1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013

144 1,2K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành y tế là ngành có nhiều hoạt động đa dạng, trên nhiều lĩnh vực như: khám chữa bệnh, dự phòng, sản xuất thuốc và sinh phẩm y tế. Nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế là chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, các cơ sở y tế đã thải ra những chất thải có nguy cơ làm ô nhiễm môi trường và lan truyền bệnh tật tới các vùng xung quanh, đặc biệt là chất thải y tế nguy hại. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, lượng chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 20% tổng lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động chăm sóc sức khỏe, trong đó có khoảng 10% chất thải nhiễm khuẩn và 5% chất thải độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào và các hóa chất độc hại khác 47, 50. Chất thải y tế nếu không được xử lý và quản lý tốt sẽ trở thành nguồn lây nhiễm bệnh cho nhân viên y tế (NVYT), cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Nhân viên y tế, bệnh nhân, người xử lý chất thải, người nhặt rác và người dân trực tiếp tiếp xúc với y tế có nhiều nguy cơ rủi ro từ các chất thải y tế. Chất thải y tế sắc nhọn được coi là một loại rác rất nguy hiểm vì nó gây tổn thương kép như vừa gây tổn thương lại vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy một người bị chấn thương từ một kim tiêm đã sử dụng trên một bệnh nhân có nguy cơ bị lây nhiễm HBV, HCV và HIV tương ứng là 30%; 1,8% và 0,3% 50. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính trong năm 2000 trên toàn Thế giới có khoảng 21 triệu ca nhiễm virus viêm gan B, 2 triệu ca nhiễm virus viêm gan C và 260.000 ca nhiễm HIV do tiêm chích kim tiêm bẩn. Nhiều trường có thể đã được tránh khỏi nếu bơm kim tiêm được thải bỏ một cách an toàn 51. Vì vậy quản lý chất thải y tế đang là mối quan tâm không chỉ riêng ngành y tế mà còn là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Kết quả đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2002 tại 22 nước đang phát triển cho thấy: tỷ lệ các cơ sở y tế không sử dụng các phương pháp thích hợp xử lý chất thải khoảng từ 18% đến 64% 49. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường, chỉ có khoảng 50% các bệnh viện thực hiện phân loại, thu gom chất thải y tế đúng Quy chế Quản lý chất thải 9. Hiện có khoảng 44% bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế trong đó có 76,5% bệnh viện trung ương; 53% bệnh viện tuyến tỉnh, 37% bệnh viện tuyến huyện. Tuy vậy, hệ thống xử lý chất thải ở nhiều bệnh viện đã xuống cấp 26. Chỉ có 17% trung tâm y tế dự phòng (TTYTDP) sử dụng lò đốt thủ công để xử lý chất thải rắn y tế, 30% trung tâm y tế dự phòng hợp đồng với bệnh viện trên địa bàn để xử lý. Chất thải rắn y tế tại tuyến xã chưa được quan tâm và thực hiện, hầu hết các trạm y tế xã chưa xử lý chất thải y tế trước khi xả ra môi trường 9. Thực hiện Luật bảo vệ môi trường năm 2005, nhằm hạn chế tác hại do chất thải y tế gây ra, ngày 30112007, Bộ Y tế ban hành Quy chế Quản lý chất thải y tế áp dụng cho tất cả các cơ sở y tế và các tổ chức, cá nhân tham gia vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế. Tuy nhiên, công tác quản lý chất thải y tế hiện nay vẫn còn rất nhiều tồn tại, khó khăn. Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm là tuyến y tế cơ sở, có nhiệm vụ chính là phòng chống dịch bệnh, thực hiện các chương trình y tế trong đó có các chương trình mục tiêu quốc gia, ngoài ra còn có nhiệm vụ khám chữa bệnh ban đầu, được phân hạng tương đương với bệnh viện hạng 3 về công tác khám chữa bệnh. Trong quá trình hoạt động, mỗi năm các khoa, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế thải ra trên 6.000 kg chất thải lây nhiễm và độc hại 37,39. Cũng như nhiều trung tâm y tế tuyến huyện, cơ sở vật chất tại các phòng khám, các trạm y tế mặc dù được xây mới, cải tạo, sửa chữa nhưng hệ thống lưu giữ, xử lý chất thải y tế đều chưa được quy hoạch, thiết kế. Kinh phí hoạt động nói chung và kinh phí cho quản lý chất thải nói riêng còn hạn chế. Để trả lời cho câu hỏi thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa, phòng khám, trạm y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động quản lý chất thải rắn y tế? Nhằm góp phần giúp lãnh đạo và chính quyền địa phương nắm rõ về thực trạng tình hình, đưa ra những giải pháp phù hợp để công tác quản lý chất thải y tế được thực hiện tốt, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013”.

Trang 1

Y tế Thế giới, lượng chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 20% tổng lượng chất thải phátsinh từ các hoạt động chăm sóc sức khỏe, trong đó có khoảng 10% chất thải nhiễm khuẩn

và 5% chất thải độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào và các hóa chất độc hạikhác [47], [50]

Chất thải y tế nếu không được xử lý và quản lý tốt sẽ trở thành nguồn lây nhiễmbệnh cho nhân viên y tế (NVYT), cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường trầm trọng Nhânviên y tế, bệnh nhân, người xử lý chất thải, người nhặt rác và người dân trực tiếp tiếp xúcvới y tế có nhiều nguy cơ rủi ro từ các chất thải y tế Chất thải y tế sắc nhọn được coi làmột loại rác rất nguy hiểm vì nó gây tổn thương kép như vừa gây tổn thương lại vừa cókhả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy mộtngười bị chấn thương từ một kim tiêm đã sử dụng trên một bệnh nhân có nguy cơ bị lâynhiễm HBV, HCV và HIV tương ứng là 30%; 1,8% và 0,3% [50] Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) ước tính trong năm 2000 trên toàn Thế giới có khoảng 21 triệu ca nhiễm virusviêm gan B, 2 triệu ca nhiễm virus viêm gan C và 260.000 ca nhiễm HIV do tiêm chíchkim tiêm bẩn Nhiều trường có thể đã được tránh khỏi nếu bơm kim tiêm được thải bỏ mộtcách an toàn [51] Vì vậy quản lý chất thải y tế đang là mối quan tâm không chỉ riêngngành y tế mà còn là mối quan tâm chung của toàn xã hội

Kết quả đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2002 tại 22 nước đangphát triển cho thấy: tỷ lệ các cơ sở y tế không sử dụng các phương pháp thích hợp xử lýchất thải khoảng từ 18% đến 64% [49]

Tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường, chỉ có khoảng 50% cácbệnh viện thực hiện phân loại, thu gom chất thải y tế đúng Quy chế Quản lý chất thải [9].Hiện có khoảng 44% bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế trong đó có 76,5% bệnhviện trung ương; 53% bệnh viện tuyến tỉnh, 37% bệnh viện tuyến huyện Tuy vậy, hệ

Trang 2

thống xử lý chất thải ở nhiều bệnh viện đã xuống cấp [26] Chỉ có 17% trung tâm y tế dựphòng (TTYTDP) sử dụng lò đốt thủ công để xử lý chất thải rắn y tế, 30% trung tâm y tế

dự phòng hợp đồng với bệnh viện trên địa bàn để xử lý Chất thải rắn y tế tại tuyến xã chưađược quan tâm và thực hiện, hầu hết các trạm y tế xã chưa xử lý chất thải y tế trước khi xả

ra môi trường [9]

Thực hiện Luật bảo vệ môi trường năm 2005, nhằm hạn chế tác hại do chất thải y

tế gây ra, ngày 30/11/2007, Bộ Y tế ban hành Quy chế Quản lý chất thải y tế áp dụng chotất cả các cơ sở y tế và các tổ chức, cá nhân tham gia vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải

y tế Tuy nhiên, công tác quản lý chất thải y tế hiện nay vẫn còn rất nhiều tồn tại, khó khăn

Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm là tuyến y tế cơ sở, có nhiệm vụ chính là phòngchống dịch bệnh, thực hiện các chương trình y tế trong đó có các chương trình mục tiêuquốc gia, ngoài ra còn có nhiệm vụ khám chữa bệnh ban đầu, được phân hạng tươngđương với bệnh viện hạng 3 về công tác khám chữa bệnh Trong quá trình hoạt động, mỗinăm các khoa, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế thải ra trên 6.000 kg chất thải lâynhiễm và độc hại [37],[39] Cũng như nhiều trung tâm y tế tuyến huyện, cơ sở vật chất tạicác phòng khám, các trạm y tế mặc dù được xây mới, cải tạo, sửa chữa nhưng hệ thống lưugiữ, xử lý chất thải y tế đều chưa được quy hoạch, thiết kế Kinh phí hoạt động nói chung

và kinh phí cho quản lý chất thải nói riêng còn hạn chế Để trả lời cho câu hỏi thực trạngquản lý chất thải rắn y tế tại các khoa, phòng khám, trạm y tế thuộc Trung tâm Y tế huyệnGia Lâm như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động quản lý chất thải rắn ytế? Nhằm góp phần giúp lãnh đạo và chính quyền địa phương nắm rõ về thực trạng tìnhhình, đưa ra những giải pháp phù hợp để công tác quản lý chất thải y tế được thực hiện tốt,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013”.

Trang 3

MỤC TIÊU

Mục tiêu cụ thể

1 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa,

phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã, thị trấn thuộc Trung tâm Y

tế huyện Gia Lâm, năm 2013

2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế

tại các khoa, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã, thị trấn thuộcTrung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thông tin cơ bản về chất thải y tế

1.1.1 Một số khái niệm

Các khái niệm trong nghiên cứu được tham khảo và trích dẫn từ Quy chế quản lýchất thải y tế ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm

2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế và Luật Bảo vệ môi trường

Chất thải: Là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh,

dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác [28]

Chất thải y tế: Là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao

gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường [7]

Chất thải y tế nguy hại: Là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người

và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc

có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn [7]

Chất thải thông thường: Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học

nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ [7]

Quản lý chất thải y tế (QLCTYT): Là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban

đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải

y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện [7]

Thu gom chất thải tại nơi phát sinh: Là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và

lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế [7]

Vận chuyển chất thải: Là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi

xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy [7]

Xử lý ban đầu: Là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ

lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy[7]

Xử lý và tiêu hủy chất thải: Là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất

khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường [7]

1.1.2 Phân loại chất thải y tế

1.1.2.1 Phân loại theo Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 5

Các nhà quản lý y tế có nhiều cách phân loại khác nhau tùy theo quan điểm của họ.Tuy nhiên, tất cả các cách phân loại đều chủ yếu dựa vào tính chất vật lý, hóa học của chấtthải và khả năng gây ảnh hưởng của chúng tới môi trường và sức khỏe con người Theo

WHO, CTYT được phân thành 8 loại [7] như sau: Chất thải nhiễm trùng, chất thải sắc

nhọn, thuốc thải loại, chất thải có tính độc với tế bào, hóa chất, chất thải chứa kim loại

nặng độc, các bình chứa khí nén, chất phóng xạ

1.1.2.2 Phân loại theo Quy chế Quản lý chất thải của Bộ Y tế

Theo Quy chế QLCTYT được Bộ Y tế ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế, chất thải trong các cơ sở y tế được chiathành 5 loại là chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng xạ, bìnhchứa áp suất và chất thải thông thường Tuy không phân thành 8 loại như WHO nhưngCTYT cũng đã bao gồm cả 8 loại trên [7]

1.1.3 Thành phần và khối lượng chất thải y tế

- Chất thải khoa điều trị: Bộ phân thay bông băng gồm gạc, bông băng dính máu

mủ, tổ chức hoại tử đã cắt lọc Bộ phận tiêm gồm kim tiêm, bơm tiêm, ống thuốc, thuốcthừa Ngoài ra còn có các loại dịch tiết, bệnh phẩm, túi đựng

- Chất thải phòng mổ: bông gạc nhiễm khuẩn, mủ, tổ chức hoại tử, các phần cắt bỏcủa cơ thể, máu, dịch, thuốc, hóa chất, kim tiêm, bơm tiêm

- Chất thải phòng khám: bệnh phẩm, mủ, các tổ chức hoại tử, bông băng, gạcnhiễm khuẩn, dụng cụ, nẹp cố định, quần áo nhiễm khuẩn

- Chất thải khoa xét nghiệm huyết học: môi trường, máu, hóa chất chai lọ, kimtiêm

- Chất thải khoa xét nghiệm vi sinh, hóa sinh: bệnh phẩm, phân, nước tiểu, máu,

mủ, đờm, hóa chất, môi trường nuôi cấy

Trang 6

- Chất thải phòng thí nghiệm: các xác động vật, các bộ phận cắt bỏ của động vật,các chất thải của quá trình sản xuất vắc xin.

