1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa vũng tàu

100 249 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đề Trong trường phổ thông, thư viện đóng một vai trò quan trọng, hỗ trợ cho giáo viên và học sinh trong việc giảng dạy và học tập. Việc đổi mới phương pháp dạy và học để học sinh chủ động hơn trong tiếp thu kiến thức, tự học, tự nghiên cứu; để giáo viên thay đổi cách dạy, cách chuẩn bị bài giảng,... đòi hỏi sự hỗ trợ có hiệu quả của hoạt động thư viện trong nhà trường. Hiện nay hiệu quả hoạt động thư viện của đa số các thư viện trường phổ thông ở Hà Nội nói riêng và trên cả nước nói chung chưa cao. Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng trên, một trong những nguyên nhân chủ yếu là đội ngũ cán bộ thư viện trường phổ thông còn thiếu về số lượng, yếu kém về chất lượng. Bài viết trình bày khái lược về vai trò của thư viện trường học đối với giáo dục phổ thông ở Hà Nội, các yêu cầu đối với cán bộ thư viện trường học, thực trạng trình độ của cán bộ thư viện trường học ở Hà Nội và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ thư viện trường học ở Hà Nội. Vai trò của thư viện trường học đối với giáo dục phổ thông ở Hà Nội Theo UNESCO (Tổ chức Văn hóa Giáo dục và Khoa học của Liên hợp quốc) “Thư viện, không phục thuộc vào tên gọi của nó là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác kể cả đồ họa, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí”.

Trang 1

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH MTV XĂNG DẦU BÀ RỊA – VŨNG TÀU 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Từ năm 1990 trở về trước nền kinh tế nước ta ở thời kỳ cơ chế tập trung bao cấp Tại địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chỉ có duy nhất Công ty vật tư tổng hợp là đơn vị hợp pháp được phép kinh doanh xăng dầu, chủ yếu là hình thức cấp phát theo chỉ tiêu, thông qua một số kho nhỏ, cửa hàng

Từ năm 1991, theo chủ trương của Nhà nước, nền kinh tế nước ta chuyển dần sang nền kinh tế thị trường Công ty vật tư tổng hợp đã liên doanh với Công ty Xăng dầu khu vực II thuộc Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam thành lập xí nghiệp liên doanh kinh doanh xăng dầu Sài Gòn – Vũng Tàu, để thực hiện nhiệm vụ cung ứng xăng dầu cho nhu cầu trên địa bàn tỉnh

Đến cuối năm 1992, xuất phát từ tình hình thị trường kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, không có được đơn vị giữ vai trò chủ đạo để điều tiết thị trường nhằm mục tiêu phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế của địa phương, tại đây xuất hiện nhiều đơn vị kinh doanh xăng dầu dẫn đến tình trạng tranh mua, tranh bán rất phức tạp Được sự đồng ý và giúp đỡ của Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam đã chính thức đề nghị Nhà nước cho phép thành lập đơn vị kinh doanh xăng dầu trực thuộc Tổng Công ty đóng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Ngày 26/12/1992 Bộ thương mại đã ban hành quyết định số 457/TM về việc thành lập Công ty xăng dầu tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trực thuộc Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam, trên cơ sở tiếp nhận lao động, bàn giao tài sản từ xí nghiệp liên doanh với Công ty vật tư tổng hợp (cùng trực thuộc Bộ Thương mại)

Tháng 7 năm 2010 khi uật doanh nghiệp nhà nước hết hiệu lực tất cả các doanh nghiệp phải chuyển đổi mô hình để hoạt động theo uật doanh nghiệp 2005 Trong tình hình đó Công ty đã chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang Công ty TNHH một thành viên để hoạt động đúng theo qui định của Nhà nước Cụ thể là ngày 28/6/2010 Hội Đồng Quản Trị Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam đã ban hành QĐ số 397/XD-QĐ-HĐQT quyết định chuyển Công ty xăng dầu Bà Rịa – Vũng Tàu thành Công ty TNHH một thành viên do Công ty xăng dầu Việt Nam là chủ sở hữu; Ngày 30/6/2010 HĐQT Công ty xăng dầu Việt Nam ban hành QĐ 414- QĐ- HĐQT quyết định ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động Công ty xăng dầu Bà Rịa – Vũng Tàu

* oại hình doanh nghiệp : Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

* Tên tiếng việt: Công ty TNHH xăng dầu Bà Rịa – Vũng Tàu

* Tên giao dịch quốc tế: Petrolimex Bariavungtau Co., td

* Tên rút g n: Petrolimex Bariavungtau

Trang 2

* Trụ sở chính của Công ty: 12 Hoàng Hoa Thám, Phường 2, Thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu

* Điện thoại : 064.3832043 Fax: 064.3832195

* Biểu tượng/biểu trưng (nhãn hiệu):

*Vốn điều lệ : 65.700.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi lăm tỷ bảy trăm triệu

đồng)

Công ty không được giảm vốn điều lệ mà Công ty tăng vốn điều lệ bằng việc Tổng Công ty đầu tư thêm hoặc huy động thêm vốn góp dưới các hình thức khác Tổng Công ty quyết định hình thức tăng và mức tăng vốn điều lệ Trường hợp tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần vốn góp của tổ chức hoặc cá nhân khác; Chuyển nhượng một phần vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác, Công ty sẽ đăng

ký chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thành viên mới cam kết góp vốn hoặc nhận chuyển nhượng

1.2 Chức năng kinh doanh và định hướng phát triển của Công ty

1.2.1 Mục tiêu kinh doanh của Công ty

Petrolimex Bariavungtau là Công ty TNHH một thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam, có mục tiêu là sản xuất kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát triển vốn của Tổng Công ty, hoàn thành các nhiệm vụ do Tổng Công ty giao, tối đa hoá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh, không ngừng nâng cao giá trị doanh nghiệp nhằm mang lại giá trị tối đa, tạo việc làm ổn định, từng bước nâng cao thu nhập cho người lao động

1.2.2 Các chức năng nhi m vụ chủ yếu

Kinh doanh xăng dầu, các sản phẩm hóa dầu và vật tư kỹ thuật chuyên dùng xăng dầu; Kinh doanh khách sạn và dịch vụ xông hơi xoa bóp; Khai thác cảng dầu để nhập xuất xăng dầu; Kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng (văn phòng phẩm, hóa mỹ phẩm, đồ gia dụng, rượu, bia, nước giải khát có gas, bánh kẹo, các loại đồ hộp thực phẩm…); Kinh doanh vật kiệu xây dựng, thiết bị phụ tùng điện máy, điện lạnh; Dịch

vụ tổng hợp (bảo trì, sửa chữa ô tô, rửa xe, thay dầu mỡ); Kinh doanh khí đốt hóa lỏng (gas); Cung ứng tàu biển; Sản xuất và kinh doanh nước uống tinh khiết đóng chai Công ty có thể được mở rộng ngành nghề kinh doanh theo quyết định của Tổng Công

ty phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam

Trang 3

1.3 Đặc điểm sản phẩm, khách hàng và công ngh của Công ty

1.3.1 Sản phẩm

- Xăng các loại (Gasoline hay petrol), gồm có:

+ Xăng động cơ RON (R92) và RON 95 (R95)

+ Xăng máy bay, xăng dung môi, xăng pha sơn

- Dầu Diesel (Diesel oil hay gasoil viết tắt là DO) gồm dầu Diesel chất lượng cao có hàm lượng lưu huỳnh  0,25% và dầu diesel thường có hàm lượng lưu huỳnh < 0,5%

- Dầu hỏa (kerosene viết tắt là KO)

- Nhiên liệu động cơ phản lực (ZET-Al hay TỔ CHỨC-1)

- Dầu đốt công nghiệp, dầu mazut (Fuel oil, viết tắt là FO) chia ra nhiều loại tuỳ thuộc độ đậm đặc và hàm lượng lưu huỳnh cao hay thấp

- Nhớt, dầu nhờn (Lubricants), gồm có hơn 190 chủng loại tuỳ theo công dụng

- Mỡ (Grease) gồm có khoảng 30 loại tùy theo công dụng

- Ngoài ra còn các sản phẩm khác của dầu mỏ như: nhựa đường (bitumen hay asphalt), khí đốt (Gas), các loại hóa chất

1.3.2 Khách hàng

- Khách bán buôn: là khách hàng tiêu thụ số lượng lớn từ 20-30 m3 /tháng với

số lượng mua từ 1 m3/ lần trở lên có phương tiện chứa à đối tượng khách do Công ty (phòng Kinh doanh Công ty) trực tiếp thực hiện giao dịch bán hàng: từ khâu tiếp thị,

ký kết hợp đồng, giao hàng, nhận tiền khách hàng bán buôn được phân loại thành các đối tượng khách sau:

+ Khách hàng Tổng đại lý, đại lý: là đối tượng mua hàng của Công ty để bán lại

cho đối tượng khác và phải đáp ứng các điều kiện theo qui định của nhà nước tại

NĐ 84/2010/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu

+ Khách hàng công nghiệp: à đối tượng tiêu dùng trực tiếp như các nhà máy nhiệt điện, nhà máy kính, khu công nghiệp cần tiêu thụ lượng nhiên liệu lớn

+ Khách hàng tàu biển: Các hàng tàu, cư dân đánh bắt hải sản, cảng

- Khách bán lẻ: Là khách hàng mua trực tiếp với số lượng ít và không có

phương tiện chứa phải thực hiện việc mua tại các cửa hàng bán lẻ trong hệ thống cung ứng của Công ty Khách bán lẻ gồm các đối tượng:

+ Khách bán lẻ: à bán hàng bằng tiền mặt hoặc thẻ xăng dầu theo điều kiện giao

hàng qua cột bơm hoặc bình chuẩn tại Cửa hàng; việc giao dịch xảy ra không dự báo trước, đột xuất và là khách tiêu dùng trực tiếp, thường là cá nhân đổ xe máy, ô tô

+ Khách dịch vụ cấp lẻ: là việc Cửa hàng xuất bán xăng dầu cho khách thông qua

cột bơm hoặc bình chuẩn theo một hợp đồng dịch vụ đã được ký giữa đơn vị với khách hàng nhưng có phát sinh công nợ trong quá trình thực hiện hợp đồng

Trang 4

Thị trường chính của Công ty: à các Công ty vận tải biển, khu công nghiệp, vận tải bộ, cá nhân, doanh nghiệp đánh bắt hải sản, cá nhân sử dụng phương tiện vận tại có động cơ ở khu vực tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận Các đối tượng là nhà thầu dầu khí như Petronas

1.3.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật và công ngh của Công ty

Kho K2 là kho chứa toàn bộ nguồn hàng DO của Công ty Kho K2 được xây dựng từ năm 1990, có diện tích khoảng 50.000m2, tổng sức chứa của kho là 9.000m3, trong đó có bồn chứa dầu Diesel, dung tích 2.000m3

/bồn, 10 bồn chứa dầu Mazut, dung tích 100m3/bồn kèm theo hệ thống máy bơm, đường ống liên hoàn, có khả năng nhập, xuất cùng một lúc cho tàu thủy và xe ô tô chuyên dùng (xe bồn) Kho đã từng bước được hiện đại hóa, như hệ thống xuất nhập điện tử bán tự động, hệ thống vi tính nối mạng với văn phòng Công ty

