Chính vì vậy đòi hỏi ngành GD- ĐT nước ta phải đổi mới phương pháp dạy học nhất là trong thời kì hiện nay: thời kì công nghiệp hóa — hiện đại hoá ở nước ta đang cần một đội ngũ những ngư
Trang 1ĐỎI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
KHOÁ LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp giảng dạy
Người hướng dẫn: Thạc sĩ Trần Thị Hường
HÀ NỘI - 2007
Lời cm ơn!
Trang 2Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô: Trần Thị Hường — giảng viên
bộ môn phương pháp giảng dạy khoa Sinh - KTNN đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, và các bạn khoa Sinh - KTNN trường ĐHSP Hà Nội II đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu đề hoàn thành đề tài này
Trang 3Tôi xin khang định đây là kết quá nghiên cứu của cá nhân tôi, đề tài
nghiên cứu này không trùng với công trình nghiên cứu của các tác giả khác
Trang 4PHAN 1: MO DAU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
5.2 Phương pháp điều tra cơ bản, quan sát sư phạm
6 Thời gian nghiên cứu
PHAN 2: TONG QUAN
1 Lịch sử nghiên cứu
1.1 Trên thế giới
1.2 Trong nước
2 Tình hình ra đề kiểm tra Sinh học ở các trường phổ thông
PHAN 3: NOI DUNG VA KET QUA NGHIEN CUU
CHƯƠNG 1: CO SO Li LUAN VA THUC TIEN
1 Cơ sở lí luận
1.1 Khái niệm kiểm tra
1.2 Khái niệm đánh giá
1.3 Quan hệ giữa kiêm tra và đánh giá
1.4 Vai trò của kiểm tra đánh giá
1.5 Các phương pháp kiểm tra đánh giá
1.6 Những yêu câu sư phạm của đề kiểm tra đánh giá
1.7 Kĩ năng ra đề kiểm tra đánh giá
1.8 Kĩ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan
1.9 Qui trình biên soạn đề kiểm tra đánh giá
2.Cơ sở thực tiễn
CHUONG 2: KET QUA NGHIÊN CUU VA THUC NGHIEM
1 Kết quả nghiên cứu
1.1 Đề kiểm tra 15 phút dùng cho kì I
1.2 Các đề kiểm tra giữa kì I
1.3 Đề thi học kì I
1.4 Các đề kiểm tra 15 phút đùng cho kì II
1.5 Các đề kiểm tra giữa kì II
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 7PHAN 1: MO DAU
1 Ly do chon dé tai
Chúng ta đang sống trong thời ki phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, cùng với sự phát triển đó là khối lượng tri thức ngày càng tăng, mâu thuẫn gay gắt với thời gian của tiết học Chính vì vậy đòi hỏi ngành GD-
ĐT nước ta phải đổi mới phương pháp dạy học nhất là trong thời kì hiện nay: thời kì công nghiệp hóa — hiện đại hoá ở nước ta đang cần một đội ngũ những
người lao động mới có tri thức, trí tuệ, năng động, sáng tạo, sẵn sảng thích ứng nhanh với những đòi hỏi của xã hội hiện đại
Đổi mới phương pháp dạy học: Chuyển từ phương pháp dạy học chủ yếu
“lấy giáo viên làm trung tâm” sang phương pháp tích cực “lấy học sinh làm trung tâm” , và đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là chỉ đổi mới
về phương pháp mà phải đổi mới tất cả thành tố của quá trình dạy học: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức, KTĐG Việc đối mới phương pháp phải được tiến hành đồng bộ trên cả 3 khâu: từ
khâu nghiên cứu tài liệu mới, củng cố hoàn thiện tri thức, đến khâu kiểm tra
đánh giá chất lượng lĩnh hội tri thức của học sinh Khâu nghiên cứu tài liệu mới là khâu quan trọng nhất quyết định đến chất lượng lĩnh hội tri thức của học sinh; củng cố hoàn thiện tri thức giúp học sinh ôn tập, hệ thống hoá kiến thức; khâu kiểm tra đánh giá sẽlàm sáng tỏ tình trạng nắm kiến thức, phát triển kĩ năng, kĩ xảo của học sinh, từ đó giúp học sinh rút ra được phương
pháp học, tự đánh giá được trình độ, năng lực của mình, đồng thời thông qua
KTĐG giáo viên có thể điều chỉnh phương pháp dạy học của mình sao cho phù hợp Như vậy, cùng với khâu nghiên cứu tài liệu mới, củng cố hoàn chỉnh
tri thức thì KTĐG cũng là một khâu quan trọng cần được đổi mới Hiệu quả
của việc kiểm tra đánh giá phụ thuộc rất nhiều vào qui trình biên soạn đề kiếm
tra Người giáo viên phải năm được mục tiêu của từng bài kiêm tra, ưu nhược
Trang 8điểm của từng loại hình KTĐG để có thể đưa ra được những để kiểm tra có chất lượng
Trong thực tế giảng dạy ở phổ thông hiện nay, việc KTĐG vẫn chưa được coi trọng đúng mức, một số giáo viên chưa thực sự đầu tư thời gian để
