ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH – TÀI SẢN, ĐẶC BIỆT CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ GÓP VỐN BAN ĐẦU CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh trên thế giới đang có những thay đổi to lớn. Hoà bình, hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới. Các nước cần có môi trường hoà bình, ổn định và ngày càng mở rộng quan hệ với thế giới bên ngoài. Cùng với sự phát triển của ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của các dân tộc, các mối quan hệ đa phương của các khu vực và quốc tế đóng vai trò ngày càng quan trọng. Hội nhập không chỉ tạo ra những điều kiện phát triển thuận lợi, mà còn đặt ra nhiều thách thức mới. Đây thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để góp phần phát triển kinh tế và củng cố an ninh chính trị, độc lập kinh tế và giữ gìn bản sắc dân tộc của mỗi nước thông qua việc thiết lập các mối quan hệ phụ thuộc đan xen lẫn nhau. Quá trình toàn cầu hoá đã hình thành một thế giới thống nhất, một hệ thống tri thức mang tính toàn cầu. Trong quá trình hội nhập, hệ thống giáo dục ở nước ta đang từng bước đổi mới nhằm phù hợp và thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ trương xã hội hoá hoạt động giáo dục và đào tạo nói chung và hoạt động giáo dục và đào tạo đại học, cao đẳng tư thục nói riêng của Đảng và Nhà nước nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội cho giáo dục là định hướng quan trọng trong quá trình đổi mới hệ thống giáo dục hiện nay. Hoạt động giáo dục và đào tạo đại học, cao đẳng tuy đã thực hiện trong vài năm gần đây song nhận thức về chủ trương lớn này chưa được quán triệt thấu suốt trong xã hội và trong quá trình thực hiện, ngoài những thành tựu đã được khẳng định, tạo cơ hội học tập cho hàng chục nghìn người ở các bậc học, giảm gánh nặng ngân sách cho Nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong xã hội tham gia… Cùng với những thành tựu đó, trong quá trình hoạt động giáo dục và đào tạo của các trường Đại học, Cao đẳng tư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC BÀ RỊA – VŨNG TÀU
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH – TÀI SẢN, ĐẶC BIỆT
CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH
TỔ CHỨC QUẢN LÝ GÓP VỐN BAN ĐẦU
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học : TS TRẦN THỊ THU HÀ
Tổ nghiên cứu khoa học : ThS Phạm Ngọc Khanh (CB)
ThS Vũ Văn Đông
CN Đỗ Thị Bích Hồng
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh trên thế giới đang có những thay đổi to lớn Hoà bình, hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới Các nước cần có môi trường hoà bình, ổn định và ngày càng mở rộng quan hệ với thế giới bên ngoài Cùng với sự phát triển của ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của các dân tộc, các mối quan hệ đa phương của các khu vực và quốc tế đóng vai trò ngày càng quan trọng Hội nhập không chỉ tạo ra những điều kiện phát triển thuận lợi, mà còn đặt ra nhiều thách thức mới Đây thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để góp phần phát triển kinh tế và củng cố an ninh chính trị, độc lập kinh tế và giữ gìn bản sắc dân tộc của mỗi nước thông qua việc thiết lập các mối quan hệ phụ thuộc đan xen lẫn nhau
Quá trình toàn cầu hoá đã hình thành một thế giới thống nhất, một hệ thống tri thức mang tính toàn cầu Trong quá trình hội nhập, hệ thống giáo dục ở nước ta đang từng bước đổi mới nhằm phù hợp và thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chủ trương xã hội hoá hoạt động giáo dục và đào tạo nói chung và hoạt động giáo dục và đào tạo đại học, cao đẳng tư thục nói riêng của Đảng và Nhà nước nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội cho giáo dục là định hướng quan trọng trong quá trình đổi mới hệ thống giáo dục hiện nay
Hoạt động giáo dục và đào tạo đại học, cao đẳng tuy đã thực hiện trong vài năm gần đây song nhận thức về chủ trương lớn này chưa được quán triệt thấu suốt trong xã hội và trong quá trình thực hiện, ngoài những thành tựu đã được khẳng định, tạo cơ hội học tập cho hàng chục nghìn người
ở các bậc học, giảm gánh nặng ngân sách cho Nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong xã hội tham gia… Cùng với những thành tựu đó, trong quá trình hoạt động giáo dục và đào tạo của các trường Đại học, Cao đẳng tư
Trang 3thục cũng bộc lộ nhiều bất cập về phương diện pháp luật và thiếu sót về phương diện quản lý, tổ chức thực hiện
14 năm hình thành và phát triển các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam cho thấy nhiều vấn đề còn yếu kém và lung túng trong việc quản lý 14 năm hoạt động với 47 trường ra đời, mỗi trường hoạt động theo một cách khác nhau vì thật sự chưa có cơ chế chính sách pháp lý hữu hiệu
Trước thềm và đầu thế kỷ 21 trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu đổi mới giáo dục thích ứng với sự phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện toàn cầu hóa Đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO thì việc phát triển
và nâng cao kiến thức là một điều vô cùng cần thiết Song song với một hệ thống trường đại học, cao đẳng phát triển mạnh thì điều quan trọng là phải
có được cơ sở vật chất, hạ tầng kiên cố, đồng thời nguồn tài chính của các trường phải vững mạnh để kịp thời đáp ứng các nhu cầu cấp thiết
Thực tiễn nhiều năm qua cũng cho thấy, mặc dù đã có những tiến bộ căn bản trên nhiều phương diện quản lý hoạt động các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, đặc biệt là quản lý tài chính – tài sản vẫn còn quá yếu kém, lỏng lẻo, khá nhiều lúng túng và bất cập do không có một phương pháp
và chính sách cụ thể Bên cạnh đó, việc góp vốn ban đầu để thành lập và phát triển trường còn nhiều vấn đề đang phải bàn cải và chưa có một quy định chung nào về việc chia cổ tức, lợi nhuận cho những thành viên góp vốn ban đầu nên làm cho những người muốn đầu tư phát triển cũng phải đắn đo suy nghĩ Điều này đã ảnh hưởng nhiều đến tốc độ phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường hiệu lực quản lý tài chính – tài sản trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập
Ngành giáo dục là một trong những ngành trọng điểm của một quốc gia Chính vì lẽ đó, cần phải phát huy tối đa việc xây dựng và phát triển hệ thống các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, mà điều trước tiên để phát triển thật sự tốt thì cần phải có cơ sở vật chất hạ tầng đảm bảo và nguồn tài chính của trường vững mạnh
Trang 4Với những điều cấp thiết nói trên, do đó tác giả đã đưa đến việc
nghiên cứu đề tài khoa học: “Quản lý tài chính – tài sản, đặc biệt các giải
pháp hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý góp vốn ban đầu của Trường Đại học, Cao đẳng ngoài công lập Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Có nhiều vấn đề đề cập đến việc phát triển các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam, tuy nhiên chỉ mang tính chất chung chung, khái quát, chưa đưa ra các chính sách và giải pháp cụ thể, chuyên sâu trong việc quản lý tài chính – tài sản và việc góp vốn ban đầu tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam cũng như trong việc chia cổ tức cho phù hợp với các cổ đông sáng lập đầu tiên của trường nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư và phát triển vào các trường đại học cao đẳng
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Đề tài đưa ra mục tiêu nghiên cứu chủ yếu:
Đưa ra cơ sở lý luận về quản lý tài chính tài sản và góp vốn tại một đơn vị Tìm hiểu thực tế hiện nay ở một số trường đại học cao đẳng trong việc quản lý tài chính - tài sản và góp vốn ban đầu để rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết cho việc quản lý tài chính - tài sản vốn góp tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam
Phân tích và đánh giá thực trạng tình hình quản lý tài chính - tài sản
và mô hình quản lý góp vốn hiện nay của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập nhằm thấy được những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó
Đưa ra các giải pháp cụ thề nhằm hoàn thiện việc quản lý tài chính tài sản và mô hình quản lý vốn góp ban đầu tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý tài chính - tài sản ở một số trường đại học, cao đẳng ngoài công lập đã hình thành tương đối lâu năm, nghiên cứu mô hình quản lý góp vốn ban đầu ở một số trường đại học
Trang 55 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu bằng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, mô tả và suy luận tư duy logic để đánh giá việc quản lý tài chính tài sản và mô hình quản lý vốn góp ban đầu tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam
6 Nội dung nghiên cứu
Hệ thống hóa một số lý luận có liên quan đến việc quản lý tài chính tài sản và quản lý vốn góp
Phân tích, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng trong công việc quản lý tài chính tài sản vốn góp ban đầu của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập
Đưa ra một số quan điểm, biện pháp làm cơ sở cho công tác hoàn thiện quản lý tài chính - tài sản và mô hình quản lý vốn góp ban đầu tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam
Phân tích một số chính sách tài chính cho giáo dục đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam và rút ra được những thuận lợi và hạn chế
Đưa ra một số mô hình quản lý góp vốn ban đầu hiệu quả tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển ngày cao càng trong công tác giáo dục như ngày nay
7 Tên bố cục của đề tài
Tên đề tài: “Quản lý tài chính - tài sản, đặc biệt các giải pháp hoàn
thiện mô hình tổ chức quản lý góp vốn ban đầu của trường Đại học, Cao đẳng ngoài công lập Việt Nam”
Bố cục của đề tài: ngoài các phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận về quản lý tài chính - tài sản và đặc biệt
quản lý góp vốn của trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính - tài sản và mô hình tổ chức
quản lý góp vốn ban đầu của trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam
Trang 6Chương 3: Một số giải pháp quản lý tài chính - tài sản và hoàn thiện
mô hình tổ chức quản lý góp vốn ban đầu của trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam
Trang 7Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH - TÀI SẢN VÀ ĐẶC BIỆT QUẢN LÝ GÓP VỐN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM
1.1 Một số lý luận về loại hình trường đại học, cao đẳng ngoài công lập
1.1.1 Hàng hóa công cộng và hàng hóa cá nhân
1.1.1.1 Hàng hóa công cộng
Là hàng hóa mà mỗi thành viên trong xã hội đều có nhu cầu tiêu dùng
và có thể sử dụng chung Ở đây, việc tiêu dùng của người này không làm ảnh hưởng đến mức tiêu dùng của người khác
1.1.1.2 Hàng hóa cá nhân
Là loại hàng hóa mà việc tiêu dùng của người này sẽ làm hạn chế khả năng tiêu dùng của người khác Hàng hóa cá nhân chủ yếu được đáp ứng từ nguồn lực cá nhân, mặc dù có thể được khu vực công cộng cung cấp
Từ hai khái niệm về hàng hóa công cộng và hàng hóa cá nhân trên cho thấy các trường đại học, cao đẳng là loại hình dịch vụ cung cấp hàng hóa công cộng
1.1.2 Trường đại học, cao đẳng công lập và ngoài công lập
1.1.2.1 Trường đại học, cao đẳng công lập
Là loại hình dịch vụ cung cấp hàng hóa công cộng Tài sản và nguồn vốn của các trường đại học, cao đẳng công lập đều được nhà nước cấp vốn
từ ngân sách của nhà nước hằng năm Đồng thời việc chi tiêu và thu nhập của các trường đại học, cao đẳng cũng do nhà nước quy định
1.1.2.2 Trường đại học, cao đẳng ngoài công lập
Là loại hình dịch vụ cung cấp hàng hóa công cộng Tài sản và nguồn vốn của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập đều được hình thành bằng việc góp vốn của các cổ đông để xây dựng và phát triển trường Do đó, việc chi tiêu và thu nhập của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập do hội đồng quản trị quy định
Trang 8Vì vậy, Trường đại học, cao đẳng công lập và ngoài công lập Việt Nam là loại hình thực hiện xã hội hóa giáo dục đào tạo, là đơn vị dự toán
1.2 Khái niệm về quản lý tài chính tài sản
1.2.1 Khái niệm về tài chính – tài sản
1.2.1.1 Tài chính công
Tài chính công là tài chính gắn liền với các hoạt động thu chi bằng tiền của nhà nước, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước đối với xã hội không nhằm mục đích lợi nhuận
Tài sản công là tài sản do Nhà nước tự có hoặc mua sắm, được biếu tặng Tài sản công được sử dụng, bảo quản và quản lý của Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng và thông qua toàn dân
1.2.1.2 Tài chính các trường ngoài công lập
Tài chính của các trường ngoài công lập gắn liền với các hoạt động thu chi bằng tiền của các trường, phản ánh mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của các trường nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng vốn có của các trường nhằm mục đích thu lợi nhuận
Tài sản các trường ngoài công lập là tài sản do các trường đại học tự
bỏ vốn ra để mua sắm hoặc được biếu tặng do đó, tài sản này phải được sự bảo quản và quản lý của các trường thông qua các bộ phận quản lý cụ thể của các trường
1.2.2 Nguyên tắc của quản lý tài chính – tài sản
1.2.2.1 Nguyên tắc quản lý tài chính
1.2.2.1.1 Các nguồn thu vào từ học phí và thu từ huy động bên ngoài:
Các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập thu học phí và các khoản thu khác nhằm trang trải cho các hoạt động và phát triển theo quy định của Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền
Các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập cần quản lý các nguồn
Trang 9công văn quy định cụ thể việc thu học phí và các khoản lệ phí theo một thời gian nhất định trong từng học kỳ để thuận tiện trong việc theo dõi nguồn thu lớn nhất và chủ yếu của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập
Quản lý khoản thu từ việc góp vốn theo nguyên tắc từng đợt huy động
để thấy được sự thu hút việc góp vốn trong từng đợt như thế nào, so sánh với các đợt góp vốn trước đó để có những biện pháp khắc phục hoặc nâng cao khả năng huy động vốn góp
Quản lý các khoản thu khác theo từng năm để so sánh giữa các năm với nhau xem có phát triển, có hiệu quả hay không, như các khoản thu từ nghiên cứu khoa học, thu từ các hoạt động liên kết hợp tác đào tạo, hợp tác chuyển giao công nghệ, kỹ thuật
1.2.2.1.2 Các khoản chi cho hoạt động:
Quản lý các khoản chi như chi lương, thưởng, phụ cấp cho cán bộ công nhân viên, giảng viên theo từng kỳ là tháng
Quản lý các khoản chi cho giáo dục, cơ sở hạ tầng, thiết bị dạy học, thiết bị thí nghiệm, sách giáo khoa, giáo trình phục vụ trong thư viện một cách chặt chẽ để đưa ra các chiến lược chi tiêu phù hợp nhằm đáp ứng kịp thời, đầy đủ các yêu cầu cấp thiết của chương trình đào tạo
Quản lý các khoản chi khen thưởng chi học bổng cho sinh viên để khuyến khích phấn đấu việc học của sinh viên trong trường; chi cho các sinh viên diện chính sách, khó khăn theo quy định của nhà nước
Quản lý các khoản chi khác để thực hiện việc chi tiêu hợp lý
1.2.2.2 Nguyên tắc quản lý tài sản
Quản lý tài sản dựa trên hiện vật như cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc, tiền mặt, công cụ dụng cụ… Phải lập ra một đội ngũ quản lý từng lĩnh vực cụ thể như tài sản cố định và công cụ dụng cụ phải có người quản lý
và chịu trách nhiệm riêng, tiền mặt và các khoản phải thu có người quản lý
và chịu trách nhiệm riêng biệt nhằm gắn cho nhân viên quản lý có quyền và