- Chất thải sinh hoạt từ bệnh nhân, nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân: đồ ăn,thức uống, vỏ thuốc, giấy loại, quần áo bẩn

Thành phần chất thải y tế hiện nay rất đa dạng và phức tạp vì chúng ta chưa có hệthống phân loại chất thải nguy hại ngay từ lúc phát sinh, đồng thời cũng chưa có một sựthống nhất trong cách phân loại tại các cơ sở y tế Các khảo sát cho thấy thành phần củachất thải y tế bao gồm một số loại chính sau: giấy các loại (3%); Kim loại, vỏ hộp (0,7%);Thủy tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm (3,2%); Bông băng, bột bó gãy xương(8,8%); Chai, túi nhựa các loại (10,1%); Bệnh phẩm (0,6%); Rác hữu cơ (52,57%); Đất đá

và các vật rắn khác (21,03%) [16]

Theo kết quả đánh giá tại 15 bệnh viện trong cả nước, thành phần chất thải rắn y tếtại các bệnh viện bao gồm: Đồ nhựa, cao su (bơm tiêm nhựa, dây truyền dịch, găng tay caosu) chiếm tỷ lệ dưới 20%; Các loại chất thải khác khoảng 30% Đặc trưng của chất thải y

tế có chứa một lượng nhất định các sản phẩm nhựa cao su, vật phẩm y tế cùng với các chấtthải khác Nhiều loại vật phẩm y tế thường mang các vi khuẩn, vi trùng và là một môitrường rất thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển [42]

Tại 172 bệnh viện của 5 thành phố là Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Hồ ChíMinh, chỉ có 0,38% là chất thải phóng xạ; 18,39% chất thải lây nhiễm; 2,67% chất thảinguy hại và 78,6% là chất thải thông thường Tại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ chất thảilây nhiễm cao (22,12%), chất thải phóng xạ (0,59%), chất thải nguy hại (4,76%), chất thảithông thường (72,54%) [8]

Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, chất thải từ các phòng khám và các khoa điềutrị là 26,79% trong đó chất thải sắc nhọn là 72,4%, chất thải hóa học là 0,61% [35]

1.1.3.2 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh

Theo WHO, nguồn CTYT chính là các bệnh viện và các cơ sở khám chữa

bệnh; Các trung tâm nghiên cứu, thí nghiệm y khoa; Các trung tâm giải phẫu tử thi,nhà xác; Các phòng thí nghiệm trên động vật; Ngân hàng máu và các nơi thu thậpmáu; Nơi chăm sóc y tế cho người cao tuổi Tại những nước có thu nhập cao, bình

Trang 7

quân cứ mỗi giường bệnh sẽ thải ra 0,5 kg chất thải y tế nguy hại mỗi ngày, còn ởnhững nước có thu nhập thấp thì số lượng đó là 0,2 kg [51]

Chất thải y tế phát sinh tại các cơ sở y tế thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa vàphụ thuộc các yếu tố khác như cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô bệnh viện, lượng bệnhnhân đến khám chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân nội và ngoại trú, phương pháp và thói quen củanhân viên y tế trong việc khám, điều trị và chăm sóc, số lượng người nhà đến thăm bệnhnhân [21]

Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam tiến hành khảo sát, đánhgiá hiện trạng quản lý chất thải của bệnh viện trong cả nước, kết quả cho thấy lượng chấtthải rắn phát sinh tại các tuyến bệnh viện như sau [21]:

- Bệnh viện tuyến Trung ương:

o Chất thải y tế: 0,97 kg/giường bệnh/ngày

o Chất thải y tế nguy hại: 0,16 kg/giường bệnh/ngày

- Bệnh viện tuyến tỉnh:

o Chất thải y tế: 0,88 kg/giường bệnh/ngày

o Chất thải y tế nguy hại: 0,14 kg/giường bệnh/ngày

- Bệnh viện tuyến huyện:

o Chất thải y tế: 0,73 kg/giường bệnh/ngày

o Chất thải y tế nguy hại: 0,11 kg/giường bệnh/ngày

Báo cáo tóm tắt thực trạng quản lý chất thải y tế và định hướng hoạt động trongthời gian tới [26] cho biết tổng lượng CTRYT phát sinh từ các cơ sở y tế khoảng 350tấn/ngày, trong đó có 40,5 tấn là CTRYT nguy hại Ước tính số lượng chất thải năm 2015

là 600 tấn/ngày và năm 2020 là khoảng trên 800 tấn/ngày

Các bệnh viện có quy mô càng lớn thì lượng CTYT phát sinh càng nhiều và tỷ lệcác CTYT nguy hại càng cao

Đối với các bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế: Tổng lượng

CTRYT phát sinh trong 1 ngày là 31.685 kg, trong đó lượng CTRYT nguy hại là 5.122 kg.Ước tính lượng CTRYT của các bệnh viện này đến năm 2015 sẽ là 43.725 – 48.160kg/ngày, trong đó khoảng 7 – 7,8 tấn là CTRYT nguy hại [17]

Trang 8

Đối với hệ thống cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc sở y tế: Tổng lượng

chất thải thông thường phát sinh trong 1 ngày là 104.227 kg Tổng lượng chất thảilây nhiễm cần được xử lý trong 1 ngày là 24.776 kg [17]

Đối với các bệnh viện ngành: Lượng CTRYT phát sinh của các bệnh viện ngành

không khác biệt so với các bệnh viện thuộc sở y tế [17]

Đối với các cơ sở y tế dự phòng trên cả nước: Tổng lượng chất thải rắn

trung bình trong một ngày đêm phát sinh tại các trung tâm y tế dự phòng(TTYTDP) tuyến tỉnh khoảng 9,47kg/ngày, các TTYTDP tuyến quận huyện khoảng16,42 kg/ngày Trong đó lượng CTRYT nguy hại chiếm 5 – 10% tổng khối lượngchất thải rắn, 78% cơ sở y tế dự phòng phát sinh chất thải lây nhiễm, 32% cơ sởphát sinh chất thải hóa học nguy hại, 8% cơ sở phát sinh chất thải phóng xạ và bìnhchứa áp suất [1]

Đối với các cơ sở sản xuất thuốc ở Việt Nam: Các cơ sở sản xuất thuốc có

các loại chất thải khác nhau như: bã dược liệu, chất thải chứa hoạt chất kháng sinhbetalactam…Số lượng ước tính khác nhau Các cơ sở này thường không có số liệuthống kê số lượng chất thải rắn [14]

1.1.4 Tác động của chất thải y tế đối với sức khỏe

Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so vớicác loại chất thải rắn khác Các loại chất thải này nếu không được phân loại cẩn thận trướckhi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể [5]

CTYT được loại bỏ ra khỏi cơ sở y tế theo nhiều cách khác nhau, các chất thải rắnthông thường được đem chôn lấp, thiêu đốt hoặc đổ ra các bãi rác chung Các chất thải nàynếu không được quản lý, xử lý tốt sẽ tác động trực tiếp và gây ảnh hưởng đến cộng đồng,nhất là những người dân sinh sống gần khu vực thải ra các chất thải y tế Bên cạnh nhữngtác động về bệnh tật, CTYT còn gây những tác động khác tới người dân như: gây mùi xú

uế khó chịu, nhiều ruồi muỗi, côn trùng, mất mỹ quan đô thị, gây tâm lý nặng nề… [11].Tất cả các cá nhân tiếp xúc với CTYT nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, baogồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làmnhiệm vụ vận chuyển các CTYT và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chấtthải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Những nhóm chính có nguy cơ

Trang 9

cao như: bác sỹ, điều dưỡng, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện, bệnh nhânđiều trị nội trú hoặc ngoại trú 16].

Theo WHO, CTYT có chứa các vi sinh vật có khả năng gây hại, chúng cóthể gây nhiễm cho các bệnh nhân trong bệnh viện, nhân viên y tế và cộng đồng.Chất thải và các sản phẩm của nó có thể gây ra những tổn thương: Bỏng do phóng

xạ, vết thương do vật sắc nhọn, ngộ độc và ô nhiễm do thải bỏ dược phẩm [50]

1.1.4.1 Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn

Trong thành phần CTYT có thể chứa đựng một lượng lớn tác nhân vi sinh vật gâybệnh truyền nhiễm Các tác nhân gây bệnh có thể thâm nhập vào cơ thể con người thôngqua các cách thức như sau: qua da, niêm mạc, đường hô hấp, đường tiêu hóa

Đối với những bệnh nguy hiểm do virus gây ra như HIV/AIDS, viêm gan B hoặcviêm gan C, các nhân viên y tế đặc biệt là các điều dưỡng là những đối tượng có nguy cơnhiễm cao nhất, do họ phải thường xuyên tiếp xúc với những chất thải bị nhiễm máu hoặcchất tiết của bệnh nhân gây nên Các nhân viên khác và những người vận hành quản lý, xử

lý chất thải bệnh viện hoặc những người bới nhặt rác cũng có nguy cơ đáng kể [16]

1.1.4.2 Nguy cơ của chất thải sắc nhọn

CTYT sắc nhọn được coi là một loại rác rất nguy hiểm vì nó gây tổn thương kép,vừa gây tổn thương vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm qua các vết thương

mà chúng gây nên [50]