xây dựng các đề KTĐG và việc KTĐG chỉ là hình thức lấy điểm để xếp loại
học sinh, điều đó đã làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học
Mặt khác, từ trước đến nay chúng ta vẫn thưỡng sử dụng các hình thức
kiểm tra đành giá đó là: kiểm tra viết (tự luận) và kiểm tra vấn đáp (miệng)
Nhược điểm của các hình thức kiểm tra này là mất nhiều thời gian kiểm tra,
chấm bài, chưa đâm bảo tính khách quan, bài kiểm tra không thể hiện hết các kiến thức các em đã được học Để khắc phục được những nhược điểm trên, chúng ta lên đưa vào các đề kiểm tra phần tự đánh giá với các câu hỏi TNKQ
Hiện nay việc sử dụng các câu hỏi TNKQ trong KTĐG đang được ứng dụng rộng rãI cho ca dai học và phố thông
Nội dung chương trình Sinh học 10 (2006), các em chủ yếu được học về các kiến thức đại cương: đó là sinh học tế bào và sinh học VSV Những kiến thức này không chỉ là cơ sở để cho các em học tiếp phần sau mà còn là một
mảng kiến thức có trong các đề thi tuyển Chính vì vậy, việc ra đề kiểm tra để đánh giá chất lượng lĩnh hội tri thức của học sinh là một việc làm cần thiết và
có ý nghĩa quan trọng
Vì những lí do trên đây, tôi đã chọn đề tài: “Lựa chọn và xây dựng hệ
thống các đề kiểm tra đánh giá cho chương trình sách giáo khoa Sinh học 10 (2006) theo hướng đổi mới phương pháp dạy học”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Tập dượt phương pháp nghiên cứu khoa học
Trang 9- Tiếp cận với việc đối mới phương pháp dạy học Sinh học, đặc biệt là
quy trình và kĩ thuật ra đề KTĐG theo phương pháp truyền thống và đối mới
đánh giá kết quả học tập ở học sinh
- Xây dựng các đề kiểm tra theo hướng đổi mới khâu KTĐG
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích chương trình, SGK Sinh học 10: mục tiêu, nội dung, kế hoạch giảng dạy Sinh học 10
- Phân tích vai trò của các phương pháp kiêm tra đánh giá, kĩ thuật xây đựng đề kiểm tra đánh giá - làm cơ sở cho việc xây đựng hệ thống các đề
kiểm tra đánh giá theo hướng đổi mới phương pháp dạy học
- Thực nghiệm đề xác định tính kha thi của một số đề kiểm tra ở trường
THPT
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- SGK Sinh học 10 ban cơ bản
Đổi mới kỹ thuật biên soạn đề kiểm tra chính là cơ sở lí luận cho déi mới
phương pháp kiểm tra đánh giá có ý nghĩa tích cực đến quá trình dạy học
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Hi vọng sẽ là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên, cũng như giáo viên quan tâm đến khâu đổi mới kiểm tra đánh giá Sinh học 10
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Đọc các tài liệu lý thuyết có liên quan đến dé tai: các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác đối mới giáo dục, các tài liệu về lí luận dạy học
- Phân tích kế hoạch giảng dạy, mục tiêu, nội dung, trọng tâm của từng bài, của từng chương để xây dựng các đề kiểm tra cho phủ hợp với thời gian,
nội dung của bài, và với từng đối tượng học sinh
5.2 Phương pháp điều tra cơ bản, quan sát sư phạm
- Dự giờ, trao đổi kinh nghiệm với giáo viên bộ môn về kinh nghiệm
biên soạn đề kiểm tra theo hướng truyền thống và đôi mới
- Đọc tham khảo và phân tích một số đề kiểm tra Sinh học 10 ở các trường THPT để xác định tính khả thi và hiệu quả của đề kiểm tra
6 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9 năm 2006 đến tháng 5 năm 2007
PHAN 2: TONG QUAN
Trang 111 Lịch sử nghiên cứu
1.1 Trên thế giới
Ngay từ những năm đầu thế ki XX, các nhà trường mới đã xuất hiện ở
Anh với mục tiêu là phát triển năng lực, trí tuệ của học sinh Tiếp đó là ở
Pháp, ở Mỹ cũng lần lượt ra đời các nhà trường, các phương pháp dạy học nhằm đạt mục tiêu đó Kéo theo của việc đổi mới phương pháp dạy học là đối mới phương pháp thi tuyển Hình thức sử dụng các câu hỏi TNKQ được sử
dụng khá sớm ở các nước phương Tây Từ đầu thế kỉ XIX ở Hoa Kỳ người ta
đã dùng phương pháp này đề phát hiện năng khiếu, xu hướng nghề nghiệp của
học sinh Sang đầu thế ki XX, E.Thorndike là người đầu tiên đã dùng trắc
nghiệm như một phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức của học sinh Đến năm 1940, ở Hoa Kỳ đã có nhiều hệ thống trắc nghiệm dùng để đánh giá thành tích học tập của học sinh Năm 1963, ở Hoa