có trách nhiệm đối với những tài sản do mình quản lý Đến cuối kỳ phải lập báo cáo cụ thể về mặt số lượng, chất lượng của các tài sản đó Từ đó, ban lãnh đạo đơn vị sẽ đưa ra những quyết định đối với những tài sản đang có và
Trang 10có sự cân đối lại giữa các tài sản, nâng cấp, sửa chữa tài sản hoặc có sự đầu
tư vào những tài sản đang còn thiếu hụt
Quản lý tài sản dựa trên giá trị của tài sản như giá trị của các tài sản
cố định, tổng giá trị tiền mặt hiện có, tổng giá trị tiền gửi ngân hàng hiện có, tổng giá trị các nguồn đầu tư ngắn hạn, dài hạn trong kỳ, tổng giá trị các khoản phải thu… Việc quản lý này dựa trên sổ sách kế toán là chủ yếu, do
đó đòi hỏi của phương pháp này là việc ghi chép trên sổ sách kế toán là phải chính xác, kịp thời và thống nhất trong một niên độ kế toán Từ các số liệu
có được, ban lãnh đạo sẽ đưa ra các quyết định bổ sung vốn hoặc thu hẹp vốn vào các tài sản hiện có hoặc họ sẽ đầu tư vốn vào các tài sản tương tự nhưng với mức giá khác hợp lý hơn cho các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập
1.2.3 Mục tiêu của quản lý tài chính – tài sản
Mục tiêu của quản lý tài chính tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập là nhằm thấy được những mặt thuận lợi, khó khăn trong việc huy động, phân phối và kiểm tra tài chính để đưa ra những giải pháp hiệu quả hơn trong việc sử dụng nguồn tài chính của đơn vị với chi phí sử dụng nguồn tài chính là thấp nhất Việc huy động nguồn tài chính đối với các trường ngoài công lập là một vấn đề quan trọng để phát triển mạnh mẽ cơ sở vật chất hạ tầng cho các trường Do đó, quản lý vốn góp một cách chặt chẽ
để thấy được tình hình vốn góp hiện có của đơn vị để đưa ra các chiến lược nhằm thu hút nguồn vốn góp của các nhà đầu tư cũng như đưa ra các cách thức phân phối lợi nhuận cho hợp lý và hấp dẫn đối với nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài
Mục tiêu của quản lý tài sản là nhằm đảm bảo tài sản của đơn vị, đồng thời thấy được những mặt thiếu xót để đầu tư thêm cho hoàn thiện cũng như mặt thừa thải để giảm bớt nhằm tránh thất thoát và lãng phí cho đơn vị Từ việc quản lý tài sản để đưa ra các phương hướng để đổi mới các trang thiết
bị, máy móc của các phòng, khoa cho phù hợp với từng thời kỳ và phát triển khoa học kỹ thuật ngày càng tăng cao
Trang 111.2.4 Ý nghĩa của quản lý tài chính – tài sản
Quản lý tài chính có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, nó giúp cho đơn vị kiểm tra, theo dõi tình hình tài chính của đơn vị để từ đó đưa ra những giải pháp kịp thời nhằm đáp ứng các nhu cầu cần thiết và cấp bách của đơn vị, cũng như theo dõi việc sử dụng nguồn tài chính đó hiệu quả hay chưa để khắc phục hoặc nâng cao việc thực hiện
Quản lý tài chính thu hút nguồn vốn góp của các nhà đầu tư cũng như đưa ra các cách thức phân phối lợi nhuận cho phù hợp và hấp dẫn các nhà đầu tư trong cũng như nước ngoài Theo dõi được tình hình nguồn vốn chủ
sở hữu hiện có, xem xét nguồn vốn góp như vậy là đủ chưa hoặc tìm ra các nguyên nhân, lý do không thu hút được vốn góp để từ đó đưa ra các giải pháp hiệu quả trong việc sử dụng, thu hút nguồn vốn góp từ các tổ chức và
cá nhân trong và ngoài nước Đồng thời có những chiến lược như phân phối lợi nhuận, cổ tức hấp dẫn thu hút nguồn vốn góp ngày càng mạnh mẽ để mở rộng quy mô và hiệu quả hoạt động của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập
Quản lý tài sản giúp cho đơn vị kiểm tra, theo dõi tài sản hiện có của đơn vị, tình hình sử dụng các tài sản đó có hiệu quả hay chưa, có sự lãng phí trong việc sử dụng các tài sản đó không, phương pháp quản lý và tính toán việc sử dụng tài sản hiện có đã đạt hiệu quả cao chưa và đưa ra các biện pháp quản lý sử dụng tính toán một cách hiệu quả hơn
1.3 Phân loại quản lý tài chính – tài sản
1.3.1 Phân loại quản lý tài chính
1.3.1.1 Quản lý nguồn vốn góp
Nguồn vốn hoạt động của các trường đại học cao đẳng gồm vốn góp ban đầu của các thành viên Hội đồng quản trị và các cổ đông tham gia xây dựng trường Ngoài ra còn có các nguồn vốn từ việc phân phối từ lợi nhuận
để lại nhằm mở rộng quy mô hoạt động của đơn vị nhà trường; các nguồn viện trợ, tài trợ, ủng hộ, quà tặng của các tổ chức trong và ngoài nước
Trang 121.3.1.2 Quản lý khoản thu học phí
Vấn đề thu học phí là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong các nguồn tài chính của đơn vị nhà trường vì nó là nguồn thu cơ bản và chủ yếu nhất của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập
1.3.1.3 Quản lý khoản thu chi tài chính
Các khoản thu chi tài chính khác như thu tiền lãi ngân hàng, thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học, thu từ liên doanh liên kết… Chi tài chính chủ yếu là chi lương, cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị, phòng thí nghiệm, học bổng cho học sinh sinh viên, chi nộp thuế theo quy định của nhà nước…
1.3.1.4 Quản lý phân phối thu nhập
Sau quá trình hoạt động, tất cả các đơn vị tổ chức nói chung và các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập nói riêng đều phải tổ chức báo cáo tình hình tài chính của một năm và từ đó đưa ra các phương án phân phối nguồn thu nhập có được theo các tỷ lệ mà hội đồng quản trị quy định, từ việc phân phối này có thể cho thấy được có thể tiếp tục thu hút đầu tư từ các cổ đông nữa hay không thông qua cổ tức
1.3.1.5 Quản lý tài chính bằng nguồn hình thành (nguồn vốn)
Là việc quản lý các khoản nợ phải trả (vay ngắn hạn, phải trả cho công nhân viên phải nộp nhà nước, vay dài hạn…) và nguồn vốn chủ sở hữu (nguồn vốn góp của cổ đông, các quỹ khen thưởng, đầu tư, phát triển…)
1.3.1.6 Quản lý tài chính bằng kết cấu (tài sản)
Là việc quản lý các khoản tài sản lưu động (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, công cụ dụng cụ…) và tài sản cố định và đầu tư dài hạn (tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, đầu tư xây dựng cơ bản…)
1.3.1.7 Quản lý góp vốn
Quản lý vốn góp ban đầu (góp vốn thông thường và góp vốn của các
cổ đông sáng lập), quản lý góp vốn bổ sung (thông qua các lần bổ sung vốn
để mở rộng và phát triển đơn vị), quản lý các khoản vay vốn của các ngân hàng và các tổ chức tài chính thông qua việc phát hành trái phiếu
1.3.2 Phân loại quản lý tài sản
Trang 13Quản lý các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu học phí và lệ phí của học sinh, sinh viên trong các học kỳ trong niên học, quản lý công cụ dụng cụ hiện có và đang sử dụng…
1.3.2.2 Quản lý tài sản cố định
Quản lý các trang thiết bị, máy móc tại các phòng thí nghiệm và phòng thực hành của trường, quản lý các nhà cửa, cơ sở hạ tầng hiện có
Tài sản lưu động được quản lý trên 3 khía cạnh:
- Quản lý các khoản vốn bằng tiền
- Quản lý các khoản phải thu
- Quản lý công cụ dụng cụ
Tài sản cố định được quản lý trên 2 khía cạnh:
- Quản lý bằng hiện vật
- Quản lý bằng giá trị
1.4 Phương pháp quản lý tài chính – tài sản
- Quản lý căn cứ vốn, tài sản
- Quản lý căn cứ vào các khoản thu học phí, thu khác
- Quản lý căn cứ vào các khoản chi tiêu tài chính
- Quản lý căn cứ vào các chính sách tài chính, chính sách huy động vốn của các đơn vị bên ngoài (các doanh nghiệp, các nguồn tài trợ từ nước ngoài)
1.4.1 Phương pháp quản lý tài chính
1.4.1.1 Phương pháp 1
Căn cứ vào nguồn hình thành tài chính: phương pháp này đơn giản chỉ cần theo dõi các số liệu trên bảng cân đối kế toán để biết được nguồn vốn hiện có của đơn vị, từ đó tính toán được với nguồn vốn hiện có thì tỷ lệ giữa
nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, tỷ lệ giữa các quỹ của đơn vị đã hợp lý chưa, đơn vị đã thực hiện hiệu quả đến đâu, liệu có thu được lợi nhuận cao hay không?
