo từng loại sản phẩm, cho từng khách hàng, đối phóvới từng tình huống bất trắc có thể xẩy ra
+ Thông tin về hàng hoá: Nhờ khả năng xử lý thông tin của các thế hệ máytính ngày càng hiện đại với phớ phớ thấp, ngày càng có nhiều khách hàng muốn tiếpcận với mọi thông tin có liên quan tới việc thực hiện đơn hàng của họ Những thôngtin này bao gồm: Lượng hàng hoá tồn kho, tình hình thực hiện đơn hàng, ngàychuyển hàng dự kiến hoặc thực tế, vị trí thực tế và thực trạng lô hàng,…
+ Tính chính xác của hệ thống: Cùng với việc muốn nhận được thông tin mộtcách nhanh chóng, khách hàng còn muốn nhận được thông tin một cách nhanhchóng, khách hàng còn muốn rằng những thông tin mà họ nhận được về tình trạngđơn hàng hoặc mức dự trữ hàng phải chính xác
+ Tính ổn định của quá trình thực hiện đơn hàng hay còn gọi là chu trình đặthàng: Chu trình đặt hàng là toàn bộ khoảng thời gian từ khi khách hàng bắt đầu đặt
Trang 24hàng cho đến khi họ nhận được sản phẩm hoặc dịch vụ Chu trình đặt hàng bao gồmcác bước cơ bản sau: khách hàng lên đơn đặt hàng; công ty nhận đơn đặt hàng củakhách; xử lý đơn hàng; tập hợp đơn hàng; chuẩn bị hàng theo yêu cầu và gửi hàngđi; vận chuyển hàng hóa đến nơi quy định; làm các thủ tục cần thiết; giao nhận hàngthực tế Khách hàng rất quan tâm đến độ ổn định của chu trình đặt hàng, họ chỉ cầnbiết khoảng thời gian từ khi bắt đầu đặt hàng cho đến khi thực nhận được hàng làbao lâu chứ không quan tâm và cũng không nhất thiết phải biết hàng đi thực tế từcông đoạn này sang công đoạn kia hết bao nhiêu thời gian Vì vậy, dịch vụ kháchhàng phải đảm bảo xác định được toàn bộ thời gian của chu trình đặt hàng (có tính
cả thời gian dự trữ) và cố gắng thực hiện đúng cam kết Cần lưu ý thêm rằng: kháchhàng bao giờ cũng mong muốn đơn hàng được thực hiện nhanh, do đó độ dài củachu trình đặt hàng là một yếu tố cạnh tranh rất quan trọng, các công ty phải nghiêncứu để hợp lý hóa từng khâu công việc, rút ngắn thời gian giao hàng, đảm bảo giaohàng cho khách chính xác, kịp thời
+ Khả năng thực hiện giao hàng đặc biệt: trong nhiều trường hợp công ty phảithực giao hàng trong những điều kiện khó khăn, ví dụ: giao hàng khẩn cấp, bảo vệđặc biệt, giao hàng ở những vị trí khó khăn, … Chi phí để thực hiện việc giao hàngthường lớn hơn thông thường Tuy nhiên, công ty không được từ chối bởi nếu từchối thì sẽ mất đi những khách hàng truyền thống Vì vậy, các công ty cần phảinghiên cứu các khách hàng, các loại hàng có khả năng giao hàng đặc biệt, từ đóchuẩn bị các điều kiện đáp ứng ngay khi khách hàng có nhu cầu
+ Khả năng điều chuyển hàng hoá: để tránh trường hợp hết hàng, không đápứng được yêu cầu của khách hàng, cần chuẩn bị sẵn kế hoạch điều chuyển hàng hoágiữa các điểm phân phối khác nhau trong cùng hệ thống Đối với các công ty cónhiều chi nhánh, càng cần chú ý đến kế hoạch điều chuyển để không xảy ra tìnhtrạng phải trả lại đơn hàng hoặc giao hàng cho khách ở nhiều địa điểm khác nhau,không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng
+ Thủ tục thuận tiện: thủ tục đặt hàng đơn giản, thuận tiện sẽ giúp cho kháchhàng dễ dàng đặt hàng Khách hàng luụn thớch những nhà cung cấp không gây khó
Trang 25dễ Những vấn đề phát sinh xung quanh việc đặt hàng cần phải được theo dõi và xácđịnh thông qua nói chuyện trực tiếp với khách hàng và những vấn đề đó phải đượclưu ý và sửa chữa.
