Khái niệm ngân quỹ Ngân quỹ hay tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng được dùng để trả lương, mua tài sản cố định, mua nguyên vậ
Trang 1uận văn này là kết quả của quá trình học tập tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và quá trình công tác của bản thân tại Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Thăng Long trong những năm qua
Để hoàn thành Luận văn này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy PGS.TS Nguyễn Văn Định, đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình viết luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo của Viện Ngân hàng Tài chính đã tham gia giảng dạy lớp cao học khóa 18 chuyên ngành Quản lý Tài chính Ngân hàng, các Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp em hoàn thành Luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Thăng Long đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành Luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, bản thân đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được nhận những ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy Cô giáo cùng các đồng nghiệp để Luận văn của em được hoàn thiện và có tính thực tiễn hơn
Trân trọng cảm ơn!
HỌC VIÊN
Khương Thị HạnhL
Trang 2CHƯƠNG 1 II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ CỦA DOANH NGHIỆP II CHƯƠNG 2 IV THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG IV CHƯƠNG 3 VIII GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI CÔNG TY VIII
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG VIII 3.1.1 ĐỊNH HƯỚNG CHUNG: VỚI ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TLI
LÀ PHẤN ĐẤU TRỞ THÀNH CÔNG TY HÀNG ĐẦU CỦA THỦ ĐÔ TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH VÀ BẤT ĐỘNG SẢN; ĐEM LẠI LỢI ÍCH CAO NHẤT CHO CỔ ĐÔNG; LÀM GIÀU CHO NHÂN VIÊN VÀ CỘNG SỰ; ĐÓNG GÓP NHIỀU CHO CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI, THỰC HIỆN ĐẦU TƯ KINH DOANH MỘT CÁCH LÀNH MẠNH, TRUNG THỰC, CÔNG BẰNG VIII
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ CỦA 3
DOANH NGHIỆP 3
1.2.1.2.Lựa chọn nguồn tài trợ với chi phí thấp 9
1.2.1.3.Dự phòng cho những biến động bất thường 10
CHƯƠNG 2 33
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN 33
ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG 33
CHƯƠNG 3 64
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI 64
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG 64
KẾT LUẬN 90
Trang 4TLI Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Thăng Long
CT9 Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng số 9 Hà Nội
Hafic Công ty tài chính cổ phần HANDICO
OTC Chứng khoán chưa niêm yết
ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
ROE Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
ROS Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bán hàng
TSCĐ Tài sản cố định
Trang 5Hình 1 1: Sơ đồ liên kết các ngân sách hoạt động của doanh nghiệp Error:
Reference source not found
MỤC LỤC 2
CHƯƠNG 1 II CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ CỦA DOANH NGHIỆP II CHƯƠNG 2 IV THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG IV CHƯƠNG 3 VIII GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI CÔNG TY VIII CỔ PHẦN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG VIII 3.1.1 ĐỊNH HƯỚNG CHUNG: VỚI ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TLI LÀ PHẤN ĐẤU TRỞ THÀNH CÔNG TY HÀNG ĐẦU CỦA THỦ ĐÔ TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH VÀ BẤT ĐỘNG SẢN; ĐEM LẠI LỢI ÍCH CAO NHẤT CHO CỔ ĐÔNG; LÀM GIÀU CHO NHÂN VIÊN VÀ CỘNG SỰ; ĐÓNG GÓP NHIỀU CHO CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI, THỰC HIỆN ĐẦU TƯ KINH DOANH MỘT CÁCH LÀNH MẠNH, TRUNG THỰC, CÔNG BẰNG VIII LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ CỦA 3
DOANH NGHIỆP 3
1.2.1.2.Lựa chọn nguồn tài trợ với chi phí thấp 9
1.2.1.3.Dự phòng cho những biến động bất thường 10
CHƯƠNG 2 33
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN 33
ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG 33
Trang 6CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG 64 KẾT LUẬN 90
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
Dòng tiền với doanh nghiệp được ví như những mạch máu trong mỗi cơ thể sống Nguy cơ tiềm ẩn của dòng tiền có thể đem tới tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp bất cứ lúc nào, kể cả những doanh nghiệp đang trên đà phát triển Việc kiểm soát dòng tiền vào và dòng tiền ra của của doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng, nó tạo ra khả năng thanh toán hoặc tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp Trong tình hình hiện nay, không ít các doanh nghiệp dù báo cáo kết quả kinh doanh có lãi nhưng vẫn thiếu tiền mặt trong két Chìa khóa để vượt qua thâm hụt về tiền đó là sự nhạy bén trong việc dự đoán sớm những vấn đề về dòng tiền, qua đó đưa ra những quyết định nhanh, chính xác trong kiểm soát quỹ tiền mặt Việc quản lý dòng tiền tốt có thể giúp doanh nghiệp khơi thông được nguồn vốn, giúp sử dụng nguồn vốn hạn hẹp một cách khoa học và hiệu quả, đồng thời giúp các doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng thất thoát nguồn tiền ra bên ngoài doanh nghiệp
Quản lý ngân quỹ chính là quản lý dòng tiền vào và dòng tiền ra của doanh nghiệp Để quản lý ngân quỹ tốt, chúng ta phải quản lý tốt dòng tiền, kiểm soát tốt
sự luân chuyển của dòng tiền
Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Thăng Long thời gian qua cũng đã bắt đầu quan tâm đến quản lý ngân quỹ song gặp không ít khó khăn Với chiến lược phát triển của Công ty trong xu thế hội nhập cạnh tranh, quản lý tốt ngân quỹ đã và đang
là một yêu cầu được ưu tiên của Công ty
Xuất phát từ tầm quan trọng của ngân quỹ và thực tiễn khách quan cần tăng
cường quản lý ngân quỹ, đề tài “Tăng cường quản lý ngân quỹ tại Công ty cổ
phần Đầu tư Tài chính Thăng Long” được lựa chọn để nghiên cứu
Thông qua hệ thống hóa về cơ sở lý luận của ngân quỹ và quản lý ngân quỹ, đồng thời đánh giá thực trạng quản lý ngân quỹ tại Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Thăng Long, đề tài hướng tới tìm ra nguyên nhân quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp chưa thực sự hiệu quả và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý ngân quỹ tại Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Thăng Long
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp với nguồn dữ liệu được
Trang 8tập hợp, sưu tầm từ sách, báo, mạng, các tạp chí chuyên ngành,… ; Phương pháp phân tích – tổng hợp; Phương pháp so sánh – đối chiếu; Phương pháp diễn dịch – quy nạp và Phương pháp quan sát thực tế để phân tích và xử lý thông tin
Luận văn được trình bày với kết cấu 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý ngân quỹ tại Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Thăng Long
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý ngân quỹ tại Công ty cổ phần Đầu tư Tài
chính Thăng Long
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ CỦA DOANH NGHIỆP1.1 NGÂN QUỸ CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm ngân quỹ
Ngân quỹ hay tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng được dùng để trả lương, mua tài sản cố định, mua nguyên vật liệu, trả tiền thuế, trả nợ… và thanh toán các khoản chi phí hàng ngày của doanh nghiệp
Tiền mặt bản thân nó là tài sản không sinh lãi, bởi vậy, trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất Mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp là cố gắng thiết lập một ngân quỹ tối ưu, có nghĩa
là doanh nghiệp phải tính toán để lượng tiền cần thiết đáp ứng nhu cầu thanh toán của công ty là vừa đủ, không thể thiếu và cũng không nên dư thừa quá nhiều
1.1.2 Vai trò của ngân quỹ trong hoạt động doanh nghiệp
Các doanh nghiệp dự trữ tiền mặt vì 3 động lực chính: động lực giao dịch; động lực dự phòng; động lực đầu cơ
Như vậy, ngân quỹ đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của một doanh nghiệp, là phương tiện giúp doanh nghiệp duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh và đảm bảo khả năng thanh toán Doanh nghiệp sẽ phải làm thế nào để ổn định mức cân đối ngân quỹ, tránh những trường hợp biến động bất thường xảy ra Điều này đòi hỏi phải quản lý tốt ngân quỹ
Trang 91.2 QUẢN LÝ NGÂN QUỸ CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm quản lý ngân quỹ
Quản lý ngân quỹ là sự tác động của các chủ thể quản lý trong doanh nghiệp lên các khoản thực thu và thực chi bằng tiền nhằm thay đổi mức tồn quỹ thực tế của doanh nghiệp sao cho ngân quỹ doanh nghiệp đạt mức tối ưu nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu và đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp trong từng thời kỳ trong điều kiện biến động của môi trường
