Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài.. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư
Trang 11
Mở đầu
Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để xây dựng và phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng kinh tế Trong điều kiện kinh tế thị trường, hình thức đầu tư kinh doanh ngày càng phong phú, đa dạng; mỗi hình thức đầu tư có những đặc điểm riêng nhất định về cách thức đầu tư vốn, tính chất liên kết và phân chia kết quả kinh doanh giữa các nhà đầu tư (NĐT) Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện cụ thể của mình, các NĐT có quyền lựa chọn các hình thức đầu tư thích hợp theo quy định của pháp luật hiện hành Dưới đây là một tình huống cụ thể mà NĐT đang đứng giữa các lựa chọn, băn khoăn không biết nên chọn hình thức đầu tư nào cho phù hợp và thủ tục triển khai dự án đầu tư ra sao? Nhóm em xin đưa ra ý kiến của mình về vấn đề này, mong thầy cô và các bạn góp ý bổ sung để kiến thức của nhóm được hoàn thiện hơn
Nội dung
Trang 22
I Cơ sở lý luận
1 Các hình thức đầu tư
Hình thức đầu tư là cách tiến hành hoạt động đầu tư của nhà đầu tư (NĐT) theo quy định của pháp luật Luật Đầu tư 2005 (LĐT) phân chia các hình thức đầu tư thành hai nhóm là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:
Hình thức đầu tư trực tiếp là hình thức
mà ở đó NĐT nắm quyền quản trị kinh doanh; NĐT vốn đồng thời là người sử dụng vốn Có 7 hình thức đầu tư trực tiếp
quy định tại Điều 21 LĐT: “1 Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài 2 Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài 3 Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT 4 Đầu tư phát triển kinh doanh 5 Mua cổ phần
Trang 33
hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư 6 Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp 7 Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.”
Hình thức đầu tư gián tiếp là hình thức
NĐT không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và sử dụng các nguồn lực đầu tư Các hình thức đầu tư gián tiếp quy định tại Điều 26 LĐT, theo đó, các hình thức đầu gián tiếp bao gồm những hình thức phổ biến như đầu tư thông qua mua chứng khoán; đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; đầu tư thông qua ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm…
2 Thủ tục triển khai dự án đầu tư
Sau khi hoàn thành tất cả các thủ tục đầu
tư, chủ đầu tư sẽ tiến hành các công việc cần thiết cũng như các thủ tục pháp lý khác để triển khai dự án đầu tư Thủ tục triển khai dự án đầu tư được quy định trong Chương VI, mục 2 Luật đầu tư năm 2005
Trang 44
Trong giai đoạn này việc triển khai thực hiện dự án đầu tư của nhà đầu tư phải tuân theo đúng mục tiêu tiến độ đã cam kết và các quy định tại giấy chứng nhận đầu tư đồng thời phải tuân thủ các quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan như pháp luật về đất đai, môi trường, xây dựng, lao động, thuế… Theo đó có thể bao gồm những thủ tục sau đây:
- Xin giao đất hoặc cho thuê đất thực hiện dự án đối với các dự án có sử dụng đất
- Xin giấy phép xây dựng (đối với các dự án công trình phải xin phép)
- Chuẩn bị mặt bằng xây dựng như thực hiện việc thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và phục hồi
- Thực hiện việc khảo sát, thiết kế xây dựng
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng, dự toán và tổng dự toán công trình
- Tiến hành thi công xây lắp
Trang 55
- Kiểm tra và thực hiện các hợp đồng
- Quản lí kĩ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng
- Vận hành thử, nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư, bàn giao và thực hiện bảo hành sản phẩm
- Mua sắm, giám định thiết bị máy móc và công nghệ
- Thuê tổ chức, cá nhân quản lí dự án đầu
tư
- Chuyển nhượng vốn, dự án đầu tư
- Tạm ngừng, giãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư
- Bảo lãnh của nhà nước cho một số công trình và dự án quan trọng
II Giải quyết tình huống cụ thể
Tình huống: “Một nhà đầu tư Việt Nam
dự định triển khai 1 dự án xây dựng bến phà nằm trên địa bàn 2 tỉnh A và B, nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách qua dòng sông nằm giữa địa bàn 2 tỉnh, kinh phí khoảng 1.000 tỷ đồng
Trang 66
Hãy tư vấn cho nhà đầu tư về hình thức đầu tư và thủ tục triển khai dự án đầu tư.”