1.4.1.2 Phương pháp 2
Căn cứ vào tài sản: Phương pháp này cho thấy với nguồn vốn đầu tư đã
có thì việc đầu tư vào các loại tài sản có hợp lý chưa, có cân đối không, tính
Trang 14toán các tỷ lệ giữa tài sản lưu động và tài sản cố định, tỷ lệ vốn bằng tiền và các khoản phải thu, từ đó thấy được sự cân đối hay bất cân đối giữa các khoản
1.4.1.3 Phương pháp 3
Kết hợp 2 phương pháp trên, dựa vào bảng cân đối kế toán để tính toán tỷ lệ giữa các khoản phải thu và các khoản phải trả, tỷ lệ giữa đầu tư ngắn hạn và nợ ngắn hạn, tỷ lệ giữa đầu tư dài hạn và nợ dài hạn, tỷ lệ nợ ngắn hạn và nguồn vốn chủ sở hữu nhằm thấy được sự hợp lý hay chưa hợp
lý trong việc phân phối giữa các nguồn vốn, nguồn tài trợ và các danh mục tài sản
1.4.1.4 Phương pháp 4
Dựa trên bảng báo cáo tài chính của đơn vị, thấy được việc các chi phí
bỏ ra và doanh thu sẽ thu được trong một thời kỳ nhất định, đồng thời ban lãnh đạo cũng thấy được lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận cho các cổ đông… đưa ra các quyết định đầu tư, hoạt động hợp lý hơn
1.4.1.5 Phương pháp 5
Quản lý vốn góp trên các thành viên cổ đông sáng lập và cổ đông thông thường công ty, đơn vị Việc quản lý này sẽ giúp cho ban lãnh đạo thấy được những nguồn vốn góp ban đầu và những nguồn vốn góp bổ sung tăng cường để phát triển, từ đó có những chính sách ưu đãi trong việc chia
cổ tức cho những cổ đông sáng lập
1.4.1.6 Phương pháp 6
Quản lý vốn góp trên các lần tổ chức huy động vốn Việc quản lý góp
vốn này sẽ cho ban lãnh đạo thấy được khả năng thu hút nguồn vốn trong những lần huy động vốn, đồng thời thấy được sự lớn mạnh của nguồn vốn
1.4.2 Phương pháp quản lý tài sản
1.4.2.1 Phương pháp 1
Quản lý tài sản dựa trên hiện vật như cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc, tiền mặt, công cụ dụng cụ… Phải lập ra một đội ngũ quản lý từng lĩnh vực cụ thể như tài sản cố định và công cụ dụng cụ phải có người quản lý
Trang 15và chịu trách nhiệm riêng biệt nhằm gắn cho nhân viên quản lý có quyền và
có trách nhiệm đối với những tài sản do mình quản lý Đến cuối kỳ phải lập báo cáo cụ thể về mặt số lượng, chất lượng của các tài sản đó Từ đó, ban lãnh đạo đơn vị sẽ đưa ra những quyết định đối với những tài sản đang có và
có sự cân đối lại giữa các tài sản đó hoặc có sự đầu tư vào những tài sản đang còn thiếu hụt
1.4.2.2 Phương pháp 2
Quản lý tài sản dựa trên giá trị của tài sản như giá trị của các tài sản
cố định, tổng giá trị tiền mặt hiện có, tổng giá trị tiền gửi ngân hàng hiện có, tổng giá trị các nguồn đầu tư ngắn hạn, dài hạn trong kỳ, tổng giá trị các khoản phải thu…Việc quản lý này dựa trên sổ sách kế toán là chủ yếu, do đó đòi hỏi của phương pháp này là việc ghi chép trên sổ sách kế toán là phải chính xác, kịp thời Từ các số liệu có được ban lãnh đạo sẽ đưa ra các quyết định bổ sung vốn hoặc thu hẹp vốn vào các tài sản hiện có hoặc họ sẽ đầu tư vốn vào các tài sản tương tự nhưng với mức giá khác
1.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả công tác quản lý tài chính – tài sản
1.5.1 Phương pháp định tính
Nghiên cứu định tính nhằm xác định các yếu tố cơ bản cấu thành nên việc quản lý tài sản tài chính và quản lý mô hình góp vốn ban đầu tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Từ đó làm cơ sở xây dựng phù hợp cho các bước nghiên cứu định lượng
1.5.2 Phương pháp định lượng
Nghiên cứu định lượng nhằm xác định tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành nên công tác quản lý tài sản tài chính và vốn góp ban đầu của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam Đồng thời tiến hành so sánh giữa các trường nhằm tìm ra sự khác biệt, chênh lệch về các yếu tố giữa các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập theo quan điểm đánh giá Từ việc so sánh đó có thể đưa ra các giải pháp, các phương hướng nhằm nâng cao năng lực cụ thể của từng trường và có các chiến lược nhằm mở rộng quy mô hoạt động và thế mạnh riêng của từng trường
Trang 16Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH – TÀI SẢN VÀ MÔ HÌNH
TỔ CHỨC QUẢN LÝ GÓP VỐN BAN ĐẦU CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM
2.1 Thực trạng hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng Việt Nam nói chung
và giáo dục đại học, cao đẳng ngoài công lập nói riêng tại Việt Nam
Đại học Việt Nam đang chuyển qua một nền giáo dục cho số đông, số sinh viên trong thanh niên trong ở độ tuổi đã gần 15% Trong bối cảnh đó, song song với việc người học phải nộp học phí để “chia sẻ chi phí” với Nhà nước ở đại học công lập, việc mở rộng đại học, cao đẳng ngoài công lập là hoàn toàn hợp lý và cần thiết để thực hiện xã hội hóa giáo dục, đào tạo Việt Nam
Qua 13 năm (1994 – 2007) hình thành và phát triển các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam cho thấy, trách nhiệm và tính tự chủ, năng động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục ngày càng được tăng cường và khuyến khích phát triển Các cơ sở giáo dục ngoài công lập có bước phát triển nhất định, cùng với hệ thống các trường công lập đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập ngày càng tăng của toàn xã hội, tăng khả năng tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ cho người dân
Mạng lưới trường ngoài công lập đã được mở rộng ở các cấp, trình độ đào tạo Theo báo cáo tổng kết năm học 2006 – 2007 của Bộ GD & ĐT, tính đến giữa năm 2007 cả nước có 325 trường đại học, học viện, trường cao đẳng, trong đó có 155 trường đại học, học viện và 170 trường cao đẳng (bao gồm cả các trường thuộc khối an ninh, quốc phòng); số trường đại học, cao đẳng ngoài công lập là 47 trường (tăng 18 trường so với năm học 2004 – 2005), chiếm tỷ lệ 14,6% so với tổng số cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng trong cả nước Số giảng viên của các trường đại học trong toàn hệ thống là 52.129 người, so với năm 2006 (có 48.579 người) tăng 7,3% Trong đó số giảng viên có chức danh giáo sư là 451 người, số giảng viên có chức danh
Trang 17phó giáo sư là 1.864 người, số giảng viên có trình độ tiến sĩ và thạc sĩ là 25.823 người
Quy mô đào tạo cao đẳng, đại học năm học 2006 – 2007 tiếp tục tăng
so với năm học 2005 – 2006 Tổng số sinh viên đại học, cao đẳng năm học
2006 – 2007 là 1.415.563 (tăng 10,21% so với năm học 2005 – 2006); số sinh viên của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập khoảng 193.471 sinh viên, chiếm tỷ lệ 12,87% so với tổng số sinh viên cao đẳng, đại học cả nước Trong đó số sinh viên hệ chính quy là 881.066 sinh viên (chiếm tỷ lệ