Kho VGI là kho cảng VGI được xây dựng năm 2008 theo hình thức hợp tác đầu

tư với Công ty công nghiệp kính Việt Nam Kho có sức chứ 800M3 chỉ dùng để cung cấp dầu DO cho Công ty công nghiệp kính Việt Nam

Ngoài ra, Công ty hiện có 45 cửa hàng bán lẻ xăng dầu, gas dầu mỡ nhờn phân

bố ở hầu khắp các huyện, thị xã, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tỉnh Đồng Nai và thị xã Phan Thiết tỉnh Bình Thuận Hầu hết các cửa hàng xăng dầu được trang bị hệ thống nhập xuất hàng kín cùng với cột bơm điện tử đã giảm thấp chi phí hao hụt xăng dầu ở các cửa hàng Ở mỗi cửa hàng đều được trang bị máy phát điện để phục vụ bán hàng khi mất điện lưới

Hệ thống thông tin ở Công ty đơn giản phù hợp với cấu trúc tổ chức kiểu chức năng hiện tại ở Công ty Tức là các thông tin chính thức chủ yếu chuyển d c lên hệ thống thông tin nội bộ ngành hoặc ngược lại các thông tin chuyển xuống đều phải qua Giám đốc Công ty phân loại xuống các bộ phận chức năng

Công ty hiện có 92 Computer được kết nối với nhau theo cấu trúc mạng Star với hệ điều hành mạng Windows sever 2003 Tính theo tổng số người trên máy khoảng 350/923,8 người/máy, nếu trừ số công nhân xăng dầu, lao động trực tiếp giản đơn thì số người trên máy là 100/92  1,1 người/máy Đây là tỷ lệ khá cao so với tỷ lệ bình quân tương ứng của toàn ngành

Công ty đã tạo được mối quan hệ tương đối tốt với các sở, ban, ngành của tỉnh

để tiếp nhận các thông tin về môi trường kinh doanh trên địa bàn, các thông tin từ phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (Công ty là hội viên của phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam) Công ty còn đăng ký 2 account nối mạng internet để thu nhập các thông tin cần thiết về công nghệ mới, diễn biến giá cả và đặc biệt là khai thác E.mail trong giao dịch với các nhà thầu dầu khí, có nhu cầu về xăng dầu

Trang 5

1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh của Công ty

Đồ thị 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy của Petrolimex Bà Rịa – Vũng Tàu

Ghi chú: Quan hệ chỉ đạo, hướng dẫn

Quan hệ phối hợp ngang

Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty gồm:

PHÒNG

KẾ TÓAN TÀI CHÍNH

PHÒNG

KINH

DOANH

PHÒNG QUẢN LÝ

KỸ THUẬT

CHI NHÁNH BÌNH THUẬN

KHO CẢNG K2

CÁC CỬA HÀNG BÁN LẺ

XN DV &

TM PETROLIE

X VUNG TAU

KS HOA

HỒNG

CH T CH CÔNG TY

KI M SOÁT VI N

Trang 6

- Bộ máy giúp việc : có 4 phòng nghiệp vụ Phòng Tổ chức hành chính, phòng

Kế toán Tài chính, Phòng Kinh doanh và phòng Quản lý Kỹ Thuật

- Các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc : 2 đơn vị Chi nhánh Bình Thuận và

Xí nghiệp dịch vụ

- Các đơn vị hạch toán báo số : Kho K2, Khách sạn Hoa Hồng và 45 cửa hàng

Cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành của Công ty có thể thay đổi để phù hợp với yêu cầu kinh doanh trong quá trình hoạt động Và phải tiến hành sửa đổi, bổ sung Điều

lệ khi thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành

1.5 Tình hình thị trường

Nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay ước khoảng 600.000 m3/năm (số liệu năm 2012 của Cục thuế địa phương); tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 7 - 10% Trong đó, xăng dầu phục vụ cho đánh bắt hải sản là 200.000 m3, khai thác dầu khí 120.000 m3, phương tiện giao thông vận tải 150.000 m3;

còn lại là phục vụ cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng

Do có vị trí địa lý thuận lợi trong giao thông đường biển, đường sông và đường

bộ nên các công ty đầu mối xăng dầu đã tập trung đầu tư xây dựng kho cảng và phát triển kinh doanh tại Bà Rịa - Vũng Tàu Tính đến nay trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 11 đầu mối kinh doanh bao gồm: Petrolimex, PVoil, Petech, Mipec, SaigonPetro, Petimex Trong đó thị phần xăng dầu của Petrolimex Bà Rịa Vũng Tàu

khoảng 38 - 45%

Trang 7

CHƯƠNG II

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH

TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2.1 Tổng quan về phân tích tình hình tài chính doanh nghi p

2.1.1 Khái ni m và ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghi p

Hoạt động tài chính là một nội dung cơ bản thuộc hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh, được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Hoạt động tài chính giữ vị trí và vai trò quan tr ng trong sự phát triển của doanh nghiệp nên việc tổng kết, phân tích và đánh giá tình hình tài chính là nhiệm vụ cần thiết và quan tr ng đối với mỗi doanh nghiệp

Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so

sánh số liệu về tình hình tài chính hiện hành với quá khứ thông qua hệ thống các phương pháp và công cụ khác nhau nhằm đánh giá tiềm năng, hiệu quả cũng như những rủi ro và triển v ng của doanh nghiệp trong tương lai

Báo cáo kế toán rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính cơ bản đối với người ngoài doanh nghiệp Do đó, sự phân tích tài chính trước hết tập trung vào các số liệu được cung cấp trong các báo cáo kế toán kết hợp thông tin bổ sung của các bộ phận quản lý Đáp ứng nhu cầu của các chủ thể sử dụng kết quả của việc phân tích tài chính doanh nghiệp, bản thân phân tích chỉ

ra những thay đổi chủ yếu và những chuyển biến theo xu hướng trong những mối quan

hệ kinh tế xuất phát từ quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Như vậy, từ các thông tin tài chính chi tiết hay những con số thống kê, phân

tích thực sự là “việc làm cho các con số biết nói” để nhà lãnh đạo có thể quyết định

một cách trực tiếp và hiệu quả Chính vì thế, phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như ban giám đốc, các nhà đầu tư, cổ đông, các chủ nợ, khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, nhân viên ngân hàng, các cấp quản lý, bảo hiểm Mỗi nhóm người này có nhu cầu thông tin khác nhau,

do vậy, mỗi nhóm có xu hướng tập trung vào các khía cạnh khác nhau trong bức tranh tài chính của đơn vị

- Đối với các nhà quản lý doanh nghi p

Nhà quản lý doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu các hoạt động tài chính g i là phân tích nội bộ Phân tích nội bộ hoàn toàn khác với phân tích từ bên ngoài, những nhà phân tích nội bộ có ưu thế rõ ràng về chất lượng thông tin và sự hiểu biết về doanh nghiệp Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích nội bộ là tìm kiếm lợi nhuận và

Trang 8

khả năng trả nợ Để đạt được mục tiêu đó, người quản lý doanh nghiệp phải đưa ra các

quyết sách đúng như :

- Các quyết định đầu tư dài hạn và ngắn hạn

- Việc tìm kiếm nguồn tài trợ

- Sử dụng vốn và tài sản sao cho có hiệu quả cao nhất

Như vậy, mục tiêu cơ bản và thử thách sống còn của doanh nghiệp là thanh toán được nợ và kinh doanh có lãi Chỉ quá trình phân tích tài chính thận tr ng và đầy đủ mới có thể tìm ra mấu chốt và những vấn đề còn bất cập trong toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Như vậy trước khi cho vay, người cho vay phải nghiên cứu khả năng thanh toán của doanh nghiệp để trả lời các câu hỏi:

-Tình hình tài chính của doanh nghiệp là mạnh hay yếu ?

-Doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ đến hạn hay không ?

-Doanh nghiệp có thực hiện được doanh thu thoả đáng so với vốn đầu tư vào tài sản lưu động và cố định hay không ?

-Doanh nghiệp có thể đạt mức lợi nhuận là bao nhiêu trước khả năng không thể đáp ứng chi phí cố định như lãi suất, tiền thuê nhà đất, các khoản chi trả cố định khác? Nếu doanh nghiệp thua lỗ, các tài sản sẽ mất giá trị bao nhiêu so với con số trong bảng tổng kết tài sản trước khi các chủ nợ được bảo hiểm chấp nhận thiệt hại Từ những phân tích trên, các chủ nợ sẽ xem xét, dự báo được mức độ rủi ro đối với các khoản cho vay, cân nhắc giữa doanh lợi và rủi ro, đi đến quyết định có cho vay hay không

- Đối với nhà đầu tƣ

Đây là các doanh nghiệp, các cá nhân quan tâm trực tiếp đến tính toán các giá trị doanh nghiệp, h giao vốn cho doanh nghiệp sử dụng và sẽ cùng chịu m i rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải Thu nhập của nhà đầu tư là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư Hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ v ng của doanh nghiệp Các nhà đầu tư lớn thường dựa vào các nhà chuyên môn, những người chuyên phân tích tài chính, chuyên nghiên cứu kinh tế về tài chính để phân tích làm dự báo

Trang 9

Đối với các nhà đầu tư hiện tại cũng như các nhà đầu tư tiềm năng thì mối quan tâm trước hết của h là việc đánh giá những đặc điểm đầu tư của doanh nghiệp Các đặc điểm này có yếu tố rủi ro, sự hoàn hảo, lãi cổ phần hoặc tiền lời, sự bảo toàn vốn, khả năng thanh toán vốn, sự tăng trưởng và các yếu tố khác Các nhà đầu tư quan tâm đến sự an toàn về vốn đầu tư của h thông qua tình hình được phản ánh trong điều kiện tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt động của nó

Mặt khác, các nhà đầu tư còn quan tâm tới thu nhập của doanh nghiệp H quan tâm tới tiềm năng tăng trưởng, các thông tin liên quan đến việc doanh nghiệp đã giành những nguồn tiềm năng gì và như thế nào, những loại rủi ro nào mà doanh nghiệp đang phải đối mặt, doanh nghiệp có sử dụng đòn bẩy tài chính không ? Ngoài ra, các nhà đầu tư còn quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý trong doanh nghiệp để có thể ra các quyết định đầu tư

- Đối với những người hưởng lương trong doanh nghi p

ương là khoản thu nhập chính trong doanh nghiệp Vì vậy, người hưởng lương buộc phải quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Cách quan tâm của người hưởng lương đến tình hình tài chính của doanh nghiệp đơn giản hơn các đối tượng khác, câu hỏi lớn nhất mà h đặt ra là: Tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, lợi nhuận đạt đến mức nào, nếu lỗ thì bao nhiêu, triển v ng trong tương lai là tăng lên hay gặp khó khăn Chỉ có phân tích tài chính mới

có thể trả lời được những câu hỏi này

Như vậy, có thể nói mục đích cao nhất của phân tích tài chính là đảm bảo tối đa hoá giá trị Quy luật cạnh tranh luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường, để đứng vững và phát triển doanh nghiệp cần có chiến lược kinh doanh đúng đắn, cụ thể hợp lý tạo thế mạnh riêng cho mình Bởi vậy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là hết sức quan tr ng, giúp nhà phân tích có thể nhận dạng một cách trung thực tình trạng

