Nếu chúng ta không có được nguồn nhân lực có chất lượngcao, phù hợp thì lao động các nước khác sẽ đến làm việc ở Việt Nam trongkhi lao động Việt Nam không tìm được việc làm, đó là nghịch
Trang 1Tôi xin cam đoan rằng số liệu, nội dung và kết quả nghiên cứu trong luậnvăn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõnguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2012
Tác giả luận văn
Lã Thanh Tùng
Trang 21.5 Bố cục của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHỀ 8
1 Cơ sở lý luận về phát triển đào tạo nghề 8
1.3.2 Mục tiêu của chính sách đào tạo nghề 19
1.3.3 Nội dung của chính sách đào tạo nghề 19
1.3.4 Yêu cầu đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong sự nghiệp HĐH 20
CNH-1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện đào tạo nghề 22
1.4.1 Tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 22
1.4.2 Nhóm các yếu tố dân số 23 1.4.3 Nhóm nhân tố cơ sở vật chất và kỹ thuật 23
1.4.4 Nhóm nhân tố môi trường chính sách 24
1.4.5 Nhận thức của xã hội về nghề và công tác đào tạo nghề 24
Trang 3thế giới 25
1.5.1.1 Nhật Bản 25
1.5.1.2 Hàn Quốc 26
1.5.1.3 Singapore 27
1.5.1.4 Trung Quốc 27
1.5.2 Tình hình đào tạo nghề và đánh giá công tác đào tạo nghề ở Việt Nam 28 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ TỈNH NINH BÌNH 37 2.1 Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội tỉnh Ninh Bình 37 2.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 41 2.2.1 Tình hình dân số và lao động của tỉnh Ninh Bình, 2008-2010 41
2.2.2 Cơ sở hạ tầng 44
2.2.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình, 2009-2011 46
2.2.3.1 Những lợi thế của tỉnh Ninh Bình 47
2.2.3.2 Những khó khăn, thách thức chủ yếu 49
2.3 Thực trạng phát triển công tác đào tạo nghề ở tỉnh Ninh Bình 50 2.3.1.Mạng lưới cơ sở dạy nghề 50 2.3.2 Quy mô đào tạo và các mô hình dạy nghề 2009-2011 52 2.3.3 Chương trình và giáo trình dạy nghề 55 2.3.4 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề 57
2.3.5 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học nghề 59 2.3.6 Cơ chế chính sách 62 2.3.7 Nguyên nhân tồn tại 66 CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ Ở NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2012-2020 69 3.1 Mục tiêu 69
3.1.1 Mục tiêu chung 69
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 69 3.2 Những quan điểm chỉ đạo 71
3.3 Các giải pháp phát triển đào tạo nghề 73 3.3.1 Nâng cao nhận thức tuyên truyền 73
Trang 43.3.2 Các giải pháp về chuyên môn 74
Trang 53.3.2.2 Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề, đa dạng hoá các hoạt động dạy nghề
75
3.3.2.3 Đổi mới nội dung chương trình dạy nghề và đào tạo liên thông 79 3.3.2.4 Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên 81
3.3.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất 83
3.3.2.6 Nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế về dạy nghề 84
3.3.5 Tăng cường quản lý nhà nước về dạy nghề92
Trang 6Từ viết tắt Diễn giải nội dung
Trang 7Bảng 2.1 Tình hình đất đai của tỉnh Ninh Bình, 2009 - 2011 40
Bảng 2.2 Tình hình dân số lao động của tỉnh Ninh Bình, 2009 – 2011 43
Bảng 2.3 Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề được thành lập, 2009 -2011 51
Bảng 2.4 Tình hình thực hiện thí điểm các quy mô, mô hình dạy nghề, 53
Bảng 2.5 Ý kiến đánh giá của các cơ sở đào tạo về thí điểm mô hình dạy nghề 54
Bảng 2.6 Kết quả thực hiện hoạt động phát triển chương trình, giáo trình dạy nghề 56
Bảng 2.7 Kết quả thực hiện phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề 57
Bảng 2.8 Ý kiến đánh giá của các cơ sở đào tạo về đội ngũ giáo viên 58
Bảng 2.9 Ý kiến của các cơ sở đào tạo về cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo nghề .60
Bảng 2.10 Ý kiến đánh giá của học viên về cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo nghề của các cơ sở dạy nghề 61
Bảng 2.11 Kết quả thực hiện hoạt động hỗ trợ lao động học nghề 64
Trang 81 Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 của UBND tỉnh Ninh Bình,
mục tiêu và các nhiệm vụ chủ yếu của năm 2011.
2 Bộ LĐ – TB&XH (2007), Quyết định số 16/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày
29/05/2007 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việcban hành tạm thời danh mục 48 nghề đào tạo trình độ cao đẳng nghề, trình
độ trung cấp nghề năm 2007
3 Bùi Quang Minh, 2003, Sử dụng nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam: Thực trạng và giải pháp.
4 Chu Tiến Quang (2001), Việc làm ở nông thôn, thực trạng và giải pháp,
NXB Nông nghiệp, Hà Nội
5 Cục thống kê tỉnh Ninh Bình, (2009, 2010, 2011), Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo, Hà Nội.
7 Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8 Đỗ Kim Chung, (2006), Chính sách phát triển nông thôn, Hà Nội
9 Lao động nông thôn: Thách thức và xu thế phát triển giai đoạn sau 2010, website: www.isgmard.org.vn.
10 Lê Phạm Ngọc Kỳ, 2004, Công tác giải quyết việc làm ở nông thôn, Tạp
chí Lao động và Xã hội
Trang 912 Nguyễn Thanh Bình (8/2005), Dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho Thanh niên nông thôn, http:/www.vyic.org.vn/tapchi/8-2005.
13 Quốc hội khóa XI (2005), Luật giáo dục của Quốc hội khóa XI, kỳ họp
thứ 7 số 38/2005/QH 11 năm 2005
14 Quốc hội khóa XI (2006), Luật dạy nghề của Quốc hội khóa XI, kỳ họp
thứ 10 số 76/2006/QH 11 ngày 29/11/2006
15 Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt mạng lưới dạy nghề 2005 - 2010
16 Quyết định số 107/2004/QĐ-UB phê duyệt quy hoạch cơ sở dạy nghề.
17 UBND tỉnh Ninh Bình (2008), Đề án đào tạo nghề cho người lao động tỉnh Ninh Bình đến năm 2015.
18 Thủ tướng Chính phủ (2009), Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, ban hành theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ
22 Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Dự Báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong bối cảnh xu thế phát triển kinh tế Thế giới đến năm 2020, Hà Nội, năm 2008
Trang 1024 Tuấn Minh, (2009), Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Con đường ngắn nhất đưa khoa học công nghệ về nông thôn, Bài đăng trên Báo
Khoa học và Phát triển
25 Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình lao động đáp ứng nhu cầu
của sự phát triển kinh tế - xã hội (Đề tài cấp Nhà nước KX07 – 14).
26 Vũ Xuân Hùng, Một số vấn đề về chuẩn nghề nghiệp giáo viên dạy nghề, tạp chí khoa học giáo dục số 3/2007, trang 32-35.