+ Sản phẩm thay thế: khi sản phẩm mà khách hàng yêu cầu không có sẵn, đểgiữ chân khách hàng, cần thay thế bằng sản phẩm khác (nếu có thể được), ví dụ: haisản phẩm cùng loại nhưng khách kích cỡ hoặc bằng sản phẩm khác nhưng có tínhnăng tương tự hoặc tốt hơn kết quả nghiên cứu cho thấy: nếu một sản phẩm có khảnăng đáp ứng được 70% khả năng cung cấp và một sản phẩm thay thế được chấpnhận cũng có khả năng cung ứng 70% thì khi được phép sử dụng cả hai sản phẩm
đó thay thế cho nhau khả năng cung ứng sẽ lên đến 91%, còn nếu một sản phẩm mà
có tới hai sản phẩm thay thế cho nú thỡ khả năng cung ứng sẽ lên đến 97% Chính
vì vậy, các công ty cần nghiên cứu và chuẩn bị các sản phẩm thay thế nhà sản xuất– cung ứng phải phối hợp với khách hàng của mình để xây dựng lên chính sách thaythế sản phẩm và phải thông tin cho khách hàng về những chính sách đó Tuy nhiên,cũng luôn cần hỏi lại ý kiến của khách hàng trước khi sử dụng sản phẩm thay thế đểcung cấp cho họ Chẳng hạn như, nếu một công ty sản xuất đồ gỗ theo yêu cầu củakhách hàng cần mua các hộp sơn dầu dung tích 1 gallon nhưng nhà cung cấp hếtmất hàng loại này thì có thể đề nghị công ty đó mua những thùng dầu 5 gallon thaythế Việc này có thể không hợp lý bởi vì công ty sản xuất đồ gỗ chỉ cần 2 gallon đểthực hiện một sản phẩm mà không muốn phần dầu dư lại ở thùng 5 gallon Tuy vậy,nếu nhà phân phối đề nghị bán thùng dầu 1,5 gallon bằng với giỏ thựng 1 gallon thìđiều này hoàn toàn có thể chấp nhận để thay thế sản phẩm cho khách hàng
Các yếu tố trong giao dịch bao giờ cũng được lưu ý nhiều nhất bởi chúng cótác động trực tiếp và mạnh mẽ đến khách hàng
o Các yếu tố sau giao dịch:
Các yếu tố sau giao dịch của dịch vụ khách hàng sẽ được hỗ trợ cho sản phẩm
hoặc dịch vụ sau khi chúng đã đến tay khách hàng Trước đây, do khách hàng ítquan tâm đến dịch vụ hậu mãi nờn cỏc yếu tố sau giao dịch có phần bị xem nhẹ.Giờ đây tình hình đã đổi khỏc, cỏc công ty đều nhận thức được: việc duy trì và làm
Trang 26hài lòng khách hàng hiện có thể có lợi hơn việc tìm kiếm các khách hàng mới Cácyếu tố sau giao dịch gồm:
+ Lắp đặt, bảo hành, sửa chữa và các dịch vụ khác: Đây là một bộ phận quantrọng của dịch vụ khách hàng, cần được quan tâm đúng mức và theo dõi chặt chẽnhư những công việc trong khi giao dịch Đặc biệt khi hàng hoá được cung cấp làmáy móc, trang thiết bị, … thì dịch vụ này phải được đưa lên hàng đầu, vì chi phícho lắp đặt, bảo hành, sửa chữa, … thường rất lớn, có đôi khi còn cao hơn cả chiphí để mua chính những thiết bị đó
+ Theo dõi sản phẩm: Một công việc quan trọng khách là phải thường xuyêntheo dõi các sản phẩm, phát hiện những tình huống có thể xảy ra và thông báo kịpthời cho khách hàng Trong trường hợp có thể xảy ra những nguy hiểm cho kháchhàng, thì công ty phải có khả năng thu hồi sản phẩm kịp thời
+ Giải quyết các than phiền, khiếu nại và khách hàng trả lại hàng: Để giảiquyết những than phiền của khách hàng cần có một hệ thống thông tin trực tuyến,chính xác nhằm thu nhận kịp thời những dữ liệu từ phía khách hàng, xử lý và phảnhồi lại cho khách hàng
+ Cho khách hàng mượn sản phẩm dùng tạm: Tuỳ thuộc vào từng loại sảnphẩm, trong một số trường hợp cho khách hàng mượn sản phẩm dùng tạm là việclàm hết sức cần thiết
1.2.2.2 Hoạt động phân phối hàng hóa
Phân phối là hoạt động tổng hợp bao gồm nhận đơn đặt hàng từ khách hàng,phân phối các sản phẩm/ dịch vụ cho khách hàng đã đặt hàng Hai hoạt động chínhtrong yếu tố phân phối sản phẩm/dịch vụ là thực thi các đơn hàng từ khách hàng vàgiao sản phẩm cho khách hàng