Kỳ đã có trên 2000 trắc nghiệm chuẩn
Năm 1963 xuất hiện công trình của Gerich dùng máy tính điện tử để xử
lý các kết quả trắc nghiệm trên diện rộng
Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Bối cảnh đó đã tạo nên những biến đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, nhân cách người học, phương pháp tổ chức hoạt động học và cả quy trình kiểm tra đánh giá Câu hỏi TNKQ đã, đang và sẽ được sử dụng rộng rài trên
thế giới
1.2 Trong nước
Từ xa xưa nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới muốn chọn được
những nhân tài phục vụ cho Tổ quốc người ta đã tô chức thi tuyển Như vậy kiểm tra đánh giá đã có từ lâu đời
Hiện nay việc kiểm tra đánh giá đã trở thành công việc thiết yếu trong
quá trình dạy học Bên cạnh các nhà khoa học nghiên cứu về các bộ môn khác
Trang 12thì với bộ môn Sinh học có thể kế đến một số tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Quang Vinh, Trần Doãn Bách, Trần Bá Hoành, Trần Kiên, các tác giả đã
nêu rõ khái niệm, vai trò của kiểm tra đánh giá một cách khá toàn diện
Hoà chung với xu hướng phát triển và đổi mới giáo dục trên quy mô toàn cầu, giáo dục Việt Nam đã nhanh chóng tiếp cận và đổi mới phương pháp dạy học trong đó có việc cái tiến ra đề KTĐG Tại các tỉnh phía Nam, trước ngày
giải phóng đã xuất bản những cuốn sách dùng riêng cho giáo viên để hướng
dẫn cụ thể việc dùng TNKQ trong nhà trường (Nguyễn Ngọc Đính, Lê Như Dục), trắc nghiệm trí thông minh của Lê Quang Liêm Những năm gần đây
trong lĩnh vực tâm lí học đã có những cuốn sách giới thiệu khá kĩ về TNKQ
(Trần Trọng Thuỷ) Một số nghiên cứu vận dụng TNKQ đề đánh giá mức độ
phát triển, trí tuệ, thăm dò năng khiếu nghề nghiệp của học sinh, sinh viên (Trần Bá Hoành, Trần Kiên), theo hướng đối mới việc kiểm tra đánh giá
Hiện nay TNKQ đã được đưa vào sử dụng trong các trường THCS, THPT và cả trong các kì thi tuyển sinh đại học
2 Tình hình ra đề kiểm tra Sinh học ở các trường phỗ thông
- Các câu hỏi trong đề kiểm tra chủ yếu là các câu hỏi tự luận
- Một số giáo viên phổ thông còn chưa có nhiều kinh nghiệm ra đề hoặc
ngại ra đề kết hợp giữa tự luận và TNKQ vì mắt nhiều thời gian, mất nhiều công sức
- Các đề kiểm tra được xây đựng và sử dụng theo quy trình biên soạn đổi mới chỉ được các Sở GD áp dụng trong các đợt kiểm tra chất lượng
PHAN 3: NOI DUNG VA KET QUA NGHIEN CUU
Trang 13CHƯƠNG 1: CO SO Li LUAN VA THUC TIEN
1 Cơ sở lí luận
1.1 Khái niệm kiểm tra
Kiểm tra trình độ kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh là một hoạt
động sư phạm đặc biệt nhằm phát hiện và nắm vững trình độ kiến thức của
học sinh, giúp cho giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy, giúp học sinh tự điều chỉnh, tự đánh giá trình độ nhận thức của mình Trong dạy học người ta phân biệt các hình thức kiểm tra sau:
1.1.1 Kiếm tra thường xuyên
Được thực hiện qua quan sát một cách có hệ thống hoạt động của lớp học nói chung, của mỗi học sinh nói riêng qua khâu ôn tập củng cố bài cũ,
tiếp thu bài mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
Kiểm tra thường xuyên giúp cho thầy kịp thời điều chỉnh cách đạy, trò
tự điều chỉnh cách học, tạo điều kiện vững chắc cho quá trình dạy học Trong
dạy học kiểm tra thường xuyên được thực hiện bằng kiểm tra miệng và kiểm tra I5 phút
1.1.2 Kiếm tra định kì
Được thực hiện sau khi học xong một chương lớn, một phần lớn của
chương trình hay một học kì
Kiểm tra định kì giúp cho giáo viên và học sinh nhìn lại kết quả đạy và
học sau những kì hạn nhất định Đánh giá trình độ học sinh nắm một khối lượng kiến thức, kĩ năng kĩ xảo tương đối lớn
1.1.3 Kiếm tra tổng kết
Được thực hiện ở cuối mỗi giáo trình, cuối năm học nhằm đánh giá kết quá chung, củng cỗ mở rộng chương trình toàn năm học của môn học, chuẩn
bị điều kiện để tiếp tục học năm sau
1.2 Khái niệm đánh giá
Trang 14Là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích các thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu
chuẩn đặt ra nhằm đề xuất những qui định thích hợp để cải thiện hiện trạng,
điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả của công việc Trong dạy học người ta phân biệt các loại hình đánh giá sau:
1.2.1 Đánh giá định hình và đánh giá tông kết
Được tiến hành trong quá trình dạy và học một nội dung nào đó nhằm
thu nhận thông tin phản hồi về kết quá học tập của HS về nội dung đó, dùng
làm cơ sở cho việc định hướng hoạt động dạy và học tiếp theo nhằm làm cho
các hoạt động này có hiệu quả hơn
Đánh giá tống kết được tiến hành khi kết thúc năm học, khoá học bằng
những kì thi nhằm đánh giá tông quát kết quả học tập đối chiếu với mục tiêu
đề ra
1.2.2 Đánh giá theo chuẩn và đánh giá theo tiêu chí
Đánh giá theo chuẩn: Nhằm so sánh kết quả học tập của một học sinh với các học sinh khác được học cùng một chương trình GD Nó cho phép sắp xếp kết quả học tập của học sinh theo thứ tự và phân loại
Đành giá theo tiêu chí: Nhằm xác định mức độ kết quả của học sinh theo mục tiêu GD, kết quả học tập của học sinh được so sánh với các mục tiêu
học tập được xác định trong các chương trình GD của các môn học Trong đó
nêu rõ những kiến thức, kĩ năng và thái đọ nào học sinh phải đạt được sau khi
học tập
1.3 Quan hệ giữa kiếm tra và đánh giá
Trong nhà trường, việc đánh giá kết quả học tập của HS được thực hiện
chủ yếu qua việc tổ chức kiểm tra, thi một cách có hệ thống theo qui định chặt
chẽ Nói cách khác kiểm tra là phương tiện và hình thức của đánh giá, vì thế
kiểm tra và đánh giá thường đi liền với nhau
Trang 15Thông thường kết quá làm bài kiểm tra kiến thức, kĩ năng kĩ xảo của
HS được ghi nhận bằng điểm số, điểm số là những kí hiệu gián tiếp trình độ
của mỗi HS về mặt định tính (giỏi, khá, trung bình, yếu, kém) và định hạng
(thứ bậc cao, thấp của mỗi học sinh trong học tập)
Nhưng điểm số không thể nói lên khả năng nhận thức của học sinh được chính xác, không thúc đây được HS bù đắp được kiến thức còn thiếu nếu không có sự đánh giá của GV Chỉ có thông qua các phương pháp kiêm tra GV mới đánh giá được thực chất trình độ nhận thức của HS
1.4 Vai trò của kiểm tra đánh giá
1.4.1 Đối với học sinh
Việc KTĐG, đòi hỏi HS phải tái hiện được các kiến thức đã học và xây dựng nó thành một hệ thống kiến thức hoàn chỉnh Chính vì vậy tạo điều kiện
cho các em hoạt động trí tuệ của mình như: tái hiện, ghi nhớ, khắc sâu, so
sánh, phân tích, hệ thống hoá kiến thức Đồng thời thông qua KTĐG cung
cấp thông tin ngược trong, giúp cho HS tự biết mình tiếp thu tri thức ra sao, từ
đó có thể tự điều chỉnh hoạt động học của mình Ngoài ra, việc KTĐG còn
giúp HS phát huy tinh thần học tập, có ý chí phân đấu vươn lên
1.4.2 Đối với giáo viên
KTDG giúp GV thu được những thông tin nhờ mối liên hệ ngược ngoài Nhờ KTĐG, GV nắm được năng lực, thực trạng học tập của HS, từ đó có biện
pháp để điều chỉnh hoạt động dạy và biện pháp GD HS, hướng dẫn các em tự điều chỉnh hoạt động của bản thân
1.5 Các phương pháp kiểm tra đánh giá
Có hai cách để phân chia các phương pháp kiểm tra:
- Xét về mục đích kiểm tra có thể phân biệt:
+ Kiếm tra củng cố: Kiểm tra những kiến thức vừa trình bày
+ Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra những kiến thức cũ đã được học
Trang 16+ Kiểm tra tổng kết: Kiểm tra những kiến thức cơ bản cần nắm vững cho mỗi bài, chương học, kì học
- Xét về hình thức trong thực tiễn dạy học, có thể phân biệt:
+ Kiểm tra miệng
+ Kiểm tra viết
+ Kiểm tra thực hành
Trong nội dung đề tài này, tôi chỉ nghiên cứu sâu vào cách phân chia thứ hai: Xét về hình thức trong thực tiễn dạy học
1.5.1 Kiếm tra miệng
Được áp dụng với hình thức kiểm tra thường xuyên Dùng khi kiếm tra
bài cũ, dạy học bài mới, củng cố cuối tiết học Kiểm tra miệng giúp GV đánh giá một cách sơ bộ mức độ nắm vững kiến thức của HS từ đó GV điều chỉnh
cách dạy trong cac bai tiếp sau
Trong một tiết học, thời gian kiểm tra miệng không nhiều, do đó GV phải hết sức lưu ý kỹ thuật sư phạm từ khâu chuẩn bị câu hỏi, công bố câu
hỏi, đến đánh giá câu trả lời của HS
- Về câu hỏi:
+ Phải có dung lượng vừa phải, sát với chương trình cũng như trình độ của HS