27 WTO – lao động nông thôn, 2006, website:
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Bối cảnh quốc tế
Toàn cầu hoá kinh tế đang là xu hướng khách quan, tạo cơ hội pháttriển nhưng cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố bất bình đẳng, khó khăn, thách thức lớncho các quốc gia, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam Cạnhtranh giữa các quốc gia về kinh tế - thương mại, kỹ thuật - công nghệ ngàycàng quyết liệt; lợi thể cạnh tranh sẽ thuộc về quốc gia có nguồn nhân lựcchất lượng cao Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của AFTA vàWTO, nên cạnh tranh về lao động không chỉ diễn ra ở thị trường khu vực vàthế giới mà còn diễn ra ngay ở thị trường lao động trong nước Đây là tháchthức lớn đối với dạy nghề và đòi hỏi dạy nghề phải đổi mới để đáp ứng nhucầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển với tốc
độ nhanh và có bước nhảy vọt Với việc sử dụng ngày càng nhiều kỹ thuật,công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, nhiều ngành nghề mới sẽ ra đời đòi hỏi dạynghề phải thường xuyên bổ sung, cập nhật hoàn thiện các chương trình dạynghề hoặc xây dựng các chương trình dạy nghề mới để đào tạo đội ngũ nhânlực kỹ thuật trực tiếp làm việc với kỹ thuật, công nghệ mới đó
1.2 Bối cảnh trong nước:
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt tốc độ tăng trưởngcao, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệphoá Các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất, cácngành kinh tế mũi nhọn ngày càng phát triển, đầu tư trong nước và quốc tếthời gian qua và dự kiến trong thời gian tới ngày càng tăng, kỹ thuật, côngnghệ mới được đưa vào sản xuất ngày càng nhiều, đòi hỏi nguồn nhân lực
Trang 12phải tăng về số lượng và chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề đào tạo và
cơ cấu trình độ đào tạo Hiện tại, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở nước tacòn thấp (khoảng 20% năm 2006) chưa đáp ứng kịp nhu cầu ngày càng tăngcủa thị trường lao động, nhất là lao động kỹ thuật có trình độ cao, đây là mộttrong những thách thức lớn để phát triển nền kinh tế nước ta trong điều kiệnhội nhập kinh tế quốc tế
Dự báo dân số và số người trong độ tuổi lao động đến năm 2020:
2 Dân số trong độ tuổi lao động
- Tăng thêm sau 5 năm
52.700 6.000
58.300 5.600
60.800 2.500
62.700 1.900
3 Lực lượng lao động (trong tuổi LĐ)
- % so dân số trong tuổi lao động
44.385 84,22
48.500 83,20
49.500 81,14
50.000 79,74
4
Cơ cấu lao động:
- Nông, lâm, ngư nghiệp
- Công nghiệp, xây dựng
Hiện nay cho đến năm 2020 tiếp tục sẽ có nhu cầu lớn về đào tạo nghề
và giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông nghiệp và nông thôn trongquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá Hàng năm số lao độngtrong khu vực nông nghiệp chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và dịch vụ
là khoảng một triệu người, số lao động này phải được đào tạo nghề để làm
Trang 13ngành nghề phi nông nghiệp Nếu không chuyển dịch được số lao động nôngnghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ thì không thể thực hiện được mụctiêu đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp Mặt khác, trong điềukiẹn kinh tế hội nhập, nếu chúng ta không chuyển dịch cơ cấu lao động kịpthời theo hướng CNH, HĐH thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởngkinh tế và tình trạng kém phát triển, nghèo đói và bất bình đẳng vẫn khôngđược giải quyết Nếu chúng ta không có được nguồn nhân lực có chất lượngcao, phù hợp thì lao động các nước khác sẽ đến làm việc ở Việt Nam trongkhi lao động Việt Nam không tìm được việc làm, đó là nghịch lý và là tháchthức lớn đối với sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực nói chung và dạy nghề nóiriêng.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập phải có đủ lực lượng laođộng kỹ thuật, chất lượng cao cho các ngành kinh tế, nhất là các ngành côngnghiệp mũi nhọn, công nghiệp cao như: Tin học, tự động hoá, cơ điện tử, chếbiến xuất khẩu v v.; đòi hỏi lao động qua đào tạo trên 70%, trong đó trên35% có trình độ trung cấp trở lên, có như vậy các Doanh nghiệp mới đủ sứccạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tê.Trong xu thế toàn cầu hóa và
mở cửa hội nhập, Việt Nam đã được tổ chức Thương mại thế giới (WTO) kếtnạp là thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức này Sự kiện đó đã mở ranhiều cơ hội và thách thức mới trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội đấtnước nói chung và quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH)nông nghiệp nông thôn tại Việt Nam nói riêng Với mục tiêu đến năm 2020Việt Nam sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp, đòi hỏi phải có những thayđổi cơ bản trong cơ cấu lao động nông thôn Hiện nay ở nước ta có khoảng72,6% dân số sống ở khu vực nông thôn, lao động nông nghiệp chiếm hơn70% lực lượng lao động toàn xã hội, có thể thấy lao động nông thôn đang trởthành lực lượng sản xuất đóng vai trò quan trọng, quyết định, then chốt trong
Trang 14các ngành kinh tế của đất nước.
Đào tạo nghề cho người lao động là một chủ trương lớn của Đảng vàNhà nước ta trong những năm gần đây Vì vậy, công tác đào tạo nghề ởnước ta đến nay đã có những bước phát triển đáng kể cả về quy mô và chấtlượng đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật của thị trường laođộng Tuy nhiên, vấn đề tạo việc làm có thu nhập ổn định, lâu dài cho cácđối tượng đã được học nghề vẫn còn nhiều bất cập, thực tế cho thấy có rấtnhiều người đã được học nghề nhưng không tìm nổi việc làm hoặc có việclàm nhưng thu nhập thấp, sau một thời gian chán nghề, bỏ việc, lại trở thànhthất nghiệp Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên, do thiếu quyhoạch hệ thống đào tạo nghề, cho nên đào tạo nghề hiện nay cơ cấu ngànhnghề và dạy nghề mất cân đối, phân tán, chưa gắn kết với nhu cầu thực tế,không đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế Số trường dạy nghề có nhiềunhưng nhìn chung quy mô nhỏ Ở nước ta hiện nay đang tồn tại mất cân đốigiữa đào tạo công nhân với đào tạo cán bộ trung cấp và đại học, cho thấytình trạng thừa thầy thiếu thợ khá phổ biến Hơn nữa đào tạo nghề chưathích ứng với thị trường lao động, nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầuphát triển của các KCN - KCX cả về số lượng và chất lượng, lạc hậu so vớicác nước trong khu vực, chưa có chính sách thu hút trọng dụng người tài, tạomôi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh
Hiện nay sự nghiệp CNH-HĐH, đang đòi hỏi bức xúc nhu cầu vềnguồn nhân lực - một lực lượng đông đảo có đủ kiến thức, kỹ năng nghềnghiệp, có phẩm chất đạo đức, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh
tế trong xu thế cạnh tranh và mở cửa hội nhập Đảng và Nhà nước ta đã cónhững chiến lược, chính sách ưu tiên để đầu tư phát triển lĩnh vực này Nghịquyết của Đại hội IX của Đảng đã nêu rõ: "Tiếp tục đổi mới chương trình, nộidung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có
Trang 15chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao.Gắn với việc hình thành các khu công nghiệp, khu công nghệ cao với hệthống các trường đào tạo nghề Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thốngtrường dạy nghề trên địa bàn cả nước, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đadạng, linh hoạt, năng động”.