Trong phân phối bao gồm: Quản lý đơn hàng và phân phối sản phẩm đếnkhách hàng
Trang 27Quản lý đơn hàng trong phân phối
Trong quản trị chuỗi cung ứng, quản lý đơn hàng là quá trình duyệt thông tincủa khách hàng từ nhà bán lẻ đến nhà phân phối nhằm mục đích phục vụ cho nhàcung ứng và nhà sản xuất Qỳa trỡnh này cũng đồng thời duyệt thông tin về ngàygiao hàng, sản phẩm thay thế và những đơn hàng thực hiện trước đó của kháchhàng Quy trình này dựa vào điện thoại và các chứng từ có liên quan như đơn hàng,đơn hàng thay đổi, bảng báo giá, hóa đơn bán hàng…
Quản trị chuỗi cung ứng ngày càng trở nên quan trọng và phức tạp hơn Cáccông ty bây giờ luôn giải quyết các vấn đề chọn lựa, xếp hạng cựng lỳc nhiều nhàcung cấp, thuờ cỏc nhà cung cấp bên ngoài và những đối tác phân phối Tính phứctạp này cũng làm thay đổi cách phản ứng với những sản phẩm được bán ra, gia tăng
ký vọng phục vụ khách hàng và thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng nhu cầu ởthị trường mới
Qỳa trình quản lý đơn hàng theo truyền thống tốn nhiều thời gian và hoạtđộng chồng chéo Đó là sự di chuyền dòng dữ liệu trong chuỗi cung ứng diễn rachậm Sự di chuyển chậm này có thể đảm bảo tốt cho chuỗi cung ứng đơn giảnnhưng chuỗi cung ứng phức tạp thì cần phải yêu cầu mục tiêu hiệu quả và nhanhchóng Quản lý đơn hàng hiện đại tập trung vào những kỹ thuật có thể giỳp dũng dữliệu liên quan đến đơn hàng diễn ra nhanh hơn và hiểu quả hơn
Trong quá trình quản lý đơn hàng cũng cần xử lý một số trường hợp ngoại lệ
từ đó đưa ra cách nhận diện vấn đề nhanh chóng và quyết định đúng đắn hơn Qỳatrỡnh quản lý đơn hàng ngày nên tự động hóa và có những đơn hàng đòi hỏi quátrình xử lý đặc biệt do nhầm lẫn ngàu giao hàng, yêu cầu của khách hàng thay đổi…Với những yêu cầu như vậy quản lý đơn hàng thường bắt đầu bằng sự kết hợpchồng chéo chức năng của bộ phận tiếp thị và bán hàng được gọi là quản lý mốiquan hệ khách hàng
Để quản lý đơn hàng một cách hiệu quả cần áp dụng một số nguyên tắc cơbản sau :
Trang 28- Nhập dữ liệu cho một đơn hàng: Nhập một và chỉ một lần.
- Tự động hóa trong xử lý đơn hàng
- Đơn hàng luôn ở trạng thái sẵn sang phục vụ khách hàng
- Tích hợp hệ thống đặt hàng với các hệ thống liên quan khác để duy trì tínhtoán vẹn dữ liệu
Phân phối sản phẩm đến khách hàng
Phân phối chịu ảnh hưởng mạnh từ quyết định liên quan đến cách thức vận tải
sử dụng Qỳa trỡnh thực hiện kế hoạch phân phối bị ràng buộc từ các quyết địnhvận tải Có hai cách thức vận tải phổ biến nhất trong kế hoạch phân phối là : Phânphối trực tiếp và phân phối theo lộ trình đã định
- Phân phối trực tiếp: Là quá trình phân phối từ một địa điểm gốc đến một địađiểm nhận hàng Kế hoạch phân phối gồm những quyết định về số lượng và số lầngiao hàng cho mỗi địa điểm Phân phối trực tiếp sẽ cắt giảm hoạt động trung gianthông qua vận chuyển những đơn hàng nhỏ đến một điểm tập trung, sau đó kết hợpthành một đơn hàng lớn để phân phối đồng thời
- Phân phối theo lộ trình đã định: Là phân phối từ một địa điểm gốc đến nhiềuđịa điểm nhận hàng, hay phân phối sản phẩm từ nhiều địa điểm gốc đến một địađiểm nhận hàng Kế hoạch phân phối theo lộ trình đã định phức tạp hơn so với phânphối trực tiếp Kế hoạch này cần quyết định về số lượng phân phối các sản phẩmkhác nhau, số lần phân phối… và điều quan trọng nhất là lộ trình phân phối và hoạtđộng bốc dỡ khi nhận hàng
Nguồn phân phối
Việc phân phối sản phẩm đến khách hàng được thực hiện từ hai nguồn
- Địa điểm lẻ dùng cho sản phẩm như nhà mày, nhà kho…cú sản phẩm đơnhay danh mục sản phẩm liên quan sẵn sàng phân phối