+ Câu hỏi phải chính xác, rõ ràng
+ GV phải chuẩn bị câu hỏi bổ sung đối với những HS giỏi và cả HS yếu
tương ứng với những câu hỏi gợi ý hoặc câu hỏi nâng cao
- Về công bố câu hỏi:
+ Sau khi công bố câu hỏi cần cho HS một thời gian ngắn đề chuẩn bị rồi mới gọi HS trả lời
+ Có sự sắp xếp từ trước câu hỏi phù hợp với từng đối tượng HS vì trong một lớp có cả HS giỏi và HS kém
Trang 17Ưu điểm của kiểm tra miệng:
- GV trực tiếp đối thoại với HS vì vậy đánh giá được chính xác mức độ
nắm vững kiến thức của HS
~ Tập cho HS cách diễn đạt hay phát biểu 1 van dé nào đó
~ Thúc đây HS học tập một cách thường xuyên
Nhược điểm:
Mắt nhiều thời gian, số HS kiếm tra được ít đôi khi không chủ động
được kế hoạch dự kiến
1.5.2 Kiếm tra viết:
Kiểm tra viết thường được tiến hành sau một số bài hoặc cuối mỗi
chương hoặc sau các chương và chung cho cả lớp Có thể kiểm tra 15 phút
không thông báo trước hoặc kiểm tra cả một tiết
Trong kiểm tra viết thường sử dụng hai loại câu hỏi là câu hỏi trắc
nghiệm tự luận (HS viết câu trả lời gồm nhiều dòng) và câu hỏi TNKQ (Với bốn đạng chính là: đúng sai, ghép đôi, loại điền khuyết thiếu và loại câu hỏi nhiều lựa chọn)
Việc chuẩn bị đề kiểm tra viết đòi hỏi GV phải có sự cân nhắc kỹ càng,
vừa phải nắm chắc yêu cầu, vừa phải tính đến thực tế dạy học Câu hỏi trong
đề phải vừa sức HS, số lượng câu hỏi phải phù hợp với thời gian
Về mặt chất lượng câu hỏi, người ta phân biệt hai loại chính:
- Câu hỏi có yêu cầu thấp: là câu hỏi chỉ cần nhớ và trình bày một
cách có hệ thống và chọn lọc
- _ Những câu hỏi có yêu cầu cao: là những câu hỏi cần có sự phân tích,
tổng hợp, khái quát hoá, vận dụng kiến thức
Chính vì vậy đề kiểm tra viết phải bao hàm cả câu hỏi khó và câu hỏi dễ,
có như vậy mới phân loại được HS ở các mức độ khác nhau: yếu, kém, trung
Trang 18bình, khá, giỏi Để đánh giá chính xác trình độ HS, GV cần xây dựng đáp án
và biểu điểm chính xác, chỉ tiết cho mỗi bài kiểm tra
Ưu điểm của kiểm tra viết:
- Kiểm tra được đồng loạt HS trong cả lớp với cùng bài kiếm tra sẽ
đánh giá chính xác vị trí của HS, năng lực nhận thức trong cả lớp,
đánh giá trình độ chung của lớp học
-_ Đề kiểm tra có thể đề cập đến nhiều vấn đề nhằm đánh giá HS ở nhiều mặt hơn so với kiểm tra miệng
-_ Qua bài viết GV có thể đánh giá sự phát triển ngôn ngữ, khả năng
diễn đạt bằng văn viết của HS
Nhược điểm:
- _ Chỉ kiểm tra được một số kiến thức mấu chốt
-_ Thời gian kiểm tra dài, chấm bài mất nhiều thời gian, đôi khi không
chính xác
1.5.3 Thực hành kiểm tra
Sử dụng thực hành trong khâu kiểm tra nhằm một mặt đánh giá mức độ
nắm vững kiến thức của HS Mặt khác, quan trọng hơn là kiểm tra kĩ năng kĩ xảo của các em trong các thao tác thí nghiệm, lắp ráp các dụng cụ, sử dụng các thiết bị, xử lý các số liệu qua quan sát và thực hiện Đó là những kỹ năng cần thiết của người nghiên cứu , người lao động trong tương lai
1.6 Những yêu cầu sư phạm của đề kiếm tra đánh giá
1.6.1 Những yêu cầu đối với việc kiểm tra đánh giá trình độ nhận thức
của học sinh
- Đảm bảo tính khách quan: Đó là sự phù hợp giữa kết quả thu được khi
tiến hành kiểm tra đánh giá trình độ với chất lượng thực tế việc lĩnh hội tri
thức, kĩ năng kĩ xảo của HS Việc kiểm tra đánh giá phải tiến hành một cách khách quan trên mỗi đối tượng
Trang 19- Đảm bảo tính toàn diện: thể hiện ở việc nhận xét đánh giá của mỗi GV,
phán ánh đầy đủ các mặt nhận thức của HS đó là: kiến thức, kỹ năng, thái độ
Thể hiện ở việc kiểm tra về số lượng, chất lượng tri thức Trong đó quan trọng nhất là chất lượng tri thức bởi nó là điều kiện để HS phát triển trí tuệ, năng
lực hoạt động, là nguồn gốc của động cơ học tập và hứng thú học tập
- Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống
Để phản ánh đúng thực trạng kết quả, muốn phát triển và điều chỉnh hoạt
động nhận thức, động cơ học tập, hứng thú học tập thì việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên và có hệ thống
- Đảm bảo tính phát triển: Lượng tri thức cũng như quá trình nhận thức
luôn vận động và phát triển Do đó việc KTĐG cũng phải có sự điều chỉnh sao cho phù hợp, tạo điều kiện phát huy động lực học tập, phát triển năng lực