Trung tâm kiểm soát bệnh tật của Mỹ đã phát hiện 39 trường hợp mắc HIV/AIDSnghề nghiệp trong một năm, trong đó có 32 trường hợp bị bơm kim tiêm nhiễm khuẩnchọc qua da, 1 trường hợp do dao mổ cắt qua da, 1 trường hợp bị tổn thương do vỏ củaống thủy tinh Báo cáo cũng cho biết tình trạng nhiễm virus viêm gan B có liên quan đếncác tổn thương do vật sắc nhọn gây ra: nhóm điều dưỡng bị nhiễm viêm gan B do tổnthương do vật sắc nhọn là cao nhất (mỗi năm có 56 – 96 ca bị nhiễm viêm gan B trong số17.700 – 22.000 điều dưỡng bị tổn thương do vật sắc nhọn) Nhóm nhân viên vệ sinh bịnhiễm viêm gan B do tổn thương do vật sắc nhọn đứng thứ hai sau nhóm điều dưỡng (mỗinăm có 23 – 91 ca bị nhiễm viêm gan B trong số 11.700 – 45.300 nhân viên vệ sinh bị tổnthương do vật sắc nhọn) Các nhóm khác như bác sỹ, nha sỹ, nhân viên xét nghiệm bị

Trang 10

nhiễm viêm gan B do tổn thương do các vật sắc nhọn gây ra thấp hơn (dưới 15 người mỗinăm) [23]

Tại các quốc gia đang phát triển, các cơ sở y tế chủ yếu phân loại các chấtthải y tế nguy hại bằng tay nên người phân loại chất thải đối diện với nhiều nguy cơtrước mắt như nhiễm khuẩn, nhiễm độc khi bị thương bởi kim tiêm [50]

Báo cáo tại Hội thảo quốc gia về “Dự phòng tổn thương do các vật sắc nhọn cho nhân viên y tế” tại Hà Nội cho thấy, trung bình mỗi ngày bệnh viện Bạch Mai thải ra 50 -

65kg kim tiêm và vật sắc nhọn, 120 kg loại rác nguy hại và 200kg các loại rác khác Mỗitháng, bệnh viện đa khoa tư nhân Tràng An sử dụng 6.000 bơm tiêm, 600 kim tiêm, 150lưỡi dao, 150 kim khâu Số người làm việc liên quan đến việc sử dụng các vật sắc nhọn cónguy cơ bị tổn thương chiếm 55%, chủ yếu là điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý và một sốbác sĩ

Theo điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường tại bệnh viện ThanhNhàn, Trung tâm Y tế Đông Anh, bệnh viện Tràng An cho thấy tổn thương do vật sắcnhọn ở cán bộ y tế chiếm tỷ lệ rất cao Tỷ lệ này ở bệnh viện Thanh Nhàn là 68,7%, Trungtâm Y tế Đông Anh là 85,2% và bệnh viện Tràng An là 50% Công việc thu gom chất thải

bị tổn thương do vật sắc nhọn chiếm 9,8 - 10,8% [3]

1.1.4.3 Nguy cơ của các chất thải hóa học và dược phẩm

Trong y tế có nhiều loại hóa chất và dược phẩm độc dược, chất gây độc gen, chất

ăn mòn…là những mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người Các dược sỹ, bác sỹ gây mê,điều dưỡng, kỹ thuật viên, cán bộ hành chính có thể mắc các bệnh đường hô hấp, bệnhngoài da do tiếp xúc với các loại hóa chất dạng lỏng bay hơi, dạng phun sương và các dungdịch khác Ví dụ như nhiễm độc thủy ngân có thể gây thương tổn thần kinh với các triệuchứng run rẩy, khó diễn đạt, giảm sút trí nhớ, liệt, nghễnh ngãng, thao cuồng, thậm chí cóthể tử vong [10], [21]

Trang 11

Năm 2000, người ta xác định có 6 trẻ bị mắc bệnh đậu mùa nhẹ sau khi chơiđùa với các vỏ ống thủy tinh chứa vaccin đậu mùa nhặt từ bãi chôn rác tại thành phốVladivostok (Nga) Do vậy, cần lưu ý rằng mặc dù sự lây nhiễm không đe dọa đến

sự sống nhưng các ống chứa vaccin cần được xử lý trước khi thải bỏ [51]

Tại Việt Nam, hiện chưa có thống kê về mức độ phổ biến của bệnh tật gây ra docác chất thải hóa học hoặc dược phẩm từ các cơ sở y tế đối với cộng đồng, nhưng đã cónhiều trường hợp tổn thương hoặc ngộ độc liên quan đến việc xử lý các hóa chất và dượcphẩm không đảm bảo trong các cơ sở y tế [10]

1.1.4.4 Nguy cơ của chất thải phóng xạ

Các chất thải phóng xạ có thể gây hại cho sức khỏe con người do có khả năng gâyảnh hưởng đến chất liệu di truyền Ngoài ra, chất thải phóng xạ còn gây ra một loạt các

triệu chứng như đau đầu, hoa mắt chóng mặt và nôn nhiều Chất thải phóng xạ, cũng như

loại chất thải dược phẩm, là một loại độc hại gen, ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền Tiếpxúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao như các nguồn phóng xạ của các phương tiệnchẩn đoán (máy Xquang, máy chụp CT scaner ), có thể gây ra một loạt các tổn thươngchẳng hạn như phá huỷ các mô, từ đó phải phẫu thuật loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể ,ngoài ra còn làm biến dạng tinh trùng gây vô sinh ở nam giới Đặc biệt, có thể gây quáithai, sảy thai hoặc các dị tật bẩm sinh đối với thai nhi nếu người mẹ khi mang thai bị ảnhhưởng bởi chất phóng xạ

Các nguy cơ từ những loại chất thải có hoạt tính thấp có thể phát sinh do việcnhiễm xạ trên phạm vi bề mặt của vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời gian lưu giữloại chất thải này Các nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ thu gom và vậnchuyển chất thải y tế phải tiếp xúc với loại chất thải phóng xạ này là những người thuộcnhóm có nguy cơ cao [16]

Việc sử dụng nguồn phóng xạ trong y học và các ứng dụng khác rất phổ biếntrên toàn thế giới Đôi khi, cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải phóng xạ khôngđược thải bỏ an toàn có nguồn gốc từ việc điều trị bằng phóng xạ Người ta đã ghinhận được những trường hợp nghiêm trọng xảy ra ở Brasil vào năm 1988 (có 4người chết, 28 người bị bỏng xạ), tại Mexico và Morocco năm 1983, ở Algeri năm

1978 và Mexico năm 1962 [51]

Trang 12

1.1.5 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường

Đối với môi trường đất: Khi CTYT được chôn lấp không đúng thì các vi sinh vật

gây bệnh, hóa chất độc hại có thể ngấm vào đất gây nhiễm độc đất làm cho việc tái sửdụng bãi chôn lấp gặp khó khăn

Đối với môi trường không khí: Chất thải y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối

cùng đều gây ra những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn,thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi,hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại nhưdioxin, furan từ lò đốt và CH4, NH3, H2S từ bãi chôn lấp Theo thống kê của WHO, tìnhtrạng sử dụng lò đốt để xử lý CTYT khá phổ biến ở các nước đang phát triển Trong đónhiều lò đốt được sử dụng nhưng không có hệ thống xử lý khí thải hoặc nhiệt độ đốt thấpdưới 8000C làm phát thải dioxin, furan ra môi trường Các khí này nếu không được thu hồi

và xử lý sẽ gây ảnh hưởng tới môi trường sống từ đó tác động tới sức khỏe của cộng đồngdân cư [10]

Kết quả quan trắc môi trường tại một số bệnh viện khu vực phía Bắc cho biết có4,8% vị trí quan trắc gần khu bãi chứa rác có nồng độ bụi toàn phần cao hơn mức cho phép0,3 mg/m3 Chất lượng khí tại tất cả các vị trí thuộc khu vực lân cận bãi rác hoặc nhà tậpkết rác thải rắn của các bệnh viện chỉ đạt loại “Xấu” theo tiêu chuẩn Safir [2]

Đối với môi trường nước: Chất thải y tế chứa nhiều chất độc hại và tác nhân gây

bệnh có khả năng lây nhiễm cao như: Salmonella, Coliform, tụ cầu, liên cầu Nếu khôngđược xử lý trước khi thải bỏ vào hệ thống thoát nước chung thì có thể gây ô nhiễm nghiêmtrọng nguồn nước Ở Việt Nam, ô nhiễm nguồn nước là nguyên nhân gây nhiều bệnh nhưtiêu chảy, lỵ trực trùng, tả, thương hàn, viêm gan A, giun sán Các bệnh này gây suy dinhdưỡng, thiếu máu thiếu sắt…có thể dẫn tới tử vong, nhất là ở trẻ em [10]

1.1.6 Xử lý chất thải rắn y tế

* Nguyên tắc tiêu hủy rác thải y tế

- Yêu cầu xử lý CTRYT: CTRYT phải được xử lý theo quy định, mỗi loại chất

thải có những yêu cầu xử lý riêng nhưng toàn bộ CTRYT nguy hại đều phải được quản lý

và xử lý triệt để CTYT thông thường xử lý như rác thải sinh hoạt

Trang 13

- Yêu cầu chung xử lý CTRYT nguy hại: Không gây ô nhiễm thứ cấp, nằm

trong quy định chung về quản lý và xử lý chất thải, đảm bảo đúng quy định Luậtbảo vệ môi trường

* Công nghệ xử lý và tiêu huỷ

- Công nghệ thiêu đốt: Sử dụng năng lượng từ các nhiên liệu để đốt chất thải, có

thể xử lý được nhiều loại chất thải Phương pháp này làm giảm thiểu tối đa số lượng vàkhối lượng chất thải, đồng thời tiêu diệt hoàn toàn các mầm bệnh trong chất thải nhưng đòihỏi chi phí đầu tư ban đầu khá cao và chi phí vận hành, bảo dưỡng tương đối tốn kém

- Công nghệ khử khuẩn hoá học: Sử dụng một số hoá chất khử trùng (HClO,

NaClO…) để tiêu diệt các mầm bệnh làm cho chất thải được an toàn về mặt vi sinh vật.Phương pháp này có chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn, chi phí vận hành đắt tùy thuộc vàoloại hoá chất và có thể gây ô nhiễm do một số hoá chất dư

- Công nghệ xử lý nhiệt khô và hơi nước: Sử dụng nhiệt ẩm hoặc hấp khô để diệt

khuẩn ở nhiệt độ 121 - 160ºC

- Công nghệ vi sóng: Là một công nghệ mới, hiệu quả Chí phí đầu tư ban đầu

tương đối đắt nhưng xử lý bằng phương pháp này nhiều vật liệu có thể tái sử dụng

- Công nghệ chôn lấp: Chi phí đầu tư ban đầu thấp, chi phí vận hành rẻ nhưng chỉ

khi được phép và đảm bảo điều kiện tự nhiên như: diện tích rộng, đặc điểm thổ nhưỡng,đặc điểm nguồn nước ngầm, xa khu dân cư…

- Cố định chất thải: Cố định chất thải cùng với chất cố định như xi măng, vôi.