1.3 Bối cảnh tỉnh Ninh Bình:
Ninh Bình là một tỉnh thuần nông, nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ,thu nhập bình quân đầu người thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn Trongnhững năm qua, tiến trình CNH - HĐH trên địa bàn tỉnh diễn ra mạnh mẽ,nhiều KCN - CCN, được đầu tư xây dựng Do vậy, vấn đề đào tạo nghề chongười lao động là vấn đề cấp bách hiện nay, góp phần giải quyết công ăn việclàm chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động nông nghiệp,tăng lao động ngành nghề và phi nông nghiệp
Để đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động, hệ thống các trường,các trung tâm dạy nghề cũng phát triển mạnh Đến nay, toàn tỉnh có 51 cơ sởdạy nghề Trong đó, có 3 trường Cao đẳng nghề (thuộc Bộ, ngành), 6 trườngTrung cấp nghề, 26 trung tâm dạy nghề, 16 cơ sở khác có tham gia dạy nghề
Tuy nhiên, năng lực dạy nghề của các cơ sở trên còn rất hạn chế.Nguyên nhân chính là do các trường, các trung tâm dạy nghề mới đượcthành lập, còn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, đội ngũ giáo viêndạy nghề còn thiếu, số lượng và chất lượng dạy nghề vẫn chưa đáp ứng đượcyêu cầu Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo nghề vẫn còn thấp và có sựchênh lệch lớn giữa các vùng kinh tế Chất lượng lao động được đào tạo cũngcòn hạn chế, chưa hình thành được đội ngũ lao động có kỹ năng nghề đáp ứngyêu cầu thị trường và hướng tới một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại Do
đó, nhiệm vụ đặt ra đối với người lao động càng khó khăn hơn Để đáp ứng
Trang 16được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, thực hiện mục tiêu đào tạo nghề cầnthiết phải có chiến lược đào tạo nghề gắn với chiến lược phát triển kinh tế xãhội Đây là những vấn đề đặt ra, cần được quan tâm giải quyết trong Đề ánđào tạo nghề cho cho người lao động.
Xuất phát từ những lý do nêu trên tôi chọn đề tài: “Những giải pháp
cơ bản về Phát triển đào tao nghề ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2012 – 2020 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội” làm đề tài nghiên cứu
luận văn thạc sĩ kinh tế của mình
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các nội dung về phát triển đào tạo nghề
- Các trường, trung tâm dạy nghề và tạo việc làm tại điểm nghiên cứu trên địabàn tỉnh Ninh Bình;
- Những học viên đã, đang học nghề tại điểm nghiên cứu trên địa bàntỉnh Ninh Bình;
- Các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ sử dụng lao động đã được đào tạonghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình;
- Một số chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến đào tạonghề ở Ninh Bình
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
* Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về đào tạo nghề
cho người lao động ở Ninh Bình
* Phạm vi về không gian:
- Nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Ninh Bình;
Trang 17- Một số nội dung chuyên sâu được thực hiện ở một số mô hình tiêu biểutrên phạm vi một số huyện của tỉnh Ninh Bình.
* Phạm vi về thời gian:
- Các dữ liệu phục vụ cho các giải pháp cơ bản phát triển thực đào tạonghề, các loại hình đào tạo của các cơ sở dạy nghề được thu thập từ năm 2009đến 2011;
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 5 năm2012
1.5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực tiễn phát triển đào tạo nghề
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nghề tỉnh Ninh Bình.
Chương 3: Những giải pháp cơ bản phát triển công tác đào tạo nghề
ở Ninh Bình giai đoạn 2012 - 2020.
Trang 18có dạy nghề Sau khi tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề ngắn hạn, học viênđược cấp chứng chỉ nghề; dạy nghề dài hạn (từ 1-3 năm) được thực hiện trongcác trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp và trường cao đẳng códạy nghề Sau khi tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề dài hạn, học viên đượccấp bằng nghề.
Khung trình độ dạy nghề năm 1998 có hạn chế là: Chưa đủ khả năngđáp ứng các loại trình độ lao động, nhất là ở cấp trình độ cao theo yêu cầu của
kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất - kinh doanh; Không có giá trị côngnhận quá trình học trước đó, do đó không tạo được sự liên thông trong đàotạo
+ Luật Giáo dục 2005 và Luật dạy nghề 2006 đã tạo cơ sở pháp lý hìnhthành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành trong hệ thống giáo dục quốc dân;
đã hình thành dạy nghề chính quy với 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấpnghề và cao đẳng nghề) và dạy nghề thường xuyên thay thế cho dạy nghềtrước đây chỉ bao gồm dạy nghề ngắn hạn và dài hạn
Luật Giáo dục năm 2005 quy định dạy nghề được thực hiện dưới mộtnăm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạonghề trình độ trung cấp và trình độ cao đẳng Luật dạy nghề năm 2006 đã cụ
Trang 19thể hóa cấp trình độ đào tạo trong dạy nghề gồm: Sơ cấp nghề, trung cấp nghề
và cao đẳng nghề, mục tiêu cụ thể của từng cấp trình độ là:
Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây rất quan tâm đến côngtác đào tạo nghề Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thôngqua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 - 2015 trong đó chỉ rõ (tỷ
lệ qua đạo tạo đến năm 2020 là 35%)
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và Thông báo
số 784-TB/TU ngày 19/03/2008 của Tỉnh ủy Ninh Bình về việc thực hiện Đề
án đào tạo nghề đến năm 2010, định hướng đến năm 2015
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra chủtrương phát triển dạy nghề giai đoạn 2006 - 2010 là:
"Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy môđào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùngkinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động Mở rộng mạng lưới cơ sở dạynghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận huyện Tạo chuyển biến căn bản vềchất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đadạng, linh hoạt: Dạy nghề ngoài công lập, tại Doanh nghiệp, tại làng nghề …;tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học nghề, lập nghiệp Tổ chức dạynghề, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sản xuất phù hợp cho nông dân, đồngbào dân tộc thiểu số"
"Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở
-mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liênthông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tậpcho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhucầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho ngườihọc, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục"
Trang 20"Mở rộng quy mô dạy nghề, bảo đảm tốc độ tăng nhanh hơn đào tạo đạihọc, cao đẳng Quy mô tuyển sinh dạy nghề dài hạn tăng 17%/năm".
Thể chất hoá chủ trương của Đảng về phát triển dạy nghề, Quốc hội đãban hành Luật Giáo dục - năm 2005, quy định dạy nghề có ba trình độ đào tạo(sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề);
Luật Dạy nghề - năm 2006, quy định chi tiết về tổ chức, hoạt động của
cơ sở dạy nghề; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt độngdạy nghề Trong Luật Dạy nghề đã xác định chính sách đầu tư của Nhà nước
về phát triển dạy nghề:
"Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để đổi mới nội dung, chương trình vàphương pháp dạy nghề, phát triển đội ngũ giáo viên, hiện đại hoá thiết bị, đẩymạnh nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề; Tập trungxây dựng một số cơ sở dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực vàthế giới; chú trọng phát triển dạy nghề ở các vùng có điều kiện kinh tế - xãhội đặc biệt khó khăn; đầu tư đào tạo các nghề thị trường lao động có nhucầu, nhưng khó khăn thực hiện xã hội hoá"
- Nghị quyết số 03/2007/NQ - CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ vềnhững giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch kinh tế - xãhội và ngân sách Nhà nước năm 2007 đã giao cho Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội xây dựng trình Chính phủ đề án đổi mới đào tạo nghề
1.2 Vị trí, vai trò của dạy nghề trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Quốc gia
Ngày nay, hầu hết mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người,nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò quyếtđịnh nhất đến sự phát triển và bền vững của một quốc gia Các nhà kinh tế đãkhẳng định rằng đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục và
Trang 21đào tạo, chăm sóc sức khỏe, công tác an sinh xã hội là đầu tư có hiệu quảnhất, quyết định đến khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của đấtnước Nhờ có ưu tiên đầu tư cho giáo dục để phát triển nguồn nhân lực mànhiều nước trên thế giới chỉ trong thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thànhnước phát triển, điển hình là các nước Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan …
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳngđịnh: "Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọngthúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huynguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tếnhanh và bền vững" Phát triển giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu (1)
Mục tiêu của giáo dục đào tạo nguồn nhân lực nói chung là đào tạo conngười Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, đạo đức, tri thức, sức khỏe,tác phong công nghiệp, thể chất, thẩm mỹ, hình thành và bồi dưỡng nhâncách, phẩm chất và năng lực của người công dân đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Dạy nghề là một bộ phận của hệ thốnggiáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trựctiếp trong sản xuất và dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương ứng với cấptrình độ đào tạo, đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước và có thể tiếp tục học bổ sung, nâng cấp trình độ lên cao nếu cónhu cầu và điều kiện Hiện nay, lao động kỹ thuật của Việt Nam đang mất cânđối nghiêm trọng về cơ cấu lao động ở cả ngành nghề và trình độ đào tạotrong các ngành, vùng kinh tế, các khu vực Trong khi lao động phổ thông dưthừa rất lớn nhưng lao động kỹ thuật lại thiếu trầm trọng, nhất là lao động kỹthuật trình độ cao cho một số ngành như công nghiệp chế tác, tin học, viễnthông, công nghiệp chế biến nông, lâm thủy sản, lao động kỹ thuật cho xuấtkhẩu
Trang 22Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, để tăng trưởng nền kinh tế bềnvững, hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả và an toàn trong bối cảnh nền kinh tếthế giới đầy biến động, nhiệm vụ của dạy nghề là phải xây dựng và phát triểnđội ngũ lao động có chất lượng, phù hợp với nhu cầu lao động về cả số lượng,
cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền đáp ứng mục tiêu và nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội trong phạm vi toàn quốc lẫn từng ngành, vùng kinh tế,địa phương; đồng thời cần tăng khả năng cạnh canh của lao động Việt Namvới lao động nước ngoài không những ở thị trường lao động thế giới mà cònngay ở thị trường lao động trong nước Với tốc độ phát triển nhanh và khôngngừng của khoa học công nghệ, việc sử dụng ngày càng nhiều công nghệ mới,tiên tiến, hiện đại, nhiều ngành nghề mới xuất hiện trong thực tế xã hội, vì vậycần có các hình thức, nội dung dạy nghề phù hợp nhằm tạo điều kiện chongười lao động có cơ hội để thường xuyên bổ sung, cập nhất kiến thức, kỹnăng nghề nghiệp để có đủ năng lực thích ứng với những thay đổi nhanhtrong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ
1.2.1 Mối quan hệ của dạy nghề với việc làm, thu nhập và giải quyết các vấn đề xã hội trong nước và hội nhập quốc tế
Mục tiêu hàng đầu của công tác dạy nghề là đào tạo, bồi dưỡng nănglực nghề nghiệp của từng người học, người lao động cho phù hợp với yêu cầucủa thị trường lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nhằm tạo điềukiện cho người lao động tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm Trong quá trìnhhọc nghề, người lao động được học để hình thành những kiến thức, kỹ năng
và thái độ lao động nghề nghiệp cần thiết cho việc thực hiện thành công quátrình lao động thực tế
Với quan điểm, chuyển dần dạy nghề từ đào tạo theo năng lực sẵn cócủa cơ sở dạy nghề sang dạy nghề theo nhu cầu của thị trường lao động và xãhội, lấy nhu cầu của các ngành kinh tế, của doanh nghiệp làm mục tiêu đào
Trang 23tạo, dạy nghề gắn với việc làm đã tạo điều kiện cho người học nghề có việclàm ngay sau khi tốt nghiệp Hệ thống dạy nghề hiện nay tương đối đa dạng,nội dung và hình thức đào tạo nghề tương đối linh hoạt đã tạo điều kiện chongười học có cơ hội được nâng cao năng lực nghề nghiệp, thích ứng với sựthay đổi nhanh trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, xóa đói giảm nghèo,nâng cao mức sống, tăng thu nhập bền vững.
Dạy nghề đã tham gia vào các công tác xã hội như: góp phần tích cựctrong chuyển dịch cơ cấu lao động từ ngành nông lâm ngư nghiệp sang côngnghiệp xây dựng và dịch vụ, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội củađất nước; thực hiện nhiệm vụ phân luồng học sinh phổ thông, làm giảm chiphí đào tạo, bớt gánh nặng cho xã hội; dạy nghề cho các phạm nhân, đốitượng ma túy, người chưa thành niên phạm tội để họ có khả năng kiếm sốngbằng con đường làm ăn chân chính, góp phần phòng ngừa, hạn chế các tệ nạn
xã hội, các vụ án vi phạm pháp luật, ổn định an ninh, trật tự xã hội; dạy nghềcho người đi xuất khẩu lao động để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gópphần mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho gia đình người lao động và đấtnước
1.2.2 Những khái niệm cốt lõi, mục tiêu, yêu cầu, đặc điểm cơ bản của chiến lược dạy nghề và quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề
1.2.2.1 Một số khái niệm liên quan
Trang 24việc và tình trạng khác; trong đó bộ phận quan trọng nhất là lực lượng laođộng.
Lao động qua đào tạo nghề
Lao động qua đào tạo là một thuật ngữ mới được sử dụng rộng rãi ở
nước ta trong những năm gần đây Lao động qua đào tạo là lao động được đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất, được cấp văn bằng, chứng chỉ về cấp bậc, loại nghề đào tạo với kết quả là được trang bị các kiến thức lý thuyết cơ bản và có kỹ năng thực hành về một nghề (hoặc công việc) nhất định phù hợp với yêu cầu của cấp bậc đào tạo và nghề nghiệp (công việc).
Lao động qua đào tạo là kết quả của hoạt động giáo dục - đào tạo nhằmtrang bị cho người được đào tạo những kiến thức cơ bản và kỹ năng nghềnghiệp ở các trình độ khác nhau cùng với đạo đức, lương tâm và ý thức tổchức kỷ luật, tinh thần hợp tác và tác phong làm việc để thực hiện những côngviệc theo yêu cầu kỹ thuật nhất định
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, lao động qua đào tạo được phânthành 4 nhóm chính: lao động kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh vàdịch vụ (lao động qua đào tạo nghề), lao động có bằng trung cấp chuyênnghiệp, lao động có bằng cao đẳng, đại học, lao động có bằng sau đại học
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trong tổng số lao động làm việc:
nền kinh tế
Số lao động qua đào tạo nghề được thống kê phân thành 3 cấp trình độ:Trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề Ngoài ra còn có laođộng có qua đào tạo nghề thường xuyên dưới 3 tháng có thể được hoặc khôngđược cấp chứng chỉ nghề
Trang 25Cấp trình độ đào tạo nghề là một trong những nội dung quan trọng
trong hệ thống dạy nghề, nó quyết định đến việc xây dựng mục tiêu chươngtrình đào tạo nghề, cũng như việc cấp văn bằng chứng chỉ đào tạo nghề thốngnhất của quốc gia Xác định đúng đắn cấp trình độ đào tạo nghề không chỉgóp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng dạy nghề, mà còn gắn đào tạonghề với yêu cầu của kỹ thuật trong sản xuất - kinh doanh và nhu cầu của thịtrường lao động
Cấp trình độ đào tạo nghề là việc xác định các trình độ nghề cần đượcđào tạo ở mức nào, nó bao gồm mức độ phức tạp của lao động và năng lựcthực hiện nghề nghiệp Cấp trình độ đào tạo nghề đó là sự phân hóa mục tiêuđào tạo theo chiều sâu Các cấp trình độ đào tạo nghề được sắp xếp từ đơngiản đến phức tạp, sự sắp xếp thành hệ thống đó hình thành nên cấp trình độđào tạo nghề
Mục tiêu đào tạo của 3 cấp trình độ đào tạo thực hành hiện nay:
- Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lựcthực hành của một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việccủa một nghề, có thái độ nghề nghiệp, tạo điều kiện cho người học nghề saukhi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lêntrình độ cao hơn
- Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học kiến thứcchuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả nănglàm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có thái độnghề nghiệp, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năngtìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn
- Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiếnthức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khảnăng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo,
Trang 26ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huốngphức tạp trong thực tế; có thái độ nghề nghiệp, tạo điều kiện cho người họcnghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếptục học lên trình độ cao hơn.
