Thực trạng và giải pháp quản trị chuỗi cung ứng surimi tại Công ty cổ phần thủy sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo (Coimex)”
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình toàn cầu hóa và thương mại quốc tế đã và đang đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội cũng như thách thức trong hoạt động sản xuất kinh doanh Để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thì việc quản trị chuỗi cung ứng, kiểm soát các dòng chảy sản phảm/dịch vụ, thông tin và tài chính là điều vô cùng quan trọng Quản trị chuỗi cung ứng là một vấn đề đã được các nước phát triển nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạt động, tuy nhiên ở Việt Nam thì điều này còn khá mới mẻ, chỉ mới được các doanh nghiệp quan tâm đến trong thời gian gần đây
Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu là một trong những vùng kinh tế trọng điểm có đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân với các ngành mũi nhọn là khai thác dầu khí,
du lịch biển và chế biến thủy sản Hiện nay, ngành chế biến thủy sản đang có sự phát triển khá mạnh, kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng cao, khẳng định vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, kinh tế quốc gia Điều này đặt ra yêu cầu là phải có kế hoạch quản lý từ khâu khai thác đến chế biến và phân phối để đẩy mạnh sự phát triển của ngành một cách bền vũng
Thực tế cho thấy, việc quản trị chuỗi cung ứng trong ngành chế biến thủy sản tỉnh vẫn còn rất nhiều hạn chế, chưa có sự phối hợp chặc chẽ giữa các thành phần tham gia trong chuỗi, chưa phát huy hết các thế mạnh, tiềm lực của ngành Xuất phát từ thực tiễn này, tôi đã tập trung nghiên cưu mô hình quản trị chuỗi cung ứng của công ty Cổ phần thủy sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo (Coimex), nhằm đánh giá đúng thực trạng quản trị chuỗi cung ứng tại công ty, rút ra những điểm mạnh, điểm yếu để từ đó xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng của công ty Đó
chính là lý do tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản trị chuỗi cung ứng surimi tại Công ty cổ phần thủy sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo (Coimex)” làm đề
tài cho báo cáo luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn có thể đóng góp một vài giải pháp cải thiện và nâng cao hiệu quả của chuỗi cung ứng surimi của công ty nói riêng và ngành chế biến thủy sản tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu thực trạng quản trị chuỗi cung ứng surimi của công ty Coimex và đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: Sản xuất, tồn kho, địa điểm, vận tải, thông tin và tài chính
Trang 24 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào sản phẩm chính của công ty đó là surimi với các thành phần chính tham gia trong chuỗi gồm: Đánh bắt, chủ vựa và công
ty Coimex
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là:
Phương pháp mô tả
Phương pháp thống kê gồm 2 phương pháp là định tính và định lượng
6 Quy trình nghiên cứu
- Giới thiệu
- Xác định mục tiêu, nghiên cứu
- Xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Xác định phương pháp nghiên cứu
- Quy trình nghiên cứu -Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước
- Tổng quan công ty Coimex
- Tổng quan hiện trạng chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh BR-VT
- Định nghĩa
- Cấu trúc
- Chức năng
- Đo lường hiệu suất và cải tiến
- Phân tích thực trạng quản trị chuỗi
- Đánh giá ưu, nhược điểm
-Kiểm định hồi quy tuyến tính đa biến yếu tố lợi nhuận và chất lượng thành phẩm
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.Tổng quan tài liệu trong nước
Quản trị chuỗi cung ứng là một khái niệm còn khá mới mẻ ở Việt Nam, không
có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học về nghiên cứu ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng tại Việt Nam được thực hiện rộng rãi trong các lĩnh vực
Tại hội thảo “Định hướng phát triển chuỗi cung ứng trên thế giới và cách ứng dụng hiệu quả cho doanh nghiệp Việt Nam” do Bộ Công Thương tổ chức diễn ra ngày 20/4 tại TP Hồ Chí Minh, ông Trần Anh Tuấn, Thứ trưởng Bộ Công Thương nhận định: “Chuỗi cung ứng được áp dụng phổ biến trên thế giới, nhất là trong các tập đoàn
đa quốc gia nhưng lại đang còn mới mẻ ở Việt Nam”
Trên website www.vietnamplus.vn ngày 22/6/2012 đã đưa tin:“Sáng 22/6, tại
Hà Nội, tổ chức độc lập phi lợi nhuận trong ngành quản lý cung ứng Việt Nam (Vietnam Supply Chain) đã tổ chức Hội nghị thượng đỉnh chuỗi cung ứng 2012 nhằm chia sẻ kiến thức và hoạt động trong ngành cung ứng Hơn 200 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung ứng, phân phối, sản xuất, logistics, thu mua, kế hoạch vật tư
và tài chính, trong đó, đáng chú ý có các ngành phân phối bán lẻ, kho vận, logistics, ôtô xe máy, điện tử, vật liệu xây dựng, da giày, dệt may, hóa chất, thực phẩm, đồ uống, năng lượng, dược phẩm, gỗ tham dự hội nghị.” Cho thấy quản trị chuỗi cung ứng đang dần dần được các doanh nghiệp chú trọng nghiên cứng tiềm hiểu để đi vào ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quản hoạt động của chuỗi
Trên http://vlr.vn ngày 11/7/2012 đã viết: “Chuỗi cung ứng (Supply Chain) là quá trình theo dõi hàng hóa thông qua việc thống kê và điều khiển từ khâu cung cấp hàng, bổ sung nguyên vật liệu, đến khâu bán lẻ, hay nói cách khác là quá trình điều hành và quản lý sự lưu thông hàng hóa Xu hướng tiến tới việc giao hàng đúng lúc, kết hợp với các khuyến mãi hấp dẫn để tiếp cận các nguồn cung ứng tốt nhất khiến cho chuỗi cung ứng nào cũng chứa đầy rủi ro Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất trong lĩnh vực này là rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng.” Và phân tích những bài học đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng ở Việt Nam và biện pháp để kiểm soát rủi ro đó
“Chuỗi cung ứng và hạ tầng logistics được ví như mạch máu của doanh nghiệp Sức khỏe của doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào sự tuần hoàn của chuỗi cung ứng hàng hóa, mua nguyên liệu, bán thành phẩm, quản lý hàng tồn kho… Nhưng việc thực hiện chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp hiện nay chỉ giải quyết vấn đề mua hàng hóa nguyên liệu với giá rẻ…” là nhận định được viết trên baomoi.com
Trang 4Trên baomoi.com cũng có bài viết nói: “Toàn cầu hóa và thương mại quốc tế đang đặt ra cho các doanh nghiệp những thách thức về kiểm soát và tích hợp dòng chảy hàng hóa, thông tin và tài chính một cách hiệu quả Điều này đồng nghĩa với việc bất kỳ doanh ngiệp nào xây dựng một chuỗi cung ứng nhanh nhạy, thích nghi cao và sáng tạo sẽ giúp họ dễ dàng vượt qua đối thủ trong cuộc chiến cạnh tranh Việt Nam đang là một quốc gia có tốc độ hội nhập vào “thế giới phẳng” rất nhanh, và giờ đây đã
là một thành phần không thể thiếu trong nhiều công thức sản phẩm đa quốc gia Thế nhưng chuỗi cung ứng của ta đang gặp phải những vấn đề và thách thức làm giảm tốc độc của cuộc chạy đua Vậy những rắc rối và thách thức đó bắt nguồn từ đâu?” Và đã nhận thấy hiện nay có 5 thách thức lớn mà các DNVN và những nhà hoạch định chiến lược chuỗi cung ứng cần vượt qua nếu muốn vươn tới sự hoàn hảo đó là: thay đổi nhận thức và cách thức quản lý chuỗi cung ứng; xây dựng một chuỗi cung ứng mở rộng hiệu quả; khoảng trống trong hạ tầng chuỗi cung ứng; nhà quản trị chuỗi cung ứng chuyên nghiệp và cuối cùng là quản lý sự thay đổi
Bà Nguyễn Thị Hồng Đăng với đề tài “Ứng dụng một số mô hình lý thuyết
chuỗi cung ứng trong việc cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng công ty KODA”, năm 2006, đã xây dựng một cơ sở lý luận khá hoàn chỉnh về nghiên cứu ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng và đo lường hiệu quả chuỗi với mô hình SCOR Từ cơ
sở lý luận đó bà đã đo lường hiệu quả và ứng dụng cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng của công ty KODA
Đề tài „„Nghiên cứu chuỗi cung ứng của mặt hàng Cá Tra, Cá Basa tại Công ty
Cổ phần Nam Việt‟‟đã phân tích đặc điểm của các bên có liên quan trong chuỗi cung ứng về các vấn đề: chi phí, tính hợp tác, vệ sinh an toàn thực phẩm, việc truy xuất, giấy chứng nhận, cơ quan kiểm tra, rủi ro và hiệuquả Phân tích những điểm mạnh và điểm yếu; cơ hội và thách thức của chuỗi cung ứng CáTra, Cá Basa tại Công ty Cổ phần Nam Việt, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cải tiến hệ thống chuỗi cung ứng Theo Hoàng Lâm Cường với đề tài “Quản trị chuỗi cung ứng của Wal-mart” đã khẳng định thành công của tập đoàn bán lẻ và phân phối lớn nhất thế giới này thì kỹ thuật và công nghệ thông là yếu tố then chốt tạo ra sự uyển chuyển và hiệu quả của toàn chuỗi, ứng dụng hệ thống thông tin tích hơp và kỹ thuật “cross-docking”
Để khái quát chung về tình hình sản xuất nông lâm thủy sản, và hiện trạng của chuỗi này trong những năm 2007-2011, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã xây dựng đề án “Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn trên phạm vi toàn quốc”
Nhiều báo cao quy hoạch phát triển cũng được thực hiện ơ các tỉnh mặc dù chưa
đi sâu vào phân tích quản tri chuỗi nhưng cũng đã có phần định hướng, tạo tiền đề để nghiên cứu ứng dụng quản trị chuỗi của các đề án sau này Cụ thể ví dụ như 2 báo cáo
“Quy hoạch tổng thể phát triển khai thác, cơ khí, cảng cá và dịch vụ hậu cần thủy sản giai đoạn 2010- 2015 và định hướng đến năm 2020 tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” tháng
Trang 57/2012 và “Quy hoạch phát triển chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đến năm 2020” tháng 9/2012 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn là 2 tài liệu
hỗ trợ tôi trong đề tài nghiên cứu ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng này
Ngoài ra, Ngành thủy sản Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu phân tích thực trạng chuỗi cung ứng của nghành được thực hiên bởi Bộ Thủy sản Việt Nam, tuy nhiên cũng chỉ dừng ở mức độ lý luận và thực trạng, chưa có tính thực tế ứng dụng cao
1.2.Tổng quan tài liệu nước ngoài
Việc nghiên cứu ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng được thực hiện sớm ở các nước đã phát triển trên thế giới và đã thu được nhiều kết quả, đóng góp rất nhiều cho
sự phát triển của quốc gia và là tiền đề nghiên cứu cho các đang phát trên học hỏi và thực hiện các nghiên cứu trong nước
Riêng về ngành chế biến thủy sản, đã có nhiều đề tài nghiên cứu quản trị chuỗi trên thế giới như:
Báo cáo của UNEP năm 2009 đã đánh giá xu hướng thương mại và tiêu dùng trong ngành thủy sản, phân tích các yếu tố nhằm đạt được sự phát triển bền vững trong chuỗi cung ứng cá và cả vấn đề về khả năng truy xuất nguồn gốc thủy sản cũng được đề cập đến trong báo cáo