Quản lý ngân quỹ đề cập đến quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng Sự quản
lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn với tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh toán cao Các chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt Nếu số dư tiền mặt nhiều, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao nhưng khi cần tiền mặt cũng có thể chuyển đổi chứng khoán sang tiền mặt một cách dễ dàng và tốn kém ít chi phí
Như vậy, có thể hiểu quản lý ngân quỹ chính là quản lý dòng thu tiền mặt, dòng chi tiền mặt và đầu tư tiền mặt tạm thời nhàn rỗi một cách hiệu quả Việc thu hồi
nợ, kiểm soát chi tiêu, bù đắp thiếu hụt, dự báo nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp, đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi,… là những yếu tố tác động lên ngân quỹ của doanh nghiệp
1.2.2.Nội dung quản lý ngân quỹ
Ngân quỹ của doanh nghiệp được xác định từ dòng tiền vào (thu ngân quỹ) và dòng tiền ra (chi ngân quỹ) của doanh nghiệp Vì vậy, để quản lý ngân quỹ tốt, chúng ta phải quản lý tốt dòng tiền vào và dòng tiền ra hàng ngày của doanh nghiệp đồng thời phải dự báo được nhu cầu tiền và tính toán được mức tồn quỹ tối ưu của doanh nghiệp trên cơ sở đó lập kế hoạch quản lý ngân quỹ một cách chi tiết
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NGÂN QUỸ CỦA DOANH NGHIỆP
Ảnh hưởng đến quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp bao gồm các nhân tố chủ quan
và các nhân tố khách quan Các nhân tố chủ quan bao gồm: Quan điểm của Chủ sở hữu về quản lý ngân quỹ, Tình hình tài chính của doanh nghiệp, Trình độ và kinh nghiệm của cán bộ quản lý ngân quỹ, Mô hình quản lý ngân quỹ, Chiến lược hoạt
Trang 10động kinh doanh, Trình độ kỹ thuật công nghệ để thực hiện quản lý ngân quỹ, Chính sách tín dụng thương mại kinh doanh, Chính sách dự trữ, Chính sách đầu tư, Chính sách tài trợ Các Nhân tố khách quan bao gồm: Các chính sách của nhà nước, Trạng thái của nền kinh tế, Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, Môi trường cạnh tranh, Sự phát triển của thị trường chứng khoán, Các nhân tố khác.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ
TÀI CHÍNH THĂNG LONG
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG
Quá trình hình thành và phát triển: Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Thăng Long (TLI) là Công ty cổ phần hoạt động theo Giấy phép đăng ký kinh doanh số
0103017008 cấp ngày 25/04/2007 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội với vốn điều
lệ là 100 tỷ đồng Công ty thành lập với 3 cổ đông lớn là Công ty Tài chính Handico đại diện 40% vốn điều lệ, tương đương 4.000.000 cổ phần; Công ty chứng khoán Thăng Long đại diện 30.9% vốn điều lệ, tương đương 3.090.000 cổ phần, Công ty TNHH MTV Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín đại diện 5.1% vốn điều lệ, tương đương 510.000 cổ phần và các đối tác khác nắm giữ 24% vốn điều lệ tương đương 2.400.000 cổ phần Đến nay, cổ đông chủ yếu của công ty là các cá nhân
Hoạt động theo ngành nghề Đăng ký kinh doanh Số 0103017008 do Sở Kế hoạch
đầu tư Hà Nội cấp ngày 25 tháng 04 năm 2007, cấp lại lần thứ 2 ngày 27 tháng 11 năm 2007 Ngành nghề công ty được phép hoạt động chính bao gồm đầu tư tài chính, kinh doanh Bất động sản, dịch vụ tài chính,…
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU
TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG
Quản lý ngân quỹ do Phòng Kế toán quản lý, trong đó, Phòng Đầu tư Tài chính là nơi thu thập, tổng hợp các số liệu về kế hoạch thu chi trong tháng gửi phòng Tài chính Kế toán Phòng Đầu tư Tài chính có trách nhiệm đôn đốc các khoản phải thu,
lo nguồn để thanh toán các khoản phải trả trong tháng Để quản lý ngân quỹ được triển khai tốt, cần phối hợp chặt chẽ giữa Phòng Đầu tư tài chính và phòng Tài chính Kế toán
Trang 112.2.1 Thu ngân quỹ của Công ty: Thu ngân quỹ của Công ty bao gồm các khoản
thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, thu từ hoạt động đầu tư và thu từ hoạt động tài chính Do đặc thu doanh nghiệp hoạt động dịch vụ nên thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh là nguồn thu chủ yếu của thu ngân quỹ
2.2.2 Chi ngân quỹ của Công ty: Cân đối với thu ngân quỹ là các khoản chi ngân
quỹ Chi ngân quỹ của Công ty bao gồm các khoản chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, chi cho hoạt động đầu tư và chi cho hoạt động tài chính Trong các khoản chi nêu trên, tỷ trọng chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh là lớn nhất, tiếp đến là chi cho hoạt động đầu tư và cuối cùng là chi cho hoạt động tài chính
2.2.3 Dự báo nhu cầu tiền của TLI: Công tác dự báo nhu cầu tiền của Công ty cổ
phần đầu tư tài chính Thăng Long đã được triển khai định kỳ hàng tháng, năm Vào ngày 25 hàng tháng, các bộ phận liên quan gửi kế hoạch thu chi của bộ phận mình cho phòng Đầu tư tài chính Trên cơ sở kết quả tổng hợp nhu cầu thu chi hàng tháng của các bộ phận liên quan, phòng Đầu tư tài chính lập báo cáo tổng hợp nhu cầu tiền cả tháng cho cả công ty và chuyển báo cáo tổng hợp này cho Ban Giám đốc và Phòng Kế toán theo dõi Tương tự như vậy, kế hoạch thu chi năm được các bộ phận gửi đến phòng đầu tư vào ngày 25/12 hàng năm Các kế hoạch tiền hàng tháng, hàng năm chưa được các bộ phận điều chỉnh khi có biến động mặc dù công việc này
đã được nhắc nhở, nhưng việc áp dụng vẫn chưa triệt để
2.2.4 Xác định mức tồn quỹ tối ưu của TLI: Việc xác định mức tồn quỹ tối ưu
của công ty chưa được triển khai Trong thời gian qua, việc xác lập tồn quỹ chỉ ước tính dựa trên nhu cầu tiền của công ty Mức tồn quỹ tối ưu hay khoảng dao động của ngân quỹ là khái niệm phòng kế toán chưa từng đề cập đến Do đó, không có căn cứ để đánh giá mức tồn quỹ là tối ưu hay không
2.2.5 Lập kế hoạch quản lý ngân quỹ của TLI: Trên thực tế, quá trình triển khai
xử lý thâm hụt hay thặng dư ngân quỹ của doanh nghiệp đã được thực hiện từ rất sớm Tuy nhiên, công việc đó chưa được hệ thống hóa, chưa được đặt tên xử lý ngân quỹ mà chỉ dừng ở kế hoạch nguồn vốn, tức là nhu cầu thu của công ty trong tháng/ năm Vì thế, công việc này chưa phải là kế hoạch quản lý ngân nên chỉ có thể hiểu là công việc thu xếp vốn Hoạt động này được phòng Đầu tư triển khai và chưa bài bản, không có kế hoạch Trong quá trình lập kế hoạch quản lý ngân quỹ, công
ty chưa lên kế hoạch quỹ, nó khuyết một phần rất quan trọng là xử lý ngân quỹ
Trang 12Do vậy, khi xây dựng giải pháp tăng cường quản lý ngân quỹ, vấn đề này đáng được quan tâm.
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG
2.3.1 Những kết quả đạt được
Thứ nhất, những yếu tố cơ bản về quản lý ngân quỹ đã được hình thành Trước tiên,
đó là việc theo dõi thu chi hàng ngày đã được phòng kế toán thực hiện tốt Việc thu, chi về cơ bản đã có phiếu thu, chi có nội dung; hồ sơ, chứng từ đi kèm phiếu thu chi cũng đã được tập hợp tương đối hoàn chỉnh Căn cứ vào phiếu thu, chi hàng ngày, phòng Kế toán đã thực hiện việc hạch toán theo phân loại các khoản mục thu, chi theo nội dung để đảm bảo việc hạch toán chính xác với nội dung thu chi có sự kiểm duyệt của kế toán trưởng Tiếp đến, để có căn cứ xác định dòng tiền, Phòng đầu tư tài chính đã yêu cầu các bộ phận, phòng ban liên quan cung cấp kế hoạch thu chi hàng tháng và đã xây dựng được biểu mẫu
Thứ hai, doanh nghiệp đã quan tâm hơn đến khoản tiền và các khoản tương đương
tiền, giảm mức độ lãng phí do để quỹ tiền mặt quá lớn Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng đã đa dạng hóa được nguồn tài trợ cho ngân quỹ, nguồn tài trợ có thể từ nhiều kênh khác nhau, tránh được việc không huy động được nguồn dẫn đến mất cân đối thanh toán
Thứ 3, Trên cơ sở nhu cầu tiền đã được lập, Phòng Đầu tư xây dựng kế hoạch quản
lý ngân quỹ, đó chính là kế hoạch xử lý thặng dư/ thâm hụt ngân quỹ Trong thời gian qua, việc xử lý ngân quỹ đã được phòng Đầu tư tài chính xử lý tương đối tốt
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân
• Hạn chế: Cũng như các doanh nghiệp khác, hoạt động ngân quỹ của TLI mới chỉ ở giai đoạn bắt đầu, chưa có bài bản, chưa theo hệ thống Một số hạn chế được
kể đến như sau:
Việc dự báo nhu cầu tiền chưa tốt: thể hiện ở khâu lập kế hoạch thu chi của các
bộ phận gửi lên phòng Đầu tư Điều này dẫn đến tình trạng kế hoạch chi lớn hơn nhiều so với thực tế chi làm thặng dư ngân quỹ lớn
Xử lý thâm hụt, thặng dư ngân quỹ chưa linh hoạt: Việc tiếp cận các nguồn vốn với chi phí thấp đối với Công ty ngày càng khó do tình hình hoạt động của Công ty