Hệ thống cơ sở đào tạo nghề
Hệ thống giáo dục quốc dân đã được công bố trong Luật Giáo dục năm
2005, trong đó có hệ Giáo dục nghề nghiệp Dạy nghề là một phần của hệthống giáo dục nghề nghiệp trong khung cơ cấu của hệ thống giáo dục quốcdân
Cơ sở đào tạo nghề là một cơ sở có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất
kỹ thuật, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên theo quy định, đăng ký thườngxuyên thực hiện việc đào tạo nghề cho người lao động theo mục tiêu, chươngtrình đã được xác định tương ứng với trình độ nghề mà thực tiễn yêu cầu củamột hoặc một số nghề nào đó (tên nghề theo danh mục nghề đào tạo)
Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề là tập hợp của các cơ sở làm nhiệm
vụ đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu nhân lực cả về cơ cấu ngành nghề, cả về
cơ cấu trình độ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và được Nhànước thống nhất quản lý từ Trung ương đến địa phương
Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề có thể được xác lập để đáp ứng yêucầu của một ngành kinh tế, một vùng kinh tế, một địa phương (tỉnh, thànhphố); một khu vực hoặc trên phạm vi toàn quốc
Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề bao gồm các trung tâm dạy nghề,trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề, các trường đại học, cao đẳng,trung cấp chuyên nghiệp có dạy nghề và các cơ sở dạy nghề khác Đào tạonghề là hệ thống chính trong việc cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật cho sựnghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Trang 271.3 Chính sách đào tạo nghề
1.3.1 Khái niệm:
Chính sách là tập hợp chủ trương và hành động về phương diện nào đócủa nền kinh tế xã hội do Chính phủ thực hiện Nó bao gồm mục tiêu màChính phủ muốn đạt được và cách làm để đạt được các mục tiêu đó.(8)
Như vậy, Chính sách đào tạo nghề cho người lao động là chủ trương vàhành động của Chính phủ nhằm thay đổi cơ cấu ngành lao động theo hướnggiảm lao động nông nghiệp tăng lao động ngành nghề và phi nông nghiệp gópphần giải quyết công ăn việc làm, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Với nhữngđịnh nghĩa như vậy, cần chú ý một số điểm khi đề cập đến Chính sách đào tạonghề
Thứ nhất, Chủ thể của Chính sách đào tạo nghề cho người lao động
được đề cập chính là Chính phủ, mà cụ thể là Chính phủ nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam Chính sách đào tạo nghề của một địa phương cụ thểchỉ được xem xét trong chừng mực để làm rõ chủ trương chung của quốc gia.Cũng cần chú ý thêm rằng, do Đảng có vai trò lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạoChính phủ thực hiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, khi trìnhbày thực trạng của chính sách đào tạo nghề ở địa phương chúng tôi sẽ đồngnhất với chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Thứ hai, mục tiêu của Chính sách đào tạo nghề bao gồm cả khía cạnh
kinh tế, xã hội và môi trường Mục tiêu kinh tế là tạo điều kiện cho người laođộng tiếp cận được các ngành nghề mới góp phần vào việc tăng trưởng vàphát triển kinh tế địa phương, cải thiện thu nhập của các hộ gia đình Mục tiêu
xã hội là góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, giảm độ chênhlệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn Mục tiêu môi trường của chínhsách đào tạo nghề là phát triển các ngành kinh tế một cách bền vững, tiếnhành sản xuất đi đôi với giữ gìn và bảo vệ môi trường Có thể thấy, mục tiêu
Trang 28của chính sách đào tạo nghề là rất rộng và phức tạp Vì vậy, khi hoạch định vàphát triển chính sách đào tạo nghề là việc làm rất khó khăn.
Thứ ba, do tính đa dạng của các vùng miền, tính đặc thù của người
nông dân và lao động nông thôn (trình độ học vấn không đồng đều, lao độngtheo mùa vụ, thói quen canh tác ) Vì vậy, khi nghiên cứu tình hình thực hiện
Đề án đào tạo nghề cần phải chú ý đến yếu tố này để tổ chức các khóa đào tạophải linh hoạt về chương trình đào tạo, nội dung đào tạo, hình thức đào tạo,phương pháp truyền đạt phù hợp với trình độ người học
Thuật ngữ chính sách và việc hoạch định triển khai thực hiện chínhsách đã hiện hữu khá lâu ở Việt Nam Tuy nhiên, khoa học nghiên cứu vềchính sách còn chưa đạt được sự phát triển tương xứng Do đó, khái niệmchính sách còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau Chẳng hạn, theo từ điểnbách khoa Việt Nam thì chính sách được hiểu là những chuẩn tắc cụ thể đểthực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời giannhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phươngthức của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị,kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường
Có thể nói: Chính sách là một khái niệm vừa mang tính khoa học cơbản vừa mang tính ứng dụng nhất là tính chỉ đạo thực tiễn của chủ thể quản lýnhất định Trên thực tế sẽ luôn tồn tại những cách định nghĩa chính sách khácnhau do tiếp cận nghiên cứu khác nhau Nhưng đã là một chính sách thì nộihàm của nó phải bao gồm những yếu tố cấu thành sau đây:
Một là, Chủ thể đề ra và triển khai thực hiện chính sách là chủ thể quản
lý của hệ thống quản lý trong chính sách được đề ra và tổ chức thực hiện Tùytheo các hệ thống tổ chức khác nhau có chính sách khác nhau như chính sáchcủa một cơ quan, doanh nghiệp, quốc gia
Hai là, Chính sách luôn gắn với mục tiêu cụ thể Mục tiêu của chính sách
Trang 29có thể được hiểu theo nghĩa rộng có nghĩa là đạt tới trạng thái mong đợi của hệthống quản lý, cũng có thể được hiểu theo nghĩa hẹp tức là giải quyết một nhucầu, một vấn đề mới xuất hiện của hệ thống quản lý Mục tiêu khác nhau quyđịnh chính sách khác nhau, nhưng không có chính sách mà không gắn với mụctiêu và nỗ lực đạt được mục tiêu của cơ quan thực hiện chính sách.
Ba là, Chính sách còn bao hàm trong đó cả cách thức mà chủ thể cần
hành động để đạt tới mục tiêu mong muốn Cách thức hành động ở đây baohàm nhiều nội dung từ quan điểm chỉ đạo hành động của chủ thể chính sáchđến phương hướng, phương án, phương tiện, công cụ và nguồn lực thực thichính sách trong thực tiễn, kể cả các tiêu chí đánh giá tình hình thực hiện củachính sách
1.3.2 Mục tiêu của chính sách đào tạo nghề
Chính sách đào tạo nghề được Chính phủ đưa ra nhằm nâng cao chấtlượng lao động và làm thay đổi cơ cấu ngành lao động theo hướng giảm laođộng nông nghiệp và tăng lao động ngành nghề và phi nông nghiệp, nâng caotính bền vững của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm chênh lệch về thunhập, thực hiện xóa đói, giảm nghèo và cải thiện các vấn đề về xã hội
1.3.3 Nội dung của chính sách đào tạo nghề
Chính sách đào tạo nghề cho người lao động bao hàm trong nó chủđịnh của Chính phủ, mục tiêu mà Chính phủ mong muốn đạt tới là cơ cấungành lao động tiến bộ hơn Ở phạm vi nhỏ là cơ cấu của tỉnh, huyện tiến bộhơn so với trước khi thực hiện chính sách Chính vì thế chính sách đào tạonghề cho người lao động có các nội dung sau: (1) Phát triển mạng lưới cơ sởdạy nghề bao gồm các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề và các tổchức cá nhân; (2) Tăng cường công tác đào tạo và giải quyết việc làm; (3)Nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ giáo viên phục vụ dạy nghề; (4) Tăngcường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học tập
Trang 30Thông qua thực hiện Chính sách đào tạo nghề Chính phủ có thể tácđộng vào nền kinh tế làm thay đổi cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thànhphần kinh tế Vì vậy nội dung và phạm vi áp dụng của chính sách đào tạonghề cần được hoạch định một cách linh hoạt, tránh dập khuôn máy móc, gâykhó dễ cho cả người triển khai chính sách và người hưởng lợi của chính sách.