1 Hình thức đầu tư phù hợp nhất cho NĐT Việt Nam trong tình huống
Hình thức đầu tư liên quan đến cơ chế pháp lý điều chỉnh toàn bộ quá trình triển khai dự án, đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và hiệu quả đầu tư Do đó, để dự án có thể triển khai một cách nhanh chóng, thuận lợi, đạt hiệu quả cao thì cần lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp Trong tình huống trên, số lượng NĐT chỉ là một NĐT Việt Nam, kinh phí thực hiện dự kiến khoảng 1000 tỷ đồng, dự án không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện hoặc cấm đầu
tư, việc lựa chọn hình thức đầu tư gián tiếp là không khả thi, do nếu lựa chọn hình thức này thì NĐT sẽ không được tham gia vào quản lí quá trình đầu tư mà cụ thể là không được tham gia quản lí quá trình xây dựng
bến phà Do đó, NĐT có thể lựa chọn một
trong các hình thức đầu tư là:
Trang 77
Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn NĐT trong nước
Đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT
* Đối với hình thức đầu tư vào tổ chức kinh tế:
Đặc trưng cơ bản của hình thức đầu tư này chính là: sau khi thành lập tổ chức kinh tế thì NĐT sở hữu vốn ban đầu chỉ đóng vai trò là người hình thành tổ chức kinh tế Mọi hoạt động đầu tư được nhân danh chính tổ chức kinh tế mới được thành lập Căn cứ vào tình huống thì tổ chức kinh tế có thể được thành lập dưới hình thức là: Tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư (100% vốn trong nước) Cụ thể, NĐT sẽ lựa chọn việc hình thành một trong số các loại hình doanh nghiệp như: Doanh nghiệp
tư nhân; công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên
Trang 88
* Đối với hình thức đầu tư theo hợp đồng:
Việc đầu tư vốn để kinh doanh của NĐT được tiến hành trên cơ sở hợp đồng được giao kết giữa NĐT với Nhà nước (các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) Nhà đầu tư trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh với tư cách pháp lý của mình phù hợp với nội dung thỏa thuận trong hợp đồng Khi NĐT lựa chọn đầu tư theo hợp đồng, ngoài việc phải tuân thủ LĐT, việc giao kết, thực hiện hợp đồng còn phải phù hợp với các quy định chung về hợp đồng trong kinh doanh, thương mại Đầu tư thông qua hợp đồng được kí giữa CQNN có thẩm quyền
và NĐT gồm các hình thức như: đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) Theo các hợp đồng này NĐT bỏ vốn để xây dựng, kinh doanh các công trình kết
Trang 99
cấu hạ tầng và chuyển giao cho Nhà nước theo những phương thức thanh toán, đền bù khác nhau
Về mặt pháp lí, sự khác nhau chủ yếu giữa các hình thức đầu tư BOT, BTO và
BT thể hiện ở thời điểm chuyển giao quyền sở hữu công trình gắn với quyền quản lí, vận hành, khai thác công trình của nhà đầu
tư cho Nhà nước và phương thức thanh toán đền bù của Nhà nước cho nhà đầu tư Trong hình thức BOT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư quản lý và kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý, hết thời hạn kinh doanh, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình cho Nhà nước Với hình thức BTO, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư chuyển giao quyền sở hữu công trình cho Nhà nước, nhà đầu tư được Nhà nước dành cho quyền kinh doanh công trình trong thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi
Trang 1010
nhuận hợp lý Ở hình thức BT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư chuyển giao quyền sở hữu công trình cho Nhà nước, nhà đầu tư được Nhà nước tạo điều kiện thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý
Hình thức đầu tư phù hợp nhất cho nhà đầu tư Việt Nam trong tình huống trên là hình thức đầu tư trực tiếp,
mà cụ thể là hình thức đầu tư theo hợp đồng BT, bởi các lý do:
Thứ nhất, đầu tư theo hình thức BT, để
thu hồi vốn NĐT thu hồi bằng nhiều hình thức như: Thu hồi vốn bằng tiền, bằng đất, bằng dự án khác (có thể hiểu như một khoản lợi khi NĐT đầu tư và thu hồi từ một hay nhiều dự án khác) hoặc cũng có thể kết hợp nhiều hình thức thu hồi vốn
Ở hình thức BT khi NĐT thu hồi vốn bằng tiền, theo quy định hiện hành, NĐT phải bỏ số vốn tự có tối thiểu là 15% trong tổng đầu tư của dự án, còn lại 85% là vốn
Trang 1111