Trang 13không ổn định Vì vậy, khi ngân quỹ thâm hụt, Công ty không thể có nhiều giải pháp xử lý khi chưa có nhiều kênh tài trợ nguồn vốn cho Công ty Bên cạnh đó, thị trường giấy tờ có giá, thị trường trái phiếu, thị trường chứng khoán ở nước ta cũng chưa phát triển đến mức các hoạt động cho nhu cầu vốn ngắn hạn diễn ra suôn sẻ,
an toàn, cho nên nhà quản lý ngân quỹ cũng rất khó để có các giải pháp linh hoạt cho việc xử lý ngân quỹ của công ty mình
Ngân quỹ luôn biến động mạnh, lượng tiền tồn quỹ lớn: Với tổng tài sản đầu năm 2009 là 275 tỷ đồng và tăng lên là 3.716 tỷ đồng vào cuối năm 2009, năm 2010
là 2.241 tỷ đồng và năm 2011 là 1.820 tỷ đồng cho thấy dòng tiền của công ty ra vào rất lớn Việc kiểm soát dòng tiền ra vào là một trong những nội dung trọng tâm của quản lý ngân quỹ Với dòng tiền biến động mạnh như vậy, ngân quỹ của công
ty sẽ biến động mạnh Công ty chưa có giải pháp tốt quản lý ngân quỹ nên không thể tính toán được lượng tồn quỹ là bao nhiêu thì hợp lý dẫn đến tình trạng lượng tiền mặt tồn khá lớn, gây lãng phí trong hoạt động của doanh nghiệp
Mất cân đối thu chi trong thời gian dài: Do thành lập và hoạt động vào thời điểm khủng hoảng kinh tế và thị trường chứng khoán suy giảm dài hạn, nên từ năm 2009 hoạt động của doanh nghiệp đã gặp những khó khăn về vốn do hoạt động đầu tư thua lỗ nặng Thêm vào đó, năm 2009 công ty bắt đầu triển khai xây dựng dự án tòa nhà văn phòng cho thuê nên nguồn tài trợ cho hoạt động này cũng cần phải thu xếp Trong khi vốn đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết, đầu tư ngắn hạn cổ phiếu OTC không thể rút về được, nhu cầu vốn cho hoạt động mới tăng lên, công ty phải tìm nguồn tài trợ bên ngoài với chi phí vốn vay cao Doanh nghiệp đã khó khăn lại càng khó khăn khi phải gánh thêm khoản lãi vay hàng năm rất nhiều Chi tính riêng năm 2009 và 2010 thì lãi vay công ty đã phải trả khoảng 94 tỷ, gần hết vốn điều lệ của công ty, chưa kể hoạt động kinh doanh chính thua lỗ, các hoạt động khác dừng hoặc chưa triển khai Con số nêu trên đủ cho thấy, công ty đã bị mất cân đối thu chi nghiêm trọng từ những năm 2009, 2010
Trích lập dự phòng chưa thỏa đáng: Trong quá trình hoạt động, do đặc thù kinh doanh của công ty tiềm ẩn rủi ro cao nên ban giám đốc cũng đã chú trọng đến việc trích lập dự phòng cho các hoạt động của công ty Tuy nhiên, việc nhận diện và đánh giá rủi ro chưa tốt, vì vậy việc trích lập dự phòng chưa thỏa đáng chưa thể bù đắp được các khoản thua lỗ mà doanh nghiệp gặp phải trong thời gian vừa qua
Trang 14• Nguyên nhân: Những khó khăn tồn đọng nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong
đó phải kể đến một số nguyên nhân chủ quan sau: quan điểm của ban lãnh đạo, cơ
sở vật chất và con người, quy chế tài chính của Công ty còn hạn chế, chưa xây dựng quy trình quản lý ngân quỹ, chưa tận dụng được tối đa ngân quỹ nhàn rỗi,… Bên cạnh đó, một số nguyên nhân khách quan như: Nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008; Thị trường giấy tờ có giá chưa phát triển, thị trường chứng khoán èo uột; Các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến việc quản lý ngân quỹ và chưa coi đó là hoạt động thường xuyên, liên tục của Công ty; Việc đa dạng hóa nguồn tài trợ cho doanh nghiệp còn khó khăn; Hệ thống pháp luật chưa ổn định,…
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH THĂNG LONG
3.1.1 Định hướng chung: Với định hướng phát triển của TLI là phấn đấu trở thành
Công ty hàng đầu của Thủ Đô trong lĩnh vực đầu tư Tài chính và Bất động sản; đem lại lợi ích cao nhất cho cổ đông; làm giàu cho nhân viên và cộng sự; đóng góp nhiều cho cộng đồng xã hội, thực hiện đầu tư kinh doanh một cách lành mạnh, trung thực, công bằng
3.1.2 Định hướng cụ thể: Để phát triển doanh nghiệp theo định hướng chung đã
đề ra, doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn Với định hướng chung hợp lý, doanh nghiệp phát triển được hay không phụ thuộc rất nhiều vào định hướng cụ thể của doanh nghiệp đó TLI xây dựng định hướng cụ thể của doanh nghiệp cho giai đoạn 2011 đến 2015 bao gồm: Thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp; Xây dựng kế hoạch phát hành trái phiếu và tăng vốn điều lệ: dự kiến đến
2013, vốn điều lệ là 200 tỷ; Xây dựng kế hoạch lợi nhuận của công ty giai đoạn
Trang 15hệ thống Từ những tồn tại, vướng mắc trong quá khứ, những lỗ hổng làm mất cân đối dòng tiền trong những năm trước và định hướng phát triển của doanh nghiệp những năm tới, một số giải pháp được đề xuất nhằm tăng cường quản lý ngân quỹ của TLI như: Đầu tư công nghệ, đầu tư cho con người; Xây dựng quy trình quản lý ngân quỹ; Lập dự toán nhu cầu tiền năm 2012; Xác định mô hình quản lý ngân quỹ phù hợp; Lập kế hoạch quản lý ngân quỹ; Cơ cấu các khoản đầu tư ngắn hạn; Tối thiểu hóa các chi phí,
Ngoài ra, có một điều cần nhấn mạnh khi thực hiện đề tài này, đó là việc quản
lý ngân quỹ của doanh nghiệp chưa được chú trọng Việc quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp có tốt hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan của người quản lý doanh nghiệp và của các nhà làm luật chuyên ngành Rõ ràng, nếu pháp luật không can thiệp, nếu chủ doanh nghiệp không quan tâm đến vấn đề quản lý ngân quỹ, việc quản lý không theo một quy định hay một khung mẫu cụ thể mà nó chỉ tự phát theo ý thức của từng chủ doanh nghiệp thì việc quản lý ngân quỹ vẫn không được chú trọng Cho đến khi vấn đề quản lý ngân quỹ được nêu ra thường xuyên trong các báo cáo của doanh nghiệp, trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp như những chỉ tiêu tăng trưởng, lợi nhuận,… thì khi đó, vấn đề quản lý ngân quỹ với thực sự được quan tâm
Trang 16LỜI MỞ ĐẦU
Dòng tiền với doanh nghiệp được ví như những mạch máu trong mỗi cơ thể sống Nguy cơ tiềm ẩn của dòng tiền có thể đem tới tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp bất cứ lúc nào, kể cả những doanh nghiệp đang trên đà phát triển Việc kiểm soát dòng tiền vào và dòng tiền ra của của doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng, nó tạo ra khả năng thanh toán hoặc tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp Trong tình hình hiện nay, không ít các doanh nghiệp dù báo cáo kết quả kinh doanh có lãi nhưng vẫn thiếu tiền mặt trong két Chìa khóa để vượt qua thâm hụt về tiền đó là sự nhạy bén trong việc dự đoán sớm những vấn đề về dòng tiền, qua đó đưa ra những quyết định nhanh, chính xác trong kiểm soát quỹ tiền mặt Việc quản lý dòng tiền tốt có thể giúp doanh nghiệp khơi thông được nguồn vốn, giúp sử dụng nguồn vốn hạn hẹp một cách khoa học và hiệu quả, đồng thời giúp các doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng thất thoát nguồn tiền ra bên ngoài doanh nghiệp
Quản lý ngân quỹ chính là quản lý dòng tiền vào và dòng tiền ra của doanh nghiệp Để quản lý ngân quỹ tốt, chúng ta phải quản lý tốt dòng tiền, kiểm soát tốt
sự luân chuyển của dòng tiền
Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Thăng Long thời gian qua cũng đã bắt đầu quan tâm đến quản lý ngân quỹ song gặp không ít khó khăn Với chiến lược phát triển của Công ty trong xu thế hội nhập cạnh tranh, quản lý tốt ngân quỹ đã và đang
là một yêu cầu được ưu tiên của Công ty
Xuất phát từ tầm quan trọng của ngân quỹ và thực tiễn khách quan cần tăng
cường quản lý ngân quỹ, đề tài “Tăng cường quản lý ngân quỹ tại Công ty cổ
phần Đầu tư Tài chính Thăng Long” được lựa chọn để nghiên cứu
Thông qua hệ thống hóa về cơ sở lý luận của ngân quỹ và quản lý ngân quỹ, đồng thời đánh giá thực trạng quản lý ngân quỹ tại Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Thăng Long, đề tài hướng tới tìm ra nguyên nhân quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp chưa thực sự hiệu quả và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý ngân quỹ tại Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Thăng Long
Trang 17Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp với nguồn dữ liệu được tập hợp, sưu tầm từ sách, báo, mạng, các tạp chí chuyên ngành,… ; Phương pháp phân tích – tổng hợp; Phương pháp so sánh – đối chiếu; Phương pháp diễn dịch – quy nạp và Phương pháp quan sát thực tế để phân tích và xử lý thông tin
Luận văn được trình bày với kết cấu 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý ngân quỹ tại Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính
Thăng Long
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý ngân quỹ tại Công ty cổ phần Đầu
tư Tài chính Thăng Long
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1 NGÂN QUỸ CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái quát hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, nơi kết hợp các yếu tố cần thiết để sản xuất và bán các sản phẩm, dịch vụ tạo ra với mục đích thu lợi nhuận Hoạt động của doanh nghiệp được đặc trưng bởi 2 hình thái:
- Sản xuất: Thực hiện chế biến các sản phẩm và dịch vụ mua vào để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có thể bán
- Trao đổi: Mua các yếu tố đầu vào (cung ứng) để phục vụ cho việc sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ và đem bán (thương mại)
Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào tựu chung cũng bao gồm: hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính và hoạt động khác Doanh nghiệp muốn hoat động tốt phải có kế hoạch hoạt động hàng năm và xây dựng kế hoạch vốn cho các hoạt động Ngân sách hoạt động hàng năm của doanh nghiệp gồm các ngân sách sau:
•Ngân sách hoạt động sản xuất kinh doanh
Ngân sách hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tổng hợp các dòng tài chính vào và ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó là doanh thu và các khoản chi có xuất quỹ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh Các dòng tài chính được thiết lập căn cứ trên giá trị phát sinh trong từng khoảng thời gian xem xét Việc thiết lập ngân sách hoạt động sản xuất kinh doanh
sẽ làm xuất hiện các thành phần liên quan đến tài sản lưu động và nợ ngắn hạn Việc thiết lập ngân sách hoạt động sản xuất kinh doanh thường theo từng tháng và tập hợp thành các ngân sách theo chức năng trên cơ sở ngân sách hoạt động của các
bộ phận Ngân sách hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm:
- Ngân sách bán hàng là tổng hợp toàn bộ ngân sách của các bộ phận bán hàng
Trang 19- Ngân sách sản xuất là tổng hợp toàn bộ ngân sách của các bộ phận sản xuất
- Ngân sách quản lý chung là tổng hợp toàn bộ ngân sách của các bộ phận gián tiếp Ngân sách quản lý chung chỉ bao gồm các khoản chi phục vụ quản lý và cũng không tính tới chi phí khấu hao tài sản cố định dùng trong quản lý
•Ngân sách đầu tư
Đầu tư là một hoạt động không thể thiếu và nằm trong chiến lược của doanh nghiệp Việc đầu tư thường đòi hỏi một khoản tiền lớn nên ảnh hưởng mạnh đến ngân quỹ, vì vậy các khoản chi đầu tư chỉ nên giải ngân theo kế hoạch đã được hoạch định Trong phạm vi quản lý tài chính ngắn hạn, ngân sách đầu tư sẽ liên quan đến dòng tài chính ra nhằm mua sắm tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh, bao gồm:
- Các khoản chi đầu tư hàng năm
- Các khoản chi cho đầu tư phát triển (mở rộng, hiện đại hoá)
•Ngân sách hoạt động tài chính
Ngân sách hoạt động tài chính liên quan đến các hoạt động vay, cho vay và đầu tư tài chính dài hạn, góp vốn liên doanh, bao gồm các dòng tài chính vào như thu tiền ứng với các khoản cho vay, thu tiền từ các tài sản tài chính dài hạn, và các dòng tài chính ra như trả tiền ứng với các khoản đi vay, trả tiền cho các tài sản tài chính dài hạn, góp vốn liên doanh
•Ngân sách hoạt động bất thường
Khi lập kế hoạch ngân sách hoạt động bất thường, chỉ xét đến các khoản thu và chi do bán tài sản cố định cần thanh lý Các khoản thu, chi bất thường khác không được xem xét Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp thực hiện điều chỉnh các quỹ dự phòng thì việc điều chỉnh sẽ được thể hiện ở ngân sách này, bao gồm:
- Điều chỉnh tăng các quỹ dự phòng được xem như dòng tài chính ra tức là khoản chi bất thường
- Điều chỉnh giảm các quỹ dự phòng được xem như dòng tài chính vào tức là khoản thu bất thường
Ngân quỹ được hình thành từ việc liên kết các ngân sách hoạt động bộ phận, thể hiện ở sơ đồ sau:
Trang 20Hình 1 1: Sơ đồ liên kết các ngân sách hoạt động của doanh nghiệp
Như vậy, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp đã có kế hoạch vốn cụ thể cho từng hoạt động sẽ góp phần làm giảm áp lực lên ngân quỹ của doanh nghiệp Đây là một trong số những nội dung quan trọng gián tiếp tác động lên ngân quỹ của doanh nghiệp Vì vậy, thực hiện công tác quản lý ngân quỹ cần lưu ý đến kế hoạch hoạt động hàng năm của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp, trong giai đoạn ngắn hạn, việc đảm bảo cân bằng giữa khả năng và nhu cầu tài trợ thường xuyên được xem là mục tiêu chính của quản lý tài chính Việc đảm bảo cân bằng tài chính ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp hoạt động ổn định, có hiệu quả, cơ sở của sự tăng trưởng đều đặn và liên tục theo định hướng chiến lược Vì vậy trong quản lý tài chính ngắn hạn, quản lý ngân quỹ đóng vai trò rất quan trọng
1.1.2 Ngân quỹ của doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm ngân quỹ
Ngân quỹ hay tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng được dùng để trả lương, mua tài sản cố định, mua nguyên vật liệu, trả tiền thuế, trả nợ… và thanh toán các khoản chi phí hàng ngày của doanh nghiệp
Tiền mặt bản thân nó là tài sản không sinh lãi, bởi vậy, trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất Mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp là cố gắng thiết lập một ngân quỹ tối ưu, có nghĩa
là doanh nghiệp phải tính toán để lượng tiền cần thiết đáp ứng nhu cầu thanh toán của công ty là vừa đủ, không thể thiếu và cũng không nên dư thừa quá nhiều
1.1.2.2 Vai trò của ngân quỹ trong hoạt động doanh nghiệp
Ngân sách hoạt động
Ngân sách hoạt động
sxkd
Ngân sách hoạt động đầu tư
Ngân sách hoạt động tài chính
Ngân sách hoạt động bất thường
Trang 21Hoạt động của doanh nghiệp diễn ra hàng ngày bao gồm các hoạt động thu và chi bằng tiền dẫn đến ngân quỹ hàng ngày của doanh nghiệp biến động Việc duy trì ngân quỹ để đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp rất quan trọng Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động kinh doanh
và có thể dẫn đến những hệ lụy rất xấu Vì thế, trong mọi trường hợp, doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm tới ngân quỹ
Các doanh nghiệp dự trữ tiền mặt vì 3 động lực chính: động lực giao dịch; động lực dự phòng; động lực đầu cơ
Động lực dự trữ tiền để giao dịch nghĩa là doanh nghiệp dự trữ tiền để đầu tư và thanh toán các chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuỳ vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể cần nhiều tiền hay ít Đối với các doanh nghiệp bán lẻ, hầu như hoạt động nào cũng đòi hỏi cần đến tiền Có những thời điểm, nhu cầu tiền của doanh nghiệp rất cao, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp dịch vụ vào các dịp lễ tết hay các doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh theo mùa vụ… nhưng với doanh nghiệp đầu tư tài chính như TLI, động cơ giữ tiền ngoài việc để chi trả các hoạt động thường xuyên, động
cơ chính là nhằm đáp ứng nhu cầu đầu cơ, đầu tư của doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu xây lắp của doanh nghiệp Ngoài ra, khi ngân quỹ thặng dư tiền sẽ giúp doanh nghiệp có khả năng thanh toán nhanh cho nhà cung ứng, điều này có thể là thuận lợi cho doanh nghiệp rất nhiều vì uy tín doanh nghiệp được nâng cao và doanh nghiệp có thể hưởng lợi thế chiết khấu
Doanh nghiệp giữ tiền nhằm phòng ngừa khả năng thu chi tiền trong tương lai biến động không thuận lợi như sự thay đổi các chính sách của nhà nước, đình công, hỏa hoạn, khó khăn do yếu tố thời vụ và chu kỳ kinh doanh Điều đó cũng
có nghĩa là nếu khả năng dự báo thu chi bằng tiền trong tương lai của doanh nghiệp kém thì nhu cầu tiền dự phòng là cao và ngược lại, nếu doanh nghiệp nắm
rõ được dòng tiền vào ra trong thời gian tới thì nhu cầu tiền dự phòng sẽ thấp… Doanh nghiệp sẽ không thể duy trì hoạt động bình thường để tồn tại và cạnh tranh trên thị trường nếu không có một mức tồn quỹ rộng rãi đủ để bù đắp sự mất mát về máy móc, nguyên vật liệu…
Ngoài ra, doanh nghiệp giữ tiền vì động lực đầu cơ nhằm chuẩn bị sẵn sàng để lợi dụng ngay các cơ hội tốt trong kinh doanh, đầu tư khi phát sinh những cơ hội
Trang 22đem lại lợi nhuận, thường là đầu tư vào các chứng khoán dễ bán Việc đầu tư vào chứng khoán dễ bán còn nhằm mục đích dự phòng mà không phải giữ tiền mặt Như vậy, ngân quỹ đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của một doanh nghiệp, là phương tiện giúp doanh nghiệp duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh và đảm bảo khả năng thanh toán Doanh nghiệp sẽ phải làm thế nào để ổn định mức cân đối ngân quỹ, tránh những trường hợp biến động bất thường xảy ra Điều này đòi hỏi phải quản lý tốt ngân quỹ
1.2 QUẢN LÝ NGÂN QUỸ CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm quản lý ngân quỹ
Quản lý ngân quỹ là sự tác động của các chủ thể quản lý trong doanh nghiệp lên các khoản thực thu và thực chi bằng tiền nhằm thay đổi mức tồn quỹ thực tế của doanh nghiệp sao cho ngân quỹ doanh nghiệp đạt mức tối ưu nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu và đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp trong từng thời kỳ trong điều kiện biến động của môi trường.
Quản lý ngân quỹ đề cập đến quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng Sự quản
lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn với tiền mặt như các
loại chứng khoán có khả năng thanh toán cao Các chứng khoán gần như tiền mặt
giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt Nếu số dư tiền mặt nhiều, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao nhưng khi cần tiền mặt cũng có thể chuyển đổi chứng khoán sang tiền mặt một cách dễ dàng và tốn kém ít chi phí
Như vậy, có thể hiểu quản lý ngân quỹ chính là quản lý dòng thu tiền mặt, dòng chi tiền mặt và đầu tư tiền mặt tạm thời nhàn rỗi một cách hiệu quả Đó là việc thu hồi nợ, kiểm soát chi tiêu, bù đắp thiếu hụt, dự báo nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp, đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi Ta có thể thấy điều này theo sơ đồ luân chuyển sau:
Trang 23Hình 1 2: Sơ đồ quản lý ngân quỹ
Mục tiêu của quản lý tài chính là cực đại hóa giá trị của doanh nghiệp Một cách
cụ thể, quản lý tài chính là việc thiết lập và thực hiện thủ tục phân tích, đánh giá và hoạch định tài chính, giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn cũng như kiểm soát hữu hiệu quá trình thực hiện các quyết định về mặt tài chính với các nguyên tắc:
• Không bao giờ để thiếu tiền đảm bảo khả năng thanh toán
• Đưa ra các quyết định đầu tư đúng, đạt hiệu quả cao
• Đưa ra các quyết định tài trợ hợp lý với chi phí vốn thấp
Ngân quỹ là một bộ phận của vốn lưu động có tính lỏng cao nhất, với hai bộ phận chủ yếu là tiền mặt và tiền gửi ngân hàng liên quan đến các dòng tiền vào ra doanh nghiệp, có nghĩa là nó liên quan tới các khoản thu chi bằng tiền Bất cứ khi nào phát sinh các khoản thu chi liên quan đến tiền, mức dự trữ tiền trong ngân quỹ đều biến động Mặt khác, các khoản thu chi tiền mặt lại không đồng thời và thường diễn ra bất thường, ảnh hưởng không nhỏ tới mức dự trữ tiền Vì vậy, để tránh những trường hợp biến động bất thường của ngân quỹ đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lí ngân quỹ Quản lý ngân quỹ rất quan trọng thể hiện cụ thể như sau:
1.2.1.1 Đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Doanh nghiệp luôn quan tâm tới mức dự trữ tiền vì ngân quỹ biến động theo
Thu tiền
Đầu tư vào chứng khoán thanh khoản cao
Kiểm soát thông tin qua báo
cáo thông tinTiền
Trang 24chiều hướng bất lợi sẽ ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Như vậy, một vai trò quan trọng của quản lý ngân quỹ là giúp cho doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán Khả năng thanh toán là khái niệm dùng để chỉ khả năng đáp ứng các khoản nợ hay các khoản chi khi đến hạn Do sự khác biệt về thời điểm ghi nhận giữa thu nhập và chi phí với thu và chi ngân quỹ, lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp chỉ là con số trên sổ sách kế toán, lợi nhuận này nếu không được biểu hiện dưới hình thái tiền, thì cho dù cao đến mức nào cũng không thể hiện được khả năng tái sản xuất mở rộng cũng như đảm bảo khả năng thanh toán doanh nghiệp được diễn ra bình thường Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không đủ tiền để trang trải các khoản nợ, khoản chi phát sinh do các dòng tiền vào, ra doanh nghiệp không diễn ra cùng thời điểm, độ lớn, cùng chu kỳ Trong khi đó, việc dự đoán khi nào phát sinh các khoản thu, các khoản chi bằng tiền, số lượng là bao nhiêu và chu kì các khoản thu, các khoản chi đó như thế nào rất khó
Vì vậy, khả năng thanh toán tốt có ý nghĩa quan trọng với doanh nghiệp bởi lẽ
nó quyết định tới mối quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng, ảnh hưởng tới uy tín của doanh nghiệp Một doanh nghiệp thường xuyên thanh toán đúng hạn có thể được hưởng chiết khấu hay các ưu đãi khác, duy trì được mối quan hệ lâu dài với nhà cung cấp, có được nguồn hàng ổn định Ngoài ra, một doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt sẽ dễ dàng vay tiền từ ngân hàng hay tìm kiếm các nguồn tài trợ khác cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn Ví dụ, doanh nghiệp có thể xin được hưởng chính sách tín dụng thương mại hay phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn Vì vậy, doanh nghiệp cần nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lí ngân quỹ để dự báo những trường hợp có thể dẫn đến thiếu hụt tiền, có thể đẩy doanh nghiệp vào trạng thái khó khăn, từ đó có biện pháp khắc phục như tìm nguồn tài trợ hay tìm cách tăng thu giảm chi Đồng thời dự báo những trường hợp ngân quỹ có thể thặng dư để có biện pháp sử dụng tiền nhàn rỗi, tạo thêm nguồn cho ngân quỹ, phòng ngừa cho biến động bất thường có thể xảy ra trong tương lai
1.2.1.2 Lựa chọn nguồn tài trợ với chi phí thấp
Khi ngân quỹ thâm hụt do phát sinh nhiều các khoản chi nhằm duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tìm cách tạo nguồn ngắn hạn để bù đắp thâm hụt, tránh tình trạng mất khả năng thanh toán Doanh nghiệp có nhiều cách để tìm nguồn tài trợ ngắn hạn nhưng vì những lí do nào đó,
Trang 25doanh nghiệp không thể tìm được nguồn chi phí thấp mà phải vay các tổ chức, vay
cá nhân, hay huy động từ các nguồn có chi phí cao hơn Nếu như doanh nghiệp có
kế hoạch phòng ngừa trường hợp này, doanh nghiệp đã có thể có biện pháp khắc phục tối ưu Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể giảm các khoản phải thu khách hàng; tăng cường quan hệ tốt với nhà cung cấp bằng cách thanh toán nhanh để có thể được hưởng các ưu đãi về giá hay trả chậm trong tương lai; đầu tư tiền vào chứng khoán và đặc biệt là có kế hoạch vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, hạn chế các khoản vay không cần thiết để vay trong tương lai Nếu doanh nghiệp không có
kế hoạch chủ động trước sẽ khiến doanh nghiệp có thể phải “vay nóng” từ các tổ chức, cá nhân có chi phí cao, phải chịu các điều kiện ràng buộc bất lợi cho doanh nghiệp
Như vậy, các hình thức tài trợ với chi phí lớn khiến chi phí vốn của doanh nghiệp cao, làm chi phí của doanh nghiệp trong tương lai tăng lên, ảnh hưởng tới lợi nhuận đồng thời hạn chế khả năng huy động vốn của doanh nghiệp trong tương lai
Và đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp không thể tìm được nguồn tài trợ nào, doanh nghiệp sẽ có nguy cơ mất khả năng thanh toán Rõ ràng, nếu không có sự quản lí chặt chẽ ngân quỹ, để tình trạng thâm hụt ngân quỹ bất lợi xảy ra, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và việc tối thiểu hoá chi phí vốn sẽ không đạt được
Đối với doanh nghiệp dịch vụ, mọi khoản chi lớn thường đã phát sinh vào kì trước, đến kì sau doanh nghiệp mới thực hiện cung ứng dịch vụ và đồng thời nhận được các khoản thu bằng tiền Như vậy, ngân quỹ của doanh nghiệp sẽ thặng dư tiền vì thu bằng tiền của doanh nghiệp vượt trội các khoản chi trả bằng tiền trong
kỳ Tiền để tại két của doanh nghiệp hay gửi không kì hạn vào ngân hàng không đem lại mấy lợi nhuận Doanh nghiệp cũng không thể tính tới việc đầu tư dài hạn vì đây chỉ là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong ngắn hạn; cho dù đầu tư dài hạn sẽ hứa hẹn nhiều lợi nhuận thì nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khi doanh nghiệp có nhu cầu thanh toán Một số doanh nghiệp sẽ tìm cách đầu tư ngắn hạn tiền nhàn rỗi vào tài sản sinh lợi mà độ rủi ro có thể chấp nhận Tuy nhiên sẽ có những doanh nghiệp không đầu tư tiền nhàn rỗi mà chỉ gửi tiền vào tài khoản ở ngân hàng bởi họ luôn duy trì một mức dự trữ tiền rộng rãi Như vậy, quản lí ngân quỹ tốt sẽ sẽ tạo cơ hội sinh lợi, tăng lợi nhuận và và lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp với chi phí thấp
1.2.1.3 Dự phòng cho những biến động bất thường
Trang 26Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không tránh khỏi những biến động bất thường như thiên tai, đình công, khách hàng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Những tác động trên có thể trực tiếp làm giảm các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp hay buộc doanh nghiệp phải chi những khoản chi bất thường Vì vậy, doanh nghiệp phải dự trữ một khoản tiền nhất định để dự phòng cho những biến động bất thường đó Chi phí cho việc dự phòng những biến động bất thường đó chính là khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể thu được nếu
sử dụng khoản tồn quỹ đó vào kinh doanh
Khi xảy ra những tổn thất, khoản được doanh nghiệp sử dụng ngay để thanh toán cho những tổn thất là ngân quỹ Nếu mức tồn quỹ không đủ tài trợ cho những tổn thất có nghĩa là thời điểm đó có thể doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán
Vì vậy, công tác quản lý ngân quỹ đóng vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp
1.2.2 Nội dung quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp
Ngân quỹ của doanh nghiệp được xác định từ dòng tiền vào (thu ngân quỹ) và dòng tiền ra (chi ngân quỹ) của doanh nghiệp Vì vậy, để quản lý ngân quỹ tốt, chúng ta phải nghiên cứu tìm hiểu và quản lý dòng tiền vào và dòng tiền ra hàng ngày của doanh nghiệp đồng thời phải dự báo được nhu cầu tiền và tính toán được mức tồn quỹ tối ưu của doanh nghiệp trên cơ sở đó lập kế hoạch quản lý ngân quỹ một cách chi tiết Quản lý ngân quỹ chính là việc quản lý các yếu tố cấu thành ngân quỹ được thể hiện dưới đây
1.2.2.1 Thu ngân quỹ doanh nghiệp
Thu từ hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các khoản mục thu như sau:
• Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh là khoản thu chủ yếu trong thu nhập của doanh nghiệp Doanh thu bán hàng là nguồn thu chủ yếu trong thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy, thời điểm để xác định doanh
thu là khi người mua chấp nhận thanh toán, không phụ thuộc tiền đã thu được hay chưa
Đối với doanh nghiệp dịch vụ, doanh thu từ hoạt động kinh doanh là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hoá, cung ứng dịch vụ sau khi trừ khoản giảm giá hàng bán (nếu có chứng từ hợp lệ) được khách hàng chấp nhận thanh toán không phân biệt đã thu được tiền hay chưa Ngoài ra, doanh thu từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn bao gồm các khoản phí thu thêm ngoài giá bán nếu có, phụ thu theo quy
Trang 27định của nhà nước mà doanh nghiệp được hưởng đối với dịch vụ cung cấp trong kỳ
• Thu từ hoạt động tài chính
Thu từ hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm các khoản thu gốc, lãi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, thu tiền lãi hoặc tiền bán chứng khoán ngắn hạn
Có thể tiền thu từ việc góp vốn của các chủ đầu tư, các khoản cho vay của ngân hàng, thu lãi hoặc gốc của các khoản doanh nghiệp cho vay từ tiền nhàn rỗi; thu lãi hoặc gốc của tiền gửi trong kỳ; thu tiền lãi từ chênh lệch tỷ giá hoặc từ việc thực hiện các nghiệp vu gia tăng ngân quỹ nhàn rỗi và các khoản thu khác có liên quan đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp
• Thu từ hoạt động khác
Thu từ hoạt động khác hay còn gọi là thu từ hoạt động bất thường là các khoản thu bất thường không thường xuyên và có thể không có kế hoạch trước Các khoản thu bất thường bao gồm: các khoản nợ khó đòi nay đòi được; tiền thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản; tiền thu do khách hàng, đối tác vi phạm hợp đồng; hoàn nhập
dự phòng phải thu khó đòi và giảm giá hàng tồn kho; tài sản thừa; các khoản nợ phải trả nhưng không còn chủ nợ và các khoản thu nhập bất thường khác
1.2.2.2 Chi ngân quỹ doanh nghiệp
Các khoản chi ngân quỹ bao gồm các khoản chi sau đây:
• Chi cho sản xuất kinh doanh
Chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các chi phí như: Chi phí nguyên, nhiên vật liệu, khấu hao tài sản cố định, tiền lương và các khoản chi phí có tính chất lương, chi phí dịch vụ mua ngoài Các chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm
Đối với doanh nghiệp thương mại dịch vụ, chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các chi phí từ khi mua hàng cho đến khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng và bảo hành cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định Nói cách khác, chi phí kinh doanh dịch vụ bao gồm chi phí vận chuyển, chi phí quản lý, chi phí bằng tiền khác
• Chi cho hoạt động tài chính
Chi cho hoạt động tài chính bao gồm các khoản chi sau: Chi hoạt động đầuưoển
Trang 28n tư, tiền lỗ kinh doanh, tiền mua bán chuyển nhượng các loại chứng khoán; chi trả vốn gốc vay ngân hàng; lỗ do chênh lệch tỷ giá; chi phí góp vốn liên doanh và lỗ do góp vốn liên doanh; các chi phí khác của hoạt động tài chính
• Chi cho hoạt động đầu tư
Chi cho đầu tư là hoạt động chi không thường xuyên nhưng mỗi khoản chi đều
có giá trị lớn Các khoản chi có giá trị lớn đòi hỏi phải có kế hoạch chi trước để bộ
phận ngân quỹ có kế hoạch thu xếp ngồn tài trợ, tránh tình trạng mất cân đối ngân quỹ
• Chi hoạt động bất thường
Các khoản chi bất thường của doanh nghiệp bao gồm các khoản sau đây: Chi phí thanh lý nhượng bán tài sản cố định kể cả giá trị còn lại; tiền doanh nghiệp phải trả
do vi phạm hợp đồng; tiền phải trả do truy thu thuế; các khoản mất tài sản doanh nghiệp chịu Trên đây là các nội dung chính của quản lý ngân quỹ mà bất kỳ người quản lý nào cũng phải nắm bắt được Tuy nhiên, một nội dung khá phức tạp và quyết định đến hiệu quả của quản lý ngân quỹ đó là việc dự báo nhu cầu tiền như thế nào cho phù hợp
1.2.2.3 Dự báo nhu cầu tiền
Trên cơ sở thu nhập và chi phí được dự tính cho kỳ sau, nhà quản lý tài chính cần dự tính nhu cầu tiền của doanh nghiệp Nguồn tiền của doanh nghiệp là những khoản doanh nghiệp thực thu được trong kỳ và mức tồn quỹ của kỳ trước còn việc
sử dụng nguồn tiền chính là việc chi trả trong kỳ
Việc dự tính này nhằm hai mục đích: thứ nhất, giúp các nhà quản lý nắm được nhu cầu tiền trong tương lai; thứ hai, cho biết khả năng thu được tiền để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu Việc dự tính các khoản thu chi là không dễ song doanh nghiệp
có thể căn cứ vào thu chi của kỳ trước, kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh kỳ này để ước lượng một cách tương đối thời điểm, chu kỳ, khối lượng các dòng tiền vào, ra Từ đó doanh nghiệp có thể xác định mức cân đối tiền mặt khi có nhu cầu thu chi phát sinh
Trước hết, doanh nghiệp cần phải dự toán tiền thu ngân quỹ Các khoản thực thu ngân quỹ bao gồm: Thu tiền bán hàng trong kỳ; Thu tiền nợ kỳ trước của khách hàng; Thu từ hoạt động tài chính; Thu từ hoạt động bất thường Doanh nghiệp phải xác định thời gian trả tiền trung bình của các khoản phải thu khác nhau Từ đó, doanh nghiệp có thể xác định được tỷ lệ phần trăm doanh thu được chuyển thành
Trang 29tiền trong kỳ
Sau khi dự tính các khoản thu vào ngân quỹ, nhiệm vụ tiếp theo là cần dự toán các khoản chi ra từ ngân quỹ như: Thanh toán các khoản phải trả; Chi tiền lương cho công nhân viên, nhà quản lý và chi khác; Thanh toán thuế, lợi tức, lãi cổ phần Qua việc dự toán nhu cầu tiền nhà quản lý sẽ thấy được ngân quỹ dự toán của doanh nghiệp sẽ thặng dư hay thâm hụt so với mức tồn quỹ tối ưu để ra quyết định doanh nghiệp có nên vay thêm hay không? nếu có vay thì sẽ vay bao nhiêu để đáp ứng nhu cầu tiền trong từng tháng, quý, năm
Việc dự toán nhu cầu tiền trong doanh nghiệp ít nhiều còn có những yếu tố không chắc chắn, vì nội dung vẫn mang tính dự toán Do vậy, khó có thể dự toán nhu cầu tiền một cách chính xác Tuy nhiên nó cũng giúp cho các nhà tài chính chủ động bố trí và xắp xếp các khoản thu chi trong từng thời kỳ hoạt động
1.2.2.4 Xác định mức tồn quỹ tối ưu
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải tính toán mức tiền mặt dự trữ hợp lí và hiệu quả nhất sao cho chi phí cơ hội của doanh nghiệp là nhỏ nhất đồng thời doanh nghiệp gặp ít rủi ro thanh toán nhất Có rất nhiều phương pháp quản lý ngân quỹ trong doanh nghiệp, để tính toán các mức tồn quỹ tối ưu, nhưng các doanh nghiệp chủ yếu lựa chọn hai phương pháp sau:
• Mô hình Baumol
William Baumol là người đầu tiên đưa mô hình quyết định kết hợp giữa chi phí
cơ hội và chi phí giao dịch Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thiết lập tồn quỹ tối ưu
Mô hình này được ứng dụng nhằm thiết lập tồn quỹ mục tiêu
Giả sử công ty K bắt đầu tuần lễ 0 với tồn quỹ là C và chi vượt quá số thu là C/2 một tuần Như vậy tồn quỹ công ty sẽ bằng 0 sau 2 tuần lễ và tồn quỹ trung bình trong thời gian 2 tuần sẽ là C/2 Vậy đến cuối tuần lễ thứ 2 công ty K sẽ phải bán một số tài sản ngắn hạn như chứng khoán ngắn hạn hoặc vay ngân hàng để bù đắp lượng tiền mặt đã chi tiêu
Trang 30Tiền mặt đầu kỳ C
Tiền mặt bình quân C/2
Tiền mặt cuối kỳ C=0 tuần
0 1 2 3 4
Biểu đồ 1.1: Tình hình tồn quỹ của doanh nghiệp theo mô hình Baumol
Tồn quỹ tiền mặt bình quân= (tồn quỹ tiền mặt đầu kì + tồn quỹ tiền mặt cuối kì)/2= (C+0)/2= C/2
Số lần bán chứng khoán ngắn hạn để bù đắp lượng tiền đã chi tiêu = T/C
Vậy chi phí giao dịch = (T/C)F
Ta có, Tổng chi phí = chi phí cơ hội + chi phí giao dịch
TC = (C/2)K + (T/C)F
Trong đó:
- C: mức dữ trữ tiền mặt
- K: chi phí cơ hội của việc giữ tiền mặt
- T: tổng cầu về tiền mặt trong năm
- F: định phí chỗ mỗi lần bổ sung tiền mặt
Tồn quỹ tiền mặt tối ưu khi TC tối thiểu, tức là:
dTC/dC=0
Trang 31Có: TC = (C/2)K + (T/C)F
dTC/dC = K/2 – TF/C^2 = 0
C* là lượng tiền mặt dữ trữ làm cực tiểu tổng chi phí
C*
Khi ứng dụng mô hình này, công ty phải:
- Ước lượng tổng tiền mặt cần bù đắp mỗi năm
- Ước lượng chi phí giao dịch khi bán chứng khoán ngắn hạn
- Ước lượng lãi suất ngắn hạn để xác định chi phí cơ hội
Ngoài ra, mô hình Baumol chỉ ứng dụng được khi có thị trường tiền tệ phát triển, sẵn sàng cung cấp chứng khoán ngắn hạn và giải quyết thanh khoản khi cần thiết
Mô hình Baumol được xây dựng dựa trên những giả định:
- Công ty áp dụng tỷ lệ bù đắp tiền mặt không đổi
- Không có số thu tiền mặt trong kì hoạch định
- Không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn
- Dòng tiền tệ rời rạc chứ không phải liên tục
Như vậy mô hình Baumol giả định việc chi trả các hoá đơn là đều đặn, chủ động mà không tính đến sự bất thường của các dòng tiền đi ra khỏi doanh nghiệp, hơn thế nữa không tính đến các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp cũng làm thay đổi mức dự trữ tiền mặt mà giả định khi thu về, tiền được dùng để chuyển hoá luôn thành tín phiếu Do đó, các nhà kinh tế học đã xây dựng mô hình phù hợp hơn với thực tế, tức là mô hình này có tính đến cả những khả năng tiền ra vào ngân quỹ
• Mô hình Miller-orr
Để khắc phục tình trạng biến động tiền mặt trong doanh nghiệp, Merton Miller
và Daniel Orr đã đưa ra mô hình kiểm soát ngân quỹ căn cứ sự biến động của dòngtiền vào và dòng tiền ra với đơn vị thời gian là ngày có tên gọi là mô hình Miller – Orr
Trang 32Giả định: Lượng tiền mặt ở công ty bằng dòng tiền vào trừ dòng tiền ra Lượng tiền mặt này có thể ở mức kỳ vọng (tối ưu nhất), mức cao nhất hoặc mức thấp nhất
Ta sẽ giả định dòng tiền ròng bằng 0, tức là dòng tiền vào đủ bù đắp dòng tiền ra
Biểu đồ 1 2: Mô hình Miller – Orr
Khi tồn quỹ biến động trong mức giữa giới hạn trên và giới hạn dưới thì công
ty không cần thiết phải thực hiện các giao dịch mua hay bán chứng khoán ngắn hạn Giả sử tại thời điểm X, khi tồn quỹ đụng giới hạn trên thì công ty sẽ mua (H-Z) đồng chứng khoán ngắn hạn để giảm tồn quỹ và đưa tồn quỹ trở về mức tồn quỹ mục tiêu Ngược lại, tại thời điểm Y, khi tồn quỹ giảm đụng giới hạn dưới công ty
sẽ bán (Z-L) đồng chứng khoán ngắn hạn để gia tăng tồn quỹ, đưa tồn quỹ về mức tồn quỹ thiết kế
Trong mô hình này:
- H (Giới hạn trên) là mức tồn quỹ tiền mặt tối đa được thiết lập dựa trên cơ sở sao cho chi phí cơ hôi giữ tiền là thấp nhất
- L (Giới hạn dưới) là mức tồn quỹ tiền mặt tối thiểu được thiết lập dựa trên cơ
sở chi phí tài chính và giảm thiểu rủi ro thiếu tiền mặt chi tiêu
- Z (Tồn quỹ mục tiêu) là mức tồn quỹ tiền mặt tối ưu
Cũng giống như mô hình Baumol, mô hình Miller-orr xác định tồn quỹ dựa vào chi phí cơ hội và chi phí giao dịch Trong đó chi phí giao dịch (F) liên quan đến
Trang 33việc mua bán chứng khoán ngắn hạn để chuyển đổi tài sản đầu tư cho mục đích sinh lợi ra tiền mặt Chi phí cơ hội do giữ tiền mặt (K), bằng lãi suất ngắn hạn
Khác với mô hình Baumol, trong mô hình Miller – Orr, số lần giao dịch của mỗi thời kỳ là số ngẫu nhiên thay đổi tùy thuộc vào sự biến động của dòng tiền vào
và dòng tiền ra Kết quả là chi phí giao dịch phụ thuộc vào số lần giao dịch chứng khoán ngắn hạn kỳ vọng còn chi phí cơ hội phụ thuộc vào tồn quỹ kỳ vọng
Trang 34động tiền mặt được xác định theo công thức sau đây:
Trong đó: Lãi suất và chi phí giao dịch đã biết, Phương sai của thu chi ngân quỹ được xác định như sau:
- Lấy số liệu tổng hợp thu chi ngân quỹ trước đó, số liệu càng nhiều sai số càng nhỏ, cần đảm bảo số liệu này phản ánh thu chi thường xuyên của công ty
- Tính phương sai theo công thức:
vớiX =
Trong đó: i =
Xi là khoản thu (chi) thứ i; Xi < 0 đó là khoản chi, >0 là khoản thu
N là số khoản thu chiDoanh nghiệp thường thiết kế mức cân đối tiền mặt ở điểm một phần ba khoảng cách kể từ giới hạn dưới lên giới hạn trên Mức tiền mặt theo thiết kế được xác định như sau:
Qua mô hình Miller-orr ta có thể rút ra những kết luận sau:
•Số dư tiền mặt tối ưu tỷ lệ thuận với chi phí giao dịch và tỷ lệ nghịch với chi phí cơ hội,điều này phù hợp với mô hình Baumol
•Tồn quỹ tiền mặt tối ưu và tồn quỹ tiền mặt trung bình tỷ lệ thuận với phương sai dòng ngân lưu Vì vây, công ty nào có dòng ngân lưu bất thường thường duy trì tồn quỹ tiền mặt trung bình lớn
Khoảng dao dộng tiền 3
Mức tiền theo
Mức tiền mặt
Trang 35•Bên cạnh việc quản lí tiền mặt, các mô hình kiểm soát tiền mặt là rất cần thiết cho việc ra quyết định
Mô hình Miller –Orr ta có thể được ứng dụng để thiết lập tồn quỹ tối ưu Tuy nhiên, để sử dụng mô hình này giám đốc tài chính cần làm các công việc sau:
- Thiết lập giới hạn dưới tồn quỹ Giới hạn này liên quan đến mức độ an toàn chi tiêu do ban Giám đốc quyết định
- Ước lượng độ lệch chuẩn của dòng tiền mặt thu chi hàng ngày qua bảng thống kê
- Ước lượng chi phí giao dịch liên quan đến việc mua bán chứng khoán ngắn hạn
- Xem xét mức lãi suất để xác định chi phí cơ hội
Thật ra thay vì bán chứng khoán ngắn hạn để bù đắp lại số tiền mặt đã chi tiêu, Công ty có thể vay ngân hàng Khi quyết định bán chứng khoán hay vay ngân hàng, doanh nghiệp nên để ý tới các vấn đề sau:
- Vay ngân hàng thường đắt hơn là bán chứng khoán vì lãi suất vay ngân hàng thường cao hơn chi phí giao dịch
- Sự biến động tiền mặt càng lớn trong khi cơ hội đầu tư chứng khoán ngắn hạn không nhiều khiến nhu cầu vay càng tăng
- Đối với công ty lớn, chi phí cơ hội giữ tiền mặt lớn hơn so với chi phí giao dịch chứng khoán ngắn hạn
- Nhu cầu vay ngân hàng phụ thuộc vào ý muốn giữ tiền mặt ở mức thấp của ban Giám đốc công ty
Những mô hình quản lý ngân quỹ trên đây sẽ là những định hướng cho nhà quản lý tài chính trong quá trình thực hiện công tác quản lý ngân quỹ Tuy nhiên, đã
là mô hình thì sẽ ít nhiều mang tính cứng nhắc và không thể bao hàm tất cả những biến động của thực tế Vì vậy, để vận dụng tốt được mô hình, các doanh nghiệp
cần chú trọng nâng cao nhận thức và trình độ của đội ngũ cán bộ tài chính trong doanh nghiệp
1.2.2.5 Lập kế hoạch quản lý ngân quỹ
Việc lập kế hoạch quản lý ngân quỹ bao gồm các quyết định để sử dụng nguồn tiền nhàn rỗi khi có thặng dư ngân quỹ vượt qua giới hạn trên theo mô hình mà
Trang 36doanh nghiệp áp dụng và các quyết định tìm nguồn tài trợ khi có ngân quỹ xuống thấp hơn giới hạn cho phép của mô hình Hay nói cách khác, lập kế hoạch quản lý ngân quỹ chính là việc xây dựng kế hoạch xử lý thâm hụt và thặng dư ngân quỹ Đối với hình thức tài trợ hay sử dụng ngân quỹ nào thì doanh nghiệp cần phải xem xét có phù hợp với chu kỳ kinh doanh và chu kỳ tiền mặt của đơn vị mình hay không
Chu kỳ kinh doanh là khoảng thời gian mà tất cả các bước của quá trình tái sản
xuất phải trải qua như: nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm, giao hàng, chờ thu tiền về
Chu kỳ kinh doanh = Chu kỳ dự trữ + Chu kỳ chờ thu tiền
Chu kỳ dự trữ là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu mua nguyên vật liệu nhập kho
cho đến khi xuất kho sản phẩm giao cho khách hàng
Chu kỳ chờ thu tiền được tính từ khi giao hàng cho khách đến khi nhận lại tiền bán hàng
Chu kỳ kinh doanh còn tính theo chu kỳ trả tiền và chu kỳ tiền mặt
Chu kỳ kinh doanh = Chu kỳ trả tiền + Chu kỳ tiền mặt
Chu kỳ tiền mặt là khoảng thời gian từ khi trả tiền cho nhà cung cấp cho đến
khi thu được tiền của khách hàng Như vậy, trong quản lý ngân quỹ doanh nghiệp cần phải quan tâm đến chênh lệch độ dài chu kỳ thu tiền và độ dài chu kỳ trả tiền để đưa ra những quyết định phù hợp cho công tác quản lý ngân quỹ
Khi ngân quỹ thâm hụt, có thể thực hiện các biện pháp sau đây:
•Bán chứng khoán ngắn hạn, giấy tờ có giá
Khi mức tồn quỹ thực tế nhỏ hơn mức tối ưu, doanh nghiệp có thể bán chứng khoán để tài trợ cho ngân quỹ Các chứng khoán sẽ được bán trên thị trường trước hết là để đáp ứng nhu cầu tiền mặt, thứ hai là để thực hiện lợi nhuận cho các khoản đầu tư Các chứng khoán dễ bán có thể được bán trên thị trường tiền tệ như; cổ
phiếu, tín phiếu kho bạc, hoặc có thể đem thương phiếu đến ngân hàng để chiết khấu
•Vay ngân hàng
Nếu doanh nghiệp không có các chứng khoán thanh khoản để bán hoặc doanh nghiệp chưa muốn bán chứng khoán thì doanh nghiệp có thể vay ngân hàng Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng theo nhiều phương thức khác nhau với các điều kiện
Trang 37như thời hạn trả, số dư tối thiểu, cách hoàn trả nợ vay với mức lãi suất tương ứng Ngân hàng có khả năng đáp ứng những nhu cầu này cho doanh nghiệp với thời hạn có thể từ vài ngày đến cả năm, có thể đảm bảo hoặc không có đảm bảo Với hình thức tài trợ này, doanh nghiệp cần phải so sánh giữa vay ngân hàng và việc bán chứng khoán Lãi suất mà doanh nghiệp phải trả cho ngân hàng có thể cao hơn lãi suất mà doanh nghiệp nhận được từ việc bán chứng khoán Nếu doanh nghiệp không chắc chắn về thu chi ngân quỹ trong tương lai thì doanh nghiệp cần phải giữ mức cân đối tiền mặt lớn với mục đích là sẽ không phải đi vay Ngược lại, nếu doanh nghiệp biết chắc chắn về khả năng thu chi ngân quỹ trong tương lai thì có thể giữ tiền mặt ở mức thấp hơn
•Tín dụng thương mại
Doanh nghiệp nhận chính sách tín dụng thương mại của nhà cung cấp sẽ làm cho cân đối tiền mặt của ngân quỹ bớt căng thẳng do doanh nghiệp không cần phải chi ngay các khoản tiền mua hàng Khi đó doanh nghiệp sẽ phải trả thêm một khoản tiền do việc thanh toán chậm và phải chấp nhận với một giá thanh toán cao hơn Tuy nhiên, doanh nghiệp phải rất thận trọng vì khoản tiền doanh nghiệp trả chậm trong kỳ này sẽ có thể trở thành gánh nặng cho ngân quỹ trong các kỳ sau
Khi ngân quỹ thặng dư, có thể thực hiện các biện pháp sau đây:
•Đầu tư vào các chứng khoán thanh khoản cao trên thị trường
Việc đầu tư chứng khoán của doanh nghiệp là nhằm tận dụng khoản tiền nhàn rỗi tạm thời Có rất nhiều những chứng khoán dễ bán mà doanh nghiệp có thể lựa chọn như: cổ phiếu, tín phiếu kho bạc, chấp nhận thanh toán của ngân hàng, thương phiếu Vì thế, việc quyết định đầu tư vào chứng khoán hay không và đầu tư vào loại nào phụ thuộc vào: lãi suất, tính thanh khoản, ngày đáo hạn Thực hiện hoạt động này doanh nghiệp cần phải quản lý một danh mục đầu tư hợp lý sao cho lợi nhuận thu được đủ bù đắp các rủi ro và mức lợi tức mong muốn Đối với các doanh nghiệp lớn, chi phí giao dịch để mua và bán chứng khoán không đáng kể so với chi phí cơ hội của viêc giữ tiền mặt nên các doanh nghiệp này cần chú ý tới công cụ đầu tư này
•Cung cấp tín dụng cho khách hàng
Cung cấp tín dụng cho khách hàng là một công cụ quan trọng mà doanh nghiệp cần phải chú trọng Chính sách cung cấp tín dụng thương mại cho khách
Trang 38hàng có nhiều ưu điểm như: Doanh nghiệp có thể bán được nhiều hàng hoá hơn với mức giá cao hơn; Hiệu quả sử dụng tiền của doanh nghiệp tăng do cung cấp các khoản phải thu sẽ thu được mức lãi cao hơn hẳn so với việc đầu tư vào các khoản mục khác đồng thời doanh nghiệp có thể tạo lập mối quan hệ lâu dài với những khách hàng lớn Tuy nhiên, doanh nghiệp có thể gặp rủi ro khi khách hàng không thanh toán đúng hạn Vì vậy, việc doanh nghiệp có cung cấp tín dụng thương mại cho một khách hàng hay không cần phải được cân nhắc và tìm hiểu kỹ lưỡng, doanh nghiệp nên chọn những khách hàng có uy tín, quan hệ lâu dài
•Trả trước cho nhà cung cấp
Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng nguồn tiền nhàn rỗi của mình để thanh toán trước cho nhà cung cấp Khi thực hiện việc này, doanh nghiệp sẽ được nhà cung cấp cho hưởng một khoản chiết khấu tiền mặt
Trên đây là toàn bộ nội dung của công tác quản lý Ngân quỹ mà một nhà quản
lý ngân quỹ mà một nhà quản lý tài chính phải thực hiện khi muốn lập kế hoạch quản lý ngân quỹ cho doanh nghiệp mình Khi tiến hành công tác quản lý ngân quỹ, nhà quản lý luôn luôn kỳ vọng doanh nghiệp sẽ được đảm bảo khả năng thanh toán tại mọi thời điểm với những chi phí nhất định, thấp nhất có thể mà doanh nghiệp phải bỏ ra và không để tiền nhàn rỗi quá nhiều Để đánh giá được kết quả đặt được
từ quản lý ngân quỹ có tương xứng với những chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động này hay không thì nhà quản lý tài chính phải xem xét tới các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý ngân quỹ
1.3 CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ CỦA DOANH NGHIỆP
Thông qua đánh giá một số nhóm chỉ tiêu dưới đây, chúng ta có thể đánh giá được tình hình quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp, đặc biệt thông qua đánh giá các chỉ tiêu về khả năng chi trả
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng chi trả của doanh nghiệp
Để đánh g.iá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, người ta sử dụng các chỉ tiêu:
•Khả năng thanh toán hiện hành
Trang 39Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành =
Chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành được tính bằng cách lấy giá trị tài sản ngắn hạn trong một thời kỳ nhất định chia cho nợ ngắn hạn phải trả cùng thời kỳ
Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành thể hiện khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp, nó cho biết một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng giá trị tài sản ngắn hạn trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp không có đủ tài sản ngắn hạn để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn Tuy nhiên hệ số này chưa đủ chặt chẽ trong việc đánh giá cân bằng tài chính ngắn hạn vì còn tính đến khoản mục Hàng tồn kho Nếu khoản mục này chiếm tỷ trọng đáng kể trong tài sản lưu động và thời gian chuyển hoá cần thiết đủ dài thì vẫn tồn tại nguy
cơ mất cân bằng ngắn hạn
•Khả năng thanh toán nhanh
Tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh =
Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh được tính bằng cách lấy tổng các tài sản
có tính thanh khoản cao bao gồm: tiền mặt, đầu tư tài chính ngắn hạn, phải thu ngắn hạn chia cho tổng nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản tồn kho, nó nói lên tình hình tài chính của công ty có lành mạnh hay không Nếu công ty có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, điều đó có nghĩa công ty không thể thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn Doanh nghiệp nếu có chỉ tiêu này nhỏ hơn 1, người quản lý ngân quỹ phải xem xét lại ngay tình hình tài chính của doanh nghiệp mình
•Khả năng thanh toán tức thời
Tỷ lệ khả năng thanh toán tức thời =
Trang 40Khả năng thanh toán tức thời đo lường khả năng thanh toán ngay bằng tiền cho các khoản nợ đến hạn Nếu tỷ lệ khả năng thanh toán tức thời cao thì tỷ lệ này
có thể minh chứng cho khả năng thanh toán tốt nhưng mặt khác lại thể hiện sự kém hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực tài chính với một ngân quỹ ứ đọng Còn với một giá trị đủ nhỏ thì nguồn lực tài chính được sử dụng dường như có hiệu quả nhưng khả năng thanh toán sẽ yếu đi, đặc biệt khi các thành phần khác của tài sản lưu động có khả năng luân chuyển kém (nhất là đối với các doanh nghiệp mà hoạt động có đặc trưng mùa vụ)
•Vốn lưu động ròng (VLĐR) là khoản chênh lệch giữa tổng tài sản ngắn hạn
(TSNH) và tổng nợ ngắn hạn hoặc giữa nguồn dài hạn và tài sản cố định (TSCĐ):VLĐR = Nguồn vốn dài hạn - TSCĐ = TSLĐ - Nguồn vốn ngắn hạn
- Vốn lưu động ròng < 0, có nghĩa nguồn vốn dài hạn không đủ đầu tư cho TSCĐ Doanh nghiệp phải đầu tư vào TSCĐ một phần nguồn vốn ngắn hạn, TSLĐ không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất cân bằng, doanh nghiệp phải dùng một phần TSCĐ để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả Như vậy, doanh nghiệp phải tăng cường huy động vốn ngắn hạn hợp pháp hoặc giảm quy mô đầu tư dài hạn hoặc thực hiện đồng thời cả 2 giải pháp đó
- Vốn lưu động ròng > 0, nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào TSCĐ, đồng thời TSLĐ > nguồn vốn ngắn hạn do vậy khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt Tuy nhiên, nếu vốn lưu động ròng quá cao thì sẽ làm giảm hiệu quả đầu tư vì lượng tài sản lưu động quá nhiều so với nhu cầu và phần dư thêm này không làm tăng thu nhập
•Nhu cầu vốn lưu động ròng là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần để tài
trợ cho 1 phần tài sản lưu động, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu
Nhu cầu vốn lưu động ròng = Tồn kho và các khoản phải thu - Nợ ngắn hạn
- Khi nhu cầu VLĐR > 0, tức là tồn kho và các khoản phải thu > nợ ngắn hạn, nghĩa là các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn
mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn
để tài trợ vào phần chênh lệch
- Khi nhu cầu VLĐR < 0, tức là tồn kho và các khoản phải thu < nợ ngắn hạn, nghĩa là các nguồn vốn ngắn hạn từ bên ngoài đã dư thừa để tài trợ các sử dụng