Thông thường hỗn hợp gồm rác thải y tế nguy hại 65%, vôi 15%, xi măng 15%, nước 5%được trộn nén thành khối [7]

* Các mô hình xử lý CTRYT tại các bệnh viện ở Việt Nam [17]

- Xử lý tập trung: Mô hình này áp dụng cho các bệnh viện trên địa bàn Hà

Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 64% Mô hình thu gom và xử lý tập trung tại

Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phát huy hiệu quả, tiết kiệm chi phí đầu tư vàvận hành, giảm ô nhiễm môi trường do đã trang bị thiết bị làm sạch khí thải lò đốt

- Lò đốt rác theo cụm bệnh viện: Hiện có 3 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế

là bệnh viện Trung ương Cần Thơ, bệnh viện đa khoa Trung ương Huế và bệnh viện

Trang 14

Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí có lò đốt tại bệnh viện Ngoài chức năng xử lýCTRYT cho bệnh viện mình còn xử lý CTRYT cho các bệnh viện khác trên địa bàn.

- Lò đốt tại chỗ: Trong số 36 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế chỉ

có 5 bệnh viện có lò đốt để xử lý CTRYT

1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

Theo WHO, để đạt được những mục tiêu trong quản lý chất thải nguy hại, các cơ

sở y tế cần phải có những hoạt động cần thiết cơ bản như:

- Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải tại bệnh viện (khối lượng, thành phần)

- Đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải

- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm

- Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải (nơi lưu giữ, màu sắc, đặcđiểm các túi, thùng thu gom, nhãn quy định…)

- Nhân viên phải được tập huấn có kiến thức về quản lý chất thải và các phươngtiện bảo hộ đảm bảo an toàn khi làm việc

- Các cơ sở y tế phải chịu trách nhiệm về các hoạt động quản lý chất thải

- Lựa chọn các biện pháp xử lý thích hợp [48]

Tùy vào điều kiện kinh tế xã hội, mức độ phát triển khoa học kỹ thuật, nhận thức

về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách quản lý, xử lý chất thải riêng

Các nước phát triển trên thế giới thường áp dụng đồng thời nhiều phương pháp để

xử lý chất thải rắn, trong đó có chất thải rắn nguy hại, xử lý chất thải rắn bằng các phươngpháp như đốt, xử lý cơ học, hoá/lý, sinh học, chôn lấp,… rất khác nhau ở mỗi quốc gia.Qua số liệu thống kê về xử lý chất thải rắn của một số nước trên thế giới cho thấy, NhậtBản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chất thải rắn có hiệu quả cao nhất (38%), sau đóđến Thụy Sỹ (33%), trong khi đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sửdụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%)… Các nước sử dụng phương pháp chônlấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong việc quản lý chất thải rắn là Phần Lan 84%, Thái Lan84%, Anh 83%, Liên bang Nga 80%, Tây Ban Nha 80% [33]

Tại Hồng Kông: Công nghệ chủ yếu là xử lý nhiệt và xử lý hóa/lý đã xử lý đượchầu hết lượng chất thải ngay tại Hồng Kông Nhờ hệ thống nghiền nhỏ để chôn lấp, hệthống kiểm soát việc chôn lấp, kiểm soát nơi thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất

Trang 15

thải, nhất là chất thải rắn nguy hại đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý chất thải nóichung và chất thải nguy hại nói riêng tại Hồng Kông [33].

Tại Hà Lan: Chất thải nguy hại được xử lý bằng nhiều cách khác nhau, trong đóphần lớn được thiêu hủy, một phần được tái chế Công nghệ xử lý chất thải nguy hại chủyếu được áp dụng là thiêu hủy, nhiệt năng Các chất thải được phân loại ngay từ nguồnphát sinh nhất là đối với chất thải nguy hại Việc thiêu hủy chất thải nguy hại được tiếnhành ở những lò đốt hiện đại với kỹ thuật mới nhất [33]

Phần lớn các nước đang phát triển không quản lý tốt CTYT, chưa có khả năngphân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải

Tại Zambia, năm 2003, Bộ Y tế đã tiến hành đánh giá công tác quản lý CTYT chothấy: công tác quản lý CTYT là thực sự tồi tệ và nghiêm trọng, nếu không có giải pháp vàcan thiệp thì đội ngũ nhân viên y tế, người bệnh, nhân viên thu gom chất thải và cả cộngđồng sẽ phải đối mặt với nguy cơ phơi nhiễm HIV, HBV, HCV là rất cao [45]

Tại Trung Quốc, với công nghệ tái chế phát triển đã tận dụng lại một phần đáng kểchất thải nguy hại, còn lại chất thải được thải vào nước và đất Biện pháp xử lý thôngthường là đưa vào các bãi rác hở, tuy nhiên có một số chôn lấp hợp vệ sinh [33]

Tại Ấn Độ, chất thải nguy hại chủ yếu được thải vào đất và nước, hoặc đổ tại chỗtại bãi rác công cộng Hiện nay đã đầu tư xây dựng trang thiết bị xử lý bằng phương phápchôn lấp [33]

Tại Philippin, chất thải nguy hại được đổ vào nước hay các bãi rác công cộng Hiệntại ở Philippin chưa có công trình xử lý chất thải nguy hại tập trung, một số ít chất thảiđược xử lý tại chỗ [33]

1.3 Tình hình quản lý chất thải y tế tại Việt Nam

1.3.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế

1.3.1.1 Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT

Công tác thu gom, lưu trữ CTRYT đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ươngđến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh viện khá cao

CTRYT phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế phần lớn đượcthu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằmngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải

Trang 16

đã được cấp phép Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do sở y tế quản lý,công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn chưa được chú trọng, đặc biệt côngtác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn [5].

Thống kê mức độ phân loại, thu gom chất thải trong các bệnh viện: Có 95,6% bệnhviện đã thực hiện phân loại rác thải trong đó có 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vậtsắc nhọn, vẫn còn hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thườngđược đưa vào CTYT nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý Có 63,3% bệnh viện sử dụngtúi nhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3% bệnh viện sử dụng túi có thành dày theođúng quy chế CTRYT đã được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên, các bệnhviện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bệnh viện có thùng đựngchất thải theo đúng Quy chế chủ yếu là bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh Hầu hếtcác bệnh viện (90,9%) chất thải rắn được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diệntích chật hẹp nên gặp khó khăn cho việc thiết kế lối đi riêng để vận chuyển chất thải Chỉ

có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển CTRYT nguy hại; 53,4% bệnhviện có mái che để lưu giữ chất thải rắn, trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo Quy chế

QLCTYT (Nguồn: Kết quả khảo sát 834 bệnh viện của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường năm 2006 và báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ năm 2007 – 2009).

Phương tiện thu gom chất thải thiếu, chưa đồng bộ và chưa đạt tiêu chuẩn Nguyênnhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do vậy mua sắm phương tiệnthu gom chất thải rắn đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khó khăn Tại đa số các bệnhviện của 5 thành phố là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh sử dụng thùngnhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác [5]

Kết quả đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử lý CTRYT tại 22 bệnh việntuyến trung ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc năm 2008 – 2009 cho biết: Chỉ

có 25% bệnh viện sử dụng túi đúng quy định về độ dầy và thể tích, 21% bệnh viện

sử dụng túi đựng rác có vạch báo và biểu tượng Có 72,2% bệnh viện sử dụng thùngđựng rác làm bằng vật liệu theo quy định (Vật liệu nhựa hoặc kim loại, thành dầy,cứng) Chỉ có 50% bệnh viện sử dụng thùng rác có nắp đậy và 27,3% bệnh viện sửdụng thùng có chân đạp để mở nắp Có rất ít bệnh viện sử dụng các thùng rác màuvàng và màu xanh Có 72,7% bệnh viện sử dụng hộp đựng chất thải sắc nhọn đảm

Trang 17

bảo không rò rỉ và vật liệu thiêu đốt được Số còn lại sử dụng dụng cụ tự tạo mà phổbiến là chai đựng dịch truyền và chai đựng nước uống Chỉ có 22,7% bệnh viện sửdụng xe chuyên dùng để vận chuyển chất thải và cũng có cùng tỷ lệ này đối với xe

có có nắp đậy kín Các bệnh viện đều có nhà lưu giữ rác thải và nằm riêng biệt, códiện tích phù hợp, có mái che và có khoá cửa, song hầu hết không đảm bảo ngănngừa loại gặm nhấm thâm nhập 50% bệnh viện có các buồng lưu giữ riêng chất thảinguy hại, chất thải thông thường và chất thải tái chế, trong đó tập trung chủ yếu ởbệnh viện tuyến trung ương (100%) Có rất ít bệnh viện có buồng lạnh hoặc nếu cóthì cũng không sử dụng và chỉ một số bệnh viện xây dựng hệ thống thoát nước riêngcho nhà lưu giữ CTRYT [2]

Theo báo cáo điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường trên toàn bộcác cơ sở thuộc hệ y tế dự phòng tại 63 tỉnh, thành phố năm 2009 cho biết có 50% cơ sở y

tế có thùng thu gom chất thải lây nhiễm màu vàng và tỷ lệ rất thấp có biểu tượngchất thải sinh học và các hướng dẫn khác trên thùng Công tác phân loại thu gomvận chuyển và xử lý CTRYT tại nhiều cơ sở y tế còn hạn chế, trên 80% cơ sở y tế

đã phân loại chất thải, vẫn còn để lẫn chất thải thông thường với CTRYT nguy hại

Đa số các cơ sở chưa có đường vận chuyển chất thải riêng Chỉ có 50% cơ sở y tế cóthời gian lưu giữ chất thải đúng quy định Nhà lưu giữ CTRYT còn để chung vớinhà lưu giữ chất thải sinh hoạt và vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của Quy chế quản

1.3.1.2 Thực trạng xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế

Trang 18

CTRYT không nguy hại hầu hết do công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển

và được xử lý tại các khu xử lý chất thải rắn tập trung của địa phương

Khối lượng CTRYT nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượngphát sinh CTRYT nguy hại trên toàn quốc CTRYT xử lý không đạt chuẩn là 32%

Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTRYT nguy hại tập trung tại khu xử lýchung Năm 2006 đã có hơn 500 lò đốt được lắp đặt tại các cơ sở y tế, tập trung chủ yếu ởcác thành phố lớn Tuy nhiên, trong số đó có tới hơn 33% số lò không được hoạt động donhiều lý do khác nhau [5]

Theo “Báo cáo tóm tắt kết quả quan trắc môi trường y tế khu vực miền Trung – Tây nguyên giai đoạn 2006 – 2010” của Viện Pasteur Nha Trang cho biết

năm 2006, chỉ có 8,3% bệnh viện có lò đốt CTRYT và 33,3% bệnh viện có phânloại CTRYT và vận chuyển CTRYT nguy hại đi đốt tại lò đốt chất thải y tế Năm

2008, có 41,7% bệnh viện không có lò đốt CTRYT hoặc lò đốt lạc hậu gây ô nhiễm,16,7% bệnh viện có nhà chứa chất thải y tế đạt chuẩn Năm 2009 có 7/14 bệnh việnkhông có hệ thống xử lý chất thải y tế riêng và lò đốt của một số đơn vị đã xuốngcấp nhiều Năm 2010, chỉ có 9/16 bệnh viện là có lò đốt đang hoạt động [2]

Đối với các bệnh viện, viện có giường bệnh: Có 33,9% bệnh viện xử lý CTRYT

bằng lò đốt; 39,2 bệnh viện hợp đồng với công ty môi trường đô thị thuê xử lý; 26,9%bệnh viện xử lý bằng thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện, chủyếu ở bệnh viện tuyến huyện và một vài bệnh viện chuyên khoa tại các tỉnh miền núi [26]

