Đặc biệt, dòng lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn cao vào Việt Nam làm việc sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng của nền kinh tế, ứng dụng các tiến bộ công nghệ, kinh nghiệm quản
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sĩ “Chính sách quản lý lao động nước ngoài của Singapore và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” chuyên ngành kinh tế chính trị là công trình của riêng tôi Luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2012 Tác giả luận văn
Trang 2
M ỤC L ỤC
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt iDanh mục các bảng số liệu iiDanh mục các hình vẽ, đồ thị iii
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
2 FDI Đầu tư trực tiếp nứơc ngoài
4 EWTA Bộ luật lao động nguời nước ngoài singapore
5 FMND Cục quản lý lao động nuớc ngoài
6 GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
7 ILO Tổ chức lao dộng quốc tế
11 LĐ-TB&XH Bé Lao động- Thương binh và xã hội
13 TDB Cục xúc tiến thương mại Singapore
14 TNCs Công ty xuyên quốc gia
16 WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 42 2.1 Hệ thống giấy phép lao động tại Singapore
3 2.2 Thẻ S dành cho lao động nước ngoài tại Singapore
4 2.3 Tiêu chuẩn, hạn chế và quyền hạn đuợc cấp cho những lao
động nuớc ngoài có chuyên môn
5 2.4 Qui định giới hạn ngành nghề đối với lao động nuớc ngoài
6 2.5 Tổng thương mại xuất khẩu của Singapore qua vài năm
7 3.1 Số luợng lao động nuớc ngoài ở Việt Nam qua các năm
12 3.6 Lao động quốc tịch châu Phi tại thành phố Hồ Chính Minh
13 3.7 Dự báo chỉ tiêu về phát triển nhân lực đến năm 2020
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
1
2.12 2.1 Vị trí địa lý của singapore
2 2.2 Bộ máy quản lý lao động nuớc ngoài tại Singapore
Trang 6Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, việc mở cửa các loại thị trường, trong đó có thị trường dịch vụ, thị trường lao động theo các cam kết gia nhập các tổ chức quốc tế là một tất yếu Đi cùng với hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ là lao động người nước ngoài đến Việt Nam làm việc Đặc biệt, dòng lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn cao vào Việt Nam làm việc sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng của nền kinh tế, ứng dụng các tiến bộ công nghệ, kinh nghiệm quản lý, gia tăng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và các nước,v.v…; đồng thời cũng mang lại những hiệu ứng ngoài mong muốn như: gia tăng áp lực việc làm trong nước, xung đột giữa lao động Việt Nam với lao động nhập cư, trật tự xã hội khó quản lý, an ninh quốc phòng có thể bị xâm phạm, bí mật quốc gia có thể bị lộ, v.v… Trước thực trạng trên, điều đang gây bức xúc trong dư luận là các cơ quan quản lý nhà nước đang tỏ ra lúng túng, bị động trong việc quản lý lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Theo tác giả luận văn, nguyên nhân cơ bản của những bất cập trong quản lý,
sử dụng lao động người nước ngoài ở Việt nam trong thời gian qua là do chúng ta chưa đầu tư nghiên cứu lý luận về vấn đề lao động người nước ngoài nhập cư trong thời kỳ hội nhập, chưa tìm hiểu kỹ kinh nghiệm quản lý lao động nước ngoài của các nước khác, do đó thiếu những đánh giá về vai trò, cũng như tác động hai chiều của lao động người nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thiếu các dự báo về cung cầu lao động người nước ngoài
Tôi nhận thức rằng, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, tích cực, chủ động hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, lao động người nước ngoài đến Việt Nam là một tất yếu khách quan đem lại tác động nhiều chiều, cả tích cực lẫn tiêu cực trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách trong việc quản lý, sử dụng
Trang 7lao động người nước ngoài, nhưng việc thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách đú cũn bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém Các cơ quan nhà nước có liên quan chưa phát huy được đầy đủ vai trò của mình trong việc quản lý lao động người nước ngoài theo quan điểm hiệu quả, đem lại lợi ích thiết thực cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước Để kịp thời nắm bắt cơ hội, chủ động đối phó với thách thức như đã đề cập, vấn đề cấp bách hiện nay là Việt Nam cần nhanh chóng hoàn thiện chính sách về quản lý lao động nước ngoài nhằm tạo đà tăng trưởng kinh tế bền vững Con đường ngắn nhất không gì khỏc đú chớnh là nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm
từ các quốc gia đi trước trong lĩnh vực quản lý lao động ngoại nhập, cụ thể là Singapore để từ đó khái quát, rút ra bài học kinh nghiệm và vận dụng linh hoạt vào thị trường lao động Việt Nam
Từ những đòi hỏi thực tiễn đó tác giả lựa chọn vấn đề “Chính sách
quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài ở Singapore” làm luận văn
thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
1 Phan Huy Đường:
- Kinh tế đối ngoại Việt Nam(2007), (Sách chuyên khảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà nội
- “Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển bền vững và độc lập tự chủ” Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần 3, Hà Nội ( 2008)
- Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động ở Việt Nam (Chủ nhiệm), (Đề tài NCKH cấp ĐHQG Hà Nội, 2009)
2 Lê Hồng Huyên (2011), Quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài, Luận án Tiến sỹ kinh tế, bảo vệ ngày 4/3/2011 tại Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Lê Hồng Huyên (2008), Tác động của di chuyển lao động quốc tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần 3, Hà Nội
Trang 84 Phạm Thị Thanh Bình (2009): 1/ Xu hướng di chuyển lao động từ các nước đang phát triển và 2/ Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế: Nguyên nhân và thực trạng, Báo điện tử ĐCS VN
5 Phan Huy Đường (2010), Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về lao động nước ngoài tại Việt Nam, Tạp chí Lao động-Xó hội số 407 tháng 5/2011
6 Phan Huy Đường, Tô Hiến Thà (2011), Lao động nước ngoài ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp, Tạp chí Lao động - Xã hội số 402 tháng 3/2011
7 Tô Hiến Thà, Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, Tạp chí lao động và xã hội, 340/2008
8 Báo Người lao động (23-04-2009) Quản lý lao động người nước ngoài tại Việt Nam: Chưa sát thực tế!
Bài báo nêu lên thực trạng lao động người nước ngoài đang ồ ạt vào Việt Nam, đáng lo ngại hơn đó lại là lao động phổ thông Theo bài báo, những bất cập của cơ chế, cũng như quản lý lỏng lẻo chính là nguyên nhân của tình trạng lao động phổ thông người nước ngoài ào ạt vào Việt Nam không kiểm soát được
9 The Economy (8/3/2010), Lao động phổ thông nước ngoài đang vào Việt Nam
10 Ngọc Tước (Giadinh.net), Quản lý lao động người nước ngoài tại Việt Nam: Sự hời hợt mất tiền tỷ
11 Hội nghị giao ban các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) vùng kinh tế trọng điểm phía Nam lần thứ 9, Đồng Nai, 5/2010, Nhiều bất cập trong quản lý lao động người nước ngoài tại các khu công nghiệp, khu chế xuất
12 Nguyễn Sỹ Phương (CH LB ĐỨC) (Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 14/8/2009), Lao động nhập cư
Trang 914 Thái Bình, Giải bài toán lao động người nước ngoài nhập cư ( Thời báo Kinh tế Sài gòn, 7/2009, Theo Economist)
15 Phan Huy Đường, Đỗ Thị Dung (2011), Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện quy định pháp luật về lao động nước ngoài ở Việt Nam và hướng hoàn thiện, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 403 tháng 3 năm 2011
16 Bùi Quảng Bạ (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996), “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước đối với người nước ngoài ở Việt Nam” Luận án Tiến sĩ luật học
17 Ngụ Phúc Thịnh (Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội, 2002),
“Quản lý nhà nước về an ninh đối với người nước ngoài tại Việt Nam” Luận
án Tiến sĩ Luật học
18 Nguyễn Phùng Hồng (chủ nhiệm) (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002), “Những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý người nước ngoài nhằm bảo đảm an ninh trật tự của lực lượng công an nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
19 Nguyễn Hữu Tráng (chủ nhiệm) (Bộ Ngoại giao, Hà Nội, 2002),
“Trách nhiệm quốc gia đối với việc nhận trở lại công dân không được nước ngoài cho cư trỳ”
20 Đại tá Triệu Văn Thế - Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh làm chủ nhiệm (Bộ Công an, Hà Nội, 2005), “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu hàng không quốc tế Nội Bài gúp phần đảm bảo an ninh quốc gia” Các công trình nghiên cứu khoa học này, ở những khía cạnh và cấp độ khác nhau, đều đề cập một số vấn đề chung về quản lý nhà nước, mối quan hệ nhà nước - công dân trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, những điều kiện pháp lý bảo đảm quyền của người nước ngoài làm việc