“Phương pháp để ngăn chặn nhập cảnh trái phép vào thị trường” là một nghiên cứu của một tiến sĩ người Anh về quản lý chuỗi cung ứng thủy sản tập trung vào việc kiểm soát quá trình đánh bắt nhằm đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc thủy sản trong chuỗi
Một nghiên cứu ở Ấn Độ về chuỗi cung ứng thủy sản cũng đã xây dựng mô hình quản trị chuỗi cung ứng thủy sản với các thành phần chính tham gia vào hoạt động của chuỗi từ đánh bắt, thu mua, sản xuất cho đến phân phối sản phẩm Đề tài chú trọng phân tích sự chênh lệch về giá cả sản phẩm từ đánh bắt đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm giảm chi phí, tăng tính cạnh tranh trên thị trường Đây là đề tài có tính ứng dụng thực tế cao và được nhiều nước học hỏi ứng dụng
Tổ chức công nhận trách nhiệm sản xuất toàn cầu (WRAP) năm 2012 đã xây dựng hướng dẫn thực hiện về chống lãng phí và ngăn chặng chất thải trong chế biến của chuỗi cung ứng thủy sản Hướng dẫn này được thực hiện nhằm mục tiêu giảm thiểu những lãng phí phát sinh trong toàn bộ các quá trình của chuỗi cung ứng thủy sản, cắt giảm những quy trình không cần thiết, tận dụng các sản phẩm thừa…để nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng Và trọng tâm của hướng dẫn là xử lý chất thải một cách hiệu quả để bảo vệ môi trường
Mô hình chung về chuỗi giá trị ngành thủy sản và ngành công nghiệp thủ sản tại
Úc cũng đã được đưa ra trong báo cáo phân tích kinh tế cho thủy sản Úc do
Trang 6Trung tâm thủy sản khoa học và sức khỏe (CESSH), Viện nghiên cứu Y tế đỏi mới Curtin phối hợp với Sở nông nghiệp và thực phẩm thực hiện năm 2011 Báo cáo này tập trung phân tích dòng chi phí trong toàn chuỗi, từ chi phí vận chuyển, nguyên liệu, sản xuất, tồn kho đến phân phối bán hàng nhằm mục đích
từ thực trạng chi phí đó đưa ra các chiến lược để cắt giảm chi phí đến mức thấp nhất, hạn chế lãng phí trong quá trình, nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn chuỗi
1.3 Tổng quan về công ty Coimex
Tổng kim ngạch XNK trung bình hàng năm:45.000.000 USD
Phương châm họat động của công ty: " Khách hàng là ân nhân, chất lượng cao
là điều kiện tồn tại "
Logo của công ty:
Xí nghiệp chế biến hải sản được thành lập ngày 17-9-1992 là một doanh nghiệp Nhà nước là một trong những đơn vị trực thuộc công ty cổ phần thuỷ sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo, là doanh nghiệp nhà nước được Uỷ ban nhân dân quận Côn Đảo (thuộc đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo thành lập ngày 31-10-1989) tại quyết định số 377/QĐUB ngày 31-10-1989
Tuy quá trình hoạt động chưa lâu song với tinh thần không ngừng nỗ lực phấn đấu, dưới sự chỉ đạo sát sao của Hội đồng Quản trị, Ban Giám Đốc, sự hỗ trợ của các ban, ngành, địa phương và các doanh nghiệp bạn trong ngành, xí nghiệp luôn duy trì được sản xuất ổn định, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân
viên
Trang 7Chế biến thuỷ hải sản xuất khẩu với công suất chế biến 150 tấn/ tháng Sản xuất các mặt hàng Surimi cá đông lạnh, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Với dây chuyền sản xuất hiện đại đồng bộ của Hàn Quốc được nâng cấp và trang bị đầy đủ: phòng thí nghiệm kiểm tra vi sinh, phòng KCS kiểm tra chất lượng sản phẩm Sản xuất theo quy trình khép kín đạt tiêu chuẩn ngành và đạt chứng nhận
về vệ sinh an toàn thực phẩm như: EU code, Haccp, Iso
1.3.2 Ngành nghề kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh của công ty bao gồm:
- Khai thác chế biến nuôi trồng, bảo quản, gia công và kinh doanh các mặt hàng thủy hải sản, chế biến nước mắm…
- Dịch vụ giao nhận hàng hóa XNK và khai thuê hải quan
- Dịch vụ cho thuê kho khô , kho lạnh, bãi…
- Kinh doanh mua bán, XNK trực tiếp và ủy thác các mặt hàng Nhà nước cho phép
- Đại lý mua bán, ký gởi hàng hóa
- Môi giới thương mại
1.3.3 Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty
Là công ty cổ phẩn, tuy nhiên bộ máy quản lý của công ty khá đơn giản, bao gồm:
Xí nghiệp chế biến hải sản (Coimex)
Địa chỉ: số 1738 đường 30/4, phường 12, tp Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Xí nghiệp chế biến hải sản 01 (Coimex)
Địa chỉ: phường 5, tp Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Trang 8 Phân xưởng nước mắm
Địa chỉ: phường 5, tp Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức của công ty Coimex
Nguồn: kết quả khảo sát của tác giả
1.3.4.Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty Coimex
1.3.4.1 Về chỉ tiêu sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận thực hiện năm 2012 đạt 12,94 tỷ đồng, đạt 62% so với kế hoạch đặt
ra trong giai đoạn tình hình kinh tế toàn cầu bị suy thoái Do vậy, đây có thể được xem
là một kết quả khả quan so với các doanh nghiệp khác cùng ngành nghề trong thời điểm hiện tại
Phân xưởng nước mắm
XN chế biến hải sản 01 (Coimex)
Trang 9Bảng 1.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty Coimex năm 2012
Nội dung chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch 2012 Thực hiện 2012 Tỉ lệ
VĐL
12.94 (tương đương 16,2%
VĐL)
62%
Nguồn: Báo cáo của công ty Coimex, năm 2012
1.3.4.2 Công tác chế biến, nuôi trồng và tình hình xuất khẩu
Hoạt động chế biến sản phẩm phụ thuộc phần lớn vào nguồn nguyên liệu mà nguyên liệu thì ngày càng khan hiếm nhất là các loại cá thịt trắng để chế biến , vào những tháng cuối năm 2012 thì gần như không còn nguồn cung ứng do điều kiện thời tiết, khí hậu bất thường ngư dân hạn chế ra khơi rất nhiều Thêm vào đó kinh tế thế giới suy giảm kéo dài dẫn đến giá xuất khẩu cũng giảm theo rất nhiều nhất là từ tháng 9/2012 đến cuối năm Tuy nhiên, với sự đoàn kết và quyết tâm cao thì tập thể cán bộ công nhân công ty đã đưa kim ngạch xuất khẩu đạt, vượt kế hoạch năm 2012 và vẫn cao hơn năm 2011
Đối với nhu cầu của thị trường về chủng loại sản phẩm hiện nay rất đa dạng, thị hiếu tiêu dùng phong phú theo hướng chất lượng an toàn - đặc biệt tiêu chuẩn vi sinh
và điều kiện xuất khẩu ngày càng khắt khe , phức tạp Thực chất, đây chính là cơ hội thuận lợi để sản phẩm được tiêu thụ rộng rãi toàn thế giới nhưng cũng rất khó khăn trong công tác quản lý điều hành xuất khẩu cũng như kiểm tra chất lượng sản phẩm
Nhờ tiếp cận kỹ thuật và công nghệ mới từ Pháp, mở rộng thị trường đến các nước Hồi giáo và Do thái giáo, sản phẩm Surimi mô phỏng ngày càng được khách hàng ưa chuộng mẫu mã chủng loại đa dạng, năm 2012 sản lượng xuất khẩu đạt 526 tấn
Hoạt động xuất khẩu chủ yếu là Surimi và Surimi mô phỏng đạt : 43,038 triệu USD đạt 102 % so với năm 2011
Trang 10Về tình hình nuôi trồng tại trại cá Thạnh Hòa trong năm qua cũng có những điều chưa thuận lợi, chưa đạt được chỉ tiêu đã đề ra do nhiều nguyên nhân khách quan ngoài sự tiên liệu, trong đó có yếu tố tâm lý và tập tục thói quen của người nông dân chỉ quen nuôi trồng những vật nuôi cố hữu chưa mạnh dạn đầu tư vào những cái mới
Vì vậy, cần phải có thời gian để hướng dẫn họ , chỉ cho họ thấy những hiệu quả kinh tế cao khi nuôi đa dạng hơn nữa các loại cá thương phẩm
1.3.4.3 Công tác đầu tƣ tài chính
Trong năm 2012 Công Ty không đầu tư ra ngoài doanh nghiệp Tổng số vốn và kết quả đầu tư ra ngoài doanh nghiệp đến thời điểm hiện nay là :
CP sở hữu
DT hoạt động (tr đ)
Chi phí hoạt động (tr đ)
Lợi nhuận (tr đ)
Lợi nhuận Coimex được chia (tr đ)
Số lượng (ngàn CP)
Tỉ lệ (%)
Trang 111.3.4.4 Đầu tƣ cơ sở vật chất máy móc thiết bị tại các cơ sở
Tổng giá trị tài sản cố định tăng trong năm 2012 là : 7.723.470.939 đồng Trong đó :
* Đầu tư Xí nghiệp chế biến hải sản : 2.333.507.979 đồng
Trong đó : - Máy móc thiết bị : 2.184.854.086 đồng
* Đầu tư Xí nghiệp chế biến hải sản 01 : 3.408.034.964 đồng
Trong đó : - Máy móc thiết bị : 2.585.295.090 đồng
* Đầu tư Dụng cụ quản lý tại Văn phòng : 1.331.327.996 đồng
* Đầu tư QSD đất tại trại cá Thạnh Hòa : 650.600.000 đồng
1.3.5 Phân tích thuận lợi và khó khăn của công ty Coimex
1.3.5.1 Thuận lợi
Hội đồng quản trị , Ban giám đốc Công ty thực tế trong quản lý điều hành, sáng suốt linh động cùng với đội ngũ cán bộ không ngại khó khăn , có ý thức nâng cao chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu SXKD ; Sự đoàn kết
từ Ban giám đốc đến tập thể người lao động đã tạo nên sức mạnh bảo toàn
và phát triển vốn kinh doanh một cách bền vững
Công ty nằm trên địa bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, vùng năng động nhất của Việt Nam hiện nay, gần Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai nên có nhiều thuận lợi trong việc liên kết trao đổi, giao lưu hàng hàng hóa, công nghệ, lao động kỹ thuật,… gần đồng bằng sông Cửu Long nên thuận lợi trong việc tiếp nhận nguồn nguyên liệu thủy sản
BR-VT là cửa ngõ của Vùng kinh tế trọng điểm phí Nam, nên sẽ rất thuận lợi trong vai trò là trung tâm trung chuyển hàng hóa giữa Vùng Đông Nam
Bộ, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với bên ngoài
BR-VT có bờ biển dài với nhiều vị trí thuận lợi cho việc xây dựng cảng cá, bến cá Vùng biển rộng với nguồn tài nguyên thủy sản phong phú đã tạo cho BR-VT có điều kiện thuân lợi để phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản
Cơ sở hạ tầng phát triển khá đồng bộ, đặc biệt là hệ thống giao thông, cảng biển, hệ thống điện, hệ thống cấp, thoát nước,… đáp ứng tốt cho nhu cầu phát triển sản xuất của công ty
Nguồn lao động dồi dào đáp ứng tốt cho nhu cầu nhân công hiện tại và mở rộng sản xuất của công ty trong tương lai
Trang 121.3.5.2.Khó khăn
Chưa có sự hợp tác chặc chẻ với chủ vựa, hộ khai thác đã gây không it khó khăn cho công ty trong việc thu mua nguyên liệu, đảm bảo chất lượng nguyên liệu, gây lãng phí cả về thời gian, nhân công và tiền bạc
Tình trạng ô nhiễm môi trường biển, cảng biển gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguyên liệu kéo theo là chất lương thành phẩm của công ty, tiềm ẩn nguy cơ bị các đối thủ cạnh tranh lợi dụng bêu xấu
Cạnh tranh lao động với các vùng lân cận, đặc biệt là TP.Hồ Chí Minh
Với những diễn biến phức tạp của thị trường trong và ngòai nước đã thúc đẩy đội ngũ cán bộ phải tích cực học hỏi cập nhật hơn nữa những kiến thức mới, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao
Sự mất giá của đồng Việt nam , khu vực khai thác hải sản bị thu hẹp làm giảm đáng kể nguồn nguyên liệu
Cạnh tranh cao về vấn đề thu mua nguyên liệu và giá bán sản phẩm của các nhà máy cùng ngành nghề trong nước
Suy thoái kinh tế thế giới và yếu tố môi trường đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến đến hoạt động chế biến xuất khẩu của đơn vị
1.4 Khái quát về tình hình chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu 1.4.1 Năng lực chế biến thủy sản tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
1.4.1.1 Tình hình đầu tƣ phát triển năng lực chế biến thủy sản
Chế biến xuất khẩu: Tính đến năm 2010 trên địa bàn tỉnh BR-VT có 60 nhà máy chế biến đông lạnh với tổng công xuất thiết kế đạt 126.480 tấn/năm; 7 nhà máy kết hợp chế biến đông lạnh và hàng khô với tổng công xuất 28.520 tấn/năm; 1 nhà máy