vay Sau khi công trình hoàn thành (tùy theo điều khoản của hợp đồng BT), sau khi quyết toán được phê duyệt Nhà nước phải trả tiền cho NĐT(cả vốn lẫn lãi phát sinh) Có thể nói về bản chất của nguồn vốn thì Nhà nước về cơ bản vẫn là người đi vay hoặc có trường hợp NN là người bảo lãnh cho NĐT vay tiền Nếu nguồn tiền từ một ngân hàng Nhà nước mà không phải là một ngân hàng thương mại hoặc cổ phần thì về
cơ bản vẫn là đầu tư bằng nguồn tiền của Nhà nước
Ở hình thức đầu tư BT khi thỏa thuận hợp đồng thanh toán bằng dự án khác (ở đây đa số các dự án khác là bằng giá trị quyền sử dụng đất tại một dự án khác) Sau khi đầu tư dự án xong, Nhà nước trả cho NĐT bằng dự án khác (quyền sử dụng đất có giá trị tương đương tính cả vốn lẫn lãi phát sinh khi đầu tư) Theo quy định thì Nhà nước vẫn là bên đứng ra chịu mọi
Trang 1212
trách nhiệm về GPMB để bàn giao quỹ đất sạch cho NĐT
Trong các hình thức thanh toán, phần giải phóng mặt bằng theo quy định toàn bộ đều do Nhà nước đảm nhận thực hiện Đây là một phần có thể nói là khó nhất của các dự án Nếu việc bồi thường GPMB bị ách tắc, tiến độ dự án bị kéo dài, hiệu quả dự án thấp, chi phí phát sinh do lãi xuất bị đội lên thì toàn bộ việc chi phí đó đều tính vào giá thành dự án và Nhà nước đều phải gánh chịu, kể cả khi tổng mức đầu
tư bị đội lên cao
Với bất kỳ hình thức đầu tư nào, một NĐT muốn thu được lợi nhuận thì đều đi kèm với nó là nguy cơ rủi ro, lợi nhuận càng cao thì nguy co rủi ro càng lớn và NĐT có nguy cơ phá sản nếu gặp rủi ro trong kinh doanh Tuy nhiên với hình thức đầu tư BT thì khẳng định chắc chắn là NĐT luôn có lợi, không bao giờ gặp rủi ro
Trang 1313
Thứ hai, về chất lượng của công trình,
theo Luật hiện hành, Nghị định
209/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình, các Thông tư v.v.các dự án do Nhà nước đầu
tư đều tuân thủ nguyên tắc chung và chịu sự giám sát chặt chẽ của nhiều cơ quan Tuy nhiên, theo các quy định về quản lý chất lượng các dự án BT hiện nay, NĐT được toàn quyền trong các công việc: Lựa chọn nhà thầu tư vấn, xây lắp, giám sát và quản lý chất lượng Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành chỉ giữ vai trò rất mờ nhạt là tiếp nhận các thông báo về tiến độ, chất lượng công trình theo hợp đồng từ nhà đầu tư Đây cũng là một điều kiện để NĐT linh hoạt và “dễ thở” hơn
Thứ ba, hình thức đầu tư theo hợp đồng
BT có thể giúp NĐT tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức cũng như tài chính trong việc thành lập pháp nhân mới cũng như chi phí vận hành doanh nghiệp sau khi
Trang 1414
nó được thành lập, khi dự án đầu tư kết thúc, NĐT cũng không phải tiến hành thủ tục giải thể doanh nghiệp nếu như nhà đầu
tư lựa chọn hình thức đầu tư khác
Thứ tư, với hình thức đầu tư này, NĐT
còn có thể được tận dụng được các chính sách ưu đãi của Nhà nước vì xây dựng bến phà là một trong những lĩnh vực được nhà nước ưu đãi đầu tư (theo phụ lục 1 ban hành kèm theo nghị định 108/2006)
2 Thủ tục triển khai dự án xây dựng bến phà trong tình huống
Thứ nhất là phải tiến hành đàm phán và
kí kết hợp đồng đầu tư: Đây là thủ tục đầu
tiên để triển khai dự án đầu tư Để thực hiện dự án trên thì trong trường hợp này nhà đầu tư cần phải tiến hành kí kết hợp đồng đầu tư với CQNN có thẩm quyền Vì dự án xây dựng bên phá nói trên có tổng giá trị là 1000 tỷ đồng và nằm trên địa bàn hai tỉnh là tỉnh A và tỉnh B nên theo quy định tại Điều 3, nghị định
Trang 15108/NĐ-15
CP/2009 hướng dẫn về việc thực hiện dự án theo hình thực hợp đồng BOT, BT, BTO thì cơ quan có thẩm quyền kí kết ở đây là Bộ kế hoạch và đầu tư
Thứ hai, Thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoặc lập bản cam kết bảo vệ môi trường
Hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định tại mục 3 phần III Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày 8/9/2006 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
Thứ ba là thủ tục thẩm tra dự án đầu tư: Cụ thể, theo quy định tại điều 48 Luật
đầu tư năm 2005 và các quy định hướng dẫn củaNghị định 108 NĐ-CP/2006 thì khi thực hiện dự án đầu tư có giá trị từ 300 tỷ đồng trở lên và lĩnh vực đầu tư không phải là lĩnh vực có điều kiện thì phải làm nhà đầu tư phải làm thủ tục thẩm tra dự án đầu