“sức khoẻ’’ của doanh nghiệp, từ đó đề ra chiến lược kinh doanh phù hợp

2.1.2 Trình tự và phương pháp phân tích tình hình tài doanh nghi p

2.1.2.1 Trình tự phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

- Xác định mục tiêu phân tích

Mỗi chủ đề đều có những yêu cầu khác nhau đối với công tác phân tích tài chính Vì vậy, h cần đi sâu vào những nội dung khác nhau trong quá trình phân tích Xác định mục tiêu phân tích sẽ giúp nhà phân tích sử dụng những phương pháp thích hợp và tập trung vào những vấn đề cụ thể hơn Những người sử dụng khác nhau sẽ đưa

ra các quyết định khác nhau theo những mục đích khác nhau :

- Quyết định quản lý doanh nghiệp

- Quyết định mua bán tín phiếu

- Quyết định chấp nhận hay từ chối tín dụng

Trang 10

- Quyết định mua toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp

- Thu thập thông tin

Phân tích tài chính sử dụng m i nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tài chính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và các thông tin khác nhau, những thông tin về số lượng và giá trị, trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp, là những thông tin đặc biệt quan tr ng Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế

là phân tích các báo cáo kế toán trong doanh nghiệp

- Xử lý thông tin

Giai đoạn tiếp theo của quá trình phân tích tình hình tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập được Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở góc độ nghiên cứu khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích đánh giá xác định nguyên nhân của các kết quả đã được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định

Trong việc xử lý thông tin, người ta chú tr ng đến việc sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp để làm việc với thông tin đó

2.1.2.2 Phương pháp phân tích tài chính:

Bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các

sự kiện, hiện tượng các mối quan hệ bên trong chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp Có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp trong thực tế người ta có thể sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp so sánh

Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải bảo đảm các điều kiện có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, nội dung tính chất và đơn vị tính toán) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh Gốc so sánh được ch n là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được ch n bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân, nội dung so sánh gồm:

+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăng, giảm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy mức phấn đấu của doanh nghiệp

Trang 11

+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành, của các doanh nghiệp khác nhau để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được

+ So sánh theo chiều d c để xem xét tỷ tr ng của từng chỉ tiêu so với tổng thể,

so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy sự biến đổi cả về số lượng tương đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp

Phương pháp phân tích tỷ l

Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực, tỷ lệ của các đại lượng trong quan hệ tài chính Sự biến đổi các tỷ lệ là sự biến đổi của các đại lượng Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu

Trong phân tích tài chính doanh nghiệp các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ tài chính đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm, tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ

về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ

về khả năng sinh lời

Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích người phân tích lựa ch n các nhóm tỷ lệ khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình

2.2 Các nhóm chỉ số tài chính

2.2.1 Chỉ số khả năng thanh toán

Theo từ điển quản lý tài chính ngân hàng, khả năng thanh toán là khả năng của một tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền Thông số khả năng thanh toán đo

lường khả năng của công ty trong việc đối phó với các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn

2.2.1.1 Khả năng thanh toán hiện hành

Khả năng thanh toán hiện hành là thông số chỉ rõ khả năng của công ty trong việc đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn Thông số này nhấn mạnh đến khả năng chuyển hóa thành tiền mặt của các tài sản lưu động để đối phó với các khoản nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán hiện hành =

Tài sản lưu động

Nợ ngắn hạn

Nếu một Công ty đang gặp khó khăn về tài chính, h buộc phải trả nợ chậm hơn, phải vay thêm từ ngân hàng Nếu nợ ngắn hạn tăng nhanh hơn tài sản lưu động, thông số khả năng thanh toán hiện hành sẽ giảm và điều này sẽ đưa công ty đến tình

Trang 12

trạng khó khăn Thông số này cung cấp một dấu hiệu đơn giản về mức độ đảm bảo các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản dự kiến có thể được chuyển hóa nhanh thành tiền

Thông thường, khả năng thanh toán hiện hành càng cao cho một cảm giác là khả năng trả nợ càng cao nhưng thông số này chỉ được xem là một công cụ đo lường thô vì nó không tính đến khả năng chuyển nhượng của từng tài sản trong nhóm tài sản lưu động Một công ty có tài sản lưu động chủ yếu gồm tiền mặt, các khoản phải thu không quá hạn thì công ty đó sẽ khả năng chi trả các khoản nợ hơn so với công ty duy trì chủ yếu hàng tồn kho

2.2.1.2 Khả năng thanh toán nhanh

Thông số này là một công cụ bổ sung cho thông số khả năng thanh toán hiện hành khi phân tích khả năng thanh toán Thông số này chủ yếu tập trung vào các tài sản có tính chuyển hóa thành tiền cao hơn như tiền mặt, chứng khoáng và các khoản phải thu Với nội dung như vậy, khả năng thanh toán nhanh là một công cụ đo lường khả năng thanh toán chặt chẽ hơn so với khả năng thanh toán hiện hành

Hệ số thanh toán nhanh =

TS Đ – Hàng tồn kho – TS Đ khác

Nợ ngắn hạn Tuy nhiên, thông số này vẫn không thể cho chúng ta biết các khoản phải thu thực tế có cao quá mức hay không Nếu cao thì điều này sẽ tác động đến đánh giá ban đầu về khả năng thanh toán của Công ty

2.2.1.3 Khả năng thanh toán tổng quát

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát cho biết về mặt tổng thể trong thời gian dài hạn sức thanh toán của công ty Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán tổng quát của công ty trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này cho chúng ta biết tổng số tài sản hiện

có của công ty có đảm bảo trang trải được các khoản nợ phải trả hay không? Trường hợp hệ số khả năng thanh toán tổng quát của công ty bằng 1 các chủ nợ vẫn đảm bảo thu hồi được nợ vì với số tài khoản hiện có của công ty có đủ khả năng thanh toán toàn

bộ các khoản nợ nói chung của công ty Trị số này càng lớn càng tốt

Tổng tài sản

Hệ số thanh toán tổng quát =

Tổng nợ phải trả

2.2.2 Chỉ số cơ cấu tài chính

Các thông số nợ phản ánh mức độ vay nợ hay là tính ưu tiên đối với việc khai thác nợ vay để tài trợ cho các tài sản của công ty

Trang 13

Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty là từ đi vay Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của công ty Tỷ số này mà quá nhỏ, chứng tỏ công ty vay ít Điều này có thể hàm ý công ty có khả năng tự chủ tài chính cao Song

nó cũng có thể hàm ý là công ty chưa biết khai thác đòn bẩy tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức đi vay Ngược lại, tỷ số này mà cao quá hàm ý công

ty không có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi ro của công ty cao hơn

2.2.2.2 Thông số nợ trên vốn chủ sở hữu

Thông số này được dùng để đánh giá mức độ sử dụng vốn vay của Công ty

Thông số nợ =

Tổng nợ phải trả Vốn chủ sở hữu

Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu

Tỷ số này nhỏ chứng tỏ công ty ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ,

có thể hàm ý công ty chịu độ rủi ro thấp Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ công ty chưa biết tận dụng vốn vay để kinh doanh là nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn thấp hơn nhiều so với vốn chủ sở hữu Đồng thời, việc tận dụng vốn vay cũng giúp công ty khai thác được lợi thế trong việc tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp do khi doanh nghiệp đi vay phải trả lãi suất, lãi suất này được tính vào chi phí của doanh nghiệp, từ

đó làm giảm lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp

2.2.3 Chỉ số hoạt động

2.2.3.1 Vòng quay khoản phải thu

Thông số vòng quay khoản phải thu cung cấp nguồn thông tin nội bộ về chất lượng khoản phải thu của Công ty và mức độ hiệu quả của Công ty trong hoạt động thu nợ Tỷ lệ này được xác định bằng cách chia doanh thu bán chịu hàng năm cho khoản phải thu hàng ngày:

Vòng quay khoản phải thu = Doanh thu bán chịu

Khoản phải thu khách hàng bình quân

Trang 14

Thông số này cho chúng ta biết số lần khoản phải thu được chuyển hóa thành tiền trong năm Số vòng quay càng lớn thì thời gian chuyển hóa từ doanh số thành tiền mặt càng ngắn

Khi không có thông tin về doanh thu từ bán chịu, chúng ta phải sử dụng doanh thu thuần Khi doanh số biến động theo mùa hoặc tăng mạnh trong năm thì việc sử dụng số dư khoản phải thu cuối kỳ sẽ không còn phù hợp nữa Đối với công ty hoạt động có biến động theo mùa, chúng ta nên sử dụng số dư hằng tháng cho phù hợp hơn Trong trường hợp công ty có tốc độ tăng trưởng mạnh, số dư khoản phải thu vào cuối năm sẽ cao hơn so với doanh số úc đó, vòng quay khoản phải thu sẽ bị sai lệch và vì thế số lần quay vòng khoản phải thu trong năm sẽ thấp Trong trường hợp này, việc sử dụng giá trị bình quân của khoản phải thu đầu năm và cuối năm sẽ thích hợp hơn

Nếu coi tất cả các khoản phải thu đều giúp doanh nhiệp chi trả các khoản nợ trong khi một phần lớn khoản phải thu bị quá hạn thì người phân tích có thể rơi vào tình trạng đánh giá quá cao về khả năng thanh toán thực tế Khoản phải thu chỉ giúp doanh nhiệp chi trả các khoản nợ khi chúng có thể được thu hồi trong một khoản thời gian hợp lý Để xác định được nguyên nhân, nhà phân tích có thể chuyển thông số vòng quay khoản phải thu sang kỳ thu tiền bình quân

2.2.3.2 Kỳ thu tiền bình quân

Kỳ thu tiền bình quân =

Khoản phải thu bình quân x Số ngày trong năm Doanh thu bán chịu hàng năm

Tuy nhiên, trước khi kết luận là công ty có vấn đề về thu hồi nợ, chúng ta nên kiểm tra lại thời hạn bán hàng mà công ty hiện đang cung cấp cho khách hàng Nếu kỳ thu tiền bình quân lớn hơn thời hạn bán chịu cho phép của công ty thì đó là một dấu hiệu không tốt, nó chứng tỏ tỷ lệ khách hàng mua chịu đang chiếm tỷ tr ng lớn hoặc là công ty đang bị khách hàng chiếm dụng vốn

Giả sử kỳ thu tiền bình quân là 62 ngày và thời hạn bán hàng là “2/10 Net 30”, điều này có nghĩa là một phần lớn khoản phải thu bị quá hạn, vượt qua ngày thứ 30 Mặt khác, nếu kỳ hạn là “Net 60” thì khoản phải thu bị thu hồi chỉ chậm hơn hai ngày

so với kỳ hạn quy định

Mặc dù kỳ thu tiền bình quân quá cao thường không tốt nhưng kỳ thu tiền bình quân quá thấp cũng không phải là tốt Kỳ thu tiền bình quân thấp có thể là biểu hiện của chính sách bán chịu quá chặt chẽ Lúc này, khoản phải thu có thể có chất lượng nhưng doanh số có thể bị giảm mạnh và lợi nhuận có thể thấp hơn mức đáng ra phải có được khi áp dụng chính sách bán chịu linh hoạt hơn Trong tình huống này, công ty nên cân nhắc nới lỏng các tiêu chuẩn bán chịu