đồ hộp(công suất 10 triệu hộp/năm).Tổng số vốn đăng ký đạt 149,71 tỷ đồng, trong đó: chế biến đông lạnh 146,28 tỷ đồng; chế biến kết hơp đông lạnh-khô 2,53 tỷ đồng và chế biến đồ hộp 0,9 tỷ đồng
Chế biến nội địa: Số cơ sở chế biến nước mắm là 36 cơ sở với tổng công suất
12 triệu lít/năm; chế biến khô có 42 cơ sở với tổng công suất 10.292 tấn/năm, chế biến bột cá là 22 cơ sở đạt công suất 232.400 tấn/năm Ngoài ra, trên địa bàn còn có 71 cơ
sở chế biến tổng hợp có tham gia chế biến, kinh doanh thủy hải sản Tổng số vốn chế biến nội địa đăng ký đạt 181,62 tỷ đồng, trong đó chưa tính số vốn của ngành hàng nước mắm
Với chủ trương cổ phần hóa triệt để các doanh nghiệp Nhà nước trong chế biến thủy sản, hầu hết các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh đã chuyển sang cổ phần hóa,
và chuyển sang tham gia thị trường chứng khoán nhằm huy động thêm vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất Tuy nhiên, trong bối cảnh khủng hoản tài chính, kinh tế toàn cầu hiện nay đã tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến thủy sản
Trang 13Trong giai đoạn 2003-2010, năng lực chế biến thủy sản của tỉnh tăng lên đáng
kể Cụ thể, đối với chế biến đông lạnh tăng 44 cơ sở, tổng công suất tăng 122.000 tấn/năm; chế biến bột cá tăng 17 cơ sở, công suất tăng 202.000 tấn/năm; chế biến hàng khô tăng 22 cơ sở, công suất tăng 292 tấn/năm và chế biến nước mắm tăng 25 cơ sở
1.4.1.2 Trình độ công nghệ chế biến thủy sản
Về trình độ máy và thiết bị chế biến
Theo báo cáo đề tài “Đánh giá thực trạng công nghệ của các sở sản xuất thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và đề xuất phương án đổi mới trong giai đoạn 2005-2010” (Sở KH&CN Bà Rịa-Vũng Tàu, 2006), năm 2005, trình độ kỹ thuật công nghệ ngành còn thấp, tỷ trọng lao động thủ công cao, trang thiết bị phần lớn là lạc hậu và không đồng
bộ Năng lực chế biến đông lạnh chiếm trên 90% là công nghệ được trang bị từ trước năm 2000
Hiệu suất chung của toàn ngành còn thấp thể hiện ở hệ số sử dụng công suất thấp dưới 70%, hệ số sử dụng nguyên liệu dưới 70% Do lợi nhuận thấp nên ít đơn vị
có điều kiện đầu tư, đổi mới công nghệ và mua sắm thiết bị nhằm giảm giá thành
Mức độ cơ giới háo chưa vượt quá 50%, nhiều khâu lao động thủ công, hệ số đổi mới thiết bị thấp dưới 10%/năm Phần lớn máy móc thiết bị thuộc thế hệ cũ, công suất thấp, đầu tư chắp vá, thiếu đồng bộ, thiếu thiết bị kiểm nghiệm, kiểm tra chất lượng,… chỉ mới khai thác được 50-60% công suất nhưng mức tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng cho một đơn vị sản phẩm lại vượt từ 1,2-1,5 lần so với mức trung bình ở nước ngoài
Về trình độ quản lý chất lượng
Đến nay, các doanh nghiệp đã chú trọng hơn đến việc áp dụng theo các tiêu chuẩn chất lượng trong nước và quốc tế, đảm bảo an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất, chế biến Toàn tỉnh có 44 nhà máy được công nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm theo quy định của Việt Nam (trong đó 42 nhà máy đạt tiêu chuẩn HACCP), 30 cơ sở đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện xuất khảu vào các thị trường Châu Âu…
Các doanh nghiêp đang có xu hướng chuyển sang chế biến những mặt hàng có giá trị gia tăng , giá trị kinh tế cao như seafood mix, hàng đông lạnh, hàng khô… và giảm dần sản phẩm thô, giá trị thấp
1.4.2 Kết quả hoạt động chế biến thủy sản
1.4.2.1 Sản lƣợng chế biến và cơ cấu mặt hàng
Sản lượng chế biến thủy sản đạt 81.037 tấn năm 2003, tăng lên 154.699 tắn năm
2010, đạt tốc độ tăng trung bình quân giai đoạn 2003-2010 là 9.7% năm Về cơ cấu sản lượng chế biến thì thủy sản động lạnh chiếm phần lớn, với tỷ trọng 69% năm 2010, trong khi đó bột cá là 21% và hàng khô là 10%
Trang 14Sản lượng nước mắm có xu hướng tăng chậm từ 10 triệu lít năm 2003 tăng lên
12 triệu lít năm 2010 Tốc độ tăng bình quân đạt 2,6% năm trong cả giai đoạn
1.4.2.2 Giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm ngành chế biến
Giá trị sản xuất ngành CBTS của tỉnh theo giá thực tế tăng bình quân 16,3% năm trong giai đoạn 2003-2010, từ 3.512 tỷ đồng tăng lên 9.049 tỷ động hàng động lạnh có đóng góp lớn nhất về GTSX của ngành, đạt tốc độ tăng 18,2% năm và chiếm
tỷ trọng 81% trong tổng GTSX, tiếp đến là hàng khô chiếm 19%, còn lại là bột cá và nước mắm
Giá trị sản xuất CBTS của tỉnh tính theo giá cố định năm 1994 tăng bình quân 9.0% trong giai đoạn 2003-2010, từ 3.200 tỷ đồng tăng lên 5.851 tỷ đồng đây là giá trị phản ánh mức tăng thực của sản lượng sau khi đã loại trừ yếu tố biến động giá Cơ cấu đóng góp của các ngành hàng trong tổng GTSX của giai đoạn này không có nhiều biến động với tỷ trọng (năm 2010) lớn nhất là thủy sản đông lạnh(83,7%), tiếp đến là hàng khô(12,2%), sau cùng là bột cá(3,6%) và nước mắm(0,5%)
1.4.2.3 Thị trường xuất khẩu thủy sản
Châu Á: Là khu vực thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất của tỉnh, tốc độ tăng trưởng bình quân toàn thị trường đạt 12,1% năm trong giai đoạn 2003-2010, tỷ trọng bình quân trong cả giai đoạn chiếm 71,6%, cao nhất đạt 80.8% năm 2004 và thấp nhất đạt 65,1% vào năm 2008 Xuất khẩu vào Singapore tuy nhỏ nhưng đạt được sự tăng trưởng cao nhất(32,6%), tiếp đến là các nước khác(18,6%), Nhật Bản(14,7%) và Hàn Quốc(10,5%) Thị trường Đài Loan có xu hướng giảm dần với tốc độ giảm là 5,7%
Có thể nói xuất khẩu thủy sản của tỉnh vào thị trường Châu Á trong cả giai đoạn phục thuộc chủ yếu vào Nhật Bản và Hàn Quốc, trong thời gian tối cần tiếp tục duy trì 2 thị trường này đồng thời mở rộng sang thị trường các nước khác(đang có dấu hiệu tăng trưởng khả quan)
Châu Âu: Là khu vực thị trường tiêu thụ thủy sản lớn thứ hai của tỉnh, tốc độ tăng trưởng bình quân toàn thị trường giai đoạn 2003-2010 đạt 16,6%, tỷ trọng bình quân trong cả giai đoạn là 18,1%, cao nhất đạt 23,1% trong năm 2008 và thấp nhất đạt 11,7% vào năm 2004 Hiện Pháp và Nga là 2 thị trường nhập khẩu lớn nhất(trên 9 triệu USD), đây cũng là thị trường có sự tăng trưởng rất khả quan Pháp từ vị trí thứ nhất trong năm 2008(16,6 triệu USD) giảm xuống đứng thứ 2 với giá trị 9,0 triệu USD Ý là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ 3 của tỉnh trong khối EU, đây là thị trưởng có sự sụt giảm nghiệm trọng từ vị trí thứ nhất(9,5 triệu USD) năm 2003 và hiện giá trị xuất khẩu thủy sản vào thị trường này chỉ đạt 2,9 triệu USD Đối với thị trường các nước khác có sự tăng trưởng đáng khích lệ, đây là 1 sự cố gắng lớn của các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc tìm kiếm thị trường mới
Châu Mỹ: Là khu vực thị trường tiêu thụ thủy sản lớn thứ 3 của tỉnh, tốc độ trung bình quân toàn thị trường giai đoạn 2003-2010 đạt 28,5%, tỷ trọng bình quân
Trang 15trong cả giai đoạn chiếm 8,7% cao nhất đạt 11,7% vào năm 2009 và thấp nhất đạt 5,0% vào năm 2007 Mỹ là thị trường lớn nhất với giá trị 18,5 triệu USD, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân cả thời kỳ là 20,2% Trị trường các nước khác đạt 11 triệu USD
và có sự tăng trưởng rất cao (146,3%)
Châu khác: Tốc độ tăng trưởng bình quân toàn thị trường giai đoạn 2003-2010 đạt 36,1% tỷ trọng bình quân trong cả giai đoạn 1,6% cao nhất đạt 2,8% vào năm 2005
và thấp nhất đạt 0,3% vào năm 2003 Ôxtrâylia là nước nhập khẩu lớn nhất trong khối này trong nhiều năm nhưng năm 2009 còn 0.9 triệu USD
1.4.2.4 Nhu cầu nguyên liệu và nguồn nguyên liệu
Như cầu nguyên liệu: Tổng nhu cầu nguyên liệu cho CBTS năm 2010 khoảng 435.803 tấn, trong đó nhu cầu cho chế biến đông lạnh là 235.553 tấn(chiếm 54%), cho chiế biến bột cá là 144.00 tấn(chiếm 33%), cho chế biến khô là 47.851 tấn(chiếm 11%)
và chế biến nước mắm là 8.400 tấn(chiếm 2%)
Về cơ cấu sử dụng nguyên liệu: Nếu phân theo đối tượng thì trong tổng nhu cầu nguyên liệu(100%), có cá loại chiếm 77,8%, tôm các loại chiếm 0.8%, mực và bạch tuộc chiếm 8.8% và thủy sản khác là 12,7%.Nếu phân theo mục đích sử dụng thì trong tổng nhu cầu(100%), nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu chiếm 49,9%, còn lại cho chế biến nội địa chiếm 50,1%
Nguồn nguyên liệu: Do nguồn nguyên liệu trong tỉnh chưa đáp ứng được cả về sống lượng và chất lượng nên các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều nguồn cung cấp, thu mua từ các tỉnh khác hoặc 1 số doanh nghiệp đã nhập nguyên liệu
Nguyên liệu trong tỉnh: Được cung cấp chủ yếu từ khai thác thủy sản, tuy nhiên chất lượng nguồn nguyên liệu thấp nên tỷ lệ đưa vào chế biến không cao, chỉ chiếm từ 20-30% tổng sản lượng khai thác hằng năm của tỉnh, nguyên liệu từ nuôi trồng chiếm
tỷ trọng nhỏ hơn
Nguyên liệu từ tỉnh khác: Lượng nguyên liệu nảy chiếm tỷ torng5 khá lớn và được các doanh nghiệp trong tỉnh tổ chức thu mua ở khắp nơi trong cả nước Ngoài ra còn có một số lượng lớn nguyên liệu khai thác từ các tỉnh khác do tàu thuyền cập cảnh
ở tỉnh nên cũng thu hút được cho hoạt động chế biến thủy sản
Đối với nguyên liệu nhập khẩu: Nguồn nguyên liệu trong tỉnh cũng như trong nước chưa đáp ứng nên gần đây các doanh nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh phải nhập khẩu nguyên liệu của nước ngoài, từ các nước như: Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanca, Thái Lan, Trung Quốc, Chilê,… để đảm bảo sản phảm cung ứng cho khách hàng Bình quân, mỗi năm Công ty Baseafood phải nhập từ 1.500-2.000 tấn nguyên liệu các loại như:cá, tôm, mực, bạch tuộc,… Năm 2008, toàn tỉnh chỉ có 7 triệu USD giá trị nguyên liệu hải sản được nhập khẩu, nhưng 11 tháng đầu năm 2009 con số này đã tăng lên 47 triệu USD, ước tính hết năm 2009 giá trị nguyên liệu hải sản nhập khẩu sẽ đạt khoảng 64,8 triệu USD Số doanh nghiệp nhập khẩu đã tăng từ 3 doanh nghiệp lên 7 doanh
Trang 16nghiệp, như: Baseafood đã nhập 12 triệu USD(trong đó giá trị xuất là 28 triệu USD), Mai Linh nhập 15 triệu USD(xuất 20 triệu USD), Hải Việt nhập toàn bộ nguyên liệu
Về chất lượng nguyên liệu: Theo các doanh nghiệp chế biến thủy sản, có hơn 60% sản lượng sản phẩm khai thác của ngư dân phải bán theo giá “cá lỡ” hoặc “cá phân” cho các đầu nậu với giá cực thấp Điều này chẳng những làm thiệt hại cho ngư dân mà còn gây lãng phí, tác động xấu đến bảo vệ bảo vệ nguồn lợi thủy sản
1.4.3 Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần phục vụ chế biến
1.4.3.1 Cảng cá, bến cá
Trên địa bàn tỉnh hiến có 6 cảng và cụm cảng cá, trong đó có 3 cảng kiến cố và
3 cụm cảng bán kiên cố, ngoài ra còn có 6 bến cá nằm rải rác ở các huyện/thị Chỉ có 1
số ít cảng cá được xậy dựng tương đối hiện đại do nhà nước quản lý, còn lại chủ yếu là các cảng cá, bến cá và biến đậu tàu thuyền tồn tại lâu đời có quy mô nhỏ, cơ sở hạ tầng còn sơ sài, hoạt động mua bán cá tại cảng còn lộn xộn, công tác bảo quản sản phẩm chưa tốt nên chưa đáp ứng tốt nhu cầu cất bến của tàu thuyền
1.4.3.2 Hệ thống chợ có buôn bán thủy sản