nhận thức, năng lực hành động và hứng thú nhận thức của HS
- Đảm bảo tính cá biệt: Quá trình dạy học mang tính cá biệt, do đó việc
kiểm tra đánh giá HS cũng phải đảm bảo tính cá biệt của HS Việc kiểm tra
đánh giá phải được tiễn hành đối với từng HS và lấy kết quả thực, không lấy
thành tích chung của cả một lớp, một tổ thay cho kiểm tra đánh giá học sinh
- Đảm bảo tính công khai: Việc tổ chức, kiểm tra đánh giá phải tiến hành
công khai, kết quả phải được công bố công khai và kip thời đến HS, đến tập thể lớp giúp HS nhận ra sự tiến bộ của mình, động viên HS học tập, phát triển
năng lực tự đánh giá của HS
1.6.2 Những yêu cầu sư phạm của đề kiểm tra
Đề kiểm tra cần phải có những yêu cầu sau:
- _ Câu hỏi đưa ra phải rõ ràng, chính xác đề tránh dẫn đến hiểu sai hay
trả lời nhằm ở HS
- Dam bảo tính mục tiêu: Đó chính là những mục tiêu cụ thé đối với mỗi bài, mỗi chương, mỗi phần, mỗi lớp
Trang 20-_ Đảm bảo tính vừa sức: đề kiểm tra không được quá dễ, cũng không quá khó đối với HS
- Dam bao tính phân hoá: Đề đánh giá chính xác trình độ lĩnh hội kiến
thức của HS thì đề kiểm tra phải có sự phân hoá Trong đề kiểm tra cần có yêu cầu ở các mức độ khác nhau như mức độ hiểu biết, vận dụng
-_ Đảm bảo thời gian: Đề kiểm tra phải đảm bảo thời gian làm bài của
HS tránh quá thừa, hoặc quá thiếu thời gian làm bài
1.7 Kĩ năng ra đề kiểm tra đánh giá
Việc ra đề KTĐG chất lượng học sinh phụ thuộc vào thời gian kiểm tra Với kiểm tra miệng hoặc kiểm tra 15 phút cần phải đưa ra các câu hỏi ngắn
ngọn ,xúc tích, dễ hiểu còn kiểm tra 1 tiết, học kì phải tuân theo nguyên tắc
nhất định Dé ra đề kiếm tra, GV phải xác định được dạng câu hỏi mình ra
1.7.1 Các dạng câu hồi trong đề kiếm tra đánh giá
Trong các đề kiểm tra hiện nay thường sử dụng chủ yếu hai dạng câu hỏi:
- Trắc nghiệm tự luận (TNTL)
- Trắc nghiệm khách quan(TNKQ)
1.7.2 Sự tương đồng giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách
quan
- Đều có sự đo lường kết quả học tập của HS bằng điểm số
- Đều được sử dụng để khuyến khích HS học tập nhằm nâng cao sự hiểu biết tổ chức và phối hợp các ý tưởng , ứng dụng, kỹ thuật giải quyết vấn đề
- Giá trị của mỗi loại đều phụ thuộc vào tính khách quan và độ tin cậy 1.7.3 Sự phân biệt giữa TNTL và TNKQ
Trang 21
- Châm bài mất nhiều thời gian,
khó chính xác và thiếu khách quan
- Mat nhiều thời gian để tiến
hành kiểm tra trên diện rộng
- — Biên soạn không khó khăn và
tốn ít thời gian
- — Số lượng câu hỏi ít, nên chỉ
kiểm tra được một phần nhỏ kiến
thức và kĩ năng của HS, dễ gây tình
trạng học tủ, học lệch
- Có thể đánh giá được khả năng
diễn đạt ngôn ngữ và quá trình tư
duy của HS để đi đến câu trả lời
- GV phải tự chấm bài mà không
có phương tiện hiện đại hỗ trợ
- — Sự phân bố điểm trải trên một
phổ hẹp nên khó phân biệt rõ ràng
trình độ của HS
- = Hạn chế việc đánh giá khả
năng sáng tạo của HS
Châm bài nhanh, chính xác và
khách quan
Có thể tiến hành kiếm tra đánh giá
trên diện rộng trong thời gian ngắn Khó khăn và tốn nhiều thời gian
Số lượng câu hỏi nhiều nên kiểm
tra được một cách hệ thống và toàn
diện kiến thức, kĩ năng, tránh học
lệch, học tủ
Không hoặc khó đánh giá được khả năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ và quá trình tư duy của HS
Có thể sử đụng phương tiện hiện
đại để chấm bài và phân tích kết
quả kiểm tra
Sự phân bố điểm trải trên phổ rộng
nên có thể phân biệt rõ ràng trình
1.8 Kĩ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan
1.8.1 Dạng câu nhiều lựa chọn
- Cấu tạo: Câu hỏi gồm 2 phần: Phần dẫn và phần trả lời (lựa chọn)
+ Phần dẫn: Có thé là một câu hỏi hay một câu chưa hoàn chỉnh
Trang 22+ Phần lựa chọn: Gồm một số phương án để trả lời câu hỏi hay phần bỗ
sung cho câu được hoàn chỉnh, trong đó chỉ có một phương án đúng, phần còn
- Uudiém cia cau nhiéu lựa chọn:
+ Xác suất chọn được phương án đúng do ngẫu nhiên không cao
+ Chiếm nhiều chỗ trong giấy kiểm tra
+ Dễ nhắc nhau khi làm bài (trường hợp đề giống nhau)
- Phạm vi sử dụng:
+ Có thể sử dụng cho mọi loại hình KTĐG