ở Việt Nam
Ngoài ra, cũng cần kể đến một số luận văn thạc sĩ luật học như:
21 Nguyễn Xuân Toản - Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 1996),
“Quản lý nhà nước đối với người nước ngoài tại Việt Nam” (luận văn thạc sĩ
Trang 10luật học) Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận, nội dung pháp lý của quản
lý nhà nước đối với người nước ngoài tại Việt Nam, đề xuất những giải pháp tăng cường hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với người nước ngoài
ở Việt Nam hiện nay”
22 Nguyễn Văn Minh (Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội, 1999),
“Quản lý nhà nước về an ninh đối với người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam theo danh nghĩa du lịch” (Luận văn thạc sĩ luật học)
Các công trình khoa học nêu trên cho thấy: từ những cấp độ hoạt động quản lý nhà nước khác nhau về chức năng nhiệm vụ, vấn đề quản lý nhà nước
về xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú đối với người nước ngoài tại Việt Nam đã được đề cập từ nhiều khía cạnh khác nhau trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay; đề cập các vấn đề về lịch sử, khái niệm, phạm trù, nội dung của pháp luật; xác lập quan điểm, nguyên tắc và giải pháp thực hiện cơ chế quản lý nhà nước về an ninh trong lĩnh vực xuất nhập cảnh ở nước ta Pháp luật nói chung và pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh nói riêng được các tác giả khẳng định là phương tiện pháp lý để Nhà nước thực hiện vai trò quản lý đối với người nước ngoài tại Việt Nam
Những đóng góp của các công trình nêu trên là những tìm tòi sáng tạo - những bước tiến quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc về mặt lý luận và thực tiễn của phạm vi lĩnh vực mà các đề tài nghiên cứu, tập trung chủ yếu là: Quản lý nhà nước đối với người nước ngoài ở Việt Nam; quản lý nhà nước về
an ninh đối với người nước ngoài; quản lý nhà nước về an ninh đối với công dân Việt Nam xuất cảnh, nhập cảnh hoặc là đột phá một số điểm, một số khía cạnh trong quản lý nhà nước về an ninh trật tự trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú đối với công dân là người nước ngoài Tuy nhiên, các công trình nói trên còn để lại nhiều khoảng trống và chưa đề cập một cách toàn diện, có hệ thống về chính sách, pháp luật trong quản lý, sử dụng lao động người nước ngoài Đặc biệt, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu
Trang 11về chính sách Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài của Singapore và rút
ra các bài học kinh nghiệm quản lý lao động nước ngoài cho Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu chính sách quản lý nhà nước về lao động người nước ngoài ở Singapore
* Phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài tập trung nghiên cứu chính sách quản lý nhà nước về lao động nước ngoài ở Singapore giai đoạn 2005-2011 trên ba nội dung chính: Chính sách xuất nhập cảnh và cư trú; Chính sách thị trường lao động; Chính sách thương mại và đầu tư
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa vào đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng thời kế thừa những kết quả nghiên cứu trong các công trình khoa học đã công bố để phục vụ cho mục đích nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế chính trị, đặc biệt coi trọng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp…
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài, Luận văn đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài ở Singapore Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước đối với lao động ngoại nhập ở Việt Nam hiện nay
* Nhiệm vụ của Luận văn :
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách quản lý đối với lao động nước ngoài
Trang 12- Nghiên cứu thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài ở Singapore đồng thời phân tích thực trạng quản lý nhà nước về lao động nước ngoài ở Việt Nam, Từ đó, vận dụng bài học kinh ngiệm của Singapore vào lĩnh vực quản lý lao động nước ngoài ở Việt Nam.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách quản quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
6 Những đúng góp mới của luận văn
* Đóng góp về lý luận:
- Phân tích thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài ở Singapore để từ đó tổng hợp, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Khái quát về tình hình quản lý lao động nước ngoài ở Việt Nam
7 Kết cấu của đề tài luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về chính sách quản lý nhà nước về lao động nước ngoài
Chương 2: Chính sách quản lý lao động nước ngoài của Singapore.Chương 3: Bài học kinh nghiệm chính sách quản lý lao động nước ngoài của Singapore đối với Việt nam
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
1.1 DI CHUYỂN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ VÀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Nguyên nhân, đặc điểm và phân loại di chuyển lao động quốc tế
* Nguyên nhân của di chuyển lao động quốc tế
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, chúng ta đang đối mặt với những vấn đề cần phải giải quyết về người lao động nước ngoài và những vấn đề nẩy sinh trong quá trình sử dụng và quản lý lực lượng lao động này Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào tiếp cận vấn đề lao động nước ngoài ở Việt Nam một cách hệ thống và toàn diện Do vậy, có thể nói việc quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam đang là một trong những vấn đề xã hội bức xúc cần phải được xem xét nghiên cứu một cách nghiêm túc và khoa học
Hiện nay chúng ta thấy rằng có nhiều nghiên cứu liên quan tới vấn đề
di chuyển lao động, đặc biệt tập trung nhiều ở khu vực Châu Á Di chuyển lao động là vấn đề tất yếu mà các quốc gia đang phát triển phải đối mặt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nghiên cứu về xu thế và yếu tố tác động tới việc di cư lao động là một trong những mảng nghiên cứu được nhiều tổ chức quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ILO tiến hành nhiều nghiên cứu liên quan tới vấn đề di cư lao động
Di chuyển lao động quốc tế là một hiện tượng bình thường, và ngày càng xảy ra thường xuyên hơn của thị trường lao động Nền kinh tế càng phát triển, hiện tượng này càng phổ biến, và là điều kiện không thể thiếu của sự phát triển lành mạnh Muốn đẩy nhanh sự phát triển kinh tế-xã hội thỡ cỏc
Trang 14quốc gia phải khôn ngoan đối mặt với hiện tượng di chuyển của những người lao động nói chung và người lao động tri thức nói riêng, có chính sách "trọng dụng" họ, tạo mọi điều kiện (về vật chất và tinh thần) để họ làm việc có hiệu quả Theo các chuyên gia kinh tế, có 4 nhóm nguyên nhân cơ bản sau dẫn đến
sự di chuyển lao động quốc tế
Di chuyển lao động quốc tế là do kết quả của quá trình toàn cầu hóa Quá trình toàn cầu hoá làm tăng chênh lệch thu nhập giữa các quốc gia Mức chênh lệch ngày càng tăng về trình độ phát triển giữa các quốc gia, dẫn tới sự phát triển không đồng đều về kinh tế xã hội Quá trình toàn cầu hóa và những chính sách di cư chọn lựa ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển lao động quốc tế Lao động càng có trình độ chuyên môn cao càng có
xu hướng di cư nhiều Và trình độ giáo dục chính là nhân tố thúc đẩy tốc độ di chuyển lao động Giáo dục cũng làm tăng khả năng di chuyển lao động ra nước ngoài Toàn cầu hóa được thể hiện mạnh trong những năm 1990 đó là cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự liên kết kinh tế của thị trường sản phẩm
Di chuyển lao động quốc tế là hậu quả của sự khan hiếm lao động của nước nhận lao động Sự khan hiếm lao động được phản ánh thông qua việc trả lương cho lao động cao hơn mức thu nhập của lao động trong nước
Di chuyển lao động quốc tế được đặc trưng bởi “cầu kộo” từ phớa cỏc nước nhận lao động Các chính sách di chuyển lao động của nước nhận lao động phản ánh sự thiếu hụt của thị trường lao động trong nước Kết hợp cùng với những tác động của sự chọn lựa từ phía nước gửi lao động, điều này sẽ dẫn đến tỉ lệ di chuyển vốn nhân lực có chuyên môn cao từ các nước đang phát triển tới các nước phát triển
Do chính sách "thu hút nguồn nhân lực" của các nước phát triển Sự “di chuyển” ngày càng tăng của “nguồn nhân lực” là do nước nhận lao động đã dành cho họ những điều kiện làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn, môi trường phát huy trí tuệ tốt hơn,… Trong số 150 triệu người tham gia các hoạt động
Trang 15khoa học và công nghệ trên thế giới, thì 90% số họ sinh sống và làm việc ở 7 nước công nghiệp phát triển nhất; riêng Mỹ và Canada chiếm khoảng 25%
Do các nước đang phát triển không có đủ phương tiện và điều kiện để đối phó với sự mất mát nguồn nhân lực khoa học, không phát huy và khai thác hết được tiềm năng của đội ngũ các nhà khoa học Trong khi đó, điều kiện làm việc của các nhà khoa học ở các nước phát triển thuận lợi hơn nhiều Sự chênh lệch về mức thu nhập trong cùng một chức danh khoa học giữa hai nhóm nước lên đến 12 lần Ở các nước đang phát triển, các ngành công nghiệp, công nghệ và các trường đại học không có khả năng kết hợp với nhau