- Trung tâm phân phối: là nơi tồn trữ, xuất nhập khối lượng lớn sản phẩm bằngphương tiện vận chuyển có tải trọng lớn đến từ nhiều địa điểm khác nhau
Trang 29
1.2.2.3 Hệ thống thông tin
Hệ thống thông tin trong quản trị chuỗi cung ứng bao gồm ba nhân tố: Đầuvào, cơ sở dữ liệu và các kỹ thuật xử lý có liên quan, đầu ra
Mô hình dưới đây sẽ mô tả các nhân tố này
Sơ đồ 1.5: Hệ thống thông tin trong chuỗi cung ứng
+ Đầu vào:
Hoạt động đầu tiên liên quan đến hệ thống thông tin là thu thập dữ liệu trợgiúp cho quá trình ra quyết định Sau khi xác định cẩn thận những dữ liệu cần cho
sự lên kế hoạch và hoạt động của chuỗi cung ứng, ta có thể có được các dữ liệu này
từ nhiều nguồn khác nhau như: khách hàng, hồ sơ của công ty, báo chí, các văn bảnpháp lý của các cơ quan quản lý Nhà nước
Các hoạt động cơ sở dữ liệu
Dữ liệu đầu vào
Thông tin đầu ra
Nhà quản trị chuỗi cung ứng
Trang 30Khách hàng thông qua hoạt động mua của mình cung cấp gián tiếp nhữngthông tin hữu dụng cho việc hoạch định Những dữ liệu có được từ danh sách đơnhàng có ích cho các quyết định về dự báo và hoạt động, như là: sản lượng bán, thờigian, địa điểm bán và quy mô đơn hàng Tương tự như vậy, những dữ liệu về quy
mô và chi phí vận chuyển có được từ việc phân phối sản phẩm cho khách hàng Hóađơn vận chuyển, đơn hàng mua và các hóa đơn là những nguồn bổ sung của loại dữliệu sơ cấp này
Hồ sơ của doanh nghiệp dưới dạng các bản báo cáo tài chính, báo cáo tìnhtrạng doanh nghiệp, báo cáo từ những nghiên cứu trong và ngoài doanh nghiệp, vàcác báo cáo hoạt động khác nhau cung cấp rất nhiều dữ liệu Dữ liệu từ các bản báocáo này thường không được tập hợp cho mục đích ra các quyết định trong quản trịchuỗi cung ứng Việc xử lý các dữ liệu được lựa chọn có được từ hệ thống thông tin
sẽ được trình bày ở phần sau
Những dữ liệu báo chí từ nguồn bên ngoài là một nguồn dữ liệu khác, những
dữ liệu có sẵn trong các bản nghiên cứu được tài trợ bởi các hiệp hội, liên hiệpthương mại, những dữ liệu có ích đối với việc tạo ra sản phẩm mà nhà cung ứngcung cấp Ngoài ra cũn cú những dữ liệu từ các tạp chí thương mại và báo chíchuyên nghiệp Loại dữ liệu bên ngoài này có xu hướng phổ biến hơn và khái quáthơn so với dữ liệu nội bộ
Dữ liệu từ đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp cũng là một nguồn dữ liệuquan trọng Dự đoán lượng bán trong tương lai, những hành động cạnh tranh và khảnăng sẵn có của nguyên vật liệu được mua chỉ là một vài ví dụ Loại dữ liệu nàykhông có nhiều trong hồ sơ của doanh nghiệp, trong máy tính hay thư viện như ởtrong đầu óc của con người Đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp như là nhà quảntrị, người lập kế hoạch và người cố vấn nội bộ, các chuyên gia hoạt động ở gầnnguồn dữ liệu và bản thân họ cũng trở thành nguồn dữ liệu tốt
+ Quản trị cơ sở dữ liệu:
Việc biến đổi dữ liệu thành thông tin và trình bày lại ở dạng có ích cho việc raquyết định và liên hệ thông tin với các phương thức hỗ trợ việc ra quyết định
Trang 31thường được gọi là phần trung tâm của một hệ thống thông tin Quản trị cơ sở dữliệu liên quan đến việc lựa chọn dữ liệu lưu trữ và truy cập, lựa chọn những phươngpháp phân tích để tổng hợp và lựa chọn thực hiện chu trình xử lý dữ liệu cơ bản nào.Vấn đề quan tâm đầu tiên trong việc thiết kế cơ sở dữ liệu sau khi xác định nộidung cơ sở dữ liệu là quyết định dữ liệu nào được lưu trữ thành các bản cứng, trongmáy tính để truy cập nhanh và những dữ liệu nào không nên lưu trữ ở bất kỳ cơ sởthông thường nào Việc lưu trữ dữ liệu có thể rất tốn kém nên việc quyết định lưutrữ dưới bất kỳ dạng nào cần căn cứ vào:
- Tầm quan trọng của thông tin đối với việc ra quyết định trong doanhnghiệp
- Tốc độ thông tin cần truy cập nhanh chóng
- Tần suất truy cập
- Những cố gắng cần để xử lý thông tin thành dạng cần dùng
Những thông tin cần cho việc hoạch định chiến lược không yêu cầu sẵn sànghay truy cập thường xuyên Ngược lại, những thông tin cần cho hoạch định hoạtđộng yêu cầu phải sẵn sàng và truy cập thường xuyên Một thư ký vận tải xem lạicước phí vận chuyển trong bộ nhớ máy tính hoặc người đại diện theo dịch vụ củakhách hàng kiểm tra tình trạng của đơn hàng thông qua hệ thống đánh dấu và theodõi của công ty sẽ lợi dụng những lưu trữ cơ sở này và khả năng truy cập của hệthống thông tin
Xử lý những dữ liệu là một trong những yếu tố lâu đời và phổ biến nhất củamột hệ thống thông tin Khi máy tính lần đầu tiên được giới thiệu trong lĩnh vựckinh doanh thì mục đích của nó là giảm thiểu thời gian tính toán hóa đơn cho hàngnghìn khách hàng và chuẩn bị các bản ghi kế toán Bây giờ việc chuẩn bị đơn hàng,vận đơn và hóa đơn vận chuyển là những hoạt động xử lý dữ liệu phổ biến để giúp
đỡ nhà quản trị chuỗi cung ứng hoạch định và kiểm soát dòng chảy nguyên vật liệu.Các hoạt động xử lý dữ liệu là việc chuyển đổi một cách đơn giản và dễ hiểu những
dữ liệu trong các tập tin thành một số dạng thông dụng hơn
Trang 32Phân tích dữ liệu là một ứng dụng tiên tiến và hiện đại nhất của hệ thốngthông tin Hệ thống có thể chứa đựng các mô hình toán học, thống kê phổ biến vàđặc thù đối với việc giải quyết các vấn đề trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.Những mô hình này chuyển đổi thông tin thành các giải pháp hỗ trợ cho việc raquyết định.
+ Đầu ra:
Yếu tố cuối cùng của hệ thống thông tin là đầu ra Đó là phương thức giao tiếpvới người sử dụng trong hệ thống Đầu ra thường gồm một số dạng và được chuyểnđổi thành một số mẫu Thứ nhất, đầu ra rõ ràng nhất là một số mẫu báo cáo như:Báo cáo tóm lược về chi phí hoặc dữ liệu thống kê hoạt động, báo cáo về tình trạng
dự trữ hoặc xúc tiến hàng, báo cáo bên ngoài đánh giá hoạt động kế hoạch với hoạtđộng thực tế và báo cáo (đơn hàng mua hoặc đơn hàng sản xuất) hướng dẫn cáchoạt động Thứ hai, đầu ra có thể có dạng các tài liệu in sẵn như hóa đơn vậnchuyển và xếp dỡ hàng hóa Cuối cùng, đầu ra có thể là các kết quả phân tích dữliệu từ các mô hình toán học và thống kê
Đầu vào, khả năng quản trị cơ sở dữ liệu và đầu ra là các nhân tố chủ yếu của
hệ thống thông tin Ngoài việc tăng khả năng xử lý dữ liệu, mục tiêu cơ bản của hệthống là cung cấp các công cụ hỗ trợ ra quyết định trong công tác lập kế hoạch vàđiều hành chuỗi cung ứng
1.2.2.4 Quản trị dự trữ
Hàng dự trữ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của doanh nghiệp (thôngthường từ 40 đến 50%) Do vậy, việc quản lý, kiểm soát tốt hàng dự trữ có ý nghĩacực kỳ quan trọng, nó góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành liên tục,nhịp nhàng, đồng thời đạt hiệu quả cao
Quản trị dự trữ là một nội dung quan trọng của quản trị chuỗi cung ứng Bảnthân vấn đề quản trị dự trữ chứa đựng hai mặt đối lập nhau Nếu dự trữ nguyên vậtliệu, sản phẩm, hàng hoá, … không đủ về số lượng, chủng loại hoặc không đạt yêucầu về chất lượng, thì hoạt động kinh doanh, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng
Trang 33không thể diễn ra nhịp nhàng và tất nhiên là không hiệu quả được; còn ngược lại,nếu dự trữ quá nhiều, sẽ dẫn đến hiện tượng hàng hoá bị ứ đọng, vòng quay của vốnchậm, chi phí cho hoạt động kinh doanh, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tăng vàlàm cho hoạt động không hiệu quả.