Theo “Báo cáo Kết quả khảo sát các chợ trên địa bàn tỉnh” (của Đoàn khảo sát chợ- UBND tỉnh BR-VT), toàn tỉnh đến năm 2010 có 88 chợ các loại, chủ yếu là chợ được đầu tư bởi nguồn vốn ngân sách(68 chợ), số chợ do nguốn vốn xã hội hóa là 6 chợ và tự phát không được quản lý là 14 chợ Phân theo chợ trong tổng số 88 chợ chỉ
có 2 chợ đạt loại 1(TP Vũng Tàu và TX Bà Rịa), còn lại 13 chợ loại 2, 59 chợ loại 3
và 14 chợ tạm tự phát Số lương chợ xuống cấp cần đầu tư, cải tạo là 26 chợ
Đến năm 2011, tổng số chợ tăng lên 97 chợ( chợ tạm phát là 8 chợ), trong đó có
3 chợ loại 1, 12 chợ loại 2 và 82 chợ loại 3
Báo cáo cũng chỉ ra rằng, về cơ bản các chợ đáp ứng được nhu cầu mua bán, trao đổi của người dân địa phương ở mức trung bình Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và trai đổi hàng hóa ngày càng cao của nhân dân, đặc biệt là lương khách du lịch ngày càng nhiều thì số lượng và quy mô nhựng chợ hiện hữu chưa thể đáp ứng được yêu cầu
Cơ sở hạ tầng trong chợ và khu vực xung quanh đều xuống cấp, hệ thống thoát nước, phòng chống cháy nổ đã hư hỏng hoặc hoạt đống kém hiệu quả đã ảnh hưởng đến an toàn và vệ sinh môi trường cho các tiểu thương, người dân địa phương và dân
cư khu vực quanh chợ
Việc quy hoạch và phân khu các quầy, sạp trong chợ chưa trong chợ chưa khoa học và hợp lý công với ý thức của các tiểu thương còn hạn chế nên không thể đảm bảo các yếu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mặt hàng thực phẩm tươi sống và thủy sản
Trang 17Theo Quy hoạch tổng thể KT-XH tỉnh (QĐ 15/2007/QĐ-TTg) trên địa bàn tỉnh BR-VT sẽ xây dựng 2 chợ đầu mới thủy sản: (1) chợ đầu mối thủy sản phường 11(TP.Vũng Tàu) và (2) chợ đầu mối thủy sản Phước Tỉnh (huyện Long Điền) tuy nhiên cho đến nay hai chợ này vẫn chưa được hình thành mà chỉ hoạt động dưới dạng khu sơ chế thủy sản
vụ cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa
1.4.3.4 Nậu vựa thu mua
Theo số liệu thống kê của Sở NN&PTNT, hiện có khoảng 62 cơ sở thu mua, sơ chế thủy sản các loại nằm rải rác trên địa bàn, tập trung chủ yếu ở huyện Long Điền(31
cơ sở) và TP Vũng Tàu (25 cơ sở) Nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến chủ yếu do các nậu vựa này nắm Các cơ sở nuôi và khai thác thủy sản nằm phân tán,
xa đường giao thông nên vai trò của nậu vựa khá qua trọng Nếu vựa có nhiều tầng cấp:nhỏ, trung bình và lớn Các hộ có vốn lớn thường là vựa mua bán nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, vựa nhỏ thường mua bán thủy sản cho chế biến và tiêu dùng nội địa
Cơ chế thu mua và phân phối nguyên liệu như hiện nay có nhiều ưu điểm như tận thu được nguyên liệu nhanh chóng bảo đảm chất lượng nguyên liệu, chuyên môn hóa khâu cung ứng nguyên liệu, tạo công ăn việc làm cho lao động, tự giải quyết tín dụng trong dân khi thủ tục vay vốn ở ngân hàng còn nhiều khó khăn Tuy nhiên với thức thức thu mua phân phối qua nậu vựa không những người sản xuất nhỏ, thiếu vốn thường thiệt thòi do phải bán qua mấy tầng trung gian vừa bị ép giá vừa phải chịu lại suất cao mà những người sản xuất lớn, có vớn lớn lúc cần bán sản phẩm cũng thường
bị ép giá do thiếu thông tinv à không tiếp cận được thị trường lớn
Trang 18Rõ ràng không thế phủ nhận vai trò của các nậu vựa trong việc làm đầu mối thu mua cho các doanh nghiệp chế biến hải sản Song, để bảo đảm quyền lợi cho ngư dân, tránh tình trạng các nậu vựa bắt tay ép giá, cần nghiên cứu một mô hình quản lý hoạt động thu mua hải sản của ngư dân phù hợp Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp lớn tổ chức đầu mối thu mua sản phẩm cho ngư dân Có như vậy mới tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong tiêu thụ hải sản, hướng tới mục tiêu xây dựng thị trường hải sản “thuận mua vừa bán”
1.4.3.5 Các dịch vụ hậu cận khác
Sản xuất và cung ứng nước đá
Nước đóng vai trò rất quan trọng trong bảo quản nguyên liệu và sản phẩm chế biến Trên địa bàn tỉnh hiện có 78 cơ sở sản xuất nước đá cây tư nhân với tổng công suất thiết kế khoảng 1 triệu tấn/năm, sản lượng nước từ 250-260 tấn/năm Các cơ sở này tập trung chủ yếu ở nhưng khu vực cảng cá, bến cả để thuận tiện cho việc mua bán, vận chuyển và bảo quản sản phẩm trên các tàu khai thác
Các cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu quy mô công nghiệp phần lớn đều có xưởng sản xuất nước đá, tuy nhiên vào mùa vụ lượng nước đá tự sản xuất thường không đáp ứng đủ nên vẫn phải mua từ các cơ sở này Về cơ bản lượng nước đá đã đáp ứng đủ nhu cầu song các doanh nghiệp cũng cần có kế hoạch đảm bảo đủ lượng nước đá khi vào mùa vụ
Cung cấp bao bì, hóa chất, phụ gia
Bao bì sử dụng trong chế biến, bảo quản và vận chuyển thủy sản của tỉnh về cơ bản vẫn dựng vào nguồn nhập ngoại hoặc mua tại TPHCM đối với các loại bao bì đòi hỏi phải sản xuất cho trình độ công nghiệp cao cho các loại sản phẩm thủy sản xuất khẩu
có giá trị Đó là các loại sản phẩm bằng caton tráng sáp, bao bì nilon các loại in nhãn hiệu phức tạp, thùng xốp cách nhiệt
Đối với các loại bao bì đơn giản, rẻ tiền sử dụng trong chế biến nội địa, vận chuyển chứa đựng như:lồ, sọt, thùng hỗ, chai, lọ, lu, hũ, giấy,….thì đa phần được sản xuất tại địa phương, mộ phần được mua từ TPHCM và các tỉnh lân cận
Đối với các nguyện liệu hóa chất, phụ gia sử dụng trong chế biến, bảo quản sản phẩm và nguyên liệu đều có bán sẵn trên thị trường Tuy nhiên, việc buôn bán hóa chất phụ gia, không rõ nguồn gốc vẫn tồn tại mà chưa kiểm soát triệt để, điều này có nguy
cơ gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm nếu sử dụng trong chế biến
Cung ứng máy móc, thiết bị chế biến
Khác với trước đây, máy móc thiết bị(MMTB) chế biến đa phần được nhập ngoại phải chịu giá khá cao Những năm gần đây, cùng với những tiến bộ của khoa học công nghệ trong nước và sự phát triển khá nhanh của ngành CBTS đã kéo theo rất nhiều các
Trang 19dịch vụ hỗ trợ phát triển tương xứng, trong đó có nhành chế tạo máy và thiết bị chế biến
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cung cấp 1 số lượng lớn MMTB chế biến máy và thiết bị lạnh cho các nhà máy chế biến thủy sản trong vùng, trong đó có BR-VT Máy
và thiết bị chế biến sản xuất trong nước(hoặc được nội địa hóa để giảm giá thành) có chất lượng không thua kém nhiều so với nhập ngoài mà giá lại rẻ nên tỷ lệ sử dụng MMTB nội địa trong các doanh nghiệp ngày càng cao Việt nam cũng đã tự thiết kế thiết bị cấp đông băng chuyền siêu tốc với công suất 500 kg/giờ, các loại máy đóng gói hút chân không, máy lạng da cá tốc độ cao, máy filler, máy dò kim loại, máy niềng đai, máy in ấn nhãn mác, mã vạch,…, cũng được sản xuất với số lượng lớn trong nước, đặc biệt tại thành phố Hồ Chí Minh
1.4.4.Tổ chức sản xuất, quản lý và cơ chế chính sách
1.4.4.1.Tổ chức sản xuất
Thực hiện Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài, Luật khuyến khích đầu
tư trong nước, ngành thủy sản Tinh cũng không ngừng phát triển các mô hình quản lý sản xuất torng lĩnh vực chế biến thủy sản xuất khẩu, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty liên doanh, Doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình nhằm thu hút được nhiều nguồn vốn kỹ thuật cho lĩnh vực chế biến thủy sản Đội ngũ cán bộ và công nhân lành nghề trong các đơn vị chế biến hàng xuất khẩu ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng
1.4.4.3 Về cơ chế, chính sách
Được xác định là 1 trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước nên Thủy sản nói chung và chế biến xuất khẩu thủy sản nói riêng đã và sẽ tiếp tục được Nhà nước quan tâm Việc Chính phủ ban hành các Quyết định: số 1690/QĐ-TTG, ngày 16/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, Quyết định số 2310/QĐ-BNN-CB, ngày 04/10/2010 v/v phê duyệt quy hoạch phát triển chế biến thủy sản toàn quốc đến năm 2020, Quyết định số 279/QĐ-TTG, ngày 07/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt Chương trình
Trang 20phát triển xuất khẩu thủy sản đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020,…đã có tác động rất lớn đến mọi hoạt động của ngành thủy sản trong thời gian vừa qua
Các cơ chế chính sách nhằm khuyến khích đầu tư và hỗ trợ ngành thủy sản như: Nghị quyết số 48/NQ-CP, ngày 23/09/2009 của CP về cơ chế, chình sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản, Quyết định số 63/2010/QĐ-TTG, ngày 15/10.2010 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản, Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12/04/2010 của Chính phủ về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nghị định số 61/2010/NĐ-CP, ngày 04/06/2010 của Chính phủ về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Quyết định số 48/2010/ QĐ-TTG, ngày 13/07/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa,…
Để thực hiện các mục tiêu mà toàn Ngành đã đặt ra, Bà Rịa-Vũng Tàu đã ban hành: Nghị quyết số 12-NQ/TU, ngày 02/08/2010 của Ban Thường Vụ Tỉnh ủy Bà Rịa-Vũng Tàu về phát triển thủy sản tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2015, Quyết định
số 50/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh BR-VT ban hành Chương trình hành động thực hiến Nghị quyết 12-NQ/TU, ngày 02/08/2010 của Ban Thường Vụ Tỉnh ủy Bà Rịa-Vũng Tàu về phát triển thủy sản tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2015,…
Bên cạnh đó để tăng khả năng thu hút đầu tư và tạo cơ chế thông thoáng trong xuất khẩu hàng hóa, bên cạnh những chính sách về thị trượng, mặt hàng, cơ chế xuất khẩu của Chính Phủ(Nghị định 57/1998/NĐ-CP, Nghị định 02/2003/NĐ-CP, Nghị định 44/2001/NĐ-CP, Quyết định 46/2001/QĐ-TTg, Quyết định 311/2003/QĐ-TTG, Quyết định 195/1999/QĐ-TTG,….của Thủ tướng Chính phủ), Ủy ban nhân dân tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu cũng ban hành nhiều chính sách ưu đãi như: giảm giá cho thuê đất, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, hỗ trợ xúc tiến đầu tư, thương mại dịch vụ, dụ lịch,
hỗ trợ đào tạo lao động, phát triển nguồn nhân lực cho các nhà đầu tư Đặc biệt khuyến khích và ưu đão đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu và xây dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, cấp thoát nước và xử lý rác thải
Song song với những chính sách khuyến khích, ưu đãi cụ thể, tỉnh BR-VT đang
nỗ lực xây dựng 1 môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn hơn như: tiếp tục đầ mạnh cải cách thủ tực hành chính(theo đề án 30), đặc biệt là trong các khâu liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp như thủ tục đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế, khắc dấu theo hướng giảm thiểu tối đa thời gian giải quyết theo quy định nhằm giúp doanh nghiệp gia nhập nhanh vào thị trường, nắm bắt kịp thời cơ hội kinh doanh
Trang 211.4.5 Khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế trong chế biến thủy sản
1.4.5.1 Về khoa học, công nghệ