để làm việc, từ đó gây ra cảm giác thất vọng thúc đẩy “lao động cú chuyờn mụn” di chuyển
Do thiếu dịch vụ bảo hiểm và cơ chế quản lý rủi ro Ở các nước phát triển rủi ro trong thu nhập được tối thiểu hóa thông qua thị trường bảo hiểm của tư nhân và chính phủ Song ở các nước đang phát triển do cơ chế quản lý rủi ro không hoàn hảo, người lao động khó có khả năng tiếp cận được thị trường bảo hiểm Do vậy, người lao động có xu hướng di chuyển về thị trường lao động có bảo hiểm để tối đa hóa nguồn thu nhập và tối thiểu hóa những mất mát, rủi ro Những lao động tri thức, có chuyên môn cao hơn ai hết lại là những người nhận thức rõ điều này Và do những hạn chế, yếu kém trong cơ chế, chính sách ở các nước đang phát triển đã tạo ra dòng di chuyển lao động quốc tế mạnh
* Đặc điểm của di chuyển lao động quốc tế
Tình trạng bất bình đẳng là nguyên nhân chính thúc đẩy con người di chuyển nơi làm việc Khủng hoảng tài chính toàn cầu thúc đẩy lao động di chuyển trong khu vực các nước đang phát triển ngày càng tăng nhanh và mang những đặc trưng nổi bật
Thứ nhất, đa số lao động di chuyển từ các nước đang phát triển không
có nghề nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp
Trang 16Lao động di chuyển từ các nước đang phát triển chủ yếu là lao động phổ thông Do không có chuyên môn nghề nghiệp nên lao động thường tập trung vào những lĩnh vực như xây dựng, khai mỏ, nông nghiệp và giỳp vịờc gia đình
Lao động Trung Quốc di cư sang châu Phi trong thập kỷ đầu thể kỷ XXI tăng rất nhanh, chủ yếu là nông dân, công nhân xây dựng, công nhân hầm mỏ, lao động tiểu thương
Tuy nhiên, những nước tiếp nhận nguồn lao động này từ các nước đang phát triển có thời hạn không dài (thường chỉ trong khoảng thời gian từ 3-5 năm) nhằm mục đích tránh những hậu quả xã hội của nhóm lao động di cư không nghề hoặc bán chuyên nghiệp để lại
Thứ hai, lao động di chuyển tăng nhanh thể hiện ở mức tăng liên kết thị trường lao động
Singapore phát triển kinh tế dựa vào chiến lược sử dụng lao động di cư thông qua cơ chế quota và thu thuế Từ những năm 1980 sự bùng nổ kinh tế của Malaysia và Thái Lan dẫn tới việc thiếu hụt lao động ở các nước này Do
đó, Malaysia và Thái Lan đã thực hiện chiến lược mở cửa đối với lao động di
cư từ các nước khác trong khu vực ASEAN đang tập trung phát triển một thị trường chung đối với việc di chuyển tự do người lao động và xóa bỏ yêu cầu visa từ lao động trong khu vực Philippin là nước có số lao động di cư ra nước ngoài nhiều nhất - đó là những chuyên gia và lao động có kỹ năng, chuyên môn - di cư tới các nước khác nhau trên toàn thế giới
Một số nhúm cú chuyên môn, kỹ năng nhất định thì chỉ di cư tới một số nước Ví dụ, lao động giúp việc gia đình chủ yếu tập trung ở Hồng Công và Saudi Arabia; lao động trong lĩnh vực nghệ thuật di cư tới Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á khỏc Cỏc chuyên gia công nghệ thông tin và
y tá di cư tới Mỹ và Anh Rõ ràng, sự chuyên môn hóa thị trường lao động làm tăng mối liên kết thị trường giữa các quốc gia trong khu vực
Trang 17Thứ ba, di cư lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ diễn ra mạnh ở những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh
Làn sóng di cư lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ diễn ra mạnh nhất ở Trung Quốc, Campuchia và Việt Nam – những nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh kể từ năm 1995 Khi Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách và mở cửa kinh tế từ năm 1978, đó cú khoảng
130 triệu người Trung Quốc di chuyển từ nông thôn lên thành phố để tìm kiếm việc làm (chưa tính đến số di chuyển ra nước ngoài làm việc) Dòng di
cư này, theo Liên hợp quốc, là lớn nhất trên thế giới, đã tiếp sức cho mức độ tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc, cải thiện điều kiện sống cho những người lao động nghèo đói
Năm 1978, Trung Quốc có 283 triệu lực lượng lao động nông nghiệp, chiếm 93% tổng lực lượng lao động xã hội Cùng với sự phát triển và cải cách kinh tế, qui mô di chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố ngày càng tăng Khác với các nước đang phát triển khác, di chuyển lao động Trung Quốc đặc trưng bởi những xu hướng lan truyển nhanh do sự phân chia lịch sử tồn tại giữa nông thôn và thành thị của hệ thống hukou Thời kỳ đầu cải cách chỉ có một số lượng nhỏ lao động di cư, chủ yếu tập trung ở những lao động thủ công Cùng với mức tăng của năng suất lao động nông nghiệp, lực lượng lao động nông nghiệp bắt đầu chuyển ra ngoài khu vực với qui mô ngày càng lớn Đặc biệt sự bùng nổ kinh tế sau năm 1992 dẫn tới qui mô di chuyển lao động tăng rất nhanh Tăng trưởng kinh tế ở các khu vực ven biển - nơi chủ yếu tập trung lao động công nghiệp và lao động có xu hướng xuất khẩu - thu hút ngày càng nhiều lao động nông thôn của Trung Quốc đến tìm kiếm việc làm ngoài nông nghiệp Số lượng lao động di chuyển tăng lên từ 2 triệu lao động năm
1983 lên 30 triệu lao động năm 1990 tới 63 triệu người năm 1993 và 75,5 triệu người năm 2000 Năm 2007, lao động di chuyển lên thành phố đã chiếm tới 136 triệu người chiếm khoảng 46,5% tổng số việc làm ở thành phố
Thứ tư, đa số lực lượng lao động di cư là nữ
Trang 18Hai thập kỷ gần đây di cư lao động nữ chiếm tỉ lệ ngày càng tăng Theo báo cáo của Action Aid, lực lượng di cư đang có xu hướng nữ hoá, 81% lao động di cư từ Indonesia, 72% lao động di cư từ Philippines và 60% lao động
di cư từ Việt Nam là lao động nữ Do sự phát triển của ngành chế tạo và dịch
vụ cũng như nhu cầu giúp việc gia đình tăng đã dẫn tới nữ húa dũng lao động
di cư của các nước đang phát triển
Từ năm 1992 đến nay, di cư lao động nữ ở Philippin chiếm tới 60-80% tổng số lao động di cư ra nước ngoài tìm việc làm Phần lớn trong số họ làm các công việc như dịch vụ chăm sóc sức khỏe và quét dọn trong gia đình với mức lương thấp Trong khi phụ nữ Philippin có xu hướng di cư tới khắp các nước trên thế giới, thì phụ nữ Inđụnờsia chủ yếu tới các nước vùng Vịnh và Trung Đông để tìm việc làm Đặc biệt di cư tới Tây Á chiếm hơn 93% lao động di cư nữ của Inđụnờsia Sở dĩ nữ chiếm phần lớn trong dòng di cư lao động là do thị trường nhập khẩu ngày càng được mở rộng cho lao động nữ Thị trường tiếp nhận lao động nữ nhiều nhất là Trung Đông, đặc biệt là Ả rập Saudi và Kuwait
Thứ năm, di cư lao động bất hợp pháp gia tăng
Mạng lưới di cư bất hợp pháp ngày càng được lựa chọn do những kênh nhập cư hợp pháp đang ngày càng bị thu hẹp Các nước đang phát triển châu
Á đều có số lượng lao động di cư bất hợp pháp cao hơn người lao động di cư hợp pháp
Sở dĩ di cư bất hợp pháp tăng là do chính sách quản lý di cư thiếu chặt chẽ và mong muốn của các chủ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm và bóc lột lao động dễ dàng Di cư bất hợp pháp có thể thỏa mãn nhu cầu sử dụng lao động hiệu quả, song không đảm bảo quyền lợi và điều kiện an toàn cho người lao động Di cư bất hợp pháp từ các nước đang phát triển thường tập trung tới các quốc gia có mức thu nhập cao hơn, môi trường sống ưa thích hơn như Bắc
Mỹ, Tây Âu, Pháp, Italia
Trang 19Lao động bất hợp pháp tới Thái Lan chủ yếu đến từ Myanmar làm việc trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và trong ngành chế xuất Lao động bất hợp pháp tới Malaysia đến từ Indonesia, Philippin, Trung Quốc và
Ấn Độ Malaysia được xem là quốc gia có số lượng lao động bất hợp pháp cao lên tới 30% so với các nước phát triển OECD (5,0% - 20,0%) Để hạn chế
số lượng lao động bất hợp pháp, chính phủ Thái Lan cho phép lao động bất hợp pháp đến từ Campuchia, Lào và Myanmar được đăng ký cấp phép Hơn
700 nghìn lao động bất hợp pháp đã được cấp phép mới Lao động bất hợp pháp của Việt Nam tới Campuchia thường kiếm được nguồn thu nhập cao hơn người bản xứ do họ làm các công việc có kỹ năng chuyên môn cao
Bảng 1.1: Tỷ lệ nhập cư so với tổng dân số và lực lượng lao động
của một số nước trên thế giới
TT Quốc gia Tỷ lệ nhập cư trong dân số (%)
Nguồn: Giáo trình Thị trường lao động, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2008,
* Phân loại di chuyển lao động quốc tế
- Xu hướng di chuyển lao động từ các nước đang phát triển là di
chuyển lao động trong nội bộ các nước đang phát triển và di chuyển lao động
ra ngoài khu vực tới các nước phát triển
Xu hướng di chuyển lao động trong nội bộ các nước đang phát triển thu hút lực lượng lao động di cư lớn trong khu vực do mức chênh lệch thu nhập,
xu hướng dân số và sự gần gũi về mặt địa lý Di cư lao động từ nước có mức tiền lương thấp tới nước có mức tiền lương cao hơn thể hiện sự phân bổ nguồn lực trong khu vực từ nơi có việc làm năng suất thấp hơn tới nơi việc
Trang 20làm đạt năng suất cao hơn, đóng góp vào nâng cao mức thu nhập, năng suất lao động và tạo thêm việc làm cho người lao động.