Trang 15

có thể xảy ra tình trạng cạn dữ trữ Vòng quay hàng tồn kho thấp thường là dấu hiệu của việc duy trì nhiều hàng hóa lỗi thời, quá hạn, chậm chuyển đổi

Một vấn đề cũng cần phải đặt ra là hàng tồn kho trong sổ sách có giá trị đúng với giá trị thực của nó hay không Một khi có dấu hiệu nào đó về hàng tồn kho, chúng

ta phải điều tra sâu hơn để xác định nguyên nhân của nó

Ngoài ra, còn có một công cụ khác tương tự như vòng hàng quay tồn kho nhưng biểu diễn theo ngày đó là kỳ dự trữ bình quân, xác định số ngày dự trữ trong kho

Số ngày dự trữ trong kho =

Số ngày trong năm Vòng quay hàng tồn kho Thông tin này cho biết trung bình phải mất bao nhiêu ngày để tồn kho được chuyển thành khoản phải thu và tiền mặt

2.2.3.4 Vòng quay tổng tài sản

Hệ số vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản của công ty Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi một đồng tài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra Công thức tính hệ số vòng quay tổng tài sản như sau:

Doanh thu thuần

Vòng quay tài sản =

Tổng tài sản bình quân

Hệ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty chúng ta cần so sánh hệ số vòng quay tài sản của công ty đó với hệ số vòng quay tài sản bình quân của ngành

Trang 16

2.2.3.5 Vòng quay khoản phải trả

Có thể có những lúc công ty cần nắm thông tin về kỳ hạn trả tiền của chính h đối với các nhà cung cấp hoặc kỳ hạn trả tiền của một khách hàng bán chịu tiềm năng Trong trường hợp này, chúng ta cần xem xét thông số vòng quay khoản phải trả và kỳ trả tiền bình quân như sau:

Hệ số vòng quay khoản phải trả =

Trị giá hàng mua bán chịu Khoản phải trả bình quân

Kỳ trả tiền bình quân =

Khoản phải trả bình quân x Số ngày trong năm Trị giá hàng mua chịu hàng năm

Con số này cho biết thời hạn bình quân của khoản phải trả Thường thì các công

ty muốn duy trì và kéo dài thời hạn phải trả vì như thế h có thể sử dụng tiền từ nguồn này như là một nguồn tài trợ giá rẻ Nếu hệ số vòng quay khoản phải trả thấp hơn so với mức bình quân ngành thì điều này chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng chiếm dụng tiền của nhà cung cấp nhiều hơn so với các công ty khác trong ngành Tuy nhiên, điều này phản ảnh nguy cơ công ty có thể phải đối phó với việc thanh toán các khoản nợ đến hạn

Trong trường hợp không có thông tin về giá trị mua hàng thì người ta có thể sử dụng chi phí hàng bán cộng với (trừ đi) mức tăng (giảm) tồn kho để xác định thông số này Chẳng hạn, đối với một hệ thống cửa hàng bán lẻ không có chức năng sản xuất, chi phí hàng bán cộng với mức thay đổi về tồn kho là thành phần chủ yếu của hàng mua Tuy nhiên, trong những tình huống cộng thêm một giá trị quá lớn, chi phí hàng mua gồm chi phí hàng bán cộng tồn kho sẽ không thích hợp úc đó, người ta phải có

số tiền mua thực sự nếu sử dụng thông số này

Ngoài ra, kỳ trả tiền bình quân là thông tin có giá trị để đánh giá khả năng trả

nợ đúng hạn của một khách hàng Nếu kỳ trả tiền bình quân là 48 ngày và thời hạn của ngành là Net 30 thì chúng ta biết rằng một phần lớn khoản phải trả bị quá hạn Trong trường hợp này, kiểm tra tình trạng của các nhà cung cấp khác của khách hàng sẽ cung cấp thông tin sâu hơn về mức độ nghiêm tr ng của vấn đề

Trang 17

Nội dung của thông số này nhằm đo lường tốc độ chuyển hóa của khoản phải thu, tồn kho và khoản phải trả trong chu kỳ kinh doanh để quản lý tài sản một cách hiệu quả Nói cách khác, nó phản ánh tốc độc chu chuyển của những tài sản trực tiếp tham gia vào chu kỳ kinh doanh (vòng quay khoản phải thu, tồn kho, khoản phải trả)

để từ đó có cơ sở điều chỉnh các chính sách (bán hàng, dự trữ, mua hàng) một cách hợp lý

2.2.4.1 Tỷ suất lãi gộp trên doanh thu

Hệ số này được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận gộp chia cho doanh thu Công thức tính hệ số biên lợi nhuận gộp như sau

Lợi nhuận gộp

Tỷ suất lãi gộp trên doanh thu =

Doanh thu

Trong đó: Lợi nhuận gộp = Doanh thu - Giá vốn hàng bán

Trong một số trường hợp, doanh thu được thay bằng doanh thu thuần và tỷ lệ lãi gộp được tính bằng công thức:

Lợi nhuận gộp

Tỷ suất lãi gộp trên doanh thu =

Doanh thu thuần

Chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu thu về tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập Tỷ suất lãi gộp trên doanh thu là một chỉ số rất hữu ích khi tiến hành so sánh các công ty trong cùng một ngành Công ty nào có hệ số biên lợi nhuận gộp cao hơn chứng

tỏ công ty đó có lãi hơn và kiểm soát chi phí hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh của nó

Tỷ suất lãi gộp trên doanh thu được biểu hiện bằng con số phần trăm (%), ví dụ nếu hệ số này là 20% tức là một công ty sẽ tạo ra được 0,2 đồng thu nhập trên mỗi đồng doanh thu bán hàng Chỉ đơn thuần nhìn vào thu nhập của một công ty sẽ không thể nắm hết được toàn bộ thông tin về công ty đó Thu nhập tăng là dấu hiệu tốt nhưng điều đó không có nghĩa là tỷ suất lãi gộp trên doanh thu của công ty đang được cải thiện

2.2.4.2 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

Lợi nhuận sau thuế

Lợi nhuận trên doanh thu =

Doanh thu thuần

Lợi nhuận trên doanh thu là công cụ đo lường khả năng sinh lợi trên doanh số sau khi tính đến tất cả các chi phí và thuế thu nhập Nó cho chúng ta biết lợi nhuận ròng trên mỗi đồng doanh số của công ty Việc so sánh thông số này với ngành cho thấy hiệu suất và độ hấp dẫn của công ty này so với công ty khác Bằng cách so sánh

Trang 18

các thông số này cùng với nhau, chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn hiệu quả hoạt động của công ty

2.2.4.3 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm Công thức tính như sau:

Thu nhập trên đầu tư (ROA) =

Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản bình quân

Bảng 2.1 Phân tích ROA theo phương trình Dupont

ROA sẽ cung cấp cho bạn các thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản) ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để

so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và

so giữa các công ty tương đồng nhau Tài sản của một công ty thì được hình thành từ

Lợi nhuận trên tài sản = Lời nhuận trên doanh thu x Vòng quay của tài sản

Đo lường hiệu quả trong việc sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu

Đo lường hiệu quả chung

về khả năng sinh lợi bằng

Tổng tài sản

Đo lường khả năng sinh lợi trên doanh thu

Lợi nhuận trên doanh thu

Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần

=

Vòng quay của tài sản

Doanh thu thuần

Tổng tài sản

=

Trang 19

động của công ty Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn

Đây là hệ số quan tr ng nhất đối với các cổ đông nắm giữ cổ phần thường, nó cho thấy khả năng sinh lợi trên vốn đầu tư của h trong công ty Thu nhập trên giá trị ròng là phần còn lại của lợi nhuận ròng sau khi đã thanh toán cổ tức ưu đãi chia cho giá trị ròng (vốn cổ phần - vốn cổ phần ưu đãi)

Nếu thông số này lớn hơn bình quân ngành thì cổ đông được lợi hơn so với các

cổ đông khác trong cùng ngành

2.2.4.4 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

ROE được tính bằng cách lấy lãi ròng sau thuế chia cho tổng giá trị vốn chủ sở hữu dựa vào bảng cân đối tài sản cuối kỳ

Có thể nói, bên cạnh các chỉ số tài chính khác thì ROE là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời Đây cũng là chỉ số đáng tin cậy về khả năng sinh lời của công ty trong tương lai

Thông thường, tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Theo Warren Buffett, ROE > 20% được coi là hợp lý

2.3 Phân tích DUPONT

Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một công ty bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bảng cân đối kế toán Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định

Dưới góc dộ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan tr ng nhất là

hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng

Trang 20

nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:

ROE còn có thể biểu diễn dưới dạng:

Công ty có thể áp dụng một số biện pháp làm tăng ROE như sau:

– Tác động tới cơ cấu tài chính của công ty thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ vay

và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động

– Tăng hiệu suất sử dụng tài sản Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản

– Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm Từ đó tăng lợi nhuận của công ty

Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị doanh nghiệp thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản lý của công ty

=

Doanh thu thuần

Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu

Doanh thu thuần Tổng tài sản

Lợi nhuận sau thuế

ROE

Trang 21

CHƯƠNG III THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MTV XĂNG

DẦU BÀ RỊA – VŨNG TÀU 3.1 Đánh giá tương quan cung cầu của ngành Xăng dầu

3.1.1 Nhu cầu sử dụng

Nhu cầu sử dụng xăng dầu ngày càng tăng, không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong dài hạn do sự bùng nổ dân số, các ngành công nghiệp tiếp tục phát triển, đặc biệt

là sự bùng nổ của ngành giao thông do nhu cầu đi lại ngày càng nhiều

Ngoài ra, đây còn là nguồn năng lượng chưa thể thay thế ngay bằng nguồn năng lượng khác Theo dự báo nhu cầu tiêu thụ dầu lỏng của thế giới tăng lên khoảng 107 triệu thùng/ngày trong năm 2030, ở Việt Nam mức tiêu thụ dầu sẽ tăng và đạt mức 460.000 thùng/ngày vào năm 2014 Tuy nhiên, năm 2012 do tình hình kinh tế khó khăn nên lượng tiêu thụ xăng dầu của cả nước giảm 10% so với năm 2011, tức chỉ đạt 14,85 triệu tấn

Đồ thị 3.1: Nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ở Vi t Nam giai đoạn 2001-2012

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê

3.1.2 Khả năng cung cấp

Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam Petrolimex chiếm khoảng 60% thị phần xăng dầu trong nước, là nguồn cung lớn lượng xăng dầu của cả nước từ đó những Công ty con như Công ty xăng dầu Petrolimex Bà Rịa – Vũng Tàu cũng sẽ có được một lượng xăng dầu dồi dào từ Công ty mẹ để đáp ứng nhu cầu ngày một nhiều của người dân Việt Nam nói chung và người dân tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng

9.8 10.5

12.5 12.2

12 13.3 14.1 14.1 15.1 16.5 14.9

Trang 22

3.2 Phân tích ngành Xăng dầu

3.2.1 Tình hình phát triển

3.2.1.1 Phụ thuộc giá xăng dầu thế giới

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, giá dầu thô giảm mạnh về dưới 40 USD/ thùng trong năm 2009 Kinh tế phục hồi là cơ sở để giá dầu thô liên tiếp tăng và lấy lại mốc hơn 110 USD/thùng trong 2 năm sau đó Từ đó đến nay, giá dầu biến động khá phức tạp do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công Châu Âu và các cuộc chiến liên quan đến dầu mỏ Nhiều khả năng giá dầu sẽ tăng trở lại trong các năm tới cùng với sự phục hồi kinh tế thế giới Giá dầu thô tăng, kéo theo hệ lụy giá xăng dầu tăng Điều này khiến giá xăng dầu trong nước liên tục tăng, gây ảnh hưởng xấu đến thu nhập người dân Đồng thời, Công ty TNHH Xăng dầu Bà Rịa – Vũng Tàu cũng phải chịu nhiều thiệt hại do chính sách bình ổn xăng dầu của Nhà nước nhằm hạn chế tối thiểu khả năng tăng giá xăng quá cao

3.2.1.2 Nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển

Công ty TNHH MTV Xăng dầu Bà Rịa – Vũng Tàu được tiếp nhận từ một Xí nghiệp liên doanh với 65 lao động, hiện nay tổng số lao động của Công ty là 346 người Trong đó, trình độ đại h c và trên đại h c là 112 người (32%); cao đẳng, trung

h c là 72 người (21%); toàn bộ công nhân viên bán hàng tại các Cửa hàng xăng dầu đều đã được đào tạo chuyên ngành, có chứng chỉ theo quy định

Đảng bộ Petrolimex Bà Rịa - Vũng Tàu gồm 5 Chi bộ trực thuộc với 89 đảng viên (chiếm tỉ lệ 26%) Mỗi đảng viên đều nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu, đi đầu trong m i hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỗ dựa tin cậy cho lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty

Ngoài ra, trường Cao Đẳng Dầu Khí được thành lập nhằm cung cấp nhân lực ngành cũng góp phần cho Công ty có được những nguồn nhân lực dồi dào và được đào tạo bài bảng Thực tế làm việc cho thấy, đội ngũ nhân lực vận hành và bảo dưỡng ngày càng trưởng thành, đã dần thạo nghề và tiến tới thay thế hoàn toàn chuyên gia nước ngoài

Tuy nhiên, so với các nước phát triển thường có tỷ lệ người lao động qua đào tạo đạt 100%, số lượng lao động trình độ cao đẳng, đại h c, sau đại h c đạt từ 72% trở lên thì ở Việt Nam con số này còn tương đối thấp, chỉ mới đạt 53% và điạ bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng khó tránh khỏi việc thiếu nguồn nhân lực có tay nghề và trình

Trang 23

Công ty trực thuộc Nhà nước Việt Nam được sự hỗ trợ đắc lực về nguồn vốn, công nghệ Các đạo luật được thông qua với những điều kiện thuận lợi

Tình trạng độc quyền

Ngành năng lượng nói chung và ngành Xăng dầu nói riêng có tác động rất lớn đến nền kinh tế đất nước và an ninh quốc gia nên vẫn nằm trong sự kiểm soát và trực tiếp quản lý của Nhà nước Điều này cũng gây ra tâm lý ỷ lại, thiếu cạnh tranh công bằng làm giảm hiệu quả và gây lãng phí Trong thời gian tới mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn với sự tham gia của các tổ chức Quốc tế, tình trạng hưởng lợi từ thế độc quyền cũng sẽ giảm dần

3.2.2 Phân tích PEST

Phân tích PEST là một phương thức đơn giản nhưng rất quan tr ng và đang được áp dụng rộng rãi, phương pháp đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về tình hình Chính trị (P), Kinh tế (E), Văn hóa xã hội (S), và môi trường công nghệ (T) tại nơi doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh

3.2.2.1 Chính trị

Sự bình ổn về chính trị

Sự ổn định chính trị là một trong những yếu tố không thể thiếu, góp phần giúp Việt Nam có thể kiên trì chính sách phát triển kinh tế Nền chính trị ổn định tạo cho Việt Nam có được một nền hòa bình và thịnh vượng Nếu nhìn sang một số quốc gia trong khu vực, dễ thấy rằng, trừ Singapore, thì từ năm 1990 trở lại đây, hầu hết các nước khu vực đều trải qua các cuộc đảo chính hay khủng hoảng chính trị Trong khi

đó, nền chính trị của Việt Nam luôn ổn định, đây là một đảm bảo cho sự gắn kết để thực hiện chính sách kinh tế nhất quán Thành công của sự nghiệp đổi mới của Việt Nam nói chung và địa bàn thành phố Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng cũng là dựa trên sự

ổn định chính trị này

Ảnh hưởng chính trị thế giới

Xăng dầu là nguồn năng lượng quan tr ng nhất hiện nay cho sự phát triển kinh

tế Chính vì vậy mà các quốc gia không ngừng tìm kiếm, khai thác, tranh chấp và kể cả dùng vũ lực gây ra các cuộc xung đột kéo dài Điển hình nhất trong thời gian gần đây

là cuộc chiến tranh ở ybia và những căng thẳng giữa Iran với Mỹ và khối các nước khu vực Châu Âu đang khiến giá dầu liên tục tăng cao khiến quá trình phục hồi sau khủng hoảng và phát triển kinh tế thế giới nói chung bị ảnh hưởng nghiêm tr ng Dầu khí tập trung chủ yếu ở Trung Đông, chiếm 2/3 trữ lượng dầu khí thế giới, lại là khu vực không ổn định về chính trị

Trang 24

Quy luật xã hội

Để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Nhà nước Việt Nam bắt tay ngay vào 2 việc cần làm trước tiên là phát triển nguồn nhân lực và phát triển năng lượng Xăng dầu có vai trò hàng đầu trong phát triển năng lượng Chính vì xăng dầu rất quan

tr ng cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nên tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia công nghiệp phát triển đều thực hiện chính sách an toàn năng lượng và xem đây là sự đảm bảo an ninh quốc gia, Việt Nam cũng không ngoại lệ Đặc biệt tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một khu du lịch đầy tiềm năng cần phải thực hiện một

cách đầy đủ, nghiêm túc

Chính sách thuế

Có nhiều ưu đãi về thuế đối với ngành Ngành thuế tích cực tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực thuế Cụ thể, toàn ngành thực hiện hỗ trợ, giải đáp kịp thời chính sách thuế đối với hệ thống doanh nghiệp lớn chú tr ng các ngành, nghề, lĩnh vực quan tr ng như dầu khí, xăng dầu, điện lực, viễn thông Đặc biệt thuế nhập khẩu xăng dầu cũng được điều chỉnh giảm

Hệ thống cơ sở dữ liệu các doanh nghiệp lớn thường xuyên cập nhật, hoàn thiện các thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh Ngành thuế cũng tích cực tăng cường khảo sát, h c tập kinh nghiệm quốc tế thông qua việc triển khai công tác đàm phán và ký kết Hiệp định thuế với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Ngành thuế cũng tổ chức các đoàn h c hỏi, trao đổi kinh nghiệm quốc tế về thuế ở nước bạn

Chính sách giá xăng dầu

Hiện Nhà nước vẫn kiên trì chủ trương thực hiện cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước Nhưng khâu điều hành còn có bất cập, thời gian điều chỉnh việc tăng - giảm giá, thời điểm quyết định tăng - giảm giá xăng dầu và một số quy định không còn phù hợp Chính phủ đang chỉ đạo xem xét và sửa đổi lại, trong đó có các quy định về quỹ bình ổn giá, tần suất 30 ngày để tính giá cơ sở

Nhìn chung Nhà nước vẫn đang có những chính sách chấn chỉnh lại hệ thống phân phối, kinh doanh xăng dầu, quy định giá bán định hướng xăng dầu, có chính sách

bù lỗ xăng dầu, bình ổn thị trường, đồng thời giúp các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hơn

Chính sách bảo v môi trường

Trong tương lai gần, yêu cầu phát triển kinh tế đòi hỏi ngành năng lượng phải

đi trước một bước Dự báo vào năm 2020 ngành năng lượng Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng ít nhất gấp 5 lần so với hiện nay, do đó nếu không có những giải pháp hữu hiệu bảo vệ môi trường thì sẽ gây nên những hệ quả tiêu cực đối với cộng đồng và môi trường sống Trong đó lĩnh vực hoạt động xăng dầu có tác động lớn đến môi trường

Trang 25

 Các đạo luật liên quan

Nhà nước đang hoàn thiện lại hệ thống pháp luật, đặc biệt là luật đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam nói chung và Công ty TNHH MTV xăng dầu Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng có thể dễ dàng thu hút vốn liên doanh liên kết, hay là đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực xăng dầu nước ta

Chính sách sử dụng lao động

Việt Nam có chính sách sử dụng nguồn nhân lực nhất quán bằng những giải pháp rất căn cơ, công khai, dân chủ, minh bạch, đồng thời đi kèm với cơ chế giám sát việc thực thi công việc, có những chính sách ưu tiên, bảo hộ người lao động hiệu quả, phù hợp với uật lao động Việt Nam Có những chính sách phục vụ cho việc đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển xã hội, chính sách rõ ràng về sử dụng nguồn nhân tài, đãi ngộ, đảm bảo cho người lao động được yên tâm làm việc được giao Ngoài ra, còn

có cả luật, chế tài hợp lý để ngăn chặn và xử lý những sai trái, tránh những lệch lạc

trong sử dụng nguồn nhân lực, nhân tài cho phát triển đất nước

3.2.2.2 Kinh tế

Tăng trưởng kinh tế ở Vi t Nam

Đồ thị 3.2: Tăng trưởng GDP Vi t Nam giai đoạn 2000 – 2012

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê

Việt Nam được xem như một cơ hội thị trường to lớn khi quốc gia có sự chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế và phát triển Công cuộc Đổi Mới toàn diện bao gồm những cải cách kinh tế quan tr ng được khởi xướng vào năm 1986 đã giúp Việt Nam chuyển

từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó sử dụng cả chỉ thị và kế hoạch hóa chỉ dẫn

GDP thực tế của Việt Nam tăng nhanh hơn các quốc gia khác, với mức tăng trưởng trung bình là 7.32% từ năm 1990 đến năm 2009 Việt Nam được xếp vào một trong 20 quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới trong năm 2009 với mức tăng trưởng GDP 5.3%

Trang 26

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 đến 2012 thấp hơn khá nhiều

so với mức bình quân 7,38%/năm giai đoạn 2000 - 2005 và có xu hướng giảm dần: từ mức bình quân 8,34%/năm giai đoạn 2006 - 2007 xuống mức 6,14%/năm giai đoạn 2008-2010 và đạt 5,89% năm 2011 Năm 2012 GDP chỉ đạt mức 5,03% nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô nên mức tăng như vậy là hợp lý

Trình độ và tính chất nền sản xuất

Xăng dầu là một phần của công nghiệp năng lượng Nền sản xuất nước ta còn trong tình trạng kém phát triển, vì vậy việc sản xuất xăng dầu còn phải dựa vào nhiều vốn và kỹ thuật của nước ngoài Hiện nay, trợ giúp kỹ thuật và vốn là điều tối cần thiết cho ngành xăng dầu nói riêng và ngành năng lượng Việt Nam nói chung