1.3.4 Yêu cầu đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong sự nghiệp CNH-HĐH
CNH-HĐH là một tất yếu khách quan đối với nước ta nhằm xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội cao hơn cả hai mặt trình độ kỹthuật và cơ cấu sản xuất gắn liền với thành tựu của cách mạng khoa học -công nghệ hiện đại
CNH-HĐH còn đòi hỏi phải có một cơ cấu lao động hợp lý, nghĩa làphải có một tỉ lệ phù hợp giữa các thành tố của nguồn lực lao động Phải chú
ý đến công nhân lao động lành nghề, nâng cao năng lực thực hành và tănghàm lượng chất xám sao cho đội ngũ công nhân lành nghề và các kỹ nghệ gia,
kỹ thuật gia phải chiếm tỉ trọng chủ yếu Đây là một tiêu chí đòi hỏi sự phấnđấu không ngừng của cả nước, toàn Xã hội, toàn ngành Giáo dục, giáo dụcchuyên nghiệp và dạy nghề nói riêng trong giai đoạn trước mắt cũng như lâudài mà nghị quyết Đại hội IX đã xác định: “Nâng tỉ lệ lao động qua đào tạolên 30% vào năm 2005” “Số học sinh công nhân kỹ thuật tăng 11-12%/năm”.Trên thực tế, trong nhiều năm qua chúng ta mới đầu tư chú ý đến phát triểngiáo dục phổ thông, giáo dục đại học chưa coi trọng giáo dục nghề nghiệp,dẫn đến giáo dục chuyên nghiệp, nhất là đạo tạo công nhân mất cân đối Qui
mô đào tạo nghề hiện nay vẫn quá nhỏ bé, manh mún, thiết bị đào tạo lạc hậu,không đáp ứng được yêu cầu CNH-HĐH
Chính những vấn đề nêu trên đòi hỏi phải không ngừng đẩymạnh công tác đào tạo nghề, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Nâng
Trang 31cao chất lượng đào tạo nghề còn phụ thuộc yêu cầu phát triển nền kinh tế,thực hiện liên doanh liên kết với nước ngoài, chuyển giao công nghệ mới chocác KCN-KCX Trong quá trình thực hiện CNH-HĐH đồng thời với pháttriển kinh tế trong doanh nghiệp, cần hình thành các KCX-KCN liên doanhliên kết với nước ngoài Từ đó phát sinh tăng yêu cầu về mặt lao động có kỹnăng, kỷ xảo, có chuyên môn cao Đặc biệt là trong quá trình CNH, số laođộng dôi dư với chất lượng nghề nghiệp không đáp ứng kịp thời nhu cầutuyển dụng ở các KCN-KCX Một số lớn đã qua đào tạo nhưng không đápứng được yêu cầu người sử dụng lao động.
CNH-HĐH đòi hỏi chất lượng lao động phải cao không những để đápứng nhu cầu lao động trong nước mà còn để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu laođộng, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Việc phân công lao động và hợp tácquốc tế là xu hướng ngày càng phát triển Xuất khẩu lao động là chiến lượclâu dài, thường xuyên của các quốc gia phát triển Đối với nước ta, xuất khẩulao động không những vừa giải quyết việc làm cho lao động, tăng thu nhậpcho ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho bản thân gia đình người lao động,
mà còn tiếp thu học tập chuyên môn kỹ thuật hiện đại của các nước có nềncông nghiệp phát triển
Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ lao động xuất khẩu của ta mặc dù đượccải thiện nhưng nhìn chung còn hạn chế Yếu nhất là khâu ngoại ngữ, taynghề chưa đáp ứng được nhu cầu của công nghệ sản xuất hiện đại, nhận thức
về chủ thợ chưa rõ ràng, ý thức kỷ luật và chấp hành hợp đồng đã ký kết củamột số bộ phận lao động còn kém, Không ít người lao động quan niệm đi làmviệc ở nước ngoài là để kiếm tiền nhiều, khi không đạt được thì vô kỷ luật, bỏhợp đồng đi làm việc khác, gây ảnh hưởng đến uy tín lao động Việt Nam
Tóm lại, nước ta tiến hành CNH-HĐH trong điều kiện tiềm lực kinh tếcòn nhỏ bé, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, tài nguyên khoáng sản
Trang 32không nhiều… Do đó, để có thể tiếp cận được với nền khoa học - kỹ thuậtđang tiến nhanh như vũ bão của thế giới, từng bước rút ngắn khoảng cách vàđuổi kịp với sự phát triển của các nước, Đảng ta đã xác định phát triển nguồnlực nói chung, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động nói riêng là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong suốt quá trình CNH – HĐH.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện đào tạo nghề
Quá trình đào tạo nghề có một số đặc trưng khác với giáo dục phổthông và giáo dục đại học Đó là quá trình đào tạo trên cơ sở tiếp thu kết quảgiáo dục phổ thông để đào tạo về nghề nghiệp cho học sinh học nghề Việcđào tạo để hình thành năng lực nghề nghiệp giữ vai trò then chốt, chủ đạo Cóhàng loạt nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện của Đề án đào tạo nghề(kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa ) Các nhân tố này tác động đan xen và qualại lẫn nhau Có thể chia thành các nhóm nhân tố sau:
1.4.1 Tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Dạy nghề nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực qua đào tạo, có chấtlượng phục vụ phát triển kinh tế xã hội Thực tế cũng cho thấy trong nhữngnăm thập kỷ 80 của thế kỷ XX khi nền kinh tế của nước ta đang trong thời kỳkhủng hoảng, nhu cầu CNKT, NVNV cũng giảm theo Điều đó, đã tác động
và làm cho hệ thống các trường dạy nghề cũng suy giảm Đến năm 1996 khinền kinh tế nước ta thoát khỏi giai đoạn khủng hoảng và có mức tăng trưởngkhá thì nhu cầu công nhân kĩ thuật, nhân viên nghiệp vụ tăng cả về số lượng
và chất lượng, đòi hỏi công tác dạy nghề phải phát triển theo
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo sự chuyển dịch về cơ cấu laođộng Sự chuyển dịch này đòi hỏi phải đào tạo nghề cho người lao động đanghoạt động trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chuyển sang hoạt động ở lĩnhvực công nghiệp xây dựng và dịch vụ Nói cách khác đó chính là sự đáp ứngyêu cầu của thị trường lao động
Trang 331.4.2 Nhóm các yếu tố dân số
Quy mô và cơ cấu dân số quyết định đến số lượng, quy mô và cơ cấucủa các cơ sở dạy nghề Nước có cơ cấu dân số trẻ thì mạng lưới dạy nghềphải lớn còn những nước có quy mô dân nhỏ và vừa thì phát triển mạng lướidạy nghề mang tính chuyên sâu Qua đó, cũng có thể thấy cơ cấu dân số cũng
là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đào tạo nghề
Vì vậy, khi nghiên cứu tình hình thực hiện Đề án đào tạo nghề chongười lao động phải tính toán kỹ các yếu tố này để phát huy được lợi thế sosánh và nâng cao được năng lực cạnh tranh của địa phương
1.4.3 Nhóm nhân tố cơ sở vật chất và kỹ thuật
Đây là yếu tố hết sức quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng đàotạo nghề ứng với mỗi nghề dù đơn giản hay phức tạp cũng cần phải có cácmáy móc, trang thiết bị chuyên dùng phục vụ cho giảng dạy và học tập Trangthiết bị đào tạo nghề giúp cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thành
kỹ năng sản xuất Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt,càng hiện đại bao nhiêu, theo sát với máy móc phục vụ cho sản xuất baonhiêu thì người học viên có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng với sản xuấttrong doanh nghiệp bấy nhiêu
Chất lượng của các trang thiết bị, cơ sở vật chất đòi hỏi phải theo kịptốc độ đổi mới hiện đại hoá của máy móc thiết bị xản suất
Thực chất ở các cơ sở đào tạo nghề ở nước ta hiện nay, cơ sở vật chấttrang thiết bị dạy nghề còn rất hạn chế, lạc hậu không đáp ứng được yêu cầuđào tạo nghề Phòng học thiếu thốn nơi thực hành, chỗ nội trú cho học viên.Một phần lớn các trang thiết bị trong các cơ sở dạy nghề không phải là trangthiết bị phục vụ cho công tác đào tạo nghề một cách chính quy, nhiều máymóc được thu nhập lại từ nhiều nguồn khác nhau (chủ yếu là thanh lý của các
Trang 34nhà máy, xí nghiệp), do đó không có tính đồng bộ về hệ thống, tính sư phạmthấp ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nghề Đây là nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng tuy công nhân qua đào tạo đáp ứng được phần nào các công việc củacác doanh nghiệp nhưng hầu hết vẫn phải đào tạo lại để nâng cao khả năngthực hành và tiếp cận công nghệ hiện đại của các cơ sở sản xuất.