- Xu hướng thứ hai là di chuyển lao động từ các nước đang phát triển
sang các nước phát triển giàu có ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc Trong quá trình phát triển, nhiều quốc gia phát triển phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động
Xu hướng này do dân số già hóa và tỷ lệ sinh giảm đã làm cho nguồn nhân lực ở một số nước giảm, buộc chính phủ các nước này phải mở cửa thị trường lao động cho phép các doanh nghiệp tuyển dụng lao động nước ngoài
Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1998, các nền kinh tế đang phát triển châu Á hồi phục mạnh mẽ dẫn đến sự tăng nhanh nhu cầu lao động Bên cạnh đó, do sự khác biệt về mức thu nhập giữa các nền kinh tế cộng với điều kiện giao thông, thông tin liên lạc được cải thiện khiến việc di chuyển lao động trong nội bộ khu vực các nước đang phát triển Đông Nam Á càng tăng chiếm gần 40% so với hơn 13% di cư sang các nước phát triển Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), di cư lao động ở các nước đang phát triển tăng 10% sẽ cải thiện được mức sống của 2% số người lao động có mức thu nhập thấp
- Xu hướng di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế
+ Đó là sự di chuyển lao động chuyên môn cao từ các nước đang phát
triển tới các nước phát triển
Thập kỷ 1990, di chuyển lao động chuyển môn cao quốc tế từ các nước đang phát triển châu Á đến các nước phát triển (OECD) tăng rất nhanh Phần lớn di chuyển lao động chuyên môn cao tới các nước phát triển đều đến từ các nước có mức thu nhập trung bình như Braxin, Ấn Độ, Trung Quốc Mỹ, Canada là những nước nhận nhiều lao động di chuyển có chuyên môn cao nhiều nhất, bởi các lý do: trong các ngành nghề liên quan đến dịch vụ như kiến trúc, kỹ sư, các hoạt động liên quan đến máy tinh, giám sát, tổng quan, kiểm soỏt ở cỏc nước này đều cần đến trình độ công nghệ cao; các trường
Trang 21đại học, các viện nghiên cứu khoa học cũng đều có nhu cầu cao về nhân lực tri thức
+ Là sự di chuyển lao động có chuyên môn cao từ các nước phát triển sang các nước phát triển khác.
Do thị trường lao động quốc tế ngày càng được mở rộng cả theo chiều ngang lẫn chiều dọc, nên theo qui luật cung cầu lao động, lao động sẽ chuyển dịch đến những nơi có nhu cầu, hoặc những nơi giá trị của sức lao động được trả cao hơn Những năm gần đây, nhiều nước phát triển cũng đang phải đối mặt với hiện tượng chảy máu chất xám
+ Là xu hướng di chuyển lao động chuyên môn cao từ các nước phát triển (OECD) tới các nước đang phát triển châu Á
1.1.2 Tác động của lao động người nước ngoài đối với các quốc gia tiếp nhận
Lao động nhập cư từ nước ngoài có tác động hai chiều đến sự phát triển của các quốc gia
Thứ nhất là chiều tác động tích cực
Lao động nước ngoài trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển giao nhanh tiến bộ khoa học công nghệ và thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế
- Lao động nước ngoài, nhất là lao động có trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, các ngành nghề đặc thự…cú ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp, trong việc áp dụng và chuyển giao những quy trình công nghệ mới cho nước sở tại Trong khi nguồn lao động trong nước chưa đáp ứng đủ yêu cầu về chuyên môn, quản lý kinh tế, điều hành doanh nghiệp trong cơ chế cạnh tranh khốc liệt, thì vai trò của lao động nước ngoài càng có
ý nghĩa: hình thành và phát triển các ngành nghề mới, đặc thù mà trong nước chưa có; tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế chung; đẩy nhanh thời gian triển khai và đưa vào sử dụng các công trình, dự án; rút ngắn thời gian
Trang 22đào tạo và áp dụng công nghệ mới; tiết kiệm chi phí trong việc nắm bắt nhiều
tinh hoa khoa học kỹ thuật của các nước đi trước (đi tắt, đón đầu)…Như vậy, lao động nước ngoài đã tác động tích cực, trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước.
- Lao động nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong dài hạn
Các nhà đầu tư nước ngoài, các chuyên gia và lao động nước ngoài có trình độ, kỹ thuật cao hầu hết đều tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và thương mại, dịch vụ (ngân hàng, tài chính, đào tạo, y tế…), riêng số lượng lao động nước ngoài trong các ngành nông lâm nghiệp, thuỷ sản không đáng kể Đối với các nước đang phát triển, quá trình công nghiệp hoá dẫn đến thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng nhà máy và tất nhiên đất nông nghiệp sẽ bị giảm dần, lao động nông nghiệp có dư thừa, nhưng cơ hội và điều kiện tuyển dụng lao động cho các nhà máy, các dự án tăng lên
Dưới tác động của cạnh tranh, các nhà đầu tư có xu hướng lựa chọn phương án đầu tư sử dụng nhiều vốn, mở rộng quy mô sản xuất, muốn vậy các nhà đầu tư sẽ phải sử dụng thêm nhiều lao động giá rẻ (lao động nước ngoài và lao động bản địa) Quy mô kinh tế của các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ngày càng phát triển Như vậy, lực lượng lao động nước ngoài đã góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Lao động nước ngoài góp phần đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ kỹ thuật và quản lý tiên tiến vào sản xuất, chuyển giao có hiệu quả các công nghệ mới đó cho người lao động bản địa, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo nguyên lý “3 I” – (Imitation - Bắt chước, Initiative - Cải tiến, Innovation – Sáng tạo)
Trong quá trình làm việc, người lao động trực tiếp sử dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ Theo quy luật nhận
Trang 23thức, người lao động bản xứ sẽ bắt chước để làm theo, sau đó là cải tiến cách làm và sáng tạo ra cái mới hiệu quả hơn Thực tế đã cho thấy, lao động trong nước sau một thời gian làm việc với các chuyên gia, với người lao động có trình độ và kỹ thuật cao họ đó tớch luỹ được những tri thức về kỹ thuật, công nghệ được chuyển giao và áp dụng thành công vào sản xuất kinh doanh của
họ Điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng sử dụng khoa học và công nghệ tiên tiến
- Lao động nước ngoài góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối với lao động bản địa
Đặc điểm của lao động là sáng tạo Người lao động với vốn kiến thức, học vấn và chuyên môn nghiệp vụ cơ bản, nếu được làm việc trong môi trường công nghiệp hiện đại, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, thì trình độ tay nghề và kỹ năng nghề nghiệp càng được nâng cao Dưới tác động của khoa học kỹ thuật trong quá trình lao động, đồng thời cũng chính là quá trình người lao động tự học hỏi, tự đào tạo Sau một thời gian làm việc với các chuyên gia nước ngoài, với đội ngũ người lao động nước ngoài, trình độ tay nghề và ý thức kỷ luật, phong cách làm việc hiện đại của lực lượng lao động trong nước được nâng lên vượt bậc Chính họ là những người sẽ thay thế đội ngũ chuyên gia, thay thế người lao động nước ngoài trong các nhà máy, công trường, xí nghiệp
- Lao động nước ngoài góp phần tăng cường mối quan hệ quốc tế giữa các quốc gia, góp phần đẩy mạnh đầu tư và mở rộng thị trường hàng hoá, dịch
Trang 24mở rộng thị trường đầu tư, xuất khẩu hàng hoá dịch vụ, đi lại và làm việc tại các nước thành viên Theo đó, việc di chuyển lao động theo các quy định của WTO được thực hiện dễ dàng
Tự do di chuyển lao động giữa các thành viên là điều kiện quan trọng giỳp cỏc nhà đầu tư lựa chọn phương án sử dụng lao động tối ưu cho hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó tăng cương mối liên kết, mối quan hệ quốc tế giữa các thành viên Mặt khác, di chuyển lao động cũng góp phần quảng bá hàng hoá và dịch vụ của nước đó với người tiêu dùng nước sở tại, góp phần trao đổi văn hoá xã hội giữa các nền văn hoá
Thứ hai là chiều tác động tiêu cực
- Đối với nhiều nước đang phát triển, trong điều kiện lực lượng lao động trong nước dư thừa bởi quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá, tỷ lệ lao động thất nghiệp còn cao thì lao động nước ngoài nhập cư với số lượng lớn, nhất là lao động phổ thông nước ngoài sẽ gây khó khăn cho việc tìm kiếm và bố trí việc làm cho lực lượng lao động người bản địa