Đối với trạm y tế xã: Cả nước có 11.104 trạm y tế xã [26], tuy nhiên vấn đề

QLCTYT tại tuyến xã chưa được quan tâm và thực hiện Hầu hết các trạm y tế xã chưathực hiện xử lý CTYT trước khi thải bỏ Đa số các trạm y tế xã đều xử lý CTRYT bằngphương pháp thiêu đốt ngoài trời hoặc trong các lò đốt thủ công được xây dựng tại đơn vị,các chất thải khó thiêu đốt thì thường xử lý theo rác đô thị hoặc chôn lấp sơ sài, không đảmbảo vệ sinh Dụng cụ thu gom còn thiếu và chưa đúng quy định về màu sắc và chủng loại [9]

Đối với hệ y tế dự phòng và các viện nghiên cứu: Hiện có 1.016 cơ sở y tế dự

phòng tuyến trung ương, tỉnh, huyện [26] Chỉ có 17% TTYTDP sử dụng lò đốt thủ công

để xử lý CTRYT và 30% hợp đồng với bệnh viện trên địa bàn để xử lý [9]

Trang 19

Khối các trường đào tạo y, dược: Tính đến năm 2009, cả nước có 77 cơ sở đào

tạo y dược tuyến trung ương và tuyến tỉnh [26] Hoạt động của các cơ sở đào tạo y, dượccũng làm phát sinh CTYT, tuy nhiên các cơ sở mới chỉ thực hiện xử lý ban đầu hoặc chưa

xử lý CTYT, hầu hết không có hệ thống xử lý CTYT rắn và lỏng [9]

Khối các cơ sở sản xuất thuốc: Cả nước có 181 cơ sở sản xuất thuốc, trong đó có

91 cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP đều không có hệ thống xử lý chất thải, các cơ sở còn lại chưa

có số liệu thống kê báo cáo [9]

1.3.2 Quản lý chất thải rắn y tế tại Thành phố Hà Nội

Hiện nay, tại Hà Nội, khối lượng chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động y tế ngàycàng gia tăng do tốc độ phát triển dịch vụ từ các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường và ảnhhưởng tới sức khỏe cộng đồng

Theo Sở Y tế Hà Nội, trên địa bàn có gần 100 bệnh viện từ Trung ương đến địaphương và 29 TTYT quận, huyện, thị xã (45 phòng khám đa khoa khu vực, 4 nhà hộ sinh,

577 trạm y tế xã, phường thị trấn) Hàng ngày, các cơ sở y tế thải ra môi trường hàng trămtấn rác thải, trong đó có nhiều chất thải rắn nguy hại, gây ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng Qua kết quả kiểm tra của Chi cục Bảo vệ Môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường

Hà Nội) đối với hơn 50 bệnh viện, cơ sở y tế cho thấy, tổng khối lượng CTRYT phát sinh41,722 tấn/tháng Nguồn phát sinh CTRYT nguy hại chủ yếu từ các loại bao gói thuốcchữa bệnh, găng tay cao su, các phế thải phẫu thuật, gạc, bông băng, kim tiêm, ống dẫntruyền trong quá trình xét nghiệm, hoạt động thử nghiệm, hóa dược, phóng xạ [19]

Ước tính, lượng chất thải từ các bệnh viện tại Hà Nội chiếm 1,8% tổng số chất thảicủa toàn thành phố Trong đó, bình quân mỗi ngày một giường bệnh thải ra khoảng 2,27

kg CTRYT, đặc biệt có tới 25% là CTRYT nguy hại Hà Nội là một trong số 15 tỉnh cólượng chất thải y tế nguy hại lớn nhất trong cả nước và chỉ đứng hàng thứ 2, sau thành phố

Hồ Chí Minh [19]

Hiện có 92,5% bệnh viện, cơ sở y tế ký hợp đồng thu gom, vận chuyển CTRYT vớiCông ty Cổ phần môi trường đô thị và công nghiệp (URENCO) Tuy nhiên, việc xử lýCTRYT trên địa bàn Hà Nội đang gặp nhiều khó khăn do một số cơ sở chưa thực hiệnđúng quy định về QLCTYT Kinh phí cho các hoạt động xử lý CTYT còn hạn hẹp dẫnđến xử lý chậm Nhân lực làm công tác bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu,

Trang 20

hầu hết là kiêm nhiệm Các phương tiện thu gom CTYT nói chung, CTRYT nguy hại nóiriêng như: Túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ.Hoạt động vận chuyển CTRYT nguy hại, từ các bệnh viện, cơ sở y tế tới nơi xử lý, không

có các trang thiết bị che chắn, an toàn [19]

Sở Y tế Hà Nội đang thực hiện 5 dự án đầu tư cho hệ thống xử lý CTYT với tổngkinh phí 213 tỷ đồng Việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý CTYT tại các đơn vị sẽ thaythế dần các phương pháp xử lý chất thải thô sơ bằng những phương pháp công nghệ hiệnđại đảm bảo tiêu chuẩn, yêu cầu cần thiết về vệ sinh môi trường Hạn chế nguy cơ lây lanmầm bệnh, ô nhiễm môi trường, những tác động xấu đến môi trường sinh thái và sức khỏecộng đồng [29]

1.3.3 Một số thông tin về công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm

Gia Lâm là một huyện ngoại thành nằm ở phía Đông Bắc của Thành phố Hà Nội.Diện tích là 114km2, dân số là 253.643 người Huyện gồm có 20 xã và 2 thị trấn

TTYT huyện Gia Lâm gồm: 2 phòng nghiệp vụ (Phòng Kế hoạch nghiệp vụ

-Truyền thông giáo dục sức khoẻ, phòng Hành chính – Tổ chức – Tài vụ), 5 khoa chuyênmôn (Khoa Kiểm soát dịch bệnh, HIV/AIDS và các bệnh xã hội, khoa Chăm sóc sức khỏesinh sản, khoa Xét nghiệm, khoa Vệ sinh an toàn thực phẩm và khoa Y tế công cộng), 3Phòng khám đa khoa khu vực (Phòng khám Trâu Quỳ, phòng khám Yên Viên, phòngkhám Đa Tốn); 22 trạm y tế xã, thị trấn Tổng số cán bộ của Trung tâm là 294, trong đó có

34 bác sỹ, 69 y sỹ, 98 điều dưỡng, 35 hộ sinh, 8 kỹ thuật viên, 24 dược sỹ trung học, 3 hộ

lý, 23 cán bộ khác [39]

Một số chức năng, nhiệm vụ chính của Trung tâm Y tế Gia Lâm: Xây dựng kế

hoạch, triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, kỹ thuật về phòng chống dịch bệnh,HIV/AIDS, phòng chống các bệnh xã hội, tai nạn thương tích, sức khỏe lao động và bệnhnghề nghiệp, chăm sóc sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe môi trường, truyền thông giáo dụcsức khỏe… theo phân cấp và theo quy định của pháp luật; Tổ chức thực hiện cấp cứu,khám chữa bệnh ban đầu và khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại các phòng khám đa khoakhu vực và trạm y tế xã, thị trấn; Chỉ đạo hoạt động của trạm y tế xã, thị trấn thực hiện cácnhiệm vụ được giao trên địa bàn quản lý… [38]

Trang 21

Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm

Khoa Chăm sóc sức khoẻ sinh sản

Khoa Kiểm soát dịch bệnh, HIV/

AIDS

&

CBXH

Khoa An toàn vệ sinh thực phẩm

Khoa Xét nghiệm

3 Phòng khám đa khoa khu vực

22 Trạm

y tế xã, thị trấn

Ghi chú: Chỉ đạo trực tiếp từ cấp trên

Phối hợp chỉ đạo

Năm 2012, Trung tâm đã đạt được một số kết quả nổi bật sau:

- Chương trình tiêm chủng mở rộng: trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủđạt: 4.322/4.515 (94,68%), phụ nữ có thai tiêm phòng uốn ván: 4.591/4.800 (95,64%); phụ

nữ sinh năm 1997 được tiêm phòng uốn ván: 1.468/1.473 (99,7%); tiêm vác xin sởi bổsung cho trẻ em từ 1 – 6 tuổi: 4.299/4.555 (93,7%)

- Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi đạt16,5%; suy dinh dưỡng thể thiếu cân: 10,5% Vượt chỉ tiêu Sở Y tế Hà Nội giao

TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN GIA LÂM

Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm

Trang 22

- Công tác khám chữa bệnh: Tổng số lượt khám bệnh: 212.988, chụp X quang:13.731 lượt; Siêu âm: 10.678 ca ; Điện tim: 2.570; Xét nghiệm máu, nước tiểu: 117.585tiêu bản; Xét nghiệm đờm phát hiện lao mới: 1.700 lam; Xét nghiệm HIV: 1.950 ca trong

đó có 32 ca dương tính; Thu nhận, nhuộm soi: 520 lam kính sốt rét Cấp cứu: 3.348 ca tainạn thương tích; Nạo hút thai: 1.052 ca; Đỡ đẻ tại các trạm y tế: 594 ca [36], [38]

Với tính chất là cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu, nhưng các chất thải từ các phòngkhám, các khoa chuyên môn và các trạm y tế cũng mang tính chất nguy hại như chất thải

từ các bệnh viện, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về tình hình quản lý chất thải y tế tạituyến y tế cơ sở Qua một số khảo sát ban đầu tại huyện Gia Lâm, cho thấy mỗi phòngkhám đa khoa khu vực và các khoa trung bình mỗi ngày thải ra khoảng 2kg chất thải lâynhiễm, mỗi trạm y tế trung bình mỗi ngày thải ra khoảng 0,5kg chất thải lây nhiễm Nhưvậy, mỗi năm thải ra khoảng trên 6.000 kg chất thải lây nhiễm Trung tâm Y tế đã có quyđịnh về phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý CTYT tại các đơn vị và cũng đã ký hợpđồng với Công ty Urenco 10 từ năm 2005 để thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tếđặc biệt là chất thải lây nhiễm tại 3 phòng khám, năm 2011 vận chuyển 1.634 kg, năm

2012 vận chuyển 2.046 kg CTRYT[37]

Từ năm 2007 đến nay, 3 phòng khám đa khoa khu vực đều được xây dựng khangtrang, đủ các máy móc và các trang thiết bị y tế nhưng không được thiết kế và xây dựng hệthống lưu giữ và xử lý chất thải rắn y tế 22 trạm y tế xã, thị trấn được xây mới, sửa chữa,nâng cấp, cung ứng đủ các trang bị thiết bị thông thường và các máy móc phục vụ công táckhám chữa bệnh như máy siêu âm, doppler tim thai, xét nghiệm nước tiểu, sinh hóamáu… và đều được công nhận Chuẩn Quốc gia về y tế từ năm 2006, năm 2012 đề nghịcông nhận 5 xã đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã, nhưng hiện tại một số trạm y tế cơ sở

hạ tầng đã xuống cấp Các trạm y tế cũng đã được xây lò đốt rác bằng xi măng hoặc đượccấp lò đốt rác bằng kim loại Tuy nhiên, một số lò đốt rác cũng đã vỡ, hỏng hoặc han gỉ,công suất và hiệu quả sử dụng chưa đạt yêu cầu, một số lò đốt rác được xây dựng hoặc lắpđặt ở những vị trí không thuận lợi nên việc xử lý, thiêu huỷ chất thải y tế chưa đúng quyđịnh Các dụng cụ thu gom, chứa đựng rác do Trung tâm trang bị nhưng cũng chưa theo quyđịnh của Quy chế Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế [37]