1.4.4 Nhóm nhân tố môi trường chính sách
Trong nền kinh tế thị trường chính sách là công cụ quản lý vĩ mô quantrọng nhất của Chính phủ sử dụng để thực hiện chức năng quản lý, điều tiếtkinh tế quốc dân Môi trường chính sách có tác động trực tiếp tới quá trìnhđào tạo nghề cho người lao động Thông qua chính sách, nhất là các chínhsách đối với cơ sở đào tạo nghề, giáo viên dạy nghề, học viên học nghề vàchính sách đối với các doanh nghiệp…Chính phủ can thiệp để tạo môi trường
ổn định và thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế, tổ chức kinh tế pháthuy được khả năng của mình Đầu tư của Chính phủ vào các lĩnh vực này sẽtạo môi trường thuận lợi cho công tác đào tạo nghề đạt kết quả cao góp phầnvào việc phát triển kinh tế chung của đất nước
1.4.5 Nhận thức của xã hội về nghề và công tác đào tạo nghề
Nhận thức của xã hội về đào tạo nghề tác động mạnh đến công tác đàotạo nghề, ảnh hưởng rõ rệt nhất của nó là tới lượng học viên đầu vào cho các
cơ sở dạy nghề Nếu mọi người trong xã hội đánh giá được đúng đắn hơn tầmquan trọng của việc học nghề thì trước hết lượng lao động tham gia đào tạonghề sẽ chiếm một tỷ lệ lớn hơn so với toàn bộ số lao động trên thị trường và
sẽ có cơ cấu trẻ hơn, đa dạng hơn Hơn nữa, nếu xã hội nhận thức được rằnggiỏi nghề là một phẩm chất quý giá của người lao động, là cơ sở vững chắc để
có việc làm và thu nhập ổn định thì công tác đào tạo nghề sẽ nhận thêm nhiềunguồn lực hỗ trợ cần thiết của xã hội để phát triển mạnh hơn
Xu hướng vào được đại học mới kiếm được một nghề ổn định đang ảnh
Trang 35hưởng rất nhiều đến công tác đào tạo nghề Học sinh không muốn thi vàohoặc nếu đỗ cũng tìm cách thi lên đại học Điều này làm cho đầu vào của cáctrường dạy nghề khá đông nhưng đầu ra lại ít, tạo nên tình trạng “thừa thầythiếu thợ” Vì vậy khi triển khai Đề án đào tạo nghề cũng cần xem xét đếnyếu tố này.
1.5 Thực trạng đào tạo nghề ở Việt Nam và trên thế giới
1.5.1 Tình hình đào tạo nghề và đánh giá công tác đào tạo nghề ở một số nước trên thế giới
Đào tạo nghề đóng vai trò quyết định đến sự phát triển bền vững củanền kinh tế Đào tạo nghề rất đa dạng và khác nhau trong từng Quốc gianhưng chúng ta có thể học kinh nghiệm của các nước đó và áp dụng có chọnlọc
1.5.1.1 Nhật Bản
Mô hình đào tạo tại công ty là mô hình đào tạo chủ yếu ở Nhật Đỉnhcao phát triển mô hình này ở Nhật diễn ra trong thập kỷ 1960, 1970 Đào tạotại công ty diễn ra mạnh mẽ trong các công ty lớn của Nhật Bản Phần lớn lớptrẻ Nhật sau khi tốt nghiệp phổ thông tham gia vào thị trường lao động, đượccông ty thuê và tham gia vào quá trình đào tạo nghề do công ty sử dụng tổchức Nội dung, chương trình đào tạo tại công ty gồm 2 phần: Định hướng vềcông ty và kiến thức thực hành nghề Định hướng về công ty là chương trìnhhọc nhấn mạnh các kiến thức về nền văn hoá của công ty, giá trị của côngviệc và thái độ làm việc Nhân viên mới được tuyển nghe giảng về niềm tin vàlòng tự hào của công ty và được làm nhân viên của công ty, về sự tự trọng,trách nhiệm và nghĩa vụ Chương trình học kiến thức thực hành nghề đượcthực hiện chủ yếu thông qua các chỉ dẫn không chính thức trong quá trình làmviệc, các cuốn cẩm nang tự học và các khoá tương ứng Phương thức thựchiện đào tạo kiến thức thực hành nghề là các buổi thảo luận kỹ thuật, thảo
Trang 36luận chất lượng, chuyển đổi vị trí và tự học Điều quan trọng là nước Nhật có
hệ thông giáo dục phổ thông tốt và học sinh tốt nghiệp trung học phổ thôngthường có khả năng học và tự học vững Hiện nay 80% số học sinh trong độtuổi theo học trung học phổ thông với một phần đáng kể trong số họ theo đuổi
mô hình đào tạo nghề ban đầu tại công ty và 20% còn lại tham gia hệ thốngđào tạo nghề tại trường Giáo dục phổ thông tốt là điều kiện căn bản để hệthống đào tạo nghề tại công ty của Nhật vận hành được Cùng với hệ thốngđào tạo này Nhật Bản đã đào tạo cho đất nước đội ngũ công nhân lành nghề
đa chức năng và trung thành với công ty, góp phần tạo nên thần kỳ kinh tếNhật Bản
1.5.1.2 Hàn Quốc
Từ giữa thập kỷ 60 Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra kế hoạch đào tạo trên
cơ sở kế hoạch nhân lực, nhờ vậy đầu tư sức người và của tập trung để hướnghọc sinh trung học theo nhánh đào tạo nghề và công nhân kỹ thuật Một số mônhọc nghề được đưa vào học trong chương trình trung học cơ sở, tuy nhiênchuyên môn hoá theo ngành đào tạo chỉ được thực hiện ở cấp trung học bậc trên.Khoảng một phần ba số học sinh theo học trung học bậc cao lựa chọn trung họcnghề còn hai phần ba theo chương trình trung học phổ thông Các chuyên ngànhđược lựa chọn nhiều nhất trong trung học nghề là kỹ thuật và thương mại
Bên cạnh các trường nghề trung học dành cho đào tạo nghề ban đầu ởHàn Quốc còn phát triển mạnh mẽ các trung tâm dạy nghề và đào tạo lại Cảnước có khoảng 90 trung tâm như vậy và đào tạo nghề ở đây chủ yếu giới hạn
ở các khoá ngắn hạn đào tạo các kỹ năng hành nghề trực tiếp Phần lớn chiphí cho các trung tâm này được nhà nước hỗ trợ Song các học viên vẫn phảiđóng học phí cho các khoá học này Đồng thời chính phủ Hàn Quốc cònkhuyến khích mạnh mẽ các công ty thực hiện đào tạo tại chỗ
Trang 371.5.1.3 Singapore
Đào tạo nghề phát triển mạnh mẽ vào những năm 80 Lĩnh vực có sựphát triển và mở rộng nhanh chóng là giáo dục nghề sau trung học, còn giáodục nghề trung học tuy có phát triển song chỉ chiếm phần nhỏ Trong giáo dụctrung học, phần lớn học sinh trong độ tuổi theo học trung học phổ thông
Ở Singapore tuy giáo dục nghề trung học ít được Chính phủ khuyếnkhích song nó lại là một phần thống nhất không tách rời trong chiến lược pháttriển nhân lực Với chiến lược tái cơ cấu kinh tế đưa ra năm 1979, mục đíchcủa Singapore là chuyển sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao mà chủyếu là các dịch vụ cao cấp tài chính và ngân hàng nên điểm mạnh của đào tạonghề tại nước này là sau trung học và đào tạo lại cho lực lượng lao động hiệnhành Đồng thời với công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế chiến lược sử dụng laođộng được chuyển dịch từ dựa vào lao động có kỹ năng trong nước
Cùng với các chương trình đào tạo lại, các chương trình đào tạo nghềban đầu được đẩy mạnh đặc biệt là ở cấp sau trung học, do vậy cơ cấu nghề
đã được chuyển đổi mạnh mẽ
1.5.1.4 Trung Quốc
Giáo dục và dạy nghề ở Trung Quốc hiện chia làm 3 cấp Cấp đầu tiênđược thực hiện chủ yếu trong các trường dạy nghề và nhằm đào tạo côngnhân, nông dân và nhân công cho các ngành nghề với kiến thức nghề nghiệp
cơ bản và những kỹ năng nhất định Để đáp ứng nguồn nhân lực cho sự pháttriển kinh tế địa phương, các trường dạy nghề cấp một này chỉ được mở ở cácvùng nông thôn, nơi kinh tế chưa phát triển
Trường dạy nghề cấp hai không chỉ cung cấp cho xã hội những côngnhân lành nghề mà họ còn được đào tạo thêm kiến thức về văn hóa để có thểthích nghi với các khu chế xuất, khu công nghiệp Với việc học nghề kéo dài
Trang 382-3 năm, giáo dục hướng nghiệp cấp ba ở Trung Quốc chủ yếu tuyển sinhnhững học viên đã từng tốt nghiệp các trường dạy nghề cấp 2 nhằm đào tạocho đời những công nhân “cổ trắng”
Hiện tại, việc dạy nghề ở Trung Quốc do các Bộ Giáo dục và Lao độngquản lý, nhưng các doanh nghiệp được khuyến khích “đào tạo nghề” chochính công nhân của mình Năm 2001, những khóa đào tạo ngắn hạn đã cho
ra lò cấp tốc hàng trăm triệu công nhân
1.5.2 Tình hình đào tạo nghề và đánh giá công tác đào tạo nghề ở Việt Nam
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng về định hướng phát triển dạy nghề,chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dạy nghề từ 2001 - 2010, đến naydạy nghề đã được phục hồi sau một thời gian dài bị suy giảm, từng bước đượcđổi mới và phát triển đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuậttrực tiếp trong KD, dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Một số kết quảchủ yếu đã đạt được là:
1.5.2.1 Hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội:
- Hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành từng bước được hình thành gópphần nâng cao vị thế, vai trò của dạy nghề trong chiến lược phát triển nguồnnhân lực và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
+ Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lựcthực hành của một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việccủa một nghề;
+ Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học kiến thứcchuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả nănglàm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc;
Trang 39+ Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiếnthức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khảnăng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo,ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huốngphức tạp trong thực tế.
Ưu điểm của hệ thống dạy nghề theo ba cấp trình độ là: Đào tạo nhiềucấp trình độ theo yêu cầu của thị trường lao động; Liên thông trong hệ thôngdạy nghề và liên thông với các trình độ khác của hệ thống giáo dục quốc dân,tạo điều kiện và cơ hội cho thanh niên học tập suốt đời, hoạt động để nângcao trình độ nghề nghiệp; Phù hợp với các trình độ dạy nghề của các nước,tạo điều kiện cho việc hội nhập quốc tế và xuất khẩu lao động
Việc hình thành 3 cấp trình độ đào tạo nhằm đổi mới Hệ thống dạynghề đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, phù hợp với cơ cấu tổ chứcsản xuất, thay đổi của kỹ thuật, công nghệ mới, tạo sự liên thông giữa các cấptrình độ đào tạo, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụquá trình CNH, HĐH và hội nhập
- Dạy nghề trình độ TCN và CĐN đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng vềnhân lực có tay nghề coa của TTLĐ trong quá trình CNH, HĐH đất nước; dạynghề trình độ sơ cấp và dạy nghề thường xuyên đã góp phần chuyển dịch cơcấu lao động (đặc biệt là khu vực nông thôn) và nâng cao chất lượng lao độngnông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn theo hướng hiện đại
- Mạng lưới cơ sở dạy nghề được phát triển rộng khắp trên toàn quốc:+Tổng số cơ sở dạy nghề năm 2008 là 2.126 cơ sở, trong đó trung tâmdạy nghề, trường TCN, CĐN là 1.017 cơ sở Số trường dạy nghề tăng khoảng2,0 lần (từ 155 trường dạy nghề năm 2001 lên 306 trường CĐN, TCN năm
2008, trong đó có: 92 trường CĐN, 214 trường TCN); trung tâm dạy nghềtăng 4,1 lần (từ 166 TTDN lên 684 TTDN) (Phụ lục 1)
Trang 40+ Đã xóa được tình trạng không có trường dạy nghề trên địa bàn ở 15tỉnh; không có trường dạy nghề của địa phương ở 27 tỉnh, không có trung tâmdạy nghề tại 40 tỉnh; phát triển cơ sở dạy nghề tư thục Đạt mục tiêu chiếnlược đề ra mỗi tỉnh có 01 trường dạy nghề.
+ Mạng lưới trường dạy nghề tư thục cũng được phát triển nhanh, gópphần xã hội hóa dạy nghề
Số trường dạy nghề tư thục tăng 7,5 lần, từ 10 trường năm 2001 lên 75trường năm 2008 Số lượng trung tâm dạy nghề tư thục tăng 4,16 lần, từ 60trung tâm dạy nghề năm 2001 lên 250 trung tâm dạy nghề năm 2008
+ Các cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài rất hạn chế, nhưng lạichủ yếu là cơ sở dạy nghề ngắn hạn, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề
+ Mạng lưới các trường, trung tâm dạy nghề đã được thành lập theoquy hoạch và được phân bổ ở tất cả các vùng miền, ở tất cả các loại hình cônglập, tư thục, doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc bước đầu đáp ứng được nhucầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng nhucầu học nghề để tìm việc làm và tự tạo việc làm, nâng cao thu nhập của ngườilao động
1.5.2.2.Mở rộng quy mô dạy nghề theo các trình độ đào tạo và điều chỉnh cơ cấu nghề đào tạo
- Quy mô tuyển sinh dạy nghề tăng 1,73 lần (năm 2001 dạy nghề cho887,3 ngàn người, đến năm 2008 là 1,538 triệu người), trong đó tuyển sinhdạy nghề trình độ TCN, CĐN tăng bình quân 18% năm, nâng tỷ lệ lao độngqua đào tạo nghề năm 2008 lên 26%, đạt mục tiêu chiến lược đề ra trước hainăm
Quy mô tuyển sinh dạy nghề trình độ trung cấp nghề và cao đẳng nghề(dạy nghề dài hạn) tặng 3,4 lần (từ 75,6 ngàn lên 258 ngàn); dạy nghề trình độ