- Lao động người nước ngoài khó hoà nhập với đời sống xã hội nước sở tại do khác biệt về văn hoá, đạo đức, lối sống và tôn giáo Đời sống tinh thần của mỗi người gắn chặt với truyền thống văn hoá, đạo đức và tín ngưỡng của mỗi quốc gia, dân tộc Trong thời đại ngày nay, sự khác biệt về văn hoá, đạo đức, lối sống và tôn giáo có thể tạo nên các xung đột của từng cá nhân người lao động với đời sống tinh thần của xã hội nước sở tại
Chính những tác động tích cực và tiêu cực nêu trên của lao động nước ngoài tại các nước tiếp nhận lao động, nên việc quản lý nhà nước đối với lực lượng lao động này là rất cần thiết nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả, phát huy tác động tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực lực lượng lao động này
Trang 251.1.3 Các nhân tố tác động đến chính sách quản lý nhà nước về lao động nước ngoài
* Tác động của quá trình toàn cầu hóa đến chính sách quản lý nhà nước về lao động nước ngoài
Chính sách quản lý nhà nước về lao động nước ngoài được thể hiện qua các văn bản pháp luật về lao động Pháp luật lao động là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực lao động Trước những tác động của quá trình toàn cầu hóa đối với lao động, pháp luật lao động phải chịu những ảnh hưởng như sau trong quá trình toàn cầu hóa:
- Thứ nhất, chủ thể của quan hệ pháp luật lao động được mở rộng Bên cạnh việc điều chỉnh mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong nước, nay luật lao động còn điều chỉnh: (i) mối quan hệ giữa người sử dụng lao động có yếu tố nước ngoài với người lao động trong nước; (ii) mối quan hệ giữa người sử dụng lao động trong nước với người lao động
là người nước ngoài và (iii) mối quan hệ giữa người sử dụng lao động có yếu
tố nước ngoài và người lao động là người nước ngoài
- Thứ hai, đối tượng điều chỉnh của luật lao động (quan hệ lao động) trở nên khó xác định rõ Nếu như trước đây, người lao động làm việc cho một chủ sử dụng lao động có thể xác định được, thì ngày nay, người lao động nhiều khi không biết mình đang ở vị trí nào trong chuỗi dây chuyền sản xuất, phân phối của các tập đoàn đa quốc gia, với mạng lưới các chi nhánh, công ty con, văn phòng đại diện, đối tác dày đặc; và ai là người sử dụng lao động thực
sự Trong quá trình toàn cầu hóa, mối liên hệ giữa người lao động và người chủ sử dụng lao động có nguy cơ bị mờ nhạt và lợi ích chung của những người lao động bị xóa nhòa Nếu như trước đây, chủ sử dụng lao động và người lao động cựng đúng trờn địa bàn của một quốc gia, thì ngày nay, càng
có nhiều chủ sử dụng lao động có người lao động ở trên nhiều quốc gia khác nhau Quan hệ lao động tập thể, quyền thương lượng tập thể của những người
Trang 26lao động cùng làm việc cho các tập đoàn xuyên quốc gia (Trans-national companies – TNCs) sẽ vượt ra sự điều chỉnh của pháp luật lao động của một quốc gia riêng lẻ.
- Thứ ba, phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động có sự thay đổi Ở những quốc gia phát triển, phạm vi điều chỉnh của luật lao động bị thu hẹp vì
sự chia cắt của thị trường lao động, cũng như xu hướng bất ổn định của thị trường lao động, các hình thức lao động phi chính thức tăng lên Theo thống
kê, có đến 1/3 lao động có việc làm tại những nước này là làm việc không thường xuyên và không toàn thời gian Quyền hiệp hội, thương lượng tập thể
bị đe dọa bởi việc sẽ chuyển địa điểm đầu tư hoặc sẽ nhập công ty với đối tác nước ngoài của các tập đoàn Nội dung các quy phạm pháp luật về thương lượng tập thể có nguy cơ bị thu hẹp Ở các nước đang phát triển, việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật lao động bằng cách ban hành các quy định cải tiến điều kiện lao động, tăng cường việc bảo vệ người lao động là khó có thể thực hiện được
- Thứ tư, sự can thiệp của các TNCs và các thiết chế tài chính quốc tế vào quá trình xây dựng và trong việc thi hành pháp luật lao động Với tiềm lực kinh tế của mỡnh, cỏc TNCs đã bắt đầu can thiệp sâu vào quá trình hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật của các quốc gia Bằng “sức ộp” là các khoản đầu tư, các TNCs gây áp lực lên chính phủ, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật lao động cho phù hợp với lợi ích của TNCs Mặt khác, mặc dù hoạt động ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật khác nhau, tuy nhiên, các TNCs vẫn duy trì việc áp dụng một số quy định riêng của mình trong vấn đề lao động Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa, pháp luật lao động còn chịu
sự can thiệp và ảnh hưởng của các thiết chế tài chính quốc tế Bằng các khoản vay của mỡnh, cỏc thiết chế tài chính quốc tế đòi hỏi các quốc gia vay nợ phải sửa đổi chính sách, pháp luật, trong đó có pháp luật về lao động cho phù hợp
Trang 27với mục tiêu của họ Việc này đặc biệt thường diễn ra đối với các nước đang phát triển.
- Thứ năm, khả năng xung đột của pháp luật lao động quốc gia tăng cao Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều quan hệ lao động
có yếu tố nước ngoài phát sinh trên lãnh thổ của một quốc gia Như vậy, một quan hệ lao động có thể được điều chỉnh bởi hai hệ thống pháp luật trở lên và điều này dẫn đến nguy cơ xảy ra xung đột pháp luật
- Thứ sáu, việc thi hành pháp luật lao động quốc gia trở nên khó khăn hơn Nếu như trước đây, người lao động và người sử dụng lao động cú cựng ngôn ngữ, văn hóa, chính trị, lịch sử, giá trị truyền thống Sự thông hiểu giữa người lao động và người sử dụng lao động tốt hơn và việc thi hành các quy định của pháp luật lao động sẽ trở lên dễ dàng hơn Ngày nay, với sự xuất hiện của các chủ thể có yếu tố nước ngoài thì những điểm chung trên không còn nữa Đây cũng là một trong số các nguyên nhân làm cho việc thi hành các quy định của pháp luật lao động trở nên khó khăn hơn Bên cạnh đó, pháp luật của một quốc gia riêng lẻ không thể điều chỉnh được một TNC vì công ty này hoạt động trên nhiều quốc gia khác nhau chứ không hoàn toàn nằm trong “chủ quyền tài phỏn” của một quốc gia riêng biệt nào Các công ty này sẽ hoạt động bên ngoài khuôn khổ của pháp luật quốc gia, trốn tránh việc thực hiện luật lao động quốc gia
- Thứ bảy, nhu cầu đưa các quy định về lao động vào trong các hiệp định về thương mại Nhu cầu này đến từ 3 nhóm chủ thể khác nhau: (i) những quốc gia theo chủ nghĩa bảo hộ (Protectionism); (ii) những học giả theo chủ thuyết thương mại công bằng (Fair – Trade) và (iii) các nhà hoạt động về quyền của người lao động Những quốc gia theo chủ nghĩa bảo hộ thường là những nước phát triển, bởi họ lo sợ hàng hóa giá rẻ đến từ các nước có chi phí nhân công và tiêu chuẩn lao động thấp sẽ đánh bại các doanh nghiệp trong nước, nơi mà chi phí nhân công và tiêu chuẩn lao động cao hơn Hoa Kỳ là quốc gia tiêu biểu cho quan điểm này và là chủ thể đầu tiên đề cập đến việc
Trang 28đưa các quy định về lao động vào trong các hiệp định thương mại Hoa Kỳ đã
cố gắng nhưng không thành công trong việc đưa vấn đề lao động vào Chương trình nghị sự của Tổ chức Thương mại thế giới tại Uruguay (1994), Seatle (1999), Doha (2001) và Cancun (2003) Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã đưa các quy định về lao động là một trong các điều kiện để xem xét cho một quốc gia đang phát triển hưởng Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập của mình (US Generalized System of Preferences – GSP) Những người theo chủ thuyết thương mại công bằng cho rằng, sự khác nhau trong các quy định về lao động, dẫn đến sự khác nhau của chi phí về lao động giữa các quốc gia, quốc gia nào
có tiêu chuẩn lao động cao thì chi phí nhân công sẽ cao hơn và ngược lại, những nước có tiêu chuẩn lao động thấp sẽ có chi phí nhân công rẻ hơn Điều này tạo ra sự bất bình đẳng trong hoạt động thương mại - các doanh nghiệp ở các quốc gia này không được cạnh tranh với nhau trên một mặt bằng chung về chi phí nhân công Để đảm bảo cạnh tranh bình đẳng và thương mại công bằng, những người theo quan điểm này cho rằng, cần đưa các quy định về lao động vào trong các hiệp định thương mại và vào trong các nguyên tắc của các thiết chế thương mại thế giới Những nhà hoạt động vì quyền lợi của người lao động lại cho rằng, để các quyền của người lao động và các tiêu chuẩn về lao động được đảm bảo thi hành trên thực tế, cần phải có một chế tài đủ mạnh đối với những quốc gia vi phạm - chế tài này phải là sự trừng phạt về thương mại Họ đề xuất phải đưa các quy định về quyền của người lao động vào trong các hiệp định thương mại và trong các quy định của các thiết chế thương mại thế giới Từ đó, quốc gia nào vi phạm sẽ phải chịu hình thức xử phạt về thương mại Như vậy, hoạt động thương mại giữa các quốc gia vẫn phát triển, đồng thời, việc vi phạm quyền lợi của người lao động ở các quốc gia sẽ được khắc phục Dưới sức ép của các chế tài thương mại, các quốc gia sẽ cố gắng thực hiện việc đảm bảo quyền lợi của người lao động, nâng cao các tiêu chuẩn lao động để tránh những thiệt hại có thể xảy ra đối với nền kinh tế khi phải gánh chịu các biện pháp trừng phạt thương mại
Trang 29- Thứ tám, sức ép đòi xóa bỏ các quy định pháp luật lao động quốc tế của những người theo học thuyết thương mại tự do Những người theo quan điểm ủng hộ toàn cầu hóa (Pro – Globalization) và ủng hộ thương mại tự do (Free - Trade) cho rằng, toàn cầu hóa kinh tế sẽ làm tăng sự thịnh vượng về kinh tế cũng như cơ hội kinh tế, đặc biệt là giữa các nước đang phát triển, từ
đó thúc đẩy tự do của cá nhân và đảm bảo việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả hơn Thương mại tự do sẽ dẫn đến giá cả sản phẩm rẻ hơn, tạo
ra nhiều việc làm hơn, từ đó tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội hơn và đời sống của người dân ở các nước đang phát triển sẽ được nâng cao hơn Để quá trình toàn cầu hóa phát triển, mọi rào cản chống lại thương mại tự do phải được dỡ
bỏ, trong đó cú cỏc cỏc yếu tố như: thuế quan, hạn ngạch… và các tiêu chuẩn
về lao động Theo quan điểm của họ, các quy định lao động quốc tế là nhân tố gây ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của thị trường, làm hạn chế tính hiệu quả của thị trường, suy yếu tính cạnh tranh, làm nản lòng giới đầu tư và từ đó cản trở sự phát triển Biện pháp bảo vệ người lao động tốt nhất trong cơ chế thị trường không phải là các quy định về điều kiện lao động Cơ chế thị trường sẽ tự đặt ra các tiêu chuẩn lao động Người sử dụng lao động nào trả lương thấp, có điều kiện lao động không đảm bảo, chế độ đãi ngộ với người lao động không tốt thì sẽ mất những lao động có tay nghề, có kinh nghiệm cũng như sẽ không có được đội ngũ nhân công ổn định Từ đó, tính cạnh tranh cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bị suy giảm Do đó, để doanh nghiệp phát triển, chính bản thân chủ sử dụng lao động sẽ phải đặt ra các quy định về lao động trong doanh nghiệp, làm sao đảm bảo tính cạnh tranh đối với những chủ sử dụng lao động khác trong việc tuyển dụng những lao động có chuyên môn, có kỹ năng và kinh nghiệm Quan điểm này còn cho rằng, các quy định
về lao động và tiêu chuẩn lao động sẽ gây ra chi phí cho quá trình sản xuất kinh doanh Bởi lẽ, để đáp ứng các quy định về lao động người sử dụng lao động phải trả thêm chi phí, điều này làm hạn chế tính cạnh tranh của doanh nghiệp Hơn thế nữa, nếu quy định một tiêu chuẩn lao động chung cho các
Trang 30quốc gia sẽ làm mất đi lợi thế cạnh tranh của những quốc gia có tiêu chuẩn lao động thấp Do vậy, việc ban hành quy định chung về lao động không thúc đẩy cạnh tranh toàn cầu và không thúc đẩy tự do thương mại Và vì thế, các quy định chung về lao động ở cấp quốc tế (Luật Lao động quốc tế) là không cần thiết
* Các quy định của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
Tổ chức Lao động Quốc tế là một cơ quan đặc biệt của Liên Hiệp Quốc liên quan đến các vấn đề về lao động Ra đời năm 1919 sau Hiệp ước Versailles và là thành viên của Hội Quốc Liên Sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc và Hội Quốc Liên giải tán, Tổ chức Lao động Quốc tế trở thành một thành viên của Liên Hiệp Quốc ILO được thành lập nhằm mục tiêu thúc đẩy công bằng xã hội và bảo vệ các quyền lao động và quyền con người ILO xây dựng các tiêu chuẩn lao động quốc tế thông qua hình thức các Công ước (CW) và Nghị quyết trong đó qui định các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền của người lao động (ví dụ quyền tự do thương hội, quyền được tổ chức và đàm phán tập thể, quyền xoá bỏ lao động cưỡng bức, không bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc và trong việc làm vv…)
Đến nay, ILO đã thông qua tổng cộng 185 CW và 194 khuyến nghị Trong số các CW trờn, cú 8 CW được coi là Công ước cơ bản tập trung vào 4 lĩnh vực: Tự do lập hội và tổ chức; Chống lao động cưỡng bức; xóa bỏ lao động trẻ em; chống phân biệt đối xử Các Công ước và Khuyến nghị của ILO được coi là cơ sở của Bộ luật lao động quốc tế
Liên quan đến vấn đề xuất nhập khẩu lao động, tổ chức Lao động Quốc
tế ILO có hai Công ước, là Công ước 97 và Công ước 143 Ngoài ra là một qui ước rộng lớn hơn, gọi là Công ước Quốc tế 1990 Công ước này qui định quyền lợi của những lao động ra nước ngoài làm việc cũng như quyền lợi của gia đình họ Các Công ước này, có giá trị quốc tế, đặt ra những tiêu chuẩn tối thiểu cho các quốc gia ký kết về vấn đề xuất nhập khẩu lao động
Trang 31Công ước ILO số 97 về Di cư để làm việc quy định: Các quốc gia thành viên của Công ước ILO (số 97) có bổn phận tạo điều kiện dễ dãi cho việc di
cư để lao động bằng cách thiết lập và duy trì sự giúp đỡ và dịch vụ thông tin miễn phí cho những người lao động di cư cũng như có biện pháp chống lại những tuyên truyền sai lầm về vấn đề di cư và xuất nhập cảnh Công ước ILO (số 97) cũng qui định về những dịch vụ y tế thích hợp cho người lao động di
cư và sự chuyển giao tiền thu nhập cũng như tiền tiết kiệm của họ Công ước ILO (số 97) đưa ra một nguyên tắc quan trọng, đó là trong một số lãnh vực- thí dụ như điều kiện làm việc, quyền tự do thành lập hội và an sinh xã hội - các quốc gia phải đối xử với người lao động di cư không kém thuận lợi hơn cách đối xử với người bản xứ
Công ước ILO số 143 về Người lao động Di cư đưa ra các biện pháp phòng chống việc di cư lén lút và bất hợp pháp đồng thời khẳng định nghĩa vụ bảo vệ các nhân quyền căn bản của tất cả mọi người lao động di cư Công ước ILO (số 143) qui định quốc gia thành viên phải bảo đảm bằng luật pháp trong lãnh thổ của họ sự bình đẳng giữa những người lao đông di cư hợp pháp và các người lao động bản địa, để cho người lao động di cư hợp pháp được bình đẳng về cơ hội và về cách đối xử trong lãnh vực việc làm và nghề nghiệp, an sinh xã hội, công đoàn, các quyền văn hóa, và các quyền tự do của cá nhân cũng như của tập thể những người lao đông di cư hoặc thân nhân của họ Công ước ILO (số 143) kêu gọi các quốc gia thành viên cho phép những người lao động di cư có giấy tờ hợp pháp được dễ dãi đoàn tụ với gia đình
Tóm lại, các Công ước này được xem như là Hiến chương Quốc tế về vấn đề di dân toàn cầu, gồm các qui định như căn bản về sự an toàn và điều kiện sức khoẻ của công nhân, mức lương tối thiểu và số giờ làm việc tối đa, bảo vệ quyền lợi nữ công nhân thời kỳ sinh sản, luật về bình đẳng giới và chống kỳ thị Các tiêu chuẩn này áp dụng cho mọi người lao động, kể cả lao động xuất khẩu, và trong nhiều trường hợp, áp dụng cho cả những lao động đang trong tình trạng bất hợp pháp về cư trú Các quốc gia khi đã tham gia
Trang 32vào các công ước này đều phải tuân thủ những quy định trong đó Cụ thể là: Quốc gia tiếp nhận lao động đến sinh sống và làm việc trên lãnh thổ của mình chịu trách nhiệm về an sinh của những người này, cũng như đối với công dân của chính mình Chính quyền của quốc gia nhập khẩu lao động phải chắc chắn rằng các lao động đến từ nước khác được đối xử đúng đắn, quyền lợi của
họ được tôn trọng và an toàn xã hội của họ được đảm bảo Chính quyền của quốc gia xuất khẩu lao động cũng phải tôn trọng những công nhân ngoại quốc trên xứ mình, để khẳng định rằng họ tôn trọng công ước quốc tế như đã cam kết và các đối tác cũng cần phải làm như vậy