Khoa học công nghệ trong chế biến thủy sản của tỉnh chủ yếu tập trung vào việc chuyển giao và ứng dụng các thành tựu của công nghệ chế biến thủy sản thế giới, điển hình như: Dự án xây dựng và áp dụng chương trình quản lý chất lượng the hệ thống HACCP(Cty chế biến XNK thủy sản tỉnh BR-VT, năm 2002); dự án áp dụng sản xuất sạch hơn vào hoạt động của xí nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu II và xí nghiệp chế biến thủy sản Tiến Đạt(Xí nghiệp CBTS XK II, năm 2002)l nghiên cứu, thiết kế và chế tạo máy đánh vảy cá(Phân viện cơ điện NN&CNSTH, năm 2007-2008)l đánh giá thực trạng trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất thuộc tỉnh BR-VT và đề xuất phương
án đổi mới trong giai đoạn 2005-2010(Phân viện cơ điên NN&CNSTH, năm 2006),… Nhìn chung các dự án KHCN đã đóng góp phần tích cực vào sự phát triển của ngành trong thời gian qua, tồn tại nhiều hạn chế, đó là sự đầu tư cho KHCN còn thiếu, không những về qui mô mà còn thiếu về cả tầm nhìn Việc đầu tư cho các công trình nghiên cứu của các cơ quan khoa học công ngeh65 chưa gắn liền với thực tiễn sản xuất,…
1.4.5.2 Về hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế trong chế biến thủy sản cũng chỉ dừng lại ở việc nhận tài trợ của nước ngoài để xây dựng các chương trình quản lý chất lượng, đạo tạo nhân lực, bảo vệ nguồn lợi, môi trường,… Trong khuôn khổ tổ chức SEAFDEC, đứng đầu là Singapore đã cùng các nước ASEAN nhận tài trợ của Canada, Nhật, Úc để xây dựng các chương trình đảm bảo chất lượng theo HACCP cho các doanh nghiệp qui mô vừa
và nhỏ, cho các sản phẩm truyền thông của khu vực Singapore được đầu tư 1 trung tâm nghiên cứu công nghệ chế biến của khu vực, trong nhiều năm đã đào tạo cho nhiều học viên đến từ 10 nước trong khu vực ASEAN về công nghệ chế biến surimi, sản phẩm từ surimi, xúc xích và 1 số sản phẩm giá trị gia tăng từ phế liệu cá ngừ, Hợp tác quốc tế cũng còn được diện ra dưới dạng cung cấp công nghệ thế bị dưới dạng viện trợ không hoàn lại, hoặc vay vốn ADB, đưa công nghệ của các nước vào,…
1.4.6 Tác động môi trường của hoạt động chế biến
1.4.6.1 Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường
Các cơ sở chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh đã và đang gây ô nhiễm môi trường tại nhiều nơi, đặc biệt là 3 khu vực có số lượng nhà máy tập trung lớn như: TP.Vũng Tày, huyện Tân Thành và huyện Long Điền Hầu hết các loại hình chế biến thủy sản như: đông lạnh, khô, nước mắm và đặc biệt là chế biến bột cá đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhiều nơi Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến phải kể đến ít nhất là 6 tác nhân, đó là:
Tác nhân dạng khí: Phần lớn các xí nghiệp chế biến thủy sản có mức độ sinh ra khí độc hại còn tương đối thấp(không kể các xí nghiệp chế biến bột cả và chế biến nước mắm)
Trang 22 Các máy lạnh sử dụng CFC hoặc Amoniac cũng gây ra những ảnh hưởng nhất định do lượng khí CFC rò rỉ gây tác hại đối với tầng Ozon và Amoniac làm ô nhiễm bầu khí quyển trong lành của cộng đồng
Tác nhân vật lý(dạng tiếng ồn và độ rung): Các tác nhân này có thể chấp nhận được vì hầu hết các thiết bị máy móc đều đã được tính toán theo chuẩn mực quốc tế
Tác nhân ô nhiễm nhiệt: Nhiệt sinh ra trong quá trình chế biến thường truyền trực tiếp vào bầu khí quyển xung quanh, nó hầu như không gây ảnh hưởng gì đến môi trường, tuy nhiên dạng nhiệt trong nước làm mát máy lạnh, nhiệt từ nước tan giá nấu chiết Agar, lạnh đột ngột Chitozan khi thải ra môi trường sẽ có thể thay đổi nhiệt đồ ở điểm thải bỏ như ao đầm, kênh rạch làm ảnh hưởng đến
hệ động thực vật tại đó
Tác nhân rắn(chất thải rắn): đương nhiên tất cá các xí nghiệp chế biến thủy sán, các bến cá, chợ cá đều có chất thải dạng rắn:vây, vẩy, vỏ, nội tạng, cua, cá khi
xử lý nguyên liệu, bả rong sau khi nấu chiết Agar, carrageenan, các phế thải bao
bì, đồ hộp, tôm cá ươn, vụn thối, các dụng cụ chứa đựng hết hạn dùng, các loại rác,… Lượng chất thải này là đáng kể và phải xử lý
Tác nhân lòng(nước thải): Nước thải từ các xí nghiệp chế biến thủy sản chứa các chất rắn lơ lừng, chất hữu cơ hòa tan, các chỉ số COD,BOD5 là rất cao(trên dưới 1.000mg/l), vì vậy, vấn đề xử lý nước thải từ các xí nghiệp chế biến là rất cần phải quan tâm, nó đặc biệt quan trọng nếu như các nhà máy này nằm gần các khu dân cư, đầu nguồn nước và các khu du lịch,…
Tác nhân hóa học: bao gồm các loại hóa chất, phụ gia dùng trong chế biến và bảo quản sản phẩm cũng cần phải được quan tâm
1.4.7 Đánh giá chung hiện trạng
1.4.7.1 Thuận lợi
Hoạt động chế biến thủy sản của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã trải qua 1 giai đoạn tăng trưởng nhanh, nhất là chế biến hàng xuất khẩu đã trở thành 1 khâu trọng tâm, có rất nhiều yếu tố thuận lời cho sự phát triển lâu dài Những kết quả nêu trên là bẳng chứng sinh động thể hiện sự đúng đắn của các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành, cùng với sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Tỉnh, của Ngành đối với nghề cá của Tỉnh Cụ thể là chủ trương phát triển đội tàu khai thác xa bờ, xây dựng với các vùng nuôi thủy sản thâm canh, bán thâm canh, việc kiêm thêm nghề trên 1 đơn
vị tàu thuyền khai thác ở Tỉnh ngày 1 đúng hướng và phát triển nhanh chóng, đồng thời không ngừng nâng cao số lượng, chất lượng và chủng loại thủy sản phục vụ cho chế biến hàng xuất khẩu Mặt khác, để tăng số lượng và chất lượng của các mặt hàng thủy sản xuất khẩu, các doanh nghiệp chế biến của Tỉnh đã tiến hành đầu tư xây dựng
cơ bản, đầu tư trang thiết bị để tăng năng lực sản xuất, mở rộng cơ cấu mặt hàng nâng cao chất lượng sản phẩm như Công ty Baseafood, Công ty cổ phần Hải Việt, Công ty
Trang 23thủy sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo, Xí nghiệp chế biến thủy sản Phước Cơ, Doanh nghiệp tư nhân Mai Linh, Công ty trách nhiệm hữu hạn Đông Đông Hai,…
Nguồn vốn đầu tư cho chế biến thủy sản còn hạn chế, đặc biệt là các khâu trong việc cho vay vốn của ngân hàng còn nhiều vướn mắc và như vậy chưa đảm bảo cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư công nghệ mới, nhất là đối với các dự án lớn và vừa
Trình độ công nghệ chế biến thủy sản còn lạc hậu, mức độ cơ giới hóa chưa vượt quá 50%, nhiều khâu lao động thủ công, hệ số đổi mới thiết bị thấp dưới 10%/năm Máy móc thiết bị sản xuất phần lớn thuộc về thế hệ cũ, tính năng công nghiệp thấp, đầu tư chắp vá, không đồng bộ, mất cân đối, thiếu các thiết bị kiểm nghiệm, kiểm tra sản phẩm,….nhiều dây chuyền công nghệ cao được nhập từ nước ngoài có công suất lớn nhưng thực tế mới chỉ khai thác được 50-60% công suất thiết
kế, mức tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng cho một đơn vị sản phẩm thường vượt từ 1,2-1,5 lần so với mức trung bình ở nước ngoài
Sản phẩm chế biến chủ yếu dưới dạng thô, sơ chế, cấp đông đông dạng block có giá trị gia tăng thấp, chất lượng sản phẩm chưa đồng thấp, sản phẩm chưa tạo được thương hiệu và hầu như chưa có danh tiếng Chỉ có khoảng 60% các nhà máy chế biến đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh và các qui định về an toàn, khó khăn trong việc kiểm soát dư lương kháng sinh, vi sinh trong thủy sản xuất khẩu,…
Tình hình phân phối, bảo quản nguyên liệu và sản phẩm thủy sản còn nhiều khó khăn và hạn chế như: Sản phẩm làm ra do phải vận chyển xa và thường không có đủ thiết bị bảo quản nên tỷ lệ hư hỏng cao, chất lượng nguyên liệu kém, cơ chế phân phối nguyên liệu thông qua nậu vựa dẫn đến tình trạng ép giá, hạ loại, thiếu chợ đầu mối thủy sản, cơ chế điều hành xuất nhập khẩu thiếu sự ổn định, nhưng năm qua thay đổi liên tục đã làm cho các doanh nghiệp xuất khẩu bị động, lúng túng, chính sách hỗ trợ xuất khẩu của Tỉnh tuy đã được quan tâm, song chưa thực sự thuận lợi để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản phát triển
Sản phẩm thủy sản ngảy càng đối mặt với các xu thế và yêu cầu khắt khe hơn của thị trường thế giới về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, bão vệ môi trường, truy nguyên nguồn gốc sản phẩm,…
Trang 24Về vấn đề ô nhiễm môi trường: Hầu hết các doanh nghiệp chỉ mới dừng lại ở việc đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải nhưng chưa đồng bộ và hoàn thiện Có tới khoảng 50% số nhà máy xử lý nước thải chủ yếu bằng phương pháp lắng, lọc thô sơ hoặc thải trực tiếp ra ao hồ hoặc thải theo đường nước sinh hoạt xuống cống rãnh gây tình trạng ô nhiệm môi trường nghiệm trọng các khu dân cư, ảnh hưởng du lịch
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 với nội dung cần chú ý là:
1 Ở trong nước, công tác nghiên cứu và ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng còn rất non yếu, mức độ đầu tư còn ở mức thấp Hiện nay thì vấn đề này đang dần dần được các doanh nghiệp quan tâm thực hiện, mặc dù vẫn chi mới trên phương diện lý thuyết, nghiên cứu và đánh giá hiện trạng nhưng đó cũng là những bước đầu quan trọng cho việc phát triển nghiên cứu và ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng sau này
2 Ở nước ngoài, việc nghiên cứu ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng đã được thực hiện khá tốt, thu được nhiều thành tựu lớn Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu đã được thực hiện cả về xây dựng khung cơ sở lý luân lẫn giải pháp ứng dụng thực tiễn Đây là cơ sở tài liệu, hổ trợ cho các nghiên cứu sau này, trong
đó có cả các nghiêp cứu của Việt Nam
3 Công ty Coimex là công ty cổ phần đang có những bước phát triển mạnh mẽ trên thị trường, góp phần cho sự phát triển của ngành chế biến thủy sản tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
4 Tình hình chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đang có nhiều chuyển biến mới về năng lực chế biến, hoạt động , cơ sở hạ tầng, tổ chức sản xuất , quản lý,… đặt ra yêu cầu cho việc hoạch định kế hoạch phát triển bền vũng cho ngành chế biến thủy sản trong thời gian tới
Trang 25CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
2.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng
2.1.1 Định nghĩa chuỗi cung ứng
Khái niệm “chuỗi cung ứng” bắt đầu xuất hiện vào đầu những năm 1980 và trở nên phổ biến trong những năm 1990 Có rất nhiều khái niệm về chuỗi cung ứng:
Chuỗi cung ứng là sự liên kết các tổ chức nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào
thị trường (“Fundaments of logistics management” - Lambert, Stock and Ellram -
1998)
Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các thành viên tham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng (“Supply chain management:
strategy, planning and operation” - Chopra Sunil and Pter Meindl - 2001)
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra các điểm cần chú ý đối với chuỗi
Trong nội bộ mỗi doanh nghiệp, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các chức năng liên quan đến việc hoàn thành đòi hỏi của khách hàng (phát triển sản phẩm, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính, dịch vụ khách hàng,.)