là 62,2% so với tổng số sinh viên), số sinh viên hệ không chính quy là 534.497 sinh viên (chiếm tỷ lệ 37,8% so với tổng số sinh viên) Tổng số học viên cao học năm 2006 – 2007 là 34.984 và tổng số NCS năm học 2006 –
2007 là 3.047
Tỷ lệ sinh viên/giảng viên tính bình quân chung của cả hệ thống giáo dục đại học năm 2006 – 2007 là 28 sinh viên/1 giảng viên, tỷ lệ sinh viên trên dân số là 179 sinh viên/1 vạn dân; tỷ lệ sinh viên/giảng viên bình quân của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập lên đến 43 sinh viên/1 giảng viên, có trường chỉ có 40 – 50 giảng viên
Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa đã đem lại những kết quả thiết thực trong giáo dục đại học, tính đến giữa năm 2007, số lượng các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập được thành lập và đi vào hoạt động là 47 trường, chiếm tỷ lệ 14,6% so với tổng số cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng trong cả nước; số sinh viên của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập khoảng 139.121 sinh viên, chiếm tỷ lệ 12,87% so với tổng số sinh viên cao đẳng, đại học cả nước Nếu như tính bình quân để thành lập và đưa vào hoạt động một trường đại học cần nguồn vốn đầu tư ban đầu bình quân là 30 tỷ đồng, thì tổng số vốn đầu tư từ xã hội, dân cư đã đầu tư thành lập các trường đại học lên tới trên 1.350 tỷ đồng
Trang 18Bảng 2.1: Tỷ lệ học sinh học các trường ngoài công lập như sau:
2004 2006 Chỉ tiêu định hướng
cho năm 2010 Nhà trẻ 74,92% 74,97% 80%
Mẫu giáo 55,23% 53,69% 70%
THPT 30,59% 30,60% 40%
TCCN 15,69% 18,22% 30%
CĐ – ĐH 10,44% 12,87% 40%
Nguồn: Báo cáo sơ kết hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết 05/2005/NQ-CP
ngày 18/4/2005 của chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực
giáo dục – đào tạo và dạy nghề
Cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập còn thiếu nghiêm trọng Theo thống kê của năm học 2006 – 2007, diện tích bình quân phòng học, phòng máy tính, thư viện, phòng thí nghiệm, tính trên đầu sinh viên còn rất thấp Cụ thể là: diện tích bình quân giảng đường, phòng học trên đầu sinh viên là 1,03 m2 , phòng máy tính là 0,064 m2, thư viện là 0,15 m2, phòng thí nghiệm là 0,21 m2 Trong khi đó, quy định về tỷ lệ diện tích sàn cần thiết và tối thiểu cho sinh viên học tập theo dự thảo thì cần phải có diện tích từ 6 – 10 m2/sinh viên, tối thiểu cũng phải có từ 3 – 6 m2/sinh viên Với
tỷ lệ này, phần lớn các trường ngoài công lậpđều không đạt, thậm chí còn xa mới có thể với tới được
Bảng 2.2: Cơ sở vật chất của một số trường Đại học ngoài công lập
ĐHDL Hải Phòng Khu giảng đường có 3 nhà 3 tầng, 1 tòa nhà 6 tầng, 1
khu thí nghiệm 3 tầng với trên 100 phòng Khu hiệu
bộ 3 tầng Khu liên hợp thể dục thể thao - khách sạn sinh viên gồm: sân vận động, bể bơi, nhà tập đa chức năng, nhà ăn sinh viên, ký túc xá sinh viên
ĐHDL Hồng Bàng Dự án đô thị ĐH Hồng Bàng với 19 tầng, tổng kinh
phí 25 triệu USD đang chờ cấp phép xây dựng 4 cơ
sở đào tạo THCN và các ngành khác
Trang 19ĐHDL Lương Thế
Vinh (Nam Định)
Tổng diện tích đất xây dựng 70.000m2, UBND TP đã cấp sổ đỏ Tổng diện tích nhà thuộc sở hữu của trường: 2.287 m2;
ĐHDL Kỹ nghệ
TP.HCM
2 cơ sở tại trung tâm TP rộng 27.000m2, khu liên hợp thể thao 7.000m2 và ký túc xá trong khuôn viên trường
ĐHLD Quản lý và
Kinh doanh Hà Nội
Hiện đang giảng dạy tại 2 địa điểm có tổng diện tích mặt bằng là 11.700m2, sắp tới sẽ đưa vào sử dụng ngôi trường khang trang hơn
ĐHDL Cửu Long
(Vĩnh Long)
Tổng diện tích đất xây dựng hiện có 230.000m2 Có
38 phòng học, 4 phòng máy tính, 3 phòng thí nghiệm, 1 phòng thư viện
ĐHDL Duy Tân
(Đà Nẵng)
3 cơ sở tại trung tâm TP, diện tích sử dụng 18.000m2, tổng vốn đầu tư 75 tỷ đồng
Trang 20ĐH Bà Rịa – Vũng
Tàu
Có 2 cơ sở đào tạo tại trung tâm TP Vũng Tàu với sức chứa hơn 5.000 Sinh viên học sinh, phòng học rộng rãi, thoáng mát, tiện nghi, diện tích sử dụng 20.000m2, vốn đầu tư hơn 50 tỷ đồng; Hệ thống phòng thực hành gồm: phòng thực hành vi tính, phòng thực hành hoá học, phòng thực hành vật lý, phòng thực hành điện - điện tử; Thư viện với hơn 6.000 đầu sách, phòng đọc và thư viện điện tử giúp tra cứu tài liệu từ Internet
Nguồn: Hiệp hội các trường ĐH, CĐ ngoài công lập Việt Nam
2.2 Thực trạng quản lý tài chính – tài sản và mô hình tổ chức quản lý vốn góp ban đầu của trường ĐH, CĐ ngoài công lập Việt Nam
2.2.1 Công tác quản lý tài chính
Mô hình Trường Đại học Dân lập Phương Đông: Trường huy động
các cổ đông góp vốn ban đầu theo hai hình thức là:
- Cổ đông chịu rủi ro: Cổ đông đóng tiền và không được rút tiền ra khi
tham gia góp vốn vào trường Với cổ đông này thường được hưởng lãi cao và hàng năm được tính giá trị tăng thêm khi giá trị tài sản cố định tăng lên
- Cổ đông không chịu rủi ro: Trường huy động vốn từ các cổ đông này
bằng cách vay dài hạn và có lãi, nhưng lãi thấp (khoảng 5 năm và có lãi) Đối với loại cổ đông này, trường huy động vốn ban đầu mang tính chất vay cho nên cổ đông có thể rút vốn ra và trường trả cho cổ đông cả vốn gốc và lãi
Trang 21 Mô hình Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu: Trường huy động các
cổ đông góp vốn ban đầu theo hai hình thức là: cổ đông sáng lập góp vốn và cổ đông sở hữu
- Cổ đông sáng lập góp vốn: giống như hình thức cổ đông chịu rủi ro
(theo mô hình trên của trường ĐHDL Phương Đông), cổ đông góp vốn và không được rút vốn ra Với cổ đông này thường được hưởng lãi cao và hàng năm được tính giá trị tăng thêm khi giá trị tài sản cố định tăng lên
- Cổ đông sở hữu: Cổ đông này góp vốn vào Trường và được quyền
chuyển bán cổ phần cho Hội đồng quản trị và bên ngoài (dĩ nhiên được sự đồng ý của Hội đồng quản trị)
Mô hình Trường Đại học Hồng Bàng: Đây được xem là mô hình đặc
biệt góp vốn ban đầu của Trường ngoài công lập Mô hình này chỉ có một cá nhân bỏ toàn bộ vốn ra để thành lập và xây dựng Trường (không có một cá nhân nào trong trường hay tổ chức nào tham gia góp vốn, mặc dù họ có nhu cầu và khả năng tham gia góp vốn) Do vậy, chỉ mỗi cá nhân được hưởng giá trị tăng thêm và chịu rủi ro với toàn
bộ phần vốn góp đó
Mô hình góp vốn không hưởng lãi – Mô hình Trường Đại học Tư
thục không vì mục tiêu lợi nhuận (Trường Đại học Thăng Long):
Đây là mô hình góp vốn ban đầu thành lập và xây dựng Trường mà không hưởng lãi Phần vốn góp chủ yếu là do các Cán bộ, Công nhân viên và Giảng viên trong Trường đóng góp Một phần vốn Trường này