* Các Quy định của WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới thành lập ngày 01/01/1995 với tư cách là thể chế pháp lý điều tiết các mối quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế mang tính toàn cầu WTO ra đời trên cơ sở kế thừa tất cả các nguyên tắc, luật lệ của
tổ chức tiền thân đã tồn tại gần 50 năm trước đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Liên quan đến vấn đề dịch chuyển lao động, khi có một người đi qua biên giới một nước vì mục đích làm việc thỡ cú hai dạng Dạng thứ nhất là di chuyển lao động trên thị trường lao động Dạng thứ hai là di chuyển thể nhân trên thị trường dịch vụ WTO chỉ điều chỉnh thương mại dịch vụ và thương mại hàng hoá, nên chỉ điều chỉnh dạng di chuyển thể nhân Như vậy, WTO hoàn toàn không điều chỉnh thị trường lao động của các nước
Thương mại dịch vụ trong WTO cũng như trong các hiệp định thương mại được quy định bao gồm 4 thể thức (tiếng Anh gọi là Mode) sau:
- Thể thức 1 Cung cấp qua biên giới: đó là việc nhà cung cấp dịch vụ bán dịch vụ từ lãnh thổ của nước mình sang lãnh thổ của nước khác Ở thể thức này, dịch vụ và tiền thanh toán dịch vụ có đi qua biên giới, còn con người (cả người bán và người mua dịch vụ) thỡ khụng
- Thể thức 2 Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: là thể thức thương mại dịch vụ
mà người tiêu dùng của một nước này tiêu dùng dịch vụ tại lãnh thổ nước
Trang 33khác Trong thể thức này, người bán dịch vụ vẫn ở tại nước mình, chỉ có người mua dịch vụ là đi ra nước ngoài Trong trường hợp này, cũng không có
di chuyển thể nhân
- Thể thức 3 Hiện diện thương mại: đây là thể thức mà nhà cung cấp dịch vụ của một nước thiết lập cơ sở cung cấp dịch vụ tại lãnh thổ của nước khác như chi nhánh, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài Trong thể thức dịch vụ này, hiện diện thương mại mới là cơ sở cam kết, chứ không phải là hiện diện thể nhân, nên việc di chuyển thể nhân của hiện diện thương mại sẽ được điều chỉnh trong cam kết chung ở Thể thức 4
- Thể thức 4 Hiện diện thể nhân (hay còn gọi tắt là Thể thức 4 - Mode 4): đây là thể thức thương mại dịch vụ gắn liền với việc con người di chuyển
từ nước này sang nước khác để cung cấp dịch vụ và việc di chuyển như vậy được gọi là di chuyển thể nhân
Như vậy, trong 4 thể thức cung cấp dịch vụ của thương mại quốc tế, chỉ
có Thể thức 4 - thể thức hiện diện thể nhân, và một phần của Thể thức 3 - thể thức hiện diện thương mại, là liên quan tới việc dịch chuyển lao động Việc khó nhất chính là làm thế nào phân biệt được ai là diện “xuất khẩu lao động”
và ai là diện “di chuyển thể nhõn”? Đú chớnh là công việc của những nhà làm chính sách
Một đối tượng được điều chỉnh bởi “luật chơi” về lao động, còn đối tượng kia lại được điều chỉnh bởi “luật chơi” về thương mại Hai đối tượng này không thể nhập làm một, vì mục đích, tính chất, cương vị di chuyển qua biên giới quốc gia của họ là khác nhau, nên cũng không thể có một “luật chơi” áp dụng cho cả hai đối tượng trên
WTO đưa ra những tiêu chí nhất định để xác định những người thuộc diện “di chuyển thể nhõn”, gồm 3 đối tượng chính: (i) thứ nhất là những người lưu chuyển trong nội bộ công ty (intra-corporate transferee); (iii) thứ hai là khách kinh doanh (bussiness visitor) và người chào bán dịch vụ (service
Trang 34sales person); và (iii) thứ ba là nhà cung ứng dịch vụ theo hợp đồng (contractual sevices supplier).
Đối tượng của nhóm di chuyển trong nội bộ công ty chủ yếu liên quan tới 3 đối tượng là giám đốc điều hành, quản lý và chuyên gia Đây là nhóm
mà các công ty đa quốc gia, các tập đoàn lớn đặc biệt quan tâm
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động của các công ty đa quốc gia thực sự mang tính toàn cầu: nhà máy được thành lập ở nhiều quốc gia khác nhau, nguyên liệu đầu vào có thể được nhập khẩu từ khắp nơi trên thế giới, các linh kiện của một cỗ máy có thể được gia công ở các quốc gia khác nhau, sản phẩm được tiêu thụ trên toàn thế giới Và, nhân sự của công ty cũng được luân chuyển giữa những chi nhánh và các công ty con ở các quốc gia
Bởi vậy, yêu cầu về việc cho phép các nhân sự cao cấp của một công ty
di chuyển giữa các quốc gia trong nội bộ công ty là một yêu cầu thiết yếu để bảo đảm hoạt động bình thường của công ty đó Những quy định của một quốc gia về di chuyển thể nhân là một trong những yếu tố để các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư của nước đó
Như vậy, trong việc hoạch định chính sách quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài, cỏi khó đối với các nhà hoạch định chính sách trong bối cảnh hội nhập là làm sao các quy định chính sách quản lý thị trường lao động trong nước không làm ảnh hưởng tới đầu tư và thương mại quốc tế và đặc biệt
là phù hợp những “luật chơi” chung của quốc tế
Trang 351.2 NỘI DUNG VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Nội dung chính sách quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài
1.2.1.1 Khái niệm và đối tượng của chính sách quản lý nhà nước về
lao động nước ngoài
Có nhiều quan niệm về phạm trù "chính sách" Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: “chớnh sỏch là sách lược và kế hoạch cụ thể đạt được mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế” Kinh tế gia Franc Ellis lại cho rằng: "chính sách được xác định như là đường lối hành động mà chính phủ lựa chọn đối với mọi lĩnh vực của nền kinh tế, kể
cả các mục tiêu mà chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó “ Có người lại cho rằng: có chính sách của nhà nước, có chính sách của doanh nghiệp Giáo trình của Đại học Kinh tế quốc dân nêu: “chớnh sách là hệ thống quan điểm, chủ trương, biện pháp và quản
lý được thể chế hoá bằng pháp luật của nhà nước để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội của đất nước” [32]
Theo tác giả, chính sách quản lý nhà nước về lao động nước ngoài là
việc nhà nước xác định mục tiêu và bằng pháp quyền, được thể hiện thành văn bản nhằm tác động có tổ chức lờn cỏc quan hệ và hoạt động của lao động nước ngoài nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lao động này phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Đối tượng của quản lý nhà nước về lao động nước ngoài là toàn bộ các chủ thể: nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức có người lao động nước ngoài làm việc và cá nhân người lao động nước người, cùng với các quan hệ giữa các chủ thể đó
Trang 361.2.1.2 Quy trình chính sách quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
- Xây dựng chiến lược mục tiêu quản lý nhà nước về lao động nước ngoài
Nhà nước chủ động xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội đất nước trong từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau, trong đó có chiến lược định hướng, quy hoạch, kế hoạch phát triển và sử dụng nguồn nhân lực,
kể cả nguồn lao động nước ngoài đến làm việc, nhằm hướng các hoạt động kinh tế (nhất là đầu tư nước ngoài) vào lĩnh vực ưu tiên để đạt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Yêu cầu xây dựng chiến lược định hướng, định ra chương trình mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch phát triển và sử dụng lực lượng lao động người nước ngoài phải bám sát vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phải phù hợp với lợi ích quốc gia, người lao động và của các chủ đầu tư, để mọi người được hưởng lợi lớn hơn trong quá trình phát triển Hơn nữa, để có được chiến lược định hướng, quy hoạch, kế hoạch phát triển và sử dụng lao động nước ngoài một cách khoa học cần phải dự báo chính xác cung - cầu lao động người nước ngoài của từng ngành, từng địa phương và cả nước sát với yêu cầu thực tiễn Để tính toán số lượng và các luồng lao động nước ngoài, các nước châu Âu sử dụng những công cụ và phương pháp khác nhau ví dụ như điều tra dân số, đăng ký nhân khẩu, điều tra lực lượng lao động, giấy phép lao động hoặc visa tạm thời, các điều tra chuyên biệt và các nghiên cứu điển hình Các số liệu đối với luồng nhập cư của nhân công kiều dân nước ngoài có thể rất khác nhau tuỳ thuộc theo các biện pháp được sử dụng và tiến hành riêng