Trang 23

Thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêuchí Quốc gia y tế xã giai đoạn 2011 – 2020, kế hoạch của Uỷ ban nhân dân thành phố HàNội, Sở Y tế Hà Nội, Uỷ ban nhân dân huyện Gia Lâm và Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm,phấn đấu đến năm 2018, 100% số xã, thị trấn sẽ đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã giaiđoạn 2011 - 2020, các trạm y tế xã, thị trấn, các phòng khám đa khoa khu vực đang đượcđầu tư, xây mới và sửa chữa, nâng cấp cơ sở hạ tầng Năm 2012, phòng khám Yên Viên

và 3 trạm y tế được xây mới toàn bộ, một số trạm y tế được cải tạo và sửa chữa Hiện tại, 3phòng khám đa khoa khu vực đã được lắp đặt hệ thống xử lý chất thải lỏng Năm 2012,việc thực hiện quy trình phân loại, thu gom và xử lý CTRYT được Sở Y tế Hà Nội đưavào bảng điểm kiểm tra, đánh giá công tác y tế tại các trung tâm y tế [38], [37], [39], [40].Qua đó, chứng tỏ công tác quản lý CTYT đã và đang được các cấp chính quyền quan tâm

và chú trọng nên việc triển khai nghiên cứu về công tác quản lý CTYT sẽ nhận được sựquan tâm của các cấp chính quyền và kết quả nghiên cứu sẽ giúp Trung tâm Y tế huyệnGia Lâm có chiến lược phù hợp hơn để triển khai công tác quản lý CTYT trên địa bàn

1.4 Một số nghiên cứu về quản lý chất thải y tế

1.4.1 Nghiên cứu về chất thải y tế trên Thế giới

Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là cácnước phát triển như: Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada… các công trình nghiên cứu quantâm đến nhiều lĩnh vực như QLCTYT (biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái sửdụng, các phương pháp xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chấtthải), tác hại của CTYT đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của CTYT vàphòng chống tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng…[20], [23] [30] [31] Gầnđây nghiên cứu về CTYT được quan tâm ở nhiều khía cạnh:

- Sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn đối với sức khỏe cộng đồng

- Ảnh hưởng của CTYT đối với việc lan truyền bệnh dịch trong và ngoài bệnh viện

- Những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT

- Chất thải y tế nhiễm xạ với sức khỏe

- Tổn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và nhân viên thu gom chất thải,nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu gom chất thải, vệsinh viên và cộng đồng

Trang 24

- Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế.

Năm 2004, WHO đánh giá có 18 – 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chấtthải đúng cách 50% số bệnh viện vận chuyển chất thải đi qua khu vực bệnh nhân và khôngđựng trong xe thùng có nắp đậy [47]

Năm 2009, Birpinar và cộng sự phân tích hiện trạng QLCTYT theo Quy chếQLCTYT ở Istanbul, Turkey cho biết vật liệu tái chế được phân loại riêng đạt 83%.Phân loại CTRYT khác nhau luôn được thực hiện, 25% các bệnh viện trang bị cácphương tiện không phù hợp, 63% các bệnh viện có kho lưu trữ tạm thời [43]

Cũng vào năm 2009, nghiên cứu của Yong và Guanxing, Tao và Dawei ởNam Kinh, Trung Quốc, cho thấy 73% bệnh viện thực hiện phân loại CTYT 93,3%bệnh viện có khu vực lưu trữ CTYT tạm thời Chỉ có 20% bệnh viện phổ biến quychế quản lý CTYT, CTRYT được xử lý bằng hệ thống xử lý tập trung đã được xâydựng dựa trên công nghệ đốt 77% số NVYT cho rằng QLCTYT là một yếu tố quantrọng trong việc lựa chọn các dịch vụ bệnh viện [52]

Năm 2010, Ferdowsi M, Ferdosi A, Mechrani, Narenjkar P ở Tabriz, Irannghiên cứu tầm quan trọng của vấn đề quản lý chất thải tại các bệnh viện củaIstanbul để có thể kích thích cho các hoạt động kiểm soát hệ thống xử lý CTYT Kếtquả là hầu hết các bệnh viện không xử lý chất thải Các bệnh viện thu gom rác thải

và hợp đồng với các dịch đô thị vận chuyển chất thải hai ngày mỗi lần Các bệnhviện có hệ thống phân loại tại nguồn để tách các chất thải lây nhiễm và chất thảikhông lây nhiễm Tuy nhiên, không thực hiện xử lý các chất thải mà chôn trong mộtbãi rác ở Zainal gần Isfahan Chỉ có một lò đốt rác thải hoạt động trong bệnh việnFatemeh Zahra Chất thải lây nhiễm được phân loại khỏi các chất thải khác ở tất cảcác bệnh viện Thùng đựng rác đều phù hợp, đầy đủ và được lưu giữ tại các địađiểm thích hợp ở hầu hết các bệnh viện [44]

1.4.2 Một số kết quả nghiên cứu gần đây về quản lý CTRYT ở Việt Nam

Năm 2002, Trần Duy Tạo nghiên cứu “Đánh giá thực trạng, quản lý và ảnh hưởng của chất thải y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ lên môi trường xung quanh”

cho biết quá trình thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý CTRYT không hợp vệ sinh và chưađúng quy định của Bộ Y tế, chỉ có 15,6% số NVYT có kiến thức phân loại đúng CTYT;

Trang 25

43,8% NVYT không biết về xử lý CTYT Chất thải phát sinh hàng ngày được thu gomnhưng chỉ có một số khoa phân loại ngay sau khi thu gom Vận chuyển bằng xách tay mỗingày 1 lần và phải đi qua các khoa khác để đến nơi lưu giữ Nơi lưu giữ là hố đất đào ngaysau bệnh viện, không tách biệt với môi trường xung quanh, không có hàng rào bảo vệ.Thời gian lưu giữ chung là 3 ngày Xử lý chung với chất thải sinh hoạt và thiêu đốt ngaytrong hố, sau thiêu đốt không chôn lấp mà lại tiếp tục vận chuyển chất thải mới đến [31].

Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu “Đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi” cho biết chỉ có

9,4% NVYT ở bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và 22,2% NVYT ở bệnh viện đa khoaQuảng Ngãi biết phân loại đúng CTRYT Dụng cụ đựng rác không có đủ mã màu quyđịnh, thu gom và phân loại của cả 2 bệnh viện đều chưa đúng quy định Nơi lưu giữ chấtthải cũng không có mái che, không có hàng rào bảo vệ Chất thải giải phẫu chôn lấp 2 lần/ngày, các chất thải khác ký hợp đồng với Công ty Môi trường đô thị [20]

Nghiên cứu về “Thực trạng quản lý chất thải y tế, kiến thức về quản lý chất thải y tế của nhân viên trạm y tế xã tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2004” của Vũ Quốc Hải cho thấy 100% các trạm y tế không có đủ dụng cụ

đựng chất thải đạt tiêu chuẩn và có tới 94,4% CTRYT không được phân loại đúngngay khi phát sinh 26,7% NVYT hiểu biết không đúng về thu gom, bảo quản, vậnchuyển, xử lý CTRYT 50% NVYT chưa hiểu biết về tiêu chuẩn bao bì đựng chấtthải 80% NVYT không biết cần lưu giữ riêng chất thải sinh hoạt với chất thải y tế.41,9% NVYT không biết yêu cầu về nơi lưu giữ rác 45,3% NVYT không biết thờigian lưu giữ chất thải tại trạm 98,8% NVYT chưa được đào tạo về QLCT [13]

Năm 2007, kết quả nghiên cứu của Đào Ngọc Phong “Mô tả thực trạng ô nhiễm môi trường do chất thải y tế, các giải pháp xử lý chất thải y tế và triển khai

mô hình quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện, trung tâm y tế huyện”, đưa ra

nhiều kết luận về thực trạng QLCTYT, tình hình ô nhiễm môi trường bệnh viện vàcác kết quả áp dụng mô hình QLCTYT tại các bệnh viện tuyến huyện [24]

Năm 2007, kết quả nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm về: “Thực trạng quản lý, ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường trong các bệnh viện huyện tỉnh Hải Dương” cho biết có 8/11 bệnh viện có màu sắc của túi, thùng đựng rác không đúng quy

Trang 26

định, 4/11 bệnh viện để chung rác lâm sàng với rác sinh hoạt, 9/11 bệnh viện có thời gianlưu giữ chất thải lâm sàng quá quy định, 4/11 bệnh viện xử lý chất thải lâm sàng khôngđảm bảo vệ sinh và chỉ có 4/11 bệnh viện huyện xử lý rác bằng lò đốt rác thủ công hoặc lòđốt chuyên dụng NVYT biết được quy định màu sắc túi, hộp, thùng đựng CTYT là60,1%, biết đủ 5 loại chất thải là 55,1%, tỷ lệ NVYT không biết biện pháp xử lý chất thải y

tế còn cao: chất thải lâm sàng (26,7%), chất thải hóa học không nguy hại (40,4%), chất thảihóa học nguy hại (65,2%), chất thải bình khí (32,3%)[30]

Nghiên cứu về: “Kiến thức, thái độ, hành vi của nhân viên y tế trong thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Nhi Đồng 2 năm 2008” cho biết có 79,5%

NVYT có kiến thức tổng quát; 96% có kiến thức phân loại; 97,9% có kiến thức thu gom;95,6% có kiến thức vận chuyển; 38,2% có kiến thức lưu trữ; 83,1% có thái độ đúng và82,9% có hành vi đúng [22]

Nghiên cứu về “Đánh giá nhận thức, thái độ của điều dưỡng đối với việc thu gom, phân loại chất thải y tế tại 6 bệnh viện khu vực thành phố Nam Định”

của Tống Vĩnh Phú và cộng sự, kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đúng vềđịnh nghĩa CTYT là 50,3%, điều dưỡng có kiến thức đúng về CTYT nguy hại nguy hại

là 81,5 %, điều dưỡng các bệnh viện trả lời đúng về phân loại CTYT và chất thảilâm sàng là 69,7%, về thời gian lưu giữ tối đa CTYT nguy hại trong bệnh viện đạt

tỷ lệ 34,29%, kiến thức về phương pháp thiêu huỷ CTYT nguy hại 3,43% [27]