Như vậy, có thể nói sự tích luỹ, ngưng đọng nguyên vật liệu, sản phẩm,hàng hoá ở các giai đoạn vận động của quá trình quản trị chuỗi cung ứng đượcgọi là dự trữ
Hàng dự trữ bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm, dụng cụ, phụ tùng,thành phẩm dự trữ, … Tuỳ theo các loại hình doanh nghiệp mà các dạng hàng dựtrữ và nội dung hoạch định, kiểm soát hàng dự trữ cũng khác nhau
Đối với các công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại, doanh nghiệp muabán kiếm lời, hàng dự trữ của họ chủ yếu là mua hàng về và chuẩn bị chuyển đếntay người tiêu dùng Trong lĩnh vực này, doanh ngiệp hầu như không có dự trữ làbán thành phẩm trên dây chuyền như trong lĩnh vực sản xuất
Nguyên nhân của việc hình thành dự trữ:
- Do sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất;
- Do sản xuất, vận tải … phải đạt đến một quy mô nhất định thì mới mang lạihiệu quả;
- Để cân bằng cung - cầu đối với những mặt hàng có tính thời vụ;
Trang 34- Phân loại theo vị trí của hàng hoá trên dây chuyền cung ứng;
- Phân loại theo nguyên nhân hình thành dự trữ;
- Phân loại theo công dụng của dự trữ;
- Phân loại theo giới hạn của dự trữ;
- Phân loại theo thời hạn dự trữ;
- Phân loại theo kỹ thuật phân tích ABC
Chi phí dự trữ:
Dự trữ có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hoạt động quản trị chuỗi cung ứng.Mức dự trữ không thích hợp sẽ làm cho không thực hiện được mục tiêu chiến lượccủa quản trị chuỗi cung ứng là: tối thiểu hoá chi phí + thực hiện tốt các dịch vụkhách hàng Nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm cho hàng hoá ứ đọng, vốn quay vòngchậm, hiệu quả kinh doanh thấp Ngược lại, nếu dự trữ quỏ ớt sẽ không có đủ hànghoá, sản phẩm đảm bảo cho quá trình kinh doanh liên tục, dẫn đến không thoả mãnđược nhu cầu của khách hàng, sẽ bị mất các khách hàng hiện tại
Chi phí quản trị dự trữ bao gồm 4 khoản chi lớn sau:
- Chi phí về vốn - lượng vốn đầu tư vào hàng dự trữ
- Chi phí cho các dịch vụ hàng dự trữ, gồm: Chi phí bảo hiểm và thuế
- Chi phí liên quan đến khú bói để chứa đựng, bảo quản hàng dự trữ, gồm:chi cho trang thiết bị trong kho, chi phí liên quan dến việc sử dụng kho côngcộng, chi phí thuê kho và chi phí cho kho của công ty
- Chi phí cho những rủi ro liên quan đến hàng dự trữ, gồm: hao mòn vô hình(chi phí cho những hàng dự trữ bị lỗi thời không còn bán được với mức giá ban đầu,thậm chí phải vứt bỏ hay bán lỗ vốn); hàng hoá bị hư hỏng; hàng hoá bị thiếu hụt,mất mát; chi phí liên quan đến việc điều chuyển, bố trí lại hàng hoá giữa các kho
Ta có thể tổng hợp lại các loại chi phí của quản trị dự trữ theo sơ đồ sau:
Trang 35- Chi phí đặt hàng: Là toàn bộ các chi phí có liên quan đến việc thiết lập
Lượng vốn đầu tư vào hàng dự trữ
Chi phí cho các dịch vụ hàng dự trữ
Chi phí kho bãi
Chi phí rủi
ro đối với hàng dự trữ
Chi phí cho
các dịch vụ
hàng dự
trữ
Trang 36các đơn hàng Nó bao gồm các chi phí tìm kiếm nguồn hàng, thực hiện quytrình đặt hàng (giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng, thông báo qua lại).