rẽ, chúng thường không đưa ra được những thông tin thích hợp về số lượng và các luồng di cư nhân lực kỹ năng cao
Thị trường lao động quốc tế và cũng như của mọi quốc gia luụn cú sự biến động, đôi khi có sự thay đổi lớn do tác động của kinh tế - xã hội, vì vậy trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược định hướng cần không
Trang 37ngừng nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn và xu thế vận động của nền kinh tế
- Ban hành hệ thống pháp luật, chính sách quản lý lao động nước ngoài phù hợp với các qui định của quốc tế
Thông qua hệ thống văn bản pháp quy của nhà nước, Chính phủ các nước quy định cụ thể việc tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại nước mình; trình tự, thủ tục cấp giấy phép lao động và việc sử dụng giấy phép lao động; trách nhiệm, nghĩa vụ của lao động người nước ngoài, người sử dụng lao động và các cơ quan nhà nước trong việc tuyển dụng và quản lý người nước ngoài đến làm việc Đối tượng chịu sự quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là lao động người nước ngoài và các doanh nghiệp, tổ chức
có sử dụng lao động người nước ngoài
- Tổ chức thực hiện chiến lược mục tiêu, pháp luật, chính sách quản lý lao động nước ngoài
Tổ chức thực hiện chính sách chính sách quản lý lao động nước ngoài là quá trình biến chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy chính quyền nhằm hiện thực các mục tiêu chính sách đã đề ra Quá trình thực thi có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công hay thất bại của chính sách quản lý lao động nước ngoài Quá trình thực thi cần tính toán đầy đủ đến các yếu tố khách quan, bối cảnh thực
tế, tiềm lực kinh tế của các doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài, lao động nước ngoài; bộ máy và cán bộ làm nhiệm vụ thực thi chính sách quản
lý, thủ tục hành chính và kinh phí tổ chức thực hiện
Quá trình tổ chức thực thi cần đảm bảo các điều kiện cần thiết để thực thi có hiệu quả chính sách: Trước tiên cần có chính sách đúng, điều này chỉ có thể đạt được khi làm tốt quá trình hoạch định chính sách Sự hợp lý, khoa học (tôn trọng quy luật khách quan, xác định đỳng các vấn đề, đối tượng chính sách, xác định được mục tiêu ưu tiên, có giải pháp, công cụ, chương trình hành động) Sau đó phải có một nền hành chính có hiệu lực, có
Trang 38khả năng thích nghi cao và trong sạch; sự quyết tâm của lãnh đạo; niềm tin và ủng hộ của doanh nghiệp và người lao động nước ngoài, Quá trình tổ chức thực thi chính sách quản lý lao động nước ngoài cũng tuõn thủ các giai đoạn: chuẩn bị triển khai, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra và điều chỉnh, đồng thời lựa chọn các hình thức và phương pháp thực thi phù hợp, hiệu quả.
- Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách
Nhà nước tiến hành, thực hiện công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện chính sách quản lý lao động nước ngoài thông qua đối tượng quản lý trực tiếp của lao động nước ngoài là chủ lao động Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm xây dựng kế hoạch tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về tuyển dụng và quản lý lao động là người nước ngoài Kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm được thông báo cho tất cả các
cơ quan liên quan để theo dõi và phối hợp thực hiện
1.2.1.3 Nội dung chính sách quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài
• Chính sách xuất nhập cảnh và cư trú
Chính sách xuất nhập cảnh và cư trú của một quốc gia có thể hiểu là một hệ thống các quy định và biện pháp nhằm điều tiết việc di chuyển qua biên giới của người dân trong từng thời kỳ nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
Mỗi quốc gia khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu lao động của nước mình
để điều tiết dòng lao động di cư thông qua chính sách xuất nhập cư Hệ thống kiểm soát xuất nhập cư gồm có việc cấp phép, điều tra, thị thực, chứng minh thư.v.v
Phần lớn các quốc gia như Mỹ, Canada, Hàn Quốc nhập khẩu lao động qua hình thức cấp thị thực xuất nhập cảnh Qua hệ thống thị thực, các nước này hạn chế sự di chuyển và những yêu cầu mang tính tập thể, đồng thời điều chỉnh việc đối xử khác biệt giữa các quốc gia và người lao động nước ngoài
Trang 39Pháp và Đức thì ngược lại, do các quốc gia này đều tham gia vào liên minh Châu Âu với Chính sách di cư thống nhất theo Hiệp định Sen-ghen (Schengen) (theo đú cỏc công dân EU được tự do sinh sống và làm việc ở các nước thành viên trong khối) nờn khụng dễ kiểm soát việc cấp thị thực Vì vậy chính sách của các quốc gia này là phân biệt quyền làm việc với quyền sinh sống Lao động nước ngoài có thể vào Pháp và Đức nhưng phải được Chính phủ cấp phép để định cư hoặc làm việc trong một khoảng thời gian nhất định Nếu không được phép, những người này sẽ bị đối xử khác biệt.
Các quốc gia Mỹ, Canada, Úc, Pháp, Đức, Hà Lan.v.v chấp nhận hoặc có chủ trương chấp nhận người nhập cư nước ngoài có chính sách phân biệt người nhập cư với lao động di cư tạm thời Trong khi họ đối xử với người nhập cư như đối với người dân bản xứ thì với lao động di cư tạm thời họ lại
áp dụng một số khác biệt qua các quy định về pháp luật như: luật di cư, chương trình cấp phép lao động
Các quốc không dễ chấp nhận dân nhập cư như Đức, Nhật, Hàn Quốc nhưng lại chấp nhận lao động nhập khẩu, những người sẽ rời quốc gia này sau một khoảng thời gian làm việc Chính sách quản lý lao động nước ngoài của các quốc gia này được đưa vào trong luật xuất nhập cư của các quốc gia Việc kiểm soát luồng ra vào đối với dân di cư có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định số lượng, chất lượng lao động nhập cư Các quốc gia muốn tăng lượng lao động nhập cư có thể áp dụng chính sách miễn thị thực (như đối với các quốc gia thuộc liên minh Châu Âu), hay tạo điều kiện dễ dàng trong cấp thị thực (như Singapore) Ngược lại, các nước có thể hạn chế lao động nhập khẩu bằng cách kiểm soát hạn ngạch, cấp thẻ cư trú (thẻ xanh của Mỹ), áp dụng chương trình cấp phép lao động (EPS-như Hàn Quốc đang
áp dụng) Ngoài ra, các quốc gia cũng có thể thu hút nhân tài, nguồn lao động chất lượng cao như chính sách “nhập cư có lựa chọn” ở Châu Âu, thẻ thường trú ở Singapore hay hệ thống “Thẻ vàng” của Hàn Quốc”
Trang 40• Chính sách thị trường lao động
Phân tích thị trường lao động là một nội dung quan trọng trong chính sách quản lý lao động nước ngoài Các quốc gia tiếp nhận lao động rất cần thông tin chính xác về thị trường lao động của họ, bởi vì hơn ai hết, họ là người biết rõ người lao động di cư thích và có xu hướng lựa chọn khu vực làm việc nào trong tương lai
Trong nhiều trường hợp, các quốc gia tiếp nhận lao động thường chỉ dựa vào cầu của doanh nghiệp tư nhân đối với lao động di cư Tuy vậy, nếu các quốc gia tiếp nhận lao động hoạt động lâu dài, có tính chiến lược hơn và muốn có chính sách về lao động di cư rõ ràng và ổn định hơn thì họ cần đi sâu phân tích thường xuyên thị trường lao động – theo cơ cấu ngành, cơ cấu nghề
và theo cả trình độ thành độ thành thạo hay kỹ năng trong công việc, nhằm tiếp cận tốt hơn vấn đề cầu về lao động di cư và đáp ứng những yêu cầu của lao động di cư
Cầu về lao động di cư trên thị trường chịu tác động bởi ba phát minh lớn sau: một là, sự phát triển của công nghệ thông tin (IT); hai là, việc tổ chức sắp xếp lại công việc và ba là, sự ra đời của các hàng hóa, dịch vụ mới 3 nhân
tố này góp phần tạo nên những thay đổi kép về mặt kỹ thuật Các công ty sử dụng 3 phát minh trên có xu hướng sử dụng lao động chất lượng cao nhiều hơn, đặc biệt là lao động chất lượng cao người nước ngoài, ví dụ như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Theo kết quả nghiên cứu thị trường việc làm toàn cầu mới nhất do tập đoàn Manpower công bố, năm 2011, ở châu Âu, hoạt động tuyển dụng lao động ngoại nhập mạnh nhất sẽ diễn ra ở Na Uy, Thụy Điển và Đức Trong đó, Đức là một trong những điểm sáng của châu Âu, với 16% số doanh nghiệp cho biết sẽ thuờ thờm nhân viên trong năm 2011 Tại châu Á - Thái Bình Dương, những nơi sẽ thuờ thờm nhiều nhân viên nhất là Ấn Độ, Singapore, Đài Loan và Úc