Dòng thông tin, nguyên vật liệu và tài chính sẽ luân chuyển trong toàn chuỗi cung ứng
2.1.2.Quản trị chuỗi cung ứng
Có rất nhiều khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng:
Quản trị chuỗi cung ứng là việc thiết kế và quản lý các tiến trình xuyên suốt,
tạo giá trị cho các tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng (
“Glossary of key purchasing and supply terms”, The Institute for supply management,
Trang 261995)
Quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý cung và cầu, xác định nguồn nguyên vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn
hàng và quản lý đơn hàng, phân phối qua các kênh và đến khách hàng cuối cùng
(Courtesy of supply chain council)
Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp một cách hệ thống, chiến lược các chức năng kinh doanh truyền thống trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng với mục đích cải thiện thành tích dài hạn của từng doanh nghiệp
đơn lẻ và của cả chuỗi cung ứng (Courtesy of the council of logistics management)
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể thấy quản trị chuỗi cung ứng bao gồm mạng lưới các quyết định về các vấn đề chính sau:
Thu mua: Trên cơ sở nhu cầu các nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, dịch vụ,
đã được xác định Doanh nghiệp sẽ phải tổ chức lựa chọn nhà cung cấp, ký kết hợp đồng, tổ chức thực hiện, nhập kho, bảo quản và cung cấp cho các bộ phận
có nhu cầu
Phân phối: Phân phối là một trong những hoạt động quan trọng trong chuỗi cung ứng, nối liền doanh nghiệp và khách hàng Bản chất của phân phối là làm thay đổi vị trí của sản phẩm từ nhà sản xuất đến khách hàng cuối cùng Doanh nghiệp thường cố định, còn khách hàng thì hầu hết ở khắp nơi, nếu không có hoạt động phân phối thì sản phẩm khó có thể đến tay khách hàng nơi xa
Tồn kho: Tồn kho như là một bộ phận giảm xóc cho tính không chắc chắn, không ổn định trong chuỗi cung ứng Tồn kho trong chuỗi cung ứng bao gồm tồn kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm
Địa điểm: Đúng địa điểm không bảo đảm sự thành công cho doanh nghiệp nhưng sai địa điểm chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại Doanh nghiệp cần xác định các vị trí tốt nhất cho các cấu thành khác nhau trong chuỗi cung ứng của mình
Vận tải: Hoạt động này liên quan đến việc dịch chuyển nguyên vật liệu từ nhà cung cấp đến doanh nghiệp hoặc sản phẩm hoàn thành từ doanh nghiệp đến với khách hàng Điều này bao gồm việc lựa chọn phương tiện và loại hình vận tải, lựa chọn doanh nghiệp vận tải, thiết kế quy trình vận chuyển để đảm bảo rằng việc vận chuyển an toàn, đúng lúc với giá cả hợp lý
Thông tin: Xuyên suốt chuỗi cung ứng chính là dòng thông tin Thông tin gắn kết các thành tố của chuỗi cung ứng Thông tin chính xác và kịp thời giúp doanh nghiệp có các quyết định đúng đắn về hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của mình
Trang 272.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng
2.2.1 Cấu trúc vật lý
Bức tranh đơn giản nhất của chuỗi cung ứng là khi chỉ có một sản phẩm dịch chuyển qua một loạt các thành viên và mỗi thành viên tạo thêm một phần giá trị cho sản phẩm Lấy doanh nghiệp nào đó trong chuỗi làm quy chiếu, nếu xét các hoạt động trước nó - dịch chuyển nguyên vật liệu đến - được gọi là các hoạt động ngược dòng; nếu xét các hoạt động phía sau nó - dịch chuyển sản phẩm ra ngoài - được gọi là các
hoạt động xuôi dòng
Các hoạt động ngược dòng được dành cho các nhà cung cấp: Nhà cung cấp chuyển nguyên vật liệu trực tiếp đến doanh nghiệp là nhà cung cấp cấp một Nhà cung cấp đảm nhiệm việc dịch chuyển nguyên vật liệu cho nhà cung cấp cấp một là nhà cung cấp cấp hai Cứ ngược dòng như vậy sẽ đến nhà cung cấp cấp ba, rồi đến tận cùng sẽ là nhà cung cấp gốc
Các hoạt động xuôi dòng được dành cho khách hàng: Khách hàng nhận sản phẩm trực tiếp từ doanh nghiệp là khách hàng cấp một Khách hàng nhận sản phẩm từ khách hàng cấp một là khách hàng cấp hai Tương tự, chúng ta sẽ có khách hàng cấp ba, và tận cùng của dòng dịch chuyển này là khách hàng cuối cùng
Hình 2.1: Các hoạt động trong chuỗi cung ứng
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
Trong thực tế, đa số các doanh nghiệp mua nguyên vật liệu từ nhiều nhà cung cấp khác nhau và bán sản phẩm đến nhiều khách hàng Vì vậy, chúng ta có khái niệm chuỗi hội tụ và chuỗi phân kỳ Chuỗi hội tụ khi nguyên vật liệu dịch chuyển giữa các nhà cung cấp Chuỗi phân kỳ khi sản phẩm dịch chuyển xuyên suốt các khách hàng
DOANH NGHIỆP
Nhà cung cấp thứ 2
Các hoạt động ngược dòng
Nhà cung cấp thứ 1
Khách hàng cấp 3
Các hoạt động suôi dòng
Khách hàng cuốicùng
Nhà cung cấp thứ 3
Khách hàng cấp 1
Trang 28Hình 2.2 Chuỗi cung ứng hội tụ và phân kỳ
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
Tuy nhiên, cả hai trường hợp trên, chúng ta cũng chỉ mới xét đến thành viên trực tiếp trong chuỗi cung ứng Trong chuỗi cung ứng còn có thể có các thành viên gián tiếp tham gia vào Đó chính là các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp, cho các nhà cung cấp và các khách hàng Họ có thể là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận chuyển, dịch vụ kho; có thể là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính, dịch vụ pháp luật, cố vấn quản lý; cung cấp dịch vụ nghiên cứu thị trường, thiết
kế, công nghệ thông tin và thu thập dữ liệu
DOANH NGHIỆP
Nhà CC cấp 3
(nhà CC
nguyên liệu)
Nhà CC cấp 2 (nhà sản xuất linh kiện)
KH cấp 1 (nhà bán buôn)
KH cấp 2 (Nhà bán lẻ)
KH cấp 3 (Người TD cuối cùng)
Nhà CC cấp 1 (nhà CC lắp phụ tùng)
Trang 29Hình 2.3: Các thành viên trong chuỗi cung ứng
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
2.2.2.Các mối quan hệ và các dòng chảy trong chuỗi cung ứng
2.2.2.1.Các mối quan hệ
Có 5 mức độ quan hệ trong chuỗi dựa vào mức độ tích hợp Theo cách thang đo tương đối này, một cực là mức độ tích hợp rất thấp (dạng thị trường rời rạc thuần túy -
spot market), một cực là hệ thống tổ chức cấp bậc thuần túy
Hình 2.4: Các mức độ quan hệ trong chuỗi cung ứng
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
Mối quan hệ ngắn hạn: Xây dựng trên cơ sở từng giao dịch riêng lẻ, các mối quan hệ được thiết lập và kết thúc dựa trên kết quả đàm phán về giá cả, hàng hóa được mua bán chủ yếu dựa trên tiêu chuẩn
Mối quan hệ trung và dài hạn: Sản phẩm được mua bán với số lượng, thời gian và giá cả định trước Các công ty kết hợp chức năng (chiều dọc) nhằm giảm bớt
Thị trường rời rạc
Liên kết chia sẽ lợi nhuận
Liên minh dài hạn
Tham gia mạo hiểm
Các khách hàng các cấp
Trang 30rủi ro Nhiều giao dịch không có hợp đồng ràng buộc một cách hợp pháp
Dạng liên kết để chia sẻ lợi nhuận: Mức độ hợp thức hóa rõ ràng, minh bạch
và hợp pháp Các thủ tục trong quan hệ đều thông qua giấy phép, bản quyền Những sản phẩm, dịch vụ hoặc thông tin được chuyển giao đều có bảo đảm về sở hữu
Liên mình dài hạn: Các tổ chức này ảnh hưởng lẫn nhau mà vẫn giữ được tính độc lập Sự tự do và phụ thuộc giữa mỗi công ty là có giới hạn
Tham gia mạo hiểm: là dạng đặc biệt của liên minh dài hạn, khi mà sự tích hợp lên tới mức độ cao tạo thành một dạng tổ chức mới để cùng chia sẻ lợi nhuận, rủi
ro Mỗi thành viên trong tổ chức phụ thuộc rất lớn vào nhau
Mức độ tích hợp giữa các công ty trong chuỗi dựa trên nền tảng của việc chia sẻ thông tin, mức độ chia sẻ liên quan đến quyết định thông tin nào được chia (what), ai được chia (who) và chia sẻ như thế nào (how)
2.2.2.2.Các dòng chảy trong chuỗi cung ứng
Theo Martin Chrisopher, trong chuỗi cung ứng có 3 dòng chảy cơ bản xuyên suốt chiều dài của chuỗi là dòng sản phẩm/ dịch vụ, dòng thông tin và dòng tiền
Hình 2.5: Dòng chảy trong chuỗi cung ứng
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
a Dòng sản phẩm/dịch vụ
Là dòng chảy không thể thiếu được trong chuỗi, xuất phát từ các nhà cung cấp đầu tiên đến người tiêu dùng (end to end) Các nhà quản lý tập trung vào kiểm soát dòng nguyên liệu bằng cách sử dụng dòng thông tin sao cho dòng tiền đổ vào chuỗi là lớn nhất Dòng nguyên liệu đi từ nhà cung cấp đầu tiên được xử lý qua các trung gian
Trang 31và được chuyển đến công ty trung tâm để sản xuất ra thành phẩm và chuyển đến tay khách hàng thông qua các kênh phân phối Như vậy mắc xích quan trọng nhất là công
ty trung tâm, công suất yêu cầu của thị trường quyết định công suất hoạt động tại đây
Dòng nguyên vật liệu chảy trong chuỗi bị ảnh hưởng rất lớn bởi cấu trúc vật lý của các thành viên trong chuỗi (máy móc, thiết bị, ) Để dòng chảy này được xuyên suốt, dung lượng của các thành viên trong chuỗi phải đảm bảo đạt một mức yêu cầu tối thiểu để tránh ách tắc Dòng chảy qua nguồn lực ách tắc sẽ tạo thành những điểm thắt
cổ chai (bottle neck) Trong chuỗi cung ứng có thể có hơn một điểm này Toàn bộ thông lượng đầu ra phía sau điểm thắt cổ chai giảm bằng đúng thông lượng qua đây và tiếp tục giảm nếu qua những điểm thắt cổ chai khác