Nhân tố thị trường

Thị trường là một trong những nhân tố đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển và ảnh hưởng đến sự phân bố ngành xăng dầu Ở Việt Nam, nhu cầu về xăng dầu, sẽ tăng cao, thậm chí rất cao trong bối cảnh mới

Nhân tố chính sách phát triển kinh tế - xã hội

Đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các chính sách phát triển kinh tế có ý nghĩa rất quan tr ng trong sự phát triển của công nghiệp nói chung

và ngành xăng dầu nói riêng

Do vai trò và đặc điểm của ngành xăng dầu nên tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải có chiến lược năng lượng bền vững, chính sách phát triển năng lượng để phù hợp với từng giai đoạn của đất nước Đường lối và chính sách năng lượng hợp lý góp phần đảm bảo nhu cầu cho sự phát triển của đất nước

3.2.2.3 Văn hóa – Xã hội

Phẩm chất về năng lực chuyên môn kỹ thuật, nhất là về kỹ năng nghề nghiệp của người lao động Việt Nam trong những năm qua được nâng cao rõ rệt Tỷ lệ lao động qua đào tạo có xu hướng tăng, chất lượng lao động ngày một nâng cao, từng bước đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, của thị trường lao động

Tuy nhiên, yếu điểm cơ bản của lao động nước ta là tỷ lệ lao động qua đào tạo, nhất là đào tạo nghề còn thấp, chỉ bằng 1/3 các nước và các nền công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài oan, Singapore, trong số lao động qua đào tạo, nhất là qua đào tạo nghề, chỉ 1/3 là được đào tạo dài hạn, trình độ cao nên kỹ năng, tay nghề còn yếu, đặc biệt là so với tiêu chuẩn nghề của khu vực và thế giới, dẫn đến thiếu nghiêm tr ng lao động kỹ thuật trình độ cao, các nhà quản lý và chuyên gia giỏi Điều này sẽ gây khó khăn cho ngành Xăng dầu khi muốn tạo ra lượng xăng dầu cho đất nước, không bị lệ thuộc vào việc nhập khẩu xăng dầu

Trang 27

3.2.2.4 Kỹ thuật công ngh

Ở Việt Nam việc quản lý giám sát, điều hành còn thiếu kinh nghiệm, mặt khác phương tiện máy móc hiện đại tuy đã được cải thiện trong vài năm nay nhưng nhìn chung còn nhiều thiếu xót do còn thiếu vốn Để đạt được mục tiêu phát triển ở mức cao như hiện nay trở lên thì ngành cần đẩy mạnh đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hơn nữa, đẩy mạnh công nghệ mạnh hơn cho các lĩnh vực thăm dò, tìm kiếm đến khai thác

và nhanh chóng mở rộng đầu tư vào công nghệ chế biến xăng dầu Đây cũng là một trong những nhân tố quan tr ng để phát triển ngành xăng dầu trong nước, không bị phụ thuốc quá lớn từ việc nhập khẩu

3.2.3 Phân tích FIVE FORCE (Năm lực lƣợng cạnh tranh)

Mô hình Porter’s Five Forces được xuất bản lần đầu trên tạp chí Harvard Business Review năm 1979 với nội dung tìm hiểu yếu tố tạo ra lợi nhuận trong kinh doanh Mô hình này, thường được g i là “Năm lực lượng của Porter”, được xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận Quan tr ng hơn cả,

mô hình này cung cấp các chiến lược cạnh tranh để doanh nghiệp duy trì hay tăng lợi nhuận

3.2.3.1 Áp lực từ nguồn cung

Dầu khí là nguồn năng lượng không thể phục hồi được, do đó việc khai thác và chế biến phụ thuộc rất nhiều vào trữ lượng của đất nước Việt Nam nằm trên bờ Tây biển Đông – một biển lớn – là một trong những biển quan tr ng nhất của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, cũng như của thế giới Biển Đông đã được xác định có trữ lượng dầu mỏ khoảng 1.2 km3

(7.7 tỷ barrel), với ước tính tổng khối lượng là 4.5km3 (28 tỷ barrels) Trữ lượng khí gas tự nhiên được ước tính khoảng 7,500 km3 ( 266 nghìn tỷ feet khối)

Với đường bờ biển dài 3.200 km, diện tích thềm lục địa khoảng 1 triệu km2, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng ở khu vực Cho đến nay công tác tìm kiếm thăm dò mới được thực hiện trên 30% diện tích vùng biển, với mức độ nghiên cứu chưa đồng đều ở các khu vực, chủ yếu tập trung ở những vùng được coi là

có triển v ng cao và điều kiện hoạt động khá dễ dàng trong đó tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

có một lợi thế về nguồn tài nguyên, nhân lực dồi dào, giao thông thuận tiện

Tỷ lệ giếng khoan ở Việt Nam đạt loại khá cao trên thế giới, hơn 20% ( thế giới 10%) Đến nay, ước tính sơ bộ phát hiện và xác minh khoảng hơn 30% trữ lượng dự báo Tuy có nguồn trữ lượng dầu thô lớn nhưng khả năng chế biến từ dầu thô thành các sản phẩm như: xăng dầu, gas, dầu hỏa, diezen lại rất hạn chế, gần như lượng xăng dầu tại Việt Nam đều được nhập khẩu Điều này tạo ra một áp lực nhất định đối với Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam nói chung và Công ty TNHH MTV xăng dầu Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng về việc tiềm kiếm một nguồn cung hợp lý

Trang 28

3.2.3.2 Áp lực từ đối thủ tiềm ẩn

Với triển v ng tăng trưởng lâu dài do nhu cầu về các chế phẩm từ xăng dầu, khí đốt, hóa chất càng ngày càng tăng, các doanh nghiệp trong ngành xăng dầu cũng ngày càng chuyên môn hóa trong hoạt động đầu tư, để đón đầu nhu cầu thị trường và tập trung vào các sản phẩm có giá trị gia tăng cao Đồng thời, việc gia nhập WTO cũng mang lại không ích khó khăn cho các doanh nghiệp nhà nước như Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam nói chung và Công ty TNHH MTV xăng dầu Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng vì hội nhập đồng nghĩa với sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài sẽ dần dần thâm nhập vào thị trường xăng dầu đầy tiềm năng

3.2.3.3 Áp lực từ khách hàng

Nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ dầu mỏ của khách hàng ngày càng tăng, không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong dài hạn do sự bùng nổ dân số, các ngành công nghiệp tiếp tục phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của ngành giao thông do nhu cầu đi lại ngày càng nhiều Ngoài ra, đây còn là nguồn năng lượng chưa thể thay thế ngay bằng nguồn năng lượng khác Theo Viện phân tích An ninh Năng lượng toàn cầu, nhu cầu tiêu thụ dầu toàn cầu sẽ tăng khoảng 60% trong năm 2020 so với hiện nay Theo

Tổ chức quản trị thông tin năng lượng (Business Monitori Intemational), nhu cầu tiêu thụ dầu lỏng của thế giới tăng lên khoảng 107 triệu thùng/ngày trong năm 2030, ở Việt Nam mức tiêu thụ dầu sẽ tăng và đạt mức 460.000 thùng/ngày vào năm 2014

Trong 6 tháng đầu năm 2012 giá dầu và khí thế giới tăng giảm trái chiều, tiếp theo đà tăng từ 2011, sau khi đạt đỉnh vào tháng 3, giá dầu giảm mạnh trong quý 2.2012 và đạt đáy trong tháng 6, Giá khí gas thế giới tăng v t và đạt đỉnh trong quí 1 sau đó đột ngột giảm gần như theo chiều thẳng đứng kể từ tháng 4 đến tháng 7 Dự báo trong thời gian tới giá dầu, khí thế giới vẫn ở mức cao Trong các dự báo mới nhất của một số tổ chức và cơ quan nổi tiếng, phần lớn các tổ chức tài chính và cơ quan năng lượng có uy tín trên thế giới đều dự báo giá dầu trong 2013 sẽ tăng

Xăng dầu là ngành hàng tiêu dùng thiết yếu vì vậy nhu cầu tăng cao, nhưng giá

cả thế giới thì lại có chiều hướng tăng Trong khi tại Việt Nam hầu hết lượng xăng dầu

là nhập khẩu, điều này đã ảnh hưởng đến cái nhìn của người dân về ngành xăng dầu, người dân luôn cảm thấy ngành xăng dầu có lợi nhuận cao, được sự ưu ái của Nhà nước nhưng luôn than lỗ và tìm m i cách để tăng giá xăng dầu Đây quả thật là một áp lực lớn từ chính phía khách hàng của Công ty

3.2.3.4 Áp lực cạnh tranh trong nội bộ ngành

Trong những năm gần đây khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu Và theo thời gian các doanh nghiệp đó cũng đã phát triển mạnh, trở thành những đối thủ cạnh tranh lớn đối với Công ty trong việc trực tiếp nhập khẩu và kinh

Trang 29

doanh xăng dầu như: Saigon Petro, Công ty xăng dầu quân đội, Công ty xăng dầu hàng không, Vinapeco, Petro Mekong

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty trên thị trường, Công ty phải đánh giá lại thị trường, phân tích khả năng cạnh tranh của các để xếp loại và có hướng khắc phục thích hợp ( kể cả giải pháp về tổ chức cán bộ ) Như vậy, sẽ giúp Công ty

từng bước chiếm lĩnh thị trường trên địa bàn tỉnh

3.2.3.5 Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế

Ngày nay, bên cạnh những sản phẩm do ngành dầu khí sản xuất ra, ngành năng lượng còn có gỗ, sức nước, sức gió, địa nhiệt, ánh sáng mặt trời, nhiên và nhiên liệu hạt nhân (uranium) Hiện nay cũng có nhiều nghiên cứu xem xét nguồn nhiên liệu thay thế Trong đó CNG (Compressed Natural Gas) là khí thiên nhiên với thành phần chủ yếu là methane (CH4), được xử lý và nén ở áp suất cao (200 bar) để tồn trữ và vận

chuyển

CNG có tính năng tương tự khí thiên nhiên, sạch, chỉ chiếm khoảng 1/200 thể tích so với khí thiên nhiên ở trạng thái bình thường, dễ chuyên chở đi xa và có chỉ số Octane cao nên được sử dụng rộng rãi trên thế giới làm nhiên liệu động cơ thay thế xăng, dầu vì không giải phóng nhiều khí độc như NO, CO, SO2 khi cháy và hầu như không phát sinh bụi Các động cơ sử dụng CNG có thể làm giảm đến 93% lượng CO2, 33% lượng NO và đến 50% lượng hydrocarbon thải ra khi so sánh với động cơ xăng Giá thành CNG rẻ hơn xăng khoảng 10% đến 30% và có tính ổn định trong thời gian

dài so với giá các sản phẩm dầu mỏ

3.2.4 Phân tích SWOT

- Thị trường tiêu thụ của ngành xăng

dầu trên địa bàn tỉnh rất lớn

- Hưởng nhiều ưu đãi vì đây là ngành

chiến luợc cho sự phát triển kinh tế và an

ninh quốc gia

- Nhà nước có kế hoạch phát triển và

- Phụ thuộc hầu hết vào giá xăng dầu thế giới

- Công ty thuộc sự quản lý của Nhà nước nên khả năng linh động trong hoạt động kinh doanh thấp, tính ỷ lại cao