- Chi phí lưu kho: Là những chi phí phát sinh trong thực hiện hoạt động dựtrữ, như:
o Chi phí về nhà cửa và kho tàng
o Chi phí sử dụng thiết bị, phương tiện
o Chi phí về nhân lực cho hoạt động quản lý
o Phí tổn cho việc đầu tư vào hàng dự trữ
o Thiệt hại hàng dự trữ do mất, hư hỏng hoặc không sử dụng được
- Chi phí mua hàng: Là chi phí được tính khối lượng hàng của đơn hàng và giá mua một đơn vị Thông thường chi phí mua hàng không ảnh hưởng nhiềuđến việc lựa chọn mô hình dự trữ, trừ mô hình khấu trừ theo lượng mua
Các mô hình dự trữ:
- Mô hình mức đặt hàng tối ưu (Economic Order Quantity - EOQ)
- Mô hình mức đặt hàng theo sản xuất (Production Order Quantity – POQ)
- Mô hình dự trữ thiếu (Back Order Quantity - BOQ)
- Mô hình khấu trừ theo số lượng (Quantity Discount Model – QDM)
1.2.2.5 Hoạt động vận tải
Vận tải là hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm hoánchuyển vị trí của hàng hoá và bản thân con người từ nơi này đến nơi khácbằng các phương tiện vận tải Trước hết về đáp ứng nhu cầu của khách hàng,quản trị vận chuyển sẽ giúp cho chiến lược marketing của doanh nghiệp thành côngtrong việc phân phối đủ rộng và đủ sâu để đáp ứng một cách hoàn hảo nhu cầu củathị trường
Vận tải có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động quản trị chuỗi cung ứng
và vai trò này sẽ ngày càng tăng thêm, bởi chi phí cho vận tải sẽ ngày càng tăng cao
do giá cả xăng dầu liên tục tăng cao
Trang 37Vì vận tải có tầm quan trọng như vậy nờn cỏc doanh nghiệp cần phải quantâm, chú ý đến việc cân nhắc, lựa chọn các điều kiện vận tải vật tư, hàng hoá, lựachọn phương thức vận tải, người vận tải và lộ trình vận tải … để có được quyết địnhđúng đắn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Lựa chọn người chuyên chở và lộ trình, cần phải:
o Lựa chọn điều kiện giao nhận vật tư, hàng hoá;
o Lựa chọn phương thức vận tải;
o Lựa chọn con người chuyên chở;
o Lựa chọn lộ trình
Lựa chọn điều kiện giao hàng:
o Người cung cấp mang hàng đến cơ sở người mua để giao cho người mua;
o Người mua đến tận cơ sở của nhà cung cấp để nhận hàng
Để lựa chọn được chúng ta phải căn cứ vào các yếu tố:
Thời gian vận chuyển và khả năng sai lệch thời gian
1.2.2.6 Kho bãi và giao nhận
Kho bãi là một bộ phận của hệ thống quản trị chuỗi cung ứng, là nơi cất giữnguyờn, nhiờn, vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm… trong suốt quá trình chu
Trang 38chuyển từ điểm đầu đến điểm cuối của dây chuyền cung ứng hàng hoá Đồng thờicung cấp các thông tin về tình trạng, điều kiện lưu giữ và vị trí của các hàng hoáđược lưu kho.
Kho bãi là một bộ phận không thể thiếu trong chuỗi cung ứng hàng hoá
Là nơi cất giữ, bảo quản trung chuyển hàng hoá, kho bói cú những vai tròquan trọng sau:
o Nâng cao tính chủ động trong sản xuất kinh doanh
o Tiết kiệm được chi phí vận tải: nhờ có kho, có thể mua hàng với số lượnglớn, giảm được chi phí vận tải;
o Tiết kiệm chi phí trong sản xuất kinh doanh: kho bói giỳp bảo quản tốtnguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, giảm bớt hao hụt, mất mát, hưhỏng, kho giúp cung cấp nguyên vật liệu đúng lúc, tạo điều kiện cho sản xuất tiếnhành liên tục, nhịp nhàng, giảm được chi phí kinh doanh;
o Có thể được giảm giá do mua được nhiều hàng trong một đơn hàng;
o Đảm bảo nguồn cung hàng hóa ổn định;
o Có thể tránh được những tác động tiêu cực như tính thời vụ, thời tiết, rủi ro,nhu cầu, …
1.2.2.7 Quản trị quan hệ các nhà cung ứng đầu vào
Quản trị quan hệ nhà cung ứng (SRM) là quản lý toàn bộ hoạt động của công
ty trong mối quan hệ với các tổ chức cung cấp nguồn hàng và dịch vụ Mục đíchcủa SRM là tạo ra sự liên tục và làm cho quá trình làm việc giữa công ty và các nhàcung ứng của nó trở nên hiệu quả hơn
Quản trị quan hệ nhà cung ứng, bao gồm những hoạt động kinh doanh thựctiễn và những phần mềm hỗ trợ, là một quá trình trong quản trị chuỗi cung ứng.Quản trị quan hệ nhà cung ứng tạo ra một khung tham chiếu chung để tăng cườnghiệu quả giao tiếp giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng khi mỗi bên sử dụng nhữngcông nghệ và cách thức kinh doanh khác nhau Do đó, SRM tăng cường hiệu quả
Trang 39của các quá trình liên quan đến các dịch vụ và hàng hóa cần thiết, quản lý hàng tồnkho và xử lý nguyên vật liệu.