+ Thích hợp cho việc đánh giá phân loại
- Lưuý khi viết câu hỏi nhiều lựa chọn:
+ Đối với phần dẫn:
e Phai có nội dung rõ ràng
e_ Tránh dùng phủ định, nếu dùng phải in đậm chữ không
e Nên viết dưới dạng một phần của câu, chỉ dùng câu hỏi khi muốn nhắn mạnh
+ Đối với phần lựa chọn:
Trang 23e Chỉ nên có từ 4-5 phương án lựa chọn trong đó có một phương án đúng
e Các phương án nhiễu phải có vẻ hợp lí và hấp dẫn
e Hạn chế dùng phương án “tất cả các câu trên đều đúng hoặc các câu trên đều sai”
e Sắp xếp các phương án lựa chọn theo thứ tự ngẫu nhiên, tránh thé hiện một ưu tiên nào đối với vị trí của phương án đúng
+ Đối với cả hai phần: Đảm bảo để phần dẫn và phần lựa chọn khi ghép lại phải thành một cấu trúc đúng ngữ pháp và chính tả
1.8.2 Dạng câu đúng sai
- Được trình bày đưới đạng một câu phát biêu, HS trả lời bằng cách lựa
chọn đúng hoặc sai
Ví dụ: Các câu sau là đúng hay sai? Nếu cho là đúng thì viết chữ Ð, còn
cho là sai thì viết chữ S vào mỗi ô trống
+ Xác xuất chọn được phương án đúng cao
+ Nếu dùng nhiều câu lấy từ SGK dễ khuyến khích HS học
vẹt
Trang 24- Pham vi sử dụng:
+ Dùng hạn chế, thích hợp cho kiểm tra vấn đáp nhanh
+ Thường sử dụng khi không tìm được đủ phương án nhiễu cho câu nhiều lựa chọn
- Lưu ý khi viết:
+ Không nên bố trí câu đúng theo một trật tự
+ Những câu phát biếu phải có tính đúng, sai chắc chắn
+ Không nên chép nguyên văn các câu trong SGK Mỗi câu
chỉ nên diễn tả một ý tưởng độc lập
+ Không nên bố trí các câu đúng bằng các câu sai
1.8.3 Dạng câu ghép đôi
Đây là một dạng câu hỏi đặc biệt của câu hỏi nhiều lựa chọn, người làm
bài phải chọn nội dung được trình bày ở cột phải sao cho thích hợp với nội
dung đựơc trình bày ở cột trai
Ví dụ: Ghép nội đung ở cột 2 phù hợp với nội dung ở cột 1 và ghi kết
quả vào cột 3
3.Lưới nội chất hạt | khác nhau 3-
4.Lưới nội chất trơn | C Thực hiện qua trình hô hấp 4-
D Đóng gói các sản phâm hay chất thái rồi tiết
ra ngoài nhờ các bóng nội bào bằng con đường xuất bảo
E Tham gia vào sự hình thành thoi phân bào
Trang 25
+ Dé tra lời thông qua việc loại trừ
+ Khó đánh giá mức độ tư duy ở trình độ cao
+ HS mất nhiều thì giờ làm bài vì cứ mỗi câu lại phải đọc lại
toàn bộ trong đó có cả những câu rõ ràng là không thích hợp
- Pham vi str dung:
+ Thích hợp cho các kiến thức về cấu tạo phù hợp với chức năng
+ Thích hợp với việc kiểm tra nhận thức kiến thức cơ bản sau khi học
xong một chương, một chủ đề
-_ Lưu ý khi viết: Thứ tự câu trả lời không lên khớp với câu hỏi, số nội
dung lựa chọn ở cột phải nhiều hơn số nội dung ở cột trái
1.8.4 Câu điền khuyết
Ở dạng câu hỏi này, câu dẫn có một vài chỗ trống để HS điền vào một từ
hay một cụm từ thích hợp Từ điền vào nên chọn những từ có ý nghĩa cao
nhất
Vi du: Chọn từ hoặc cụm từ phù hợp điền vào chỗ trống để hoàn chỉnh
các câu sau:
Enzim 1a m6t (1) duge tao ra trong cơ thê sống Nhờ enzim mà
các (2) cơ thể sống xảy ra rất nhanh trong điều kiện bình thường
Trang 26- Lưu ý khi viết:
+ Đảm bảo mỗi chỗ trống chỉ nên có một từ hoặc một cụm từ thường là
những khái niệm mẫu chốt của bài học
+ Tránh dùng những câu trích nguyên văn trong SGK
+ Khi biên soạn có thể cho trước từ cần điền
+ Mỗi câu chỉ nên có một đến hai chỗ trống, được bố trí ở giữa hay cuối câu Các khoảng trống nên có độ dài bằng nhau
1.8.5 Câu hỏi bằng hình vẽ
Dạng câu hỏi này yêu cầu HS chú thích một vài chỉ tiết để trống trên
hình vẽ đã cho hoặc sửa chữa một vài chỉ tiết trên đồ thị, biểu đồ, sơ đồ sao
cho đúng Loại này thích hợp cho việc kiểm tra kiến thức, cấu trúc, cơ chế thé
hiện bằng hình vẽ
Ví dụ: Hãy ghi chú thích cho số 1, 2, 3, 4 trong sơ đồ sau:
Trang 27Đáp án: 1.Màng ngoài; 2.Màng trong; 3.Mào; 4.Chat nền
Trong các loại câu hỏi TNKQ nêu trên thì dạng câu hỏi nhiều lựa chọn
đang được sử dụng phố biến trong việc xay dựng các đề KTĐG
1.9 Qui trình biên soạn đề kiếm tra đánh giá
Gồm 5 bước:
Bước 1: Xác định mục đích, yêu cầu của đề kiểm tra
Bước 2: Xác định các mục tiêu cần đo
Bước 3: Thiết lập ma trận 2 chiều
Bước 4: Thiết kế câu hỏi theo ma trận
Bước 5: Xây dựng đáp án, biểu điểm