Năm 2008 – 2009, Nguyễn Duy Bảo và các cộng sự đã nghiên cứu “Thực trạng môi trường và hoạt động quản lý chất thải y tế của 22 bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc”, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng công tác quản lý,

xử lý CTRYT đã được các bệnh viện quan tâm và thực hiện nghiêm túc theo Quy chế Saiphạm phổ biến nhất là sử dụng các túi, thùng đựng rác không đúng quy định 50% bệnhviện có buồng lưu giữ chất thải riêng, tập trung ở bệnh viện tuyến trung ương Tuy nhiên,còn phổ biến tình trạng thực hiện không đúng về mặt kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế,nguyên nhân chủ yếu được cho là thiếu nguồn cung cấp dụng cụ, thiết bị chuyên dụng,vướng mắc về kinh phí (thiếu nguồn kinh phí hoặc cơ chế sử dụng kinh phí chưa rõ ràng).Phương pháp thiêu đốt còn nhiều bất cập về môi trường và kỹ thuật, nhất là đối với bệnhviện tuyến huyện [2]

Trang 27

Năm 2009, Hoàng Thị Liên đã tiến hành “Nghiên cứu thực trạng và một số yếu

tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên”

cho biết CTYT được phân nhóm theo quy định của BYT, đặc biệt đã phân loại chất thải

sắc nhọn trong nhóm chất thải lây nhiễm Chất lượng hoạt động phân loại, thu gom, vậnchuyển, lưu giữ CTRYT đạt mức độ trung bình từ 51,9 – 63% Chất lượng hoạt động xử lýchất thải rắn đạt kết quả tốt (95,7%) 77,1% NVYT và vệ sinh viên được tập huấn về quychế QLCTYT trong đó chỉ có 12% vệ sinh viên có kiến thức tốt về phân loại chất thải;99,6% NVYT và vệ sinh viên thực hành phân loại CTYT tại nguồn phát sinh [18]

Nghiên cứu về “Thực trạng phát sinh chất thải, kiến thức và thực hành của nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Bạch Mai, năm 2010” của

Nguyễn Việt Hùng và Nguyễn Quốc Anh cho biết: Tỷ lệ các túi chất thải phân loại sai vàthu gom sai là 18,5% và 11,5% Tỷ lệ chất thải lây nhiễm bị phân loại sai là 41,6% Tỷ lệchất thải sắc nhọn thu gom sai là 20,2% 58,2% không buộc kín miệng túi chất thải thôngthường Với bộ câu hỏi về kiến thức CTRYT, NVYT đạt 71,3 ±14,6 tổng điểm tối đatrong khi đó nhóm nhân viên thu gom, vận chuyển chất thải chỉ đạt 59,5 ± 66,7 điểm [15]

Mới đây, nghiên cứu của Hoàng Giang về “Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, năm 2011” cho biết, bệnh viện Việt Đức có đủ

phương tiện, dụng cụ thu gom, 87% túi, thùng đủ mã màu sắc theo quy định, 100% không

có hộp đựng chất thải sắc nhọn đúng quy định 2/15 khoa có số lượng chất thải thu gomquá quy định 8/15 khoa không có đường vận chuyển chất thải riêng biệt, 7/15 khoa xe vậnchuyển không đúng quy định, 10/15 kho lưu giữ chất thải tạm thời tại các khoa không đạttiêu chuẩn 60% NVYT đạt kiến thức về phân loại, 64% NVYT biết phân loại đúng cácchất thải thông thường, lây nhiễm, tái chế Kiến thức của NVYT về lưu giữ khá tốt [12]

Nghiên cứu về “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của cán bộ các trạm y tế trên địa bàn Thành phố Việt Trì năm 2011” của Đinh Quang

Tuấn cho biết chỉ có 30,4% trạm y tế đạt yêu cầu quản lý CTRYT, từng bước trong quytrình quản lý gồm: phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý có tỷ lệ đạt yêu cầutương ứng là: 39,1%; 43,5%; 82,6%; 65,2% Chỉ có 43,5% số trạm y tế có đủ dụng cụchứa đựng CTRYT đúng quy định 24,5% NVYT có kiến thức đầy đủ về QLCTRYT Tỷ

Trang 28

lệ đạt các kiến thức về phân loại, thu gom, vận chuyển – lưu giữ và xử lý chất thải lần lượt

là 86,8%, kiến thức chung về phân loại chất thải là 63,2% trong đó kiến thức về các nhómchất thải và chất thải lây nhiễm rất thấp, chỉ đạt 27,2% và 54,4% Kiến thức chung về thugom, vận chuyển, lưu giữ lần lượt là 48,5%; 96,3%; 75,4% Thiếu kinh phí là yếu tố chínhảnh hưởng đến công tác quản lý CTRYT [34]

Tóm lại, các nghiên cứu về thực trạng quản lý CTRYT chủ yếu tập trung nghiêncứu ở các bệnh viện, chỉ có rất ít nghiên cứu về thực trạng quản lý chất thải rắn y tế thuộc

hệ y tế dự phòng nói chung và tại tuyến y tế cơ sở nói riêng, nếu có cũng chỉ nghiên cứu tạicác trạm y tế chứ chưa có nghiên cứu nào tiến hành một cách toàn diện tại tuyến y tế cơ sởgồm các khoa, các phòng khám đa khoa khu vực và các trạm y tế

Trang 29

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải gồm: Dụng cụ, phương tiện phânloại, thu gom, vận chuyển, khu vực lưu giữ, xử lý CTRYT

- Chất thải rắn y tế của 3 khoa (Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản, khoa Kiểm soátdịch bệnh, phòng chống HIV/AIDS và các bệnh xã hội, khoa xét nghiệm), 3 phòng khám

đa khoa khu vực (Phòng khám Trâu Quỳ, phòng khám Yên Viên, phòng khám Đa Tốn),

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 2 năm 2013 đến tháng 6 năm 2013.

- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Y tế Huyện Gia Lâm, Hà Nội

Khối TTYT: gồm 3 khoa (Khoa Kiểm soát dịch bệnh, HIV/AIDS và các bệnh xãhội, khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản, khoa Xét nghiệm), 3 phòng khám đa khoa khu vực:(Phòng khám Trâu Quỳ, phòng khám Đa Tốn, phòng khám Yên Viên)

Khối TYT: gồm 22 trạm y tế xã, thị trấn

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Chọn mẫu định lượng:

Cỡ mẫu cho quan sát thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lýchất thải: chọn quan sát toàn bộ các khoa, phòng khám, trạm y tế Mỗi khoa, phòng khám,trạm y tế quan sát tại tất cả các phòng có liên quan trực tiếp đến việc QLCTRYT và quansát trong 1 ngày (các khoa, phòng khám: quan sát 4 khâu đầu trong quy trình là phân loại,thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT Các trạm y tế quan sát ngoài 4 khâu đầu còn quan

Trang 30

sát thêm khâu xử lý CTRYT) Tổng số lượt quan sát là 61 (Khối TTYT có 17 lượt quansát, khối TYT có 44 lượt quan sát).

Cỡ mẫu đánh giá kiến thức nhân viên y tế gồm toan bộ điều dưỡng, hộ sinh ngoàinhiệm vụ chuyên môn họ còn có chức trách, nhiệm vụ nữa là phải thường xuyên, trực tiếptham gia vào công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa, phòng khám, trạm y tế nơi họđang công tác và có trong danh sách của Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm đến tháng 12năm 2012 Tổng số: 124 (Khối TTYT: 40 điều dưỡng, hộ sinh; khối TYT: 84 điều dưỡng,

hộ sinh) (Phụ lục 13)

- Chọn mẫu định tính: Chọn mẫu có chủ đích.

Tiến hành 8 cuộc phỏng vấn sâu và 2 cuộc thảo luận nhóm:

+ Phỏng vấn sâu (PVS) được thực hiện với đối tượng được chọn mẫu có chủ đíchđại diện cho các nhóm: Lãnh đạo Trung tâm Y tế, lãnh đạo và nhân viên của các khoa,phòng khám và trạm y tế Cụ thể:

Khối TTYT: 5 cán bộ y tế gồm lãnh đạo TTYT, điều dưỡng trưởng TTYT, trưởng

phòng khám, điều dưỡng trưởng phòng khám và hộ lý phòng khám

Khối TYT: 3 cán bộ y tế gồm trưởng trạm y tế, điều dưỡng và hộ sinh trạm y tế).

+ Thảo luận nhóm (TLN):

- Thảo luận nhóm của điều dưỡng trưởng 3 phòng khám và 3 khoa

- Thảo luận nhóm của điều dưỡng trưởng 22 trạm y tế xã, thị trấn

- Đối tượng loại trừ:

Những nhân viên từ chối tham gia nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Số liệu định lượng:

- Quan sát trực tiếp:

Sử dụng bảng kiểm để đánh giá thực trạng quản lý CTRYT của các khoa, phòngkhám đa khoa khu vực, trạm y tế xã, thị trấn Nội dung bảng kiểm được xây dựng dựa trênquy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế

Tiến hành quan sát kín đáo, không để cho nhân viên của các cơ sở y tế biết Quansát lồng ghép với giám sát công tác kiểm soát nhiễm khuẩn và thực hiện các chương trình

Trang 31

y tế Mỗi khoa, phòng khám, trạm y tế quan sát trong 1 ngày và tiến hành quan sát đồngthời tại các phòng buồng có phát sinh chất thải rắn y tế của mỗi khoa, phòng khám, trạm y

tế đó

* Quan sát thực trạng phân loại, thu gom chất thải rắn: Buổi sáng 8h00 – 10h30,

buổi chiều 14h – 16h30, thời gian mỗi quan sát từ 30 – 40 phút Vị trí quan sát:

Khoa Kiểm soát dịch bệnh, HIV/ADS và các bệnh xã hội: Quan sát tại phòngTiêm chủng mở rộng (1 quan sát)

Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản: Quan sát tại phòng Kế hoạch hóa gia đình tại

03 địa điểm đặt tại 3 phòng khám Trâu Quỳ, Yên Viên, Đa Tốn (3 quan sát)

Khoa Xét nghiệm: Quan sát tại Labo xét nghiệm bệnh phẩm (1 quan sát)

Phòng khám Yên Viên: Quan sát tại phòng Cấp cứu, Phòng Thủ thuật, phòng Xétnghiệm (3 quan sát)

22 trạm y tế: Quan sát tại phòng Cấp cứu – Thủ thuật, Phòng Đẻ - Kế hoạch hóagia đình (44 quan sát)

* Quan sát vận chuyển chất thải:

Thời gian quan sát: Sáng: 11h – 11h30; Chiều: 16h30 – 17h

Các khoa, phòng khám: Cuối hành lang các phòng khám, khoa và lối đi ra khuvực lưu giữ chất thải

Trạm y tế: Lối đi giao nhau giữa sân và lối đi ra khu vực lưu giữ chất thải

* Quan sát lưu giữ chất thải: Tại khu vực lưu giữ chất thải của các phòng khám,khoa và các trạm y tế

* Quan sát xử lý chất thải: tại khu vực xử lý chất thải của các trạm y tế

Người quan sát: Điều tra viên

Công cụ: Bảng kiểm (Phụ lục 2)

Trang 32

- Đánh giá kiến thức của nhân viên y tế:

Bằng phương pháp phát vấn, sử dụng bộ câu hỏi tự điền Nội dung các câu hỏiđược thiết kế xây dựng dựa trên Quy chế quản lý CTYT của Bộ Y tế có tính đến sự phùhợp thực tế đối với hoạt động y tế trên địa bàn qua thảo luận với lãnh đạo TTYT Gia Lâm

Người thực hiện: Điều tra viên

Công cụ: Phiếu điều tra kiến thức (Phụ lục 3)

2.5.2 Số liệu định tính:

Nghiên cứu viên tiến hành 8 cuộc phỏng vấn sâu gồm lãnh đạo TTYT Gia Lâm(Phụ lục 4), điều dưỡng trưởng TTYT (Phụ lục 5), trưởng phòng khám đa khoa khu vực(Phụ lục 6), điều dưỡng trưởng phòng khám đa khoa khu vực (Phụ lục 7), hộ lý phòngkhám đa khoa khu vực (Phụ lục 8), trưởng trạm y tế (Phụ lục 9), điều dưỡng trạm y tế và

hộ sinh trạm y tế (Phụ lục 10) Tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm điều dưỡng trưởng khốitrung tâm y tế và thảo luận nhóm điều dưỡng trưởng trạm y tế (Phụ lục 11) Nội dung chủyếu trong các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm là thực trạng QLCTRYT, khó khăn,thuận lợi, các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp khắc phục, kiến nghị

Người phỏng vấn: Nghiên cứu viên

Người thảo luận nhóm: Nghiên cứu viên, có sự hỗ trợ của nhân viên y tế phòng

Kế hoạch nghiệp vụ - Truyền thông Giáo dục sức khỏe (Tổ chức và thư ký cho các cuộcthảo luận)

Thời gian phỏng vấn: mỗi người 30 – 60 phút

Thời gian thảo luận nhóm: 60 – 90 phút

Công cụ hỗ trợ: Máy ghi âm, biên bản ghi chép.

2.6 Phương pháp phân tích số liệu

- Số liệu định lượng: Số liệu được nhập, làm sạch bằng phần mềm Epidata 3.1 và

phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Áp dụng các thuật toán thống kê mô tả và thống kêphân tích, sử dụng kiểm định Khi bình phương để kiểm định các yếu tố liên quan

- Thông tin định tính: Phân tích theo chủ đề

2.7 Các biến số nghiên cứu

Trang 33

Biến số về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý

biến

Phương pháp thu thập A1 Dụng cụ, bao bì đựng, vận chuyển chất thải rắn y tế

Nhị phân Quan sát,

phỏng vấn

Trang 34

sinh quá trình thực hiện các thủ

Lượng chất thải không vượt quá

¾ túi tính từ đáy tới miệng túi Nhị phân Quan sát

A4 Vận chuyển chất thải rắn y tế

13 Vận chuyển

chất thải

Là quá trình chuyên chở chấtthải từ nơi phát sinh, tới nơi xử

lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy

Các khoa vận chuyển CTRYT

về khu lưu giữ ít nhất 1lần/ngày

A5 Lưu giữ chất thải rắn y tế

16 Lưu giữ chất

thải

Là quá trình giữ lại chất thải từcác khoa, phòng, trạm y tế kể từkhi phát sinh đến khi được xửlý

Nhị phân

Quan sát,phỏngvấn

Nhị phân Quan sát

Trang 35

riêng biệt trung của cơ sở y tế.

18

Thời gian lưu

giữ chất thải tại

khoa, phòng

đúng quy định

Chất thải được lưu giữ khôngquá 24 giờ, tính từ khi chất thảiphát sinh đến khi được vậnchuyển về khu lưu giữ

Nhị phân Quan sát

19

Thời gian lưu

giữ chất thải tại

khu tập trung

đúng quy định

Chất thải được lưu giữ khôngquá 48 giờ, tính từ khi chất thảiphát sinh đến khi được tiêu hủy Nhị phân

Quan sát,phỏngvấn

A6 Xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế

20 Xử lý và tiêu

hủy

Là quá trình sử dụng các côngnghệ nhằm làm mất khả nănggây nguy hại của chất thải đốivới sức khỏe con người và môitrường

Nhị phân

Quan sátbảngkiểm

21 Mô hình xử lý

CTRYT

Là các mô hình xử lý, tiêu hủyCTRYT nguy hại đang được ápdụng tại TTYT

Danhmục Quan sát

Danhmục Quan sát

Danhmục

Bảngkiểm

Danhmục

Bảngkiểm

Danhmục

Bảngkiểm

Nhóm biến số thông tin chung, kiến thức của đối tượng nghiên cứu

Trang 36

loại biến pháp thu

thập Phần 1 THÔNG TIN CHUNG

Là số tuổi của đối tượng tínhtheo năm dương lịch đến năm2013

Rời rạc

Bộ câuhỏi tựđiền

Là giới tính nam hay nữ của đốitượng trả lời phỏng vấn Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền

3 Nghề nghiệp Là lĩnh vực chuyên môn được

căn cứ để trả lương

Địnhdanh

Bộ câuhỏi tựđiền

4 Trình độ chuyên

môn

Là bằng cấp chuyên môn caonhất là căn cứ để xếp ngạchlương

Địnhdanh

Bộ câuhỏi tựđiền

5 Số năm công tác

Thời gian tính từ lúc bắt đầulàm việc trong lĩnh vực chuyênmôn đến nay

Rời rạc

Bộ câuhỏi tựđiền

6 Đối tượng lao

động

Là hình thức tuyển dụng củaTrung tâm đối với ĐTPV Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền7

Phần 2 KIẾN THỨC VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền

9 Kiến thức về các Là sự hiểu biết đầy đủ của Bộ câu

Trang 37

nhóm chất thải

ĐTNC về 5 loại chất thải như:

chất thải lây nhiễm, chất thảihóa học nguy hại, chất thảiphóng xạ, chất thải bình chứa

áp suất, chất thải thông thường

Nhị phân

hỏi tựđiền

Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền

12 Kiến thức về thu

gom CTRYT

Là sự hiểu biết của ĐTNC vềquá trình tập hợp, đóng gói vàlưu giữ tạm thời CTYT

Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền13

14 Kiến thức về số

lượng chất thải

Là sự hiểu biết của ĐTNC vềkhối lượng chất thải trong túinilon cần thu gom

Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền

15 Kiến thức về tần

suất thu gom

Là sự hiểu biết của ĐTNC về sốlần thu gom trong ngày Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền

Bộ câuhỏi tựđiền

Trang 38

cụ quy định trong các dụng cụ tương ứng

19 Kiến thức về tần

suất vận chuyển

Là sự hiểu biết của ĐTNC về sốlần vận chuyển CTYT về nơilưu giữ trong ngày

Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền

Trang 39

Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền

Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền

Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền

Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền

24 Kiến thức về nơi

lưu giữ chất thải

Là sự hiểu biết của ĐTNC về vịtrí lưu giữ các loại chất thải Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền25

Nhị phân

Bộ câuhỏi tựđiền

Cách tính điểm quan sát:

Trang 40

Dựa vào mức độ quan trọng của các tiêu chí trong Quy chế quản lý chất thải

y tế để tính điểm Trong nghiên cứu này, đánh giá mức độ quan trọng của các tiêuchí theo 2 mức là “rất quan trọng” và “quan trọng”

Mỗi quan sát đúng và rất quan trọng được 2 điểm Mỗi quan sát đúng vàquan trọng khác được 1 điểm Có một số quan sát không được tính điểm Quan sátthấy khác với quy trình được 0 điểm Biến tổ hợp được xem là “Đạt yêu cầu” khitổng điểm đạt từ 50% trở lên

- Biến dụng cụ, bao bì đựng, vận chuyển CTRYT có 10 câu hỏi Tổng điểm

là 14, điểm đạt từ 7 điểm trở lên

- Biến phân loại chất thải có 11 câu hỏi, tổng điểm là 12, điểm đạt từ 6 điểmtrở lên

- Biến thu gom chất thải có 3 câu hỏi, tổng điểm là 5, điểm đạt từ 3 điểm trởlên

- Biến vận chuyển chất thải có 5 câu hỏi, tổng điểm là 9, điểm đạt từ 5 điểmtrở lên

- Biến lưu giữ chất thải có 3 câu hỏi, tổng điểm là 5, điểm đạt là từ 3 điểmtrở lên

- Biến xử lý và tiêu hủy chất thải (chỉ áp dụng cho khối trạm y tế), có 7 câuhỏi, tổng điểm là 12, điểm đạt từ 6 điểm trở lên

Mỗi vị trí quan sát đạt yêu cầu quản lý CTRYT khi tất cả các biến tổ hợp chokết quả đạt tại vị trí quan sát đó (Riêng quan sát phần xử lý chất thải, do khốiTTYT không xử lý mà ký hợp đồng với Công ty Urenco 10 nên khi đánh giá kếtquả quản lý chất thải chung, khối TTYT được coi là đạt)

Cách tính điểm kiến thức:

Mỗi câu trả lời đúng và rất quan trọng được 2 điểm Các câu còn lại đúng vàquan trọng được 1 điểm Trả lời sai hoặc trả lời không đầy đủ được 0 điểm Biến tổhợp được xem là “Đạt yêu cầu” khi tổng điểm đạt từ 50% trở lên

- Biến kiến thức phân loại CTRYT có 9 câu hỏi, tổng điểm là 13, điểm đạt là

7 điểm trở lên

Ngày đăng: 22/09/2014, 09:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Sơ đồ t ổ chức bộ máy của Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm (Trang 21)
Bảng 3.2. Phân loại chất thải rắn y tế - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.2. Phân loại chất thải rắn y tế (Trang 47)
Bảng 3.3. Thu gom chất thải rắn y tế - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.3. Thu gom chất thải rắn y tế (Trang 50)
Bảng 3.4. Vận chuyển chất thải rắn y tế - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.4. Vận chuyển chất thải rắn y tế (Trang 51)
Bảng 3.7. Thực trạng chung về quản lý chất thải rắn y tế - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.7. Thực trạng chung về quản lý chất thải rắn y tế (Trang 57)
Bảng 3.8. Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.8. Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn (Trang 57)
Bảng 3.9. Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.9. Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế (Trang 60)
Bảng 3.10. Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.10. Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế (Trang 60)
Bảng 3.11. Kiến thức về vận chuyển chất thải rắn y tế - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.11. Kiến thức về vận chuyển chất thải rắn y tế (Trang 62)
Bảng 3.12. Kiến thức về lưu giữ chất thải rắn y tế - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.12. Kiến thức về lưu giữ chất thải rắn y tế (Trang 63)
Bảng 3.13. Kiến thức về xử lý chất thải rắn y tế - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.13. Kiến thức về xử lý chất thải rắn y tế (Trang 64)
Bảng 3.14. Liên quan giữa kiến thức phân loại chất thải rắn y tế với các đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.14. Liên quan giữa kiến thức phân loại chất thải rắn y tế với các đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu (Trang 66)
Bảng 3.15. Liên quan giữa kiến thức vận chuyển chất thải rắn y tế với các  đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.15. Liên quan giữa kiến thức vận chuyển chất thải rắn y tế với các đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu (Trang 68)
Bảng 3.17. Liên quan giữa kiến thức xử lý chất thải rắn y tế với các  đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Bảng 3.17. Liên quan giữa kiến thức xử lý chất thải rắn y tế với các đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu (Trang 69)
Phụ lục 2: BẢNG KIỂM ĐÁNH GIÁ - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
h ụ lục 2: BẢNG KIỂM ĐÁNH GIÁ (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w