- Nhân lực chưa đáp ứng được hoàn toàn nhu cầu của ngành

Trang 30

- Nguồn vốn kinh doanh đảm bảo

- Được chuyển giao quy trình và hệ

thống quản lý chuyên nghiệp từ Tổng

Công ty

- Đội ngũ lao động gián tiếp g n, nhẹ

và lãnh đạo được sự ủng hộ từ địa

phương

- Tiếp tục được sự bảo trợ của Nhà

nước và tỉnh thành Bà Rịa – Vũng Tàu

nên được hưởng nhiều ưu đãi

- Chưa có nguồn năng lượng thay thế:

các nguồn năng lượng từ mặt trời, sức gió,

sóng biển … đòi hỏi đầu tư cao trong khi

hiệu quả thấp; nguồn năng lượng hạt nhân

rất hiệu quả nhưng lại đang có sự phản

đối khá quyết liệt vì hậu quả độc hải của

chất thải phóng xạ

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa

phương cao

- Nhu cầu thị trường tăng nhanh

- Sản phẩm kinh doanh đang ở giai

đoạn phát triển

- Việc mở rộng sang các lĩnh vực khác chịu sự cạnh tranh lớn do các tập đoàn và Công ty khác đã có kinh nghiệm lâu năm hơn

- Thị trường hấp dẫn nên tính cạnh tranh cao

3.2.5.1 Tổng quan về thị phần kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh BR-VT

Tính chung trên địa bàn cả nước thì Tập đoàn xăng dầu Việt Nam chiếm 60% thị phần, tại Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nhu cầu tiêu thụ bình quân một năm toàn tỉnh là 600.000 m³ Công ty TNHH MTV Xăng dầu Bà Rịa Vũng Tàu chiếm 39% sản lượng xăng dầu cung cấp trong toàn tỉnh

Qua bảng 3.1 Thị phần xăng dầu thị trường BRVT ta thấy sản lượng bán của công ty có xu hướng sụt giảm và thu hẹp thị phần nguyên nhân do sự mạnh lên của các đầu mối khác như Pvoil và Petec

Trang 31

Đối với Pvoil có kho đầu nguồn tại Vũng Tàu nên luôn có lợi thế về giá bán so với công ty, kết hợp với nhu cầu tăng lên của hoạt động khai thác dầu khí (120.000m³/năm) Công ty thương mại kỹ thuật và đầu tư (Petec) đã hoàn thành hệ thống kho bể, cầu cảng với sức chứa trên 80.000 m³, tiếp nhận tàu dung tích 60.000 tấn

để giảm giá thành vận chuyển, chi phí tạo nguồn Ngược lại Công ty chịu nhiều sức ép

từ cơ chế kinh doanh, hệ thống kho bể cầu cảng kém năng lực, chi phí vận tải tăng cao

do không phải công ty tuyến đầu

Bảng 3.1: Thị phần xăng dầu thị trường Bà Rịa – Vũng Tàu

STT Đầu mối cung cấp

Sản lượng (m³)

Tỉ l

%

Sản lượng (m³)

Tỉ

l

%

Sản lượng (m³)

Nguồn: Sở công thương Vũng Tàu

Đồ thị 3.3: Thị phần xăng dầu thị trường Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2012

Sài Gòn Petro Hóa dầu quân đội Các đầu mối khác

Trang 32

3.2.5.2 H thống phân phối xăng dầu của Công ty

Tính đến cuối năm 2012 Công ty có hệ thống phân phối rộng khắp trên tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, tỉnh Bình Thuận và một phần tỉnh Đồng Nai Trong đó:

- Hệ thống cửa hàng bán lẻ của Công ty có 42 cửa hàng bao gồm 28 cửa hàng tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, 1 cửa hàng tại tỉnh Đồng Nai và 13 cửa hàng tại tỉnh Bình Thuận ( do chi nhánh xăng dầu Bình Thuận quản lý)

- 1 Tổng đại lý với 4 điểm bán phân bố trong thành phố Vũng Tàu

- 31 đại lý với tổng cộng 41 điểm bán phân bố rộng khắp các huyện trong tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu

- Hệ thống khách hàng tại tỉnh Bình Thuận với 7 khách hàng phân bố trong tỉnh Bình Thuận

3.2.5.3 Thực trạng bán hàng và sản lƣợng tiêu thụ

Trang 34

Trong 4 năm qua kết quả tiêu thụ xăng dầu của Công ty đã có những thay đổi rõ nét Sản lượng bán ra có xu hướng giảm dần theo từng năm Nếu như năm 2009 sản lượng đạt mức cao (325.248 M3) thì năm 2010 giảm 22,73% và các năm tiếp theo cũng

có xu hướng giảm Sản lượng tiêu thụ dầu sáng thể hiện chi tiết tại bảng 3.2, 3.3: Sản

lượng tiêu thụ dầu sáng (2009 - 2012)

Xét về xu hướng, sản lượng thực hiện giảm mạnh theo từng năm và không đều Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau như sự khó khăn nền kinh tế (đặc biệt là vận tải biển), sự cạnh tranh khốc liệt và thiếu lành mạnh về hoa hồng, cơ chế kinh doanh có bước thay đổi theo cơ chế quản lý theo thị trường

- Bán buôn trực tiếp: 63.626 M3, giảm -67.345 M3, tức -51,42% so với năm 2009

- Bán qua Tổng đại lý: 37.997 M3, giảm -25.247 M3, tức -39,92% so với năm 2009

- Bán qua đại lý: 51.960 M3, giảm -6.063 M3, tức -10,45% so với năm 2009

- Bán lẻ: 50.706M3, tăng 5.325 M3, tức 11,73% so với năm 2009

- Tái xuất: 47.045M3, tăng 21.638 M3, tức 85,17% so với năm 2009

Sản lượng bán theo cơ cấu mặt hàng:

- Xăng: 43.380 M3, giảm -9% so với năm 2009

- Diezel: 151.660 M3, giảm -21,91% so với năm 2009

- Mazut: 55.288 M3, giảm -31,96% so với năm 2009

- Dầu hỏa: 1.001 M3, giảm -38,74% so với năm 2009

Trang 35

Trong giai đoạn 2009-2012 thì năm 2010 là năm Công ty thực hiện tình hình sản lượng thấp nhất Không những sản lượng giảm trên tất cả các mặt hàng mà còn giảm mức thấp kỉ lục Tuy nhiên, sự giảm sút sản lượng được xem là hợp lý trong bối cảnh chung của nền kinh tế cũng như sự thay đổi của cơ chế kinh doanh xăng dầu

Năm 2010, năm đầu tiên kinh doanh xăng dầu xóa bỏ bù lỗ và thực hiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Khi cơ chế kinh doanh thay đổi, Petrolimex không theo đuổi gia tăng sản lượng bằng m i giá (vì thực tế kinh doanh xăng dầu cho phương thức đại lý, tổng đại lý hầu như lỗ tại m i thời điểm) mà tập trung tìm kiếm khách hàng để bán có lãi, tăng lợi nhuận Điều này giải thích vì sao sản lượng tiêu thụ cho khối Tổng đại lý và đại lý giảm rất mạnh Tuy nhiên, có một nguyên nhân khác làm cho tổng sản lượng giảm là việc chuyển đổi sử dụng nhiện liệu

từ dầu Do sang khí của Công ty điện làm cho lượng hàng bán cho công ty điện giảm hẳn đồng thời công ty kính Công nghiệp Việt Nam ngừng hoạt động làm sản lượng tiêu thụ giảm mạnh

Bên cạnh đó, tiếp đà tăng trưởng năm 2009, năm 2010 sản lượng bán tái xuất tiếp tục tăng cao và đạt mức cao nhất trong giai đoạn Tuy nhiên năm 2010 có dấu hiệu suy thoái của các doanh nghiệp vận tải biển vì vậy cuối năm 2010 sản lượng tái xuất giảm

và khó khăn trong thu hồi công nợ

Sản lượng tiêu thụ khối cửa hàng bán lẻ tiếp tục tăng trưởng tốt với tốc độ tăng trưởng 11,73% (vượt kế hoạch đề ra và tăng trưởng cao hơn năm 2009) Với chủ trương của công ty trong giai đoạn tới dự đoán khối cửa hàng bán lẻ tiếp tục có những chuyển biến tích cực

Năm 2011 là năm thứ 2 thực hiện kinh doanh theo cơ chế thị trường Đây cũng là giai đoạn nền kinh tế bắt đầu bước vào giai đoạn khó khăn, tình hình sản xuất, kinh doanh không thuận lợi Trong điều kiện đó, Công ty ngoài việc thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường xăng dầu trên địa bàn còn có sự tăng trưởng về sản lượng tiêu thụ Xét về phương thức bán hàng:

- Bán buôn trực tiếp: 90.096 M3, tăng 26.470 M3, tức 41,60% so với năm 2010

- Bán qua Tổng đại lý: 37.946 M3, tương đương năm 2010

- Bán qua đại lý: 42.457 M3, giảm -9.503 M3, tức -18,29% so với năm 2010

- Bán lẻ: 57.162M3, tăng 6.456 M3, tức 12,73% so với năm 2010

- Tái xuất: 33.888M3, giảm -13.157 M3, tức -27,97% so với năm 2010

Sản lượng bán theo cơ cấu mặt hàng:

- Xăng: 44.336 M3, tăng 2,2% so với năm 2010

- Diezel: 162.082 M3, tăng 6,87% so với năm 2010

- Mazut: 54.153 M3, giảm -2,05% so với năm 2010

- Dầu hỏa: 978 M3, giảm 2,3% so với năm 2010

Năm 2011 đánh dấu sự tăng trưởng trở lại của bán buôn trực tiếp khi tăng 41,6%

so với năm 2010 Sau 1 năm thực hiện cơ chế kinh doanh theo thị trường sản lượng tiêu thụ về tổng thể đã tăng trưởng và bắt đầu có tính ổn định Khi mà cơ chế mới vẫn

Trang 36

còn những bất cập thì phải cần một thời gian dài để các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đảm bảo tốc độ tăng trưởng và bền vững

Sản lượng tiêu thụ khối khách hàng đại lý tiếp tục giảm và tốc độ giảm có tính đều đặn (khoảng 10 - 20%) Sản lượng tiêu thụ khối tổng đại lý không đổi (vì chỉ có 1 tổng đại lý nên phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của Tổng đại lý này), sản lượng bán lẻ tiếp tục tăng trưởng trong khi tái xuất giảm

Sản lượng tiêu thụ tái xuất giảm do nhiều nguyên nhân trong đó do 2 nguyên nhân chính:

- Tình hình thanh toán công nợ kém (như Công ty vận tải biển Vosco, Vitranchat…) nên công ty chủ động không bán hàng và giảm sản lượng đối với khách hàng thanh toán không tốt, nợ quá hạn lâu ngày

- Tình hình vận tải biển gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp vận tải biển giảm nhu cầu mua hàng trong khi hiệu quả kinh doanh không tốt

Sau 1 năm tăng trưởng về sản lượng tiêu thụ năm 2012 lại ghi nhận sự sụt giảm về sản lượng Có thể nói đây là năm mà ngành xăng dầu gặp nhiều khó khăn khi giá nhập khẩu liên tục tăng làm cho giá bán tăng theo và ảnh hưởng chung đến sự phát triển của nền kinh tế

Cuối năm 2011 nền kinh tế đã bắt đầu đi vào chu kỳ suy thoái và năm 2012 thực

sự đã suy thoái trên bình diện thế giới trong đó nước ta cũng không tránh khỏi đà suy thoái Giá nhập khẩu tăng cao, giá bán chịu sức ép dư luận đã không thể tăng nên kinh doanh xăng dầu luôn trong tình trạng thua lỗ Vì vậy, ngoài khối bán lẻ có sự tăng trưởng ổn định (đây cũng là khối kinh doanh mang lại lợi nhuận cao nhất) thì các khối kinh doanh khác đều sụt giảm về sản lượng làm cho tổng sản lượng giảm 7,34% so với năm 2011

Xét về phương thức bán hàng:

- Bán buôn trực tiếp: 81.776 M3, giảm -8.320 M3, tức -9,23% so với năm 2011

- Bán qua Tổng đại lý: 27.570 M3, giảm -10.376 M3, tức -27,34% so với năm 2011

- Bán qua đại lý: 36.100 M3, giảm -6.357 M3, tức -14,97% so với năm 2011

- Bán lẻ: 67.143 M3, tăng 9.981 M3, tức 17,46% so với năm 2011

- Tái xuất: 29.764 M3, giảm -4.124 M3, tức -12,17% so với năm 2011 Sản lượng bán theo cơ cấu mặt hàng:

- Xăng: 46.961 M3, tăng 5,92% so với năm 2011

- Diezel: 150.168 M3, giảm -7,35% so với năm 2011

- Mazut: 44.369 M3, giảm -8,07% so với năm 2011

- Dầu hỏa: 855 M3, giảm -2,58% so với năm 2011

Như vậy năm 2012 sản lượng tiêu thụ giảm đều trên hầu hết các phương thức bán hàng (trừ phương thức bán lẻ) và các mặt hàng (trừ mặt hàng xăng) Sự giảm xuống này là hợp lý trong điều kiện kinh doanh xăng dầu liên tục thua lỗ Việc sản lượng của doanh nghiệp bán ra trong khi thua lỗ do nhiệm vụ bình ổn và cung cấp nhiên liệu trên

Trang 37

thị trường Với đà suy thoái kinh tế như hiện nay dự đoán năm 2013 tiếp tục có sự giảm sút về sản lượng tiêu thụ cũng như lãi gộp, lợi nhuận của Công ty

Như vậy, nhìn tổng thể ta thấy tốc độ tăng trưởng/giảm sút sản lượng tiêu thụ như sau:

Đồ thị 3.4: Tình hình biến động sản lƣợng xăng dầu (2009-2012)

Nhìn vào đồ thị 3.4: tình hình biến động sản lượng xăng dầu (2009 - 2012) ta thấy tình hình thực hiện sản lượng là không ổn định và phụ thuộc vào sự biến động của sản lượng bán buôn trực tiếp Tuy nhiên, đây là giai đoạn có nhiều biến động và thay đổi trong cơ chế kinh doanh xăng dầu Nếu theo quy định từ những năm 2008 trở về trước thực hiện cơ chế bù lỗ các doanh nghiệp thực hiện chỉ tiêu quan tr ng nhất là lãi gộp (Doanh thu - giá vốn) Trong khi giá vốn theo cơ chế giá giao thì để thực hiện được việc tăng doanh thu các Công ty xăng dầu tập trung tăng sản lượng bán ra Đó cũng là lý do trước năm 2008 sản lượng thực hiện cao và năm 2009-2011 sản lượng giảm hẳn

Thực tế kinh doanh xăng dầu trong nhiều giai đoạn càng bán càng lỗ Đặc biệt những năm gần đây vì thế thay vì việc tăng sản lượng các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, tập trung sàng l c khách hàng và đảm bảo lợi nhuận

Qua phân tích trên ta thấy kinh doanh xăng dầu trong một giai đoạn dài vẫn gặp nhiều khó khăn và phụ thuộc vào sự biến động của nền kinh tế cũng như quá trình thay đổi cơ chế của nhà nước Với đặc thù riêng của mình, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu nói chung, Petrolimex nói riêng cần có chiến lược riêng để phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh trong từng giai đoạn

3.3 Phân tích khái quát tình hình tài chính Công ty TNHH MTV XD BRVT

3.3.1 Đánh giá khái quát tình hình biến động tài sản và nguồn vốn

Bảng 3.4 Tình hình biến động tài sản và nguồn vốn Công ty XD BRVT

Trang 38

(+/-) (%) (+/-) (%)

II.Các khoản đầu tư TSNH

Trang 39

3.3.1.1 Phân tích tình hình biến động tài sản

Đồ thị 3.5: Tổng tài sản

0 50

Từ bảng 3.4 ta có thể nhận xét về cơ cấu tài sản như sau:

- Tổng tài sản của Công ty Petrolimex Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2010 là 207.153 triệu đồng, tính đến cuối năm 2011 là 415.302 triệu đồng, tăng 100,48% tức 208.149 triệu đồng và năm 2012 giảm xuống mức 386.623 triệu đồng, tức giảm -6,91% tương đương – 28.679 triệu đồng so với 2011

Sự biến động tổng tài sản năm 2011 chủ yếu do sự tăng lên của khoản phải thu, các khoản đầu tư dài hạn và đánh giá lại tài sản cố định để thực hiện cổ phần hóa Tổng công ty Xăng dầu Việt nam-nay là tập đoàn xăng dầu Việt Nam

Sự biến động tổng tài sản năm 2012 chủ yếu do sự giảm xuống của tiền tức -5.499 triệu đồng tương đương 69,46% và khoản phải thu tức -18.096 triệu đồng tương đương 11,84%

- Như trên đã phân tích tài sản của Công ty bao gồm hai bộ phận tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn

Tài sản ngắn hạn

Trong giai đoạn 2010 – 2012, tài sản ngắn hạn biến động không có tính ổn định Năm 2010, tài sản ngắn hạn đạt 106.519 triệu đồng, và tăng lên 166.834 triệu đồng tức 56,62% tương đương tăng 60.315 triệu đồng vào năm 2011 Nhưng đến năm 2012 giảm xuống còn 141.956 triệu đồng, tức giảm -14,91% (tương đương giảm -24.878 triệu đồng)

Triệu đồng

Trang 40

Sự biến động của tài sản ngắn hạn tại Petrolimex Vung tau phụ thuộc vào sự biến động của khoản phải thu Nếu như hàng tồn kho, tiền và các khoản tương đương tiền ít biến động thì khoản phải thu luôn có tỷ tr ng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn (Thường chiếm trên 90% tài sản ngắn hạn) vì vậy sự biến động của khoản phải thu tác động lớn đến tài sản ngắn hạn Năm 2010 khoản phải thu đạt 92.259 triệu đồng thì năm 2011 đạt 152.781 triệu đồng tăng 60.522 triệu đồng tương đương 65,60%

Đồ thị 3.6: Cơ cấu tài sản

So với năm 2010, tài sản ngắn hạn năm 2011 đạt 166.834 triệu đồng tăng 56,62% (tương đương tăng 60.315 triệu đồng ) chủ yếu là do các khoản phải thu năm 2011 đạt 152.781 triệu đồng tăng 65,60% (tương đương 60.522 triệu đồng) Ta cũng có thể thấy tài sản ngắn hạn khác tăng lên 1.229 triệu đồng tức 144,33% tương đương 726 triệu đồng Tuy nhiên, cũng có sự giảm xuống không quá lớn của một số chỉ tiêu khác trong năm, các khoản vốn bằng tiền đạt 7.917 triệu đồng giảm -0,823 triệu đồng (tương đương -9,24%), trong khi hàng tồn kho đạt 4.905 triệu đồng giảm -2,21% (tương đương -0,111 triệu đồng)

Theo cơ chế 595- cơ chế kinh doanh xăng dầu của tập đoàn Petrolimex thì mỗi Công ty thành viên căn cứ nhu cầu trong từng kỳ (Tính theo quý) để đặt hàng cho tập đoàn Trong trường hợp đơn đặt hàng không sát với kế hoạch ( ượng hàng thực tế lấy cao hơn so với đơn đặt hàng) thì Công ty sẽ phải chịu phạt và được tính vào giá nhập kho Vì vậy, Petrolimex Ba ria Vung tau luôn phải ước tính mức hàng tồn kho chính xác nhất có thể để đặt hàng Vì vậy lượng hàng tồn kho luôn có độ ổn định cao

106.519

166.834

141.956 100.633

248.468

244.666

0 50 100

Ngày đăng: 22/09/2014, 07:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy của Petrolimex Bà Rịa – Vũng Tàu - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
th ị 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy của Petrolimex Bà Rịa – Vũng Tàu (Trang 5)
Bảng 2.1. Phân tích ROA theo phương trình Dupont - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
Bảng 2.1. Phân tích ROA theo phương trình Dupont (Trang 18)
Đồ thị 3.1: Nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ở Vi t Nam giai đoạn 2001-2012 - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
th ị 3.1: Nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ở Vi t Nam giai đoạn 2001-2012 (Trang 21)
Đồ thị 3.2: Tăng trưởng GDP Vi t Nam giai đoạn 2000 – 2012 - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
th ị 3.2: Tăng trưởng GDP Vi t Nam giai đoạn 2000 – 2012 (Trang 25)
Bảng 3.1: Thị phần xăng dầu thị trường Bà Rịa – Vũng Tàu - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
Bảng 3.1 Thị phần xăng dầu thị trường Bà Rịa – Vũng Tàu (Trang 31)
Đồ thị 3.4: Tình hình biến động sản lƣợng xăng dầu  (2009-2012) - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
th ị 3.4: Tình hình biến động sản lƣợng xăng dầu (2009-2012) (Trang 37)
Đồ thị 3.5: Tổng tài sản - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
th ị 3.5: Tổng tài sản (Trang 39)
Đồ thị 3.6: Cơ cấu tài sản - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
th ị 3.6: Cơ cấu tài sản (Trang 40)
Đồ thị 3.10: H  số thanh toán tổng quát - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
th ị 3.10: H số thanh toán tổng quát (Trang 49)
Bảng 3.8: H  số thanh toán hi n hành - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
Bảng 3.8 H số thanh toán hi n hành (Trang 49)
Đồ thị 3.11: H  số thanh toán hi n hành - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
th ị 3.11: H số thanh toán hi n hành (Trang 50)
Bảng 3.9: H  số thanh toán nhanh - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
Bảng 3.9 H số thanh toán nhanh (Trang 51)
Đồ thị 3.12: H  số thanh toán nhanh - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
th ị 3.12: H số thanh toán nhanh (Trang 52)
Đồ thị 3.13: H  số nợ - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
th ị 3.13: H số nợ (Trang 53)
Bảng 3.11: H  số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu (D/E) - Phân tích tình hình tài chính và đưa ra một số giải pháp về tài chính tại công ty TNHH MTV xăng dầu bà rịa   vũng tàu
Bảng 3.11 H số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu (D/E) (Trang 54)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w