là do tổ chức, cá nhân nước ngoài cho tặng (quỹ cho tặng) Với đặc điểm của mô hình này, cổ đông không được rút vốn ra và hàng năm được tính giá trị tăng thêm khi giá trị tài sản cố định tăng lên Vì vậy thu nhập hàng tháng của các Cán bộ - Công nhân viên và Giảng viên trong Trường thường khá cao
Trang 22 Mô hình 100% vốn nước ngoài (02 cơ sở đào tạo đang hoạt động tại
Việt Nam là: Đại học RMIT – Úc và Trung tâm đào tạo Dresden – Đức tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội): Năm 1998, Đại học
RMIT, trụ sở tại Úc, được chính phủ Việt Nam mời hợp tác để xây dựng trường đại học 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Năm 2000, RMIT Việt Nam được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép giảng dạy các chương trình giáo dục giáo dục đại học, trên đại học, đào tạo
và nghiên cứu tại Việt Nam Đây là mô hình hoàn toàn mới tại Việt Nam Tuy nhiên, trong thời gian qua, RMIT Việt Nam đã thu hút được hơn 3.800 sinh viên không chỉ có sinh viên Việt Nam mà còn có nhiều sinh viên quốc tế đến từ khắp nơi trên thế giới như: Úc, Trung Quốc, Pháp, Đức, Nga, Malaysia, Singapore, Nam Phi, Anh, Mỹ và nhiều nước khác Mô hình này đang phát triển tại Việt Nam và trong tương lai không xa khi văn bản ký kết về đầu tư cho giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có hiệu lực từ đầu năm 2009 thì mô hình giáo dục và đào tạo Trường đại học, cao đẳng có vốn 100% nước ngoài sẽ phát triển mạnh hơn nữa trong thời gian tới và thu hút được các trường đại học có danh tiếng hàng đầu trên thế giới đầu tư vào Việt Nam Điều này có nghĩa là sinh viên Việt Nam có thể lĩnh hội một nền giáo dục đẳng cấp quốc tế mà
không phải ra nước ngoài
Qua các mô hình góp vốn ban đầu của các Trường trên cho thấy, các
mô hình đều có chung một đặc điểm chính là góp vốn mang tính chất lâu dài, đều được hưởng lãi và không được rút vốn ra và được hưởng giá trị gia tăng khi giá trị tài sản cố định tăng Mặt khác, thời gian để thành lập trường khá dài, có trường thành lập nhanh nhất là 1 năm, chậm thì 5 năm Chính vì thế, các mô hình này chỉ thu hút được những người có tâm huyết mới làm được Tổng số vốn góp của các trường hiện nay (có 47 trường ĐH, CĐ ngoài công lập) là 1.175 tỷ đồng, trung bình mỗi trường khoảng 20 đến 25 tỷ đồng vốn góp ban đầu
Trang 232.2.1.1.2 Các nguồn tài chính khác:
Các trường ngoài công lập tổ chức thu học phí, thu tiền dịch vụ và các khoản thu khác để trang trải hoạt động, bảo toàn và phát triển vốn theo quy định của Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền
Hiện nay, mức thu học phí ở các trường Đại học, Cao đẳng ngoài công lập ở mức từ 3.500.000 đồng đến 4.500.000 đồng/năm (áp dụng cho hệ Đại học), 2.800.000 đồng đến 3.600.000 đồng/năm (áp dụng cho hệ Cao đẳng) đối với một sinh viên tuỳ theo vùng, miền trong cả nước Học phí của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập có sự chênh lệch tuỳ theo nhu cầu của sinh viên, theo khu vực vùng, miền và thường ở mức từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng/tháng Theo quy định, trường đại học dân lập có các nguồn thu: nguồn thu tại trường (học phí, lệ phí của sinh viên, giá trị các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, lãi tiền gửi ngân hàng, thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn của trường và từ các hoạt động cung ứng dịch vụ…); thu từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hợp đồng chuyển giao công nghệ với các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước; thu từ các hoạt động dịch vụ khoa học công nghệ, tiêu chuẩn
đo lường chất lượng (tư vấn, hướng dẫn thẩm định, chuyển giao công nghệ, cung cấp thông tin về khoa học công nghệ, sở hữu công nghiệp…); thu từ các hoạt động sản xuất hoặc liên kết sản xuất sản phẩm với các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế; thu từ vốn góp bổ sung của các nhà đầu tư xây dựng, phát triển trường; nguồn tài trợ, viện trợ, ủng hộ, quà tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, ngân hàng…
Được Nhà nước khuyến khích, các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập đã thực hiện nhiều đề tài, đề án, dự án sản xuất thử cấp Nhà nước, những hợp đồng nghiên cứu khoa học với các công ty, tổng công ty nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn của sản xuất và kinh doanh đã thu lại nguồn vốn không nhỏ đầu tư cho phát triển giáo dục đại học Các trường đại học đã thực hiện hàng trăm hợp đồng với doanh thu trên 100 tỷ đồng, đóng góp trên 5 tỷ đồng cho các trường đại học để xây dựng cơ sở vật chất
Trang 242.2.1.2 Nội dung chi
Các Trường ngoài công lập có các khoản chi cơ bản gồm: chi cho cán
bộ công nhân viên và giảng viên hợp đồng: trả lương, thù lao cho giảng viên,
cán bộ cơ hữu và hợp đồng; chi cho các hoạt động giáo dục - dạy học, hoạt
động tập thể, văn hoá, thể thao, thiết bị thí nghiệm; chi mua sắm, sửa chữa,
tu bổ nâng cấp cơ sở vật chất, tiền thuê cơ sở vật chất, khấu hao tài sản cố định, trả lãi cho ngân hàng hoặc cá nhân đầu tư; chi cho công tác quản lý hành chính: chi tiền điện nước, nhiên liệu xăng dầu, vệ sinh môi trường, mua vật tư văn phòng, dịch vụ công cộng, thông tin liên lạc, tuyên truyền, công
tác phí, hội nghị phí, cước điện thoại, fax…; chi quỹ khen thưởng, phúc lợi
tập thể, học bổng; chi bảo hiểm y tế - xã hội cho cán bộ, nhân viên và giảng viên cơ hữu; tích lũy dự phòng tài chính và tái đầu tư phát triển trường; chi nghiệp vụ chuyên môn trực tiếp cho hoạt động của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ được giao; chi nghiên cứu khoa học và công nghệ thường xuyên
theo chức năng của đơn vị; chi đào tạo và tập huấn thường xuyên, nâng cao
trình độ cho cán bộ công nhân viên và giảng viên trong đơn vị; chi thuê mướn: phương tiện vận chuyển, nhà đất, thiết bị các loại, thuê chuyên gia trong và ngoài nước, thuê lao động và các loại thuê mướn khác; chi phí thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; hợp đồng hoạt động sản xuất, dịch vụ của đơn vị, bao gồm: tiền lương, tiền công, nguyên vật liệu, khấu hao tài sản cố định, hoa hồng, nộp thuế (nếu có) theo quy định của pháp luật; các chi phí thường xuyên liên quan đến công tác phí,
lệ phí theo quy định hiện hành; chi mua sắm sửa chữa thường xuyên: chi mua sắm dụng cụ thay thế, sửa chữa thường xuyên tài sản cố định phục vụ công tác chuyên môn và duy tu bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng; chi hợp tác quốc tế: đoàn ra, đoàn vào; chi khác: trả gốc và lãi vốn vay các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước (nếu có); sử dụng nguồn thu sự nghiệp đóng góp từ thiện xã hội, chi vệ sinh môi trường, an ninh trật tự ; chi phí đột xuất khác