Hình 2.6: Các dòng chảy qua điểm thắt cổ chai
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006 Những nguồn lực phía sau nguồn lực ách tắc trở nên lãng phí do dư thừa công suất trong khi công suất tại đầu ra không đủ đáp ứng yêu cầu chung cuả chuỗi Công suất tại đầu ra là công suất thấp nhất trong chuỗi, nên sự thiệt hại ở điểm này không còn mang tính cục bộ mà là của cả hệ thống
b Dòng thông tin
Có tính 2 chiều:
Dòng đặt hàng từ phía khách hàng về phía trước chuỗi: mang những thông tin thị trường, đặc điểm sản phẩm, nhu cầu của khách hàng, và những ý kiến phản hồi của khách hàng sau khi sử dụng sản phẩm/dịch vụ
Dòng phản hồi từ phía các nhà cung cấp: được nhận và xử lý thông qua bộ phận thu mua Các thông tin phản hồi này phản ảnh tình hình hoạt động của thị trường nguyên liệu Nó được xử lý rất kỹ trước khi chuyển tới khách hàng
Điểm thắt cồ chai
Lãng phí
Trang 32Hình 2.7: Thông tin nối kết các bộ phận và thị trường
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
Mức độ chia sẻ thông tin phụ thuộc đối tác được chọn lựa để chia sẻ, dạng thông tin và chất lượng của thông tin Có nhiều dạng thông tin trong chuỗi cung ứng: dạng thông tin chiến lược, chiến thuật, vận hành Những thông tin được chia sẻ thường mang lại lợi ích cho các thành viên trong chuỗi: chia sẻ thông tin về vận chuyển hàng hoá sẽ giúp các tổ chức hậu cần cải thiện mức độ phục vụ khách hàng, chia sẻ thông tin sản xuất và bán hàng làm giảm mức tồn kho
Giá trị của thông tin là kịp thời và chính xác, nó phụ thuộc vào lợi ích mà các công ty có thể nhận được từ thông tin đó Giá trị nó không còn nếu cơ hội đã trôi qua Việc xử lý chậm hoặc trì hoãn chuyển giao thông tin theo dòng ngược càng làm ảnh hưởng trầm trọng đến tốc độ đáp ứng của dòng sản phẩm dịch vụ theo chiều xuôi tới khách hàng, do vậy ảnh hưởng đến cả dòng tiền phía sau
Trong chuỗi cung ứng, dòng thông tin là dòng đi trước về mặt thời gian, nó xuyên suốt mọi quá trình, ngay sau khi cả dòng sản phẩm và dòng tiền đã thực hiện hoàn tất Vì vậy muốn quản lý được chuỗi cung ứng thì phải quản lý được dòng thông tin Thông tin chỉ mang lại giá trị nếu công ty có những đối ứng phù hợp Có những thông tin sẽ gây bất lợi nếu lọt vào tay đối thủ Nhà quản lý nên phân loại thông tin nào nên chia sẻ, thông tin nào cần bị giới hạn, kiểm duyệt hay bảo mật Để có thể chia
và nhận thông tin có giá trị, các nhà quản lý cần vượt qua một số rào cản nhất định về tâm lý
Việc kiểm soát không tốt dòng thông tin, tâm lý muốn được an toàn trong tồn kho và việc tạm dừng đơn hàng chờ đặt số lượng lớn đã gây nên hiệu ứng roi da (Bullwhip Effect) Hiệu ứng này còn được biết tới bởi nguyên lý Forrester, theo đó
“mỗi sự thay đổi 10% nhu cầu tại nhà bán lẻ sẽ dẫn đến 40% thay đổi nhu cầu tại nhà máy sản xuất” Do thông tin đơn hàng bị biến dạng, tồn kho tính ngược về phía nhà cung cấp bị tăng dần và dao động bất ổn nên chi phí sản xuất tăng theo Trong thực tế, những chuỗi càng dài thì ảnh hưởng của hiệu ứng này càng lớn
Nhà cung cấp
Thu mua Sản xuất Tiếp thị
Công ty sản xuất
Thị trường tiêu thụ
Khách hàng
Thị trường cung cấp
Trang 33Hình 2.8: Hiệu ứng roi da Bullwhip
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
Có 4 nguyên nhân chính gây ra hiệu ứng này là: Dự báo đơn hàng; Đặt hàng theo lô; Định mức và sự thiếu hụt; Sự dao động của giá
Hiệu ứng roi da ảnh hưởng lên cả nhà cung cấp lẫn khách hàng Chi phí sẽ tăng dần nếu tính theo dòng ngược do:
Tồn kho: tăng mức tồn kho an toàn, tăng rủi ro lạc hậu, hư hỏng sản phẩm
Kho lưu trữ tại các trung tâm phân phối: Đòi hỏi tăng thêm dung lượng
Sản xuất: dung lượng hữu dụng biên giảm
Biện pháp hạn chế hiệu ứng dây thừng trong chuỗi:
Đối với việc dự báo:
Thông qua người tiêu dùng trực tiếp, không qua các kênh phân phối (Dell, Aple )
Cập nhật liên tục các thông tin Các nguồn dữ liệu thô cần được chia sẻ
cả hai phía nhà máy lẫn nhà cung cấp
Cần nhiều dữ liệu hơn cho việc dự báo, không những căn cứ vào những
số liệu quá khứ mà nên thu thập thêm số liệu về tồn kho của khách hàng, nguyên nhân của những đơn hàng bất thường, các quy luật thị trường
Trang 34 Dùng các phần mềm hỗ trợ đặt hàng (Computer Assistant Order) Ứng dụng VMI và EDI để có số liệu cập nhật chính xác và giảm chi phí đặt hàng
Đẩy nhanh tốc độ các dòng chảy qua chuỗi để rút ngắn thời gian đáp ứng, các dự báo trong ngắn hạn sẽ ít sai lệch và ít rủi ro hơn
Chia nhỏ đơn hàng:
+ Chia nhỏ đơn hàng giúp số lượng hàng hoá có mặt trên thị trường ít bị biến động Nhưng đồng thời, nhà quản lý phải chấp nhận việc chi phí tăng do: 1/ Sản xuất nhiều lần cho cùng một đơn hàng 2/ Vận chuyển nhiều lần Khi chia nhỏ đơn hàng người ta kết hợp sản xuất nhiều đơn hàng cùng một lúc và tận dụng các nguồn lực nhàn rỗi trong nhà máy
+ Sử dụng các dịch vụ hậu cần bên ngoài, kết hợp nhiều loại sản phẩm trên cùng một chuyến vận chuyển để giảm chi phí
Đối với việc dao động của giá: Ứng dụng nhiều kỹ thuật làm giảm chi phí đặt hàng, sản xuất và vận chuyển (dùng JIT, Crossdocking, EDI,.), đàm phán với nhà cung cấp để có được giá rẻ hàng ngày (Everyday Low Cost) và cam kết bán cho khách hàng giá thấp hàng ngày (Everyday Low Price) thay cho khuyến mãi theo chu kỳ
Việc thiếu hụt tạm thời: 1/ Chia sẻ thông tin về khả năng sản xuất và mức tồn kho hiện tại 2/ Dùng số liệu bán được trong thời gian gần nhất để lập kế hoạch sản xuất trong ngắn hạn
c Dòng tài chính
Dòng tài chính được đưa vào chuỗi bởi duy nhất người tiêu dùng khi họ đã nhận được sản phẩm/dịch vụ hoặc đầy đủ các chứng từ hoá đơn hợp lệ Có thể thấy chính lợi nhuận đã liên kết các công ty lại với nhau
Chuỗi cung ứng tạo nên chuỗi giá trị trong đó các thành viên có cơ hội chia sẻ dòng tiền ở mức độ khác nhau tuỳ vào vai trò và vị thế của mỗi công ty Phần thấp nhất thuộc về các công ty thực hiện các công đoạn sơ chế vì những công đoạn này tạo
ra rất ít giá trị gia tăng cho sản phẩm Nước ta có rừng vàng, biển bạc đất phì nhiêu nhưng chỉ có thể làm gia công cho các công ty gỗ nước ngoài, chỉ có thể xuất khẩu dầu thô, nông, hải sản qua sơ chế Vì vậy mà lợi nhuận thu được chẳng bao nhiêu trong khi tài nguyên ngày càng cạn kiệt Muốn tăng dòng tiền, ta phải nắm giữ các công đoạn chiếm hàm lượng kỹ thuật hoặc chất xám cao chứ không chỉ là việc bán rẻ sức lao động và nguồn tài nguyên sẵn có
Tóm lại, cấu trúc chuỗi cung ứng gồm hai thành phần cơ bản là cấu trúc (phần cứng) và cơ sở hạ tầng (phần mềm) Phần cứng tương đối ít biến động nó tạo thành khung sườn cho các hoạt động của chuỗi (trang thiết bị, nhà xưởng, máy móc ) Nó
Trang 35quyết định đến dung lượng sản xuất của chuỗi và ảnh hưởng tới những quyết định lựa chọn nhà cung cấp Phần mềm là cơ cấu tổ chức, các định chế hoạt động, các mối quan
hệ, các dòng chảy nó dễ dàng thay đổi và biến động Như vậy, chuỗi cung ứng không phải là mô hình bất biến mà là mô hình “động” theo hướng thích nghi với môi trường sản xuất kinh doanh
2.3 Chức năng của chuỗi cung ứng
2.3.1 Phân tích hoạt động của chuỗi cung ứng thông qua mô hình SCOR
Có nhiều các tiếp cận phân tích chuỗi cung ứng khác nhau (theo mục tiêu cuả M Goldratt Eliyahu, theo cấu trúc,.), nhưng cách tiếp cận theo mô hình Scor được sử dụng phổ biến nhất Theo mô hình SCOR, 2001 (Supply Chain Operation Reference) của hội đồng chuỗi cung ứng SCC (Supply Chain Concil), chuỗi cung ứng có thể biểu diễn bằng chuỗi các quá trình cơ bản như sau:
Hình 2.9: Chuỗi cung ứng trong mô hình SCOR
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
Theo đó, chuỗi cung ứng SCOR được chia làm 4 lớp phân tích theo quá trình:
Mức 1: Định nghĩa chuỗi cung ứng bằng 5 quá trình: lập kế hoạch, tìm nguồn cung cấp, sản xuất , phân phối, trả lại
Mức 2: Phân tích 5 dạng quá trình theo danh mục cụ thể để hạn chế các quá trình trùng lắp
Mức 3: cho phép định nghĩa chi tiết các quá trình đã được xác định ở mức 2
Công ty của bạn
Nhà cung cấp
Trang 36Các công cụ hỗ trợ từ máy tính, phần mềm được ứng dụng Mức này định nghĩa các quá trình được dùng để xác định mức độ tích hợp với nhà cung cấp và khách hàng
Mức 4: Mô tả chi tiết nhiệm vụ của các hoạt động trong mức 3 để triển khai các hoạt động tác nghiệp hàng ngày
Phạm vi đề tài giới hạn tìm hiểu cách thức hoạt động của chuỗi đến giữa mức 2, qua đó các hoạt động cung cấp sẽ được thay bằng thu mua:
Hình 2.10: SCOR định nghĩa các quá trình mức 1
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
2.3.2 Kế hoạch
2.3.2.1 Nhiệm vụ
Quá trình lập kế hoạch nhằm thực hiện việc cân bằng giữa nhu cầu của khách hàng và cung cấp Nó đề ra các cách thức để có thể hoàn thành mục tiêu đã đề ra
Hình 2.11: Nhiệm vụ của kế hoạch
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
2.3.2.2 Phân tích quá trình lập kế hoạch theo mô hình SCOR
Theo mô hình SCOR, việc thiết lập kế hoạch được thực hiện trước tiên và thông qua tất cả các quá trình, từ phân tích thông tin phản hồi về nhu cầu thị trường đến kiểm tra, đánh giá các nguồn lực hiện có, dung lượng sản xuất, tồn kho, khả năng giao hàng Trong SCOR mức 2, việc lập kế hoạch sẽ được phân chia làm 5 quá trình nhỏ, là: 1/ Hoạch định nhu cầu chung của chuỗi
2/ Hoạch định nguồn cung cấp
Trang 374/ Giao hàng
5/ Quản lý hàng trả về
Đầu vào của việc lập kế hoạch là nguồn thông tin được cung cấp từ tiếp thị và thông tin phản hồi từ các bộ phận khác Kế hoạch được đánh giá là tốt khi cân đối được cung cầu, tiếp cận mục tiêu, kết nối được các bộ phận Kế hoạch phải chủ động quản lý được các hoạt động khác, phát hiện và thu ngắn các khoảng cách giữa các bộ phận, loại bỏ những công việc trùng lắp Thông thường kế hoạch thể hiện dưới dạng lịch sản xuất chính (Master Production Schedule), theo đó, mọi bộ phận tự xác định và thi hành công việc của mình Chìa khoá để kế hoạch thành công là thông tin, chìa khoá
để kiểm soát kế hoạch cũng là thông tin
Kế hoạch tác nghiệp: là kế hoạch chi tiết được thiết lập và triển khai tại các
bộ phận cho công tác vận hành, thường có tính chất ngắn hạn
2.3.3.Quá trình thu mua
2.3.3.1 Nhiệm vụ
Là các quá trình liên quan tới việc thu mua nguyên liệu, hàng hoá theo kế hoạch
để cung cấp cho nhu cầu sản xuất hoặc bán hàng
2.3.3.2 Phân tích thu mua theo mô hình SCOR
Quá trình này được thực hiện tại giao diện của mỗi lớp trong chuỗi với lớp phía sau, nó được định hướng bằng kế hoạch chung của chuỗi và được thực hiện bởi bộ phận thu mua (Purchasing) Các chức năng khác có thể kể đến là:
- Tổ chức xây dựng, điều phối hoạt động mạng lưới cung cấp và các các hoạt động vận chuyển bên trong (từ nhà cung cấp đến nhà máy và ngược lại)
- Tìm kiếm và lựa chọn các nhà cung cấp mới cũng như sàng lọc các nhà cung cấp không đạt yêu cầu Cấp chứng nhận cho những nhà cung cấp đạt tiêu chuẩn
- Kiểm soát nguồn nguyên liệu (thông qua kho và sản xuất) Bảo đảm chất lượng nguồn hàng Cung cấp thông tin kỹ thuật cần thiết cho các nhà cung cấp
- Thực hiện đàm phán, thương thuyết để có được mức giá có lợi nhất
- Thực hiện ký kết các hợp đồng với các nhà cung cấp Đảm bảo thủ tục để bộ phận kế toán có thể thực hiện việc chi trả cho các nhà cung cấp một cách thuận lợi
Trang 38Trong mô hình SCOR mức 2, chức năng tìm nguồn cung cấp được phân tích thành
3 quá trình:
- Tìm nguồn cung cấp cho dạng sản xuất tồn kho: Nhu cầu sản phẩm chưa biết trước nên mức lưu kho bị dao động rất lớn, các nhà máy buộc phải tăng dự trữ để đối phó với những đơn hàng đột xuất Bộ phận thu mua thường vất vả trong việc thiết lập các mối quan hệ dài hạn với các nhà cung cấp và phải xây dựng mạng lưới cung cấp
dự phòng để phòng tránh rủi ro Để giảm gánh nặng tồn kho do hiệu ứng sợi dây thừng, yêu cầu thông tin thị trường phải được chia sẻ trung thực tới nhà cung cấp
- Tìm nguồn cung cấp cho dạng sản xuất theo đơn hàng: Nhu cầu được báo trước, bộ phận thu mua dễ xây dựng các mối quan hệ dài hạn với nhà cung cấp, giúp
họ thiết lập quy trình theo những tiêu chuẩn yêu cầu Bộ phận thu mua lựa chọn và phân bổ các đơn hàng cho các nhà cung cấp khác nhau theo năng lực và giá cả của họ Hàng hoá được đặt theo đơn hàng, tỉ lệ thay đổi nhà cung cấp tương đối thường thấp
- Tìm nguồn cung cấp cho dạng thiết kế theo đơn hàng: yêu cầu nguồn nguyên liệu phong phú và các nhà cung cấp/ thầu phụ phải có năng lực thiết kế thực sự Giá trị sản phẩm thể hiện qua ý tưởng, thiết kế và cách thức thực hiện của họ Bộ phận thu mua xây dựng mối quan hệ rộng với các nhà cung cấp để đáp ứng nhu cầu đa dạng của sản phẩm Cơ hội cải tiến trong dạng sản xuất này rất lớn nó tạo cho họ cơ hội phát huy khả năng của mình Quá trình hợp tác phát triển sản phẩm mới giúp các công ty thu ngắn khoảng cách giữa chúng và giúp phát hiện ra những nhà cung cấp có tiềm năng
Theo Brian Fynes mối quan hệ bền vững với các nhà cung cấp phải được thiết lập dựa trên các yếu tố:
Hình 2.12: Các yếu tố tạo nên mối quan hệ bền vững
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
- Sự thật: nhất là trong thông tin, muốn có quan hệ lâu dài và bền chặt thì các bên phải có thể tin cậy lẫn nhau
- Sự thích nghi: Mỗi công ty phải có cấu trúc tương đối linh hoạt để có thể
Thông tin
Sự thích nghi
Mối quan hệ bền vững
Trang 39tương thích với hoạt động của các công ty khác nhau
- Thông tin: Là yếu tố không thể thiếu được trong bất kỳ mối quan hệ nào Mức
độ hợp tác giữa các công ty thể hiện ở mức độ chia sẻ thông tin
- Sự phụ thuộc lẫn nhau: Các thành viên phải có sự ràng buộc lẫn nhau về lợi nhuận hay mục tiêu Họ phải dựa vào các nguồn lực của nhau để bù vào các điểm yếu của mình
- Sự tận tuỵ: để đạt được mục tiêu chung, mỗi bên phải nỗ lực để đạt được nó, đôi khi họ phải đánh đổi những lợi ích nội tại trước mắt với những cơ hội tiềm tàng mà các doanh nghiệp kỳ vọng có được khi liên kết với những đối tác khác
- Sự liên kết: Cách thức liên kết rất khác nhau tuỳ theo thế mạnh của mỗi thành viên Phần lợi thu được từ các mối quan hệ này tuỳ thuộc vào tỷ trọng đóng góp và vị thế của các bên
- Sự thỏa mãn: Các doanh nghiệp liên kết nhau không ngoài mục tiêu tăng lợi ích của chính bản thân họ (hai bên cùng có lợi) Sự thay đổi quan hệ từ đối tác này sang đối tác khác cũng vì lợi ích thu được từ các mối quan hệ này khác nhau
Mahmut Sommez đã tiến hành khảo sát và xây dựng mô hình chọn lựa nhà cung cấp Nó là quá trình ra quyết định đa mục tiêu, các yếu tố ảnh hưởng bao gồm:
Hình 2.13: Mô hình lựa chọn nhà cung cấp
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng, năm 2006
Mô hình này không phải là chuẩn mực cho tất cả các nhà quản lý nhưng nó cung cấp cho họ một số ý tưởng khi chọn lựa nhà cung cấp Tuỳ từng loại hình sản xuất, từng hoàn cảnh, thời điểm mà trọng số của các tiêu chí này có thể sẽ rất khác nhau
Sự khan hiếm nguồn nguyên liệu trong tình hình cạnh tranh gay gắt hiện nay đã buộc các nhà quản lý phải lựa chọn việc tự sản xuất hay thuê ngoài Các quyết định này căn cứ đầu tiên là chi phí
Số lượng đặt hàng tối thiểu
Dạng sản phẩm
Chiến lược sản xuất
Vị trí địa lý
Người ra quyết định
Tiêu chuẩn chọn lựa
Chiến lược quản lý nguồn lực Dung lượng
Chọn lựa nhà cung cấp
Trang 402.3.4.Quá trình sản xuất
2.3.4.1 Nhiệm vụ
Trong chuỗi cung ứng, quá trình sản xuất (make) thường được phân tích ở công
ty trung tâm, nơi mà nguyên liệu và bán thành phẩm được tập trung từ các nguồn để tạo thành sản phẩm cuối cùng theo kế hoạch Nó bao gồm cả hoạt động thiết kế, thử nghiệm sản phẩm mới, đóng kiện, lưu trữ
2.3.4.2 Phân tích quá trình sản xuất theo mô hình SCOR
Theo Wheelright & Hill, sản phẩm khác nhau được sản xuất từ nhu cầu sử dụng khác nhau và môi trường sản xuất những sản phẩm này cũng rất khác nhau Trong mô hình Scor, quá trình sản xuất được bố trí sau quá trình thu mua và trước phân phối sản phẩm Quá trình này được phân tích thành 3 dạng là: sản xuất tồn kho MTS (Make To Stock), sản xuất theo đơn hàng MTO (Make To Order), thiết kế theo đơn hàng ETO (Engineer to Order) Dạng lắp ráp theo đơn hàng ATO (Assemply to Order) là dạng đặc biệt của MTO
Các chiến lược quản lý sản xuất tương ứng:
- Sản xuất tồn kho (MTS: Make To Stock): là một môi trường sản xuất mà sản phẩm được hoàn thành trước khi nhận được đơn đặt hàng của người mua
- Làm theo đơn hàng (MTO: Make To Order): là một môi trường sản xuất mà hàng hóa hoặc dịch vụ được tạo ra sau khi nhận được yêu cầu của khách hàng
- Thiết kế theo yêu cầu (ETO: Engineer To Order): khách hàng yêu cầu nhà sản xuất thực hiện thiết kế toàn bộ các đặc điểm kỹ thuật cũng như quy trình sản xuất
- Lắp ráp theo đơn hàng (ATO: Assemble-to-order): là môi trường sản xuất nơi hàng hóa hoặc dịch vụ được lắp ráp sau khi nhận được yêu cầu của người mua
Một trong những ưu điểm lớn nhất của MTO là tiết kiệm chi phí vì chỉ sản xuất những gì mà khách hàng cần Đối với MTS là sự tự do trong sáng tạo (nhưng rất dễ mất phương hướng và hiệu quả thấp), và ETO là sự chủ động trong thiết kế
2.3.4.3.Các hoạt động hổ trợ
Quy trình sản xuất và các bộ phận liên quan
Nguyên liệu và bán thành phẩm được bộ phận thu mua chuẩn bị trước và nhập
về kho nguyên liệu Theo kế hoạch sản xuất, nó được đưa vào dây chuyền sản xuất và
xử lý qua các đoạn khác nhau trước khi đến trạm làm việc cuối cùng Bộ phận kỹ thuật thiết lập các thông số kỹ thuật cần thiết cho nhà máy và phổ biến xuống từng bộ phận
Bộ phận triển khai sản xuất tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật và thực hiện theo kế hoạch được giao Trên mỗi công đoạn làm việc đều bố trí bộ phận kiểm tra giám sát chất lượng Các sản phẩm sai hỏng nếu không thể sửa chữa đều bị loại ra, số còn lại bịtrả