Ví dụ: Ma trận thiết kế cho đề thi học kì I (đề 1)
Trang 28
lượng trong tế bào 0,75đ 0,25đ
Trong ma trận được thiết kế ở trên, điểm cho toàn bải và sự phân phối
điểm cho từng phần được tính như sau:
-_ Điểm toàn bài là 10 trong đó: trắc nghiệm chiếm 30% (3 điểm) và tự
luận chiếm 70% (7 điểm)
- _ Sự phân phối điểm cho từng phần tuân theo nguyên tắc:
+ Tỉ lệ thuận với thời gian dự định khi học sinh làm bài
+ Mỗi câu hỏi TNKQ trả lời đúng số điểm như nhau
2.Cơ sở thực tiễn
2.1 Thực trạng của việc kiểm tra đánh giá trong dạy học Sinh học hiện
nay
- Qua quan sát cũng như điều tra thông qua các GV chúng tôi nhận thấy
rằng: Đã có một số GV đánh giá đúng vai trò của KTĐG Tuy nhiên bên cạnh
mặt đã đạt được vẫn tổn tại mặt hạn chế:
+ Mặt đã đạt được:
e_ Câu hỏi rõ ràng, chính xác
e Câu hỏi bám sát mục tiêu bài học
e_ Câu hỏi sát nội dung
e_ Một số GV có câu hỏi phân hoá
se Một số GV đã đưa câu hỏi test vào đề kiểm tra
+ Mặt hạn chế:
e_ Câu hỏi yêu cầu trả lời quá dài
Trang 29e_ Một số GV chưa có câu hỏi phân hoá
e Đa số GV chưa chuẩn bị câu hỏi trong khi soạn giáo án, mà
thường sử dụng câu hỏi trong SGK
Như vậy tực trạng đáng buồn hiện nay là một bộ phận không nhỏ GV
chưa đánh giá đúng mức vai trò của KTĐG, coi nhẹ khâu chuẩn bị KTĐG, do
2.2 Xu hướng kiểm tra đánh giá hiện nay
Trước yêu cầu ngày càng cao của việc nâng cao chất lượng dạy và học thì việc KTĐG cũng cần đổi mới Lối kiểm tra truyền thống thầy kiểm tra trò phải được thay thế Trong phương pháp dạy học tích cực, GV cần phải phát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS, phải rèn luyện cho HS năng lực tự
đánh giá, khả năng tự học, tự nghiên cứu Điều mà rất cần thiết cho HS tiếp
tục học tập sau này
Đổi mới KTĐG không có nghĩa là phủ nhận vai trò của thay, GV van là
người giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học Qua đánh giá HS, GV điều chỉnh được cách dạy sao cho đạt hiệu quả cao Trong phương pháp tích cực
việc KTĐG không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức mà phải phát huy
tính sáng tạo, chủ động của HS Do vậy, trong đề kiểm tra cần phải có sự phối hợp giữa các câu hỏi tự luận với các câu hỏi TNKQ Nhờ đó mà GV
đánh giá được toàn bộ kiến thức đã học của HS, thu được thông tin ngược
một cách chính xác và nhanh chóng
Trang 30Với xu hướng đó thì GV cần biết vận dụng một số phương pháp hiện đại:
thiết kế các bài trắc nghiệm, sử dụng máy kiểm tra kiến thức, sử dụng phần mềm KTĐG trên máy vi tính
CHƯƠNG 2: KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM
1 Kết quả nghiên cứu
Sau khi nghiên cứu cơ sở lí luận, tôi đã xây dựng được hệ thống các đề
kiểm tra đùng cho chương trình Sinh học 10
1.1 Đề kiếm tra 15 phút dùng cho kì I
Đề 1: (Tiết 3- Các nguyên tố hoá học và nước)
Câu 1 (7 điểm): Trình bày vai trò của nước đối với tế bào Tại sao khi tìm
kiếm sự sống ở các hành tinh khác trong vũ trụ, các nhà khoa học trước
hết lại tìm xem ở đó có nước hay không?
Câu 2 (3 điểm): Hãy khoanh tròn vào các câu trả lời đúng
1 Thiếu iốt con người có thể bị mắc bệnh gì?
A: Bướu cô B: Não
C: Gan D: Ung thư
Trang 312 Các nguyên tô chủ yếu trong hợp chất hữu cơ xây dựng nên cấu trúc
tế bào là :
A: Cacbon, hidro, 6xi, canxi
B: Cacbon, hidro, 6xi, photpho
C: Cacbon, hidro, 6xi, nito
D: Cacbon, photpho, 6xi, canxi
3 Dựa vào tiêu chí nào đề phân biệt nguyên tố đa lượng và nguyên tố
A: Vai trò của nguyên tố đó trong té bao
B: Sự có hay không có nguyên tố đó trong tế bào
C: Mối quan hệ giữa các nguyên tổ trong tế bảo
D: Hàm lượng nguyên tố đó trong khối lượng chất sống
của cơ thể là lớn hơn hay nhỏ hơn 0,01%
Đà 2: (Tiết 5- Prôtê¡n)
Câu 1 (7 điểm): Phân biệt các bậc cấu trúc 1, 2, 3, 4 của các phân tử
Prôtê¡n
Câu 2 (3 điểm): Hãy khoanh tròn vào câu trả lời đúng
1 Tính đa dạng của phân tử Prôtêin được qui định bởi:
A: Nhóm Amm của các Axitamin
B: Nhóm R- của các Axitamin
C: Liên kết Peptit
D: Số lượng, thành phần và trật tự sắp xếp của các Axitamin trong phan tir Prétéin
2 Cấu trúc của phân tử Protéin có thể bị biến tính bởi:
A: Liên kết phân cực của các phân tử nước