Trang 252.2.1.3 Về quản lý tài chính – tài sản
Hàng năm, Hội đồng quản trị thông qua dự án thu, chi và quy định cơ cấu các khoản chi thường xuyên và chi đầu tư; chi cho con người và chi cho hoạt động; xác định việc chi trả lãi cho các tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn theo tỷ lệ vốn góp trên cơ sở hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải thu, chi, bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động và bảo toàn, phát triển nguồn tài chính của trường Nếu trường ngoài công lập được giao thực hiện các chương trình, đề tài, dự án của Nhà nước thì được Nhà nước cấp kinh phí Phần kinh phí này chỉ để thực hiện dự án được Nhà nước giao, được hạch toán riêng và quản lý theo chế độ do Nhà nước quy định
Trường ngoài công lập thực hiện chế độ kiểm tra, thanh tra tài chính thường xuyên việc sử dụng kinh phí của trường; công khai các khoản thu, chi tài chính, tình hình tăng, giảm tài sản cho toàn thể cán bộ, nhân viên và giảng viên cơ hữu biết
Theo định kỳ hàng năm các tài sản được kiểm kê đánh giá lại giá trị, được tổ chức kiểm toán thực hiện kiểm toán hàng năm, được nhượng bán để thu hồi vốn bổ sung nguồn tài chính cho hoạt động của trường, nhà trường thành lập hội đồng để thanh lý tài sản sau khi không cần dùng Khấu hao tài sản để lại tăng cường cơ sở vật chất, nhà trường có thể quy định tỷ lệ khấu hao nhanh các tài sản cố định để thu hồi vốn nhưng phải phù hợp với khả năng nguồn tài chính của trường
Kết quả tài chính hàng năm của trường ngoài công lập được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa tổng thu và tổng chi của trường trong năm tài chính Nếu tổng thu lớn hơn tổng chi thì Hội đồng quản trị có quyền quyết định chi phần chênh lệch đó theo tỷ lệ sau khi có ý kiến của cơ quan bảo trợ như sau:
Trước tiên, bổ sung nguồn vốn hoạt động, tăng cường cơ sở vật chất của trường không dưới 30% tổng số chênh lệch thu lớn hơn chi
Số còn lại bổ sung thu nhập, chi khen thưởng và phúc lợi cho người lao động và phân phối thu nhập cho những cá nhân và tổ chức tham gia đầu
tư
Trang 26Thực hiện hạch toán kế toán theo chế độ kế toán do Nhà nước quy định, thực hiện báo cáo quyết toán hàng quý, hàng năm toàn bộ tình hình hoạt động tài chính của trường cho cơ quan quản lý trực tiếp và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan tài chính cùng cấp
2.2.1.4 Phân phối thu nhập
2.2.1.4.1 Về thu nhập và sử dụng thu nhập: Tổng thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí hợp lý cho hoạt động của nhà trường, được phân phối theo thứ tự như sau: nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật định; trích quỹ tái đầu tư phát triển theo tỷ lệ nhất định do Hội đồng quản trị quyết định; thu nhập còn lại được chia thành hai phần: phần dành cho các thành viên góp vốn theo tỷ lệ vốn góp và phần dành quỹ khuyến học, bảo trợ, chi cho giảng viên Tỷ lệ giữa các phần do Hội đồng quản trị quyết định
2.2.1.4.2 Về chế độ tiền lương và phương thức chi trả
Về chế độ tiền lương
Đối với Cán bộ, Công nhân viên và Giảng viên cơ hữu:
Chế độ trả tiền lương tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập căn cứ vào một số tiêu thức sau:
- Theo nhiệm vụ được phân công và chức danh được đảm nhiệm (như: Giảng viên, cán bộ, công nhân viên, chức vụ…)
- Theo trình độ (như: Giáo sư, Tiến sỹ, Thạc sỹ, Cử nhân…)
- Để thu hút nguồn nhân lực vào trường, Trường ngoài công lập còn
có thêm hệ số thu hút
- Phụ cấp ngành giáo dục (từ 25% đến 50% lương) và những phụ cấp khác (như: dạy môn Mác – Lênin, Giáo dục thể chất…)
Như vậy, qua chế độ trả tiền lương tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập trên cho thấy rằng: tiền lương ở các trường tư thục lớn hơn tiền lương nhà nước quy định Điều này sẽ giúp cho các trường tư: thu hút được không nhỏ nguồn nhân lực bên ngoài có nguyện vọng tham gia làm việc tại trường; thể hiện tính cạnh tranh giữa các trường tư và các đơn vị khác; đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với tình hình thực tế; giảng viên
Trang 27tham nhũng tại các trường tư như: tình trạng mua bán điểm, chạy bằng cấp…
Ví dụ:
Tính lương của một cử nhân tại trường tư
- Hệ số lương khởi điểm tại trường tư là: 2,6
- Hệ số lương thu hút của trường tư là: 2,0
Về phương thức chi trả
- Chi trả theo hai hình thức:
+ Chi trả trực tiếp
+ Chi trả qua ngân hàng (thẻ ATM)
- Thời gian chi trả:
+ Trả 2 lần trong tháng
+ Trả cả tháng
Đối với Giảng viên thỉnh giảng:
- Trả lương theo hợp đồng thỏa thuận giữa Trường và Giảng viên
- Để thu hút giảng viên tham gia giảng dạy, Trường tư cho giảng viên tạm ứng trước 50% lương trước khi giảng Trường sẽ thanh toán 100% ngay khi giảng xong
- Mức trả lương cho Giảng viên của Trường tư thường cao hơn ở trường công và đặc biệt là trường tư được điều chỉnh lương kịp thời khi thời giá thay đổi Điều này ngược lại với nhà nước là rất ít thay đổi và nếu có thì thay đổi chậm, do đó giảng viên không phấn khởi trong quá trình công tác tại trường
Trang 282.2.1.5 Việc chuyển đổi tài chính – tài sản từ trường ĐH, CĐ dân lập sang
ĐH, CĐ tư thục
Ngày 2/6/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 146/2006/QĐ về việc chuyển loại hình trường đại học, cao đẳng bán công, theo đó Trường Đại học Mở Bán công TP Hồ Chí Minh chuyển sang loại hình trường đại học công lập để thực hiện nhiệm vụ giáo dục từ xa, các Trường Đại học Bán công Marketing, Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng, Trường Cao đẳng Bán công Công nghệ và Quản trị doanh nghiệp và Trường Cao đẳng Bán công Hoa Sen chuyển sang loại hình tư thục
Hiện nay Trường đại học Mở Bán công TP Hồ Chí Minh đã chuyển sang hoạt động theo mô hình trường công lập Trên cơ sở Trường Cao đẳng Bán công Hoa Sen, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 274/2006/QĐ-TTg ngày 30/11/2006 thành lập Trường Đại học Hoa Sen, hoạt động theo quy chế trường đại học tư thục Hoạt động của hai trường đại học này đang đi vào ổn định
Ba trường còn lại (Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng, Trường Đại học Marketing và Trường Cao đẳng Công nghệ và quản trị doanh nghiệp) hiện đang xây dựng và hoàn thiện đề án chuyển đổi mô hình để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử đặc thù khi thành lập các trường này và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa hoàn chỉnh nên vẫn còn nhiều vấn đề vướng mắc chưa giải quyết được