Lựa chọn nhà cung cấp chất lượng
Việc lựa chọn nhà cung cấp là một phần quan trọng trong hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp tìm nhà cung cấp dựa trên các tiêu chí sau:
- Đảm bảo tài chính với triển vọng lâu dài
- Có khả năng và năng lực để cung ứng các nguyên vật liệu cần thiết
- Cung ứng chính xác nguyên vật liệu theo yêu cầu
- Gửi các nguyên vật liệu với chất lượng cao được đảm bảo
- Cung ứng đúng thời hạn, đáng tin cậy với thời gian ngắn
- Định giá và các thỏa thuận về tài chính có thể chấp nhận được
- Nhạy bén với những nhu cầu và thay đổi của khách hàng
- Có kinh nghiệm và chuyên gia về sản phẩm của mình
- Có danh tiếng tốt
- Sử dụng hệ thống thu mua dễ sử dụng và thuận tiện
- Đã từng hợp tác thành công trong quá khứ và có thể phát triển mối quan
Trang 40
Bảng 1.1 So sánh lựa chọn một hoặc nhiều nhà cung ứng
Mối quan hệ giữa khách hàng và nhà
cung cấp chặt chẽ hơn, thường được
hình thành dưới dạng liên minh hoặc đối
tác
Sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp làmgiảm giá
Cam kết của cỏc bờn để mối quan hệ
thành công Cú ít rủi ro giám đoạn việc cung ứng( vấn đề này có thể tránh được bằng cách
chuyển sang nhà cung cấp khác)
Kinh tế theo quy mô và giảm giá cho
khối lượng lớn Có thể dễ dàng giải quyết vấn đề nhucầu đa dạng.Truyền thông dễ dàng, thủ tục quản lý
đơn giản và giảm thiểu cho các đơn hàng
lặp lại
Liên quan đến nhiều tổ chức có thể chophép tiếp cận với thông tin và kiến thứcrộng hơn
Ít có sự biến động về nguyên vật liệu và
việc cung ứng chúng Khuyến khích đổi mới và cải tiến nhiềuhơn
Dễ giữ các yêu cầu, các điều kiện…một
cách bí mật Không dựa vào việc tin tưởng một tổchức bên ngoài
Các doanh nghiệp sử dụng nhiều nhà cung cấp hơn khi họ muốn trỏnh cỏc vấn đề có thể xảy ra Để giảm thiểu rủi ro, các doanh nghiệp tự mình dự trữ nhưng điều này lại có chi phí cao hơn.
Đỏnh giỏ năng lực của nhà cung cấp
Hầu hết các doanh nghiệp đều đánh giá các nhà cung cấp của họ để đảm bảorằng họ tiếp tục cung ứng nguyên vật liệu, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của doanhnghiệp Đôi khi thước đo phức tạp được sử dụng cho từng mảng năng lực Một cáchtiếp cận thường gặp là sử dụng một danh sách kiểm tra gồm các nhân tố quan trọng
và kiểm tra xem liệu nhà cung cấp có đáp ứng các tiêu chuẩn đú khụng Danh sáchkiểm tra sẽ đề cập đến nhà cung cấp đó có tài chính tốt khụng? Cú cung ứng đúngthời hạn không? Chất lượng sản phẩm cung ứng có đủ cao khụng? Cú cỏc hỗ trợ về
kỹ thuật không? Giá cả có cạnh tranh khụng? Nhà cung cấp không đáp ứng đượcbất kỳ tiêu chuẩn nào thì doanh nghiệp sẽ thảo luận về cải thiện hoặc tìm nhà cung