Ngoài ra, Trường Đại học Dân lập Thăng Long đã hoàn thành đề án chuyển đổi sang mô hình trường đại học tư thục không vì mục tiêu lợi nhuận, đang được các cơ quan chức năng xem xét, thẩm định
2.2.2 Chính sách tài chính cho giáo dục đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam
2.2.2.1 Chính sách huy động các nguồn lực trong xã hội
Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng cao về học tập của nhân dân cần phải thực hiện phương thức huy động nguồn lực từ xã hội, từ dân cư, đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa trong giáo dục đào tạo Thực hiện Nghị quyết
Trang 29trình Chính phủ ban hành và tổ chức thực hiện Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển các cơ
sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập:
2.2.2.1.1 Ban hành những quy định pháp lý khuyến khích phát triển
cơ sở giáo dục đào tạo ngoài công lập: Cơ sở ngoài công lập được ưu tiên thuê nhà, cơ sở hạ tầng với giá ưu đãi để hoạt động; được miễn, giảm phí cơ
sở hạ tầng khi xây dựng trường học; được giao đất không thu tiền sử dụng đất, được thuê đất miễn tiền thuế đất; được ưu đãi vay vốn để đầu tư các dự
án hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo; được xét hỗ trợ kinh phí đào tạo cho đội ngũ cán bộ thuộc các cơ sở ngoài công lập
Các trường hợp phải đi vay vốn có thể được hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ lãi vay vốn sửa chữa, xây dựng; nếu phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đất thì được Ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần chi phí này
Cơ sở ngoài công lập có các hoạt động dạy học, dạy nghề được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời gian hoạt động Việc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ sở ngoài công lập thực hiện theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp…
2.2.2.1.2 Chính phủ ban hành Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của nhà nước Theo đó các cơ sở ngoài công lập được vay tối đa 70% tổng mức vốn đầu tư của dự
án để xây dựng ký túc xá cho sinh viên; đầu tư mở rộng, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề; đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại làng nghề tiểu thủ công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề ở nông thôn
Ngoài ra đối với một số Quỹ Đầu tư phát triển địa phương cũng đã cho các trường đại học thuộc địa phương vay ưu đãi để đầu tư phát triển cơ
sở vật chất của nhà trường (ví dụ như Quỹ đầu tư phát triển TP Hồ Chí Minh
đã cho vay kích cầu đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo trên 1100 tỷ đồng)
2.2.2.1.3 Các doanh nghiệp có hoạt động tài trợ cho giáo dục đào tạo, hoạt động về đào tạo thì chi phí cho các hoạt động này được tính trong chi phí của doanh nghiệp
Trang 302.2.2.2 Chính sách ưu đãi đối với học sinh, sinh viên
Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 về tín dụng đối với học sinh, sinh viên Theo đó học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được vay vốn tại các Ngân hàng chính sách xã hội
Theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội, sau 3 tháng triển khai, tính đến ngày 31/12/2007, doanh số cho vay từ 1/10/2007 đến ngày 31/12/2007 đạt 2.504.649 triệu đồng với 596.345 học sinh, sinh viên được vay vốn trong kỳ Trong đó:
Có 527.935 học sinh, sinh viên được vay vốn lần đầu với số tiền cho vay là 2.305 triệu đồng
Có 68.394 học sinh, sinh viên đang vay vốn dở dang theo các hợp đồng trước đây được vay bổ sung theo mức vay mới, với số tiền là 199.101 triệu đồng
Tổng dư nợ cho vay đối với học sinh, sinh viên đến 31/01/2008 đạt 2.900 tỷ đồng với 623.000 học sinh, sinh viên đang được vay vốn
Như vậy chỉ trong một thời gian rất ngắn (3 tháng) kể từ khi thực hiện Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg, khối lượng tín dụng cho học sinh, sinh viên vay đã tăng thêm trên 2.500 tỷ đồng, diện học sinh được vay vốn tăng thêm là 527.935 học sinh, sinh viên (so với 12 năm trước đây đã triển khai chỉ đạt dư nợ cho vay 290 tỷ đồng với 68.394 học sinh, sinh viên đang vay vốn)
Để đảm bảo nguồn vốn cho học sinh, sinh viên vay học kỳ II năm học
2007 – 2008, trong quý I năm 2008, Bộ Tài chính đã chuyển 1.000 tỷ đồng cho Ngân hàng chính sách xã hội
Số liệu trên cho thấy đây là một chính sách đúng đắn, đáp ứng được nhu cầu vay vốn học tập của học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, thực hiện được yêu cầu chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là không để cho
Trang 31học sinh, sinh viên nêu trên, chỉ trong 3 tháng cuối năm 2007 và những tháng đầu năm 2008, ngoài nguồn ngân sách đã được bố trí trong dự toán ngân sách Nhà nước năm 2007 là 66.770 tỷ đồng, năm 2008 là 72.520 tỷ đồng; nhà nước đã đầu tư bổ sung cho lĩnh vực giáo dục đào tạo (đào tạo đại học, cao đẳng, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp) một khoản ngân sách đáng kể
2.2.2.3 Chính sách huy động các nguồn tài trợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế
Các nguồn tài trợ có thể bao gồm ODA, FDI, viện trợ không hoàn lại của các Chính phủ và các tổ chức quốc tế, của cá nhân nước ngoài và Việt kiều…
Nguồn ODA dành cho giáo dục và đào tạo hiện nay tương đối lớn, bao gồm việc củng cố và nâng cấp một số trường đại học và phát triển hệ thống dạy nghề Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động này đã được xác lập nhằm khuyến khích thu hút vốn đầu tư của nước ngoài để phát triển giáo dục đại học Chính phủ Việt nam đã ban hành Nghị định số 06/2000/NĐ-CP ngày 06/03/2000 quy định về việc hợp tác đầu tư với nước ngoài của trường học, viện nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ, theo đó có nhiều điều khoản
ưu đãi như: Được hưởng mức thuế lợi tức ưu đãi 10% trong suốt thời gian hoạt động; được miễn thuế lợi tức trong thời gian 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong thời gian 4 năm tiếp theo; được miễn thuế lợi tức trong thời gian 8 năm kể từ khi kinh doanh có lãi nếu đáp ứng một trong số các điều kiện như đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư quy định tại Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998, nhà đầu tư nước ngoài cam kết chuyển giao không bồi hoàn cho phía Việt Nam sau khi kết thúc hoạt động; được hưởng mức thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài là 5%; thuê đất của Nhà nước để thực hiện dự án đầu tư được hưởng mức thấp nhất theo quy định hiện hành; được bảo đảm cân đối ngoại tệ trong suốt thời gian hoạt động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam