1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đọc hiểu tuỳ bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) theo đặc trưng thể loại

70 3K 6
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 10,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao chất lượng giảng đạy tùy bút của Nguyễn Tuân trong nhà trường PT nói riêng và giảng dạy thê kí nói chung, tác giả bài viết muốn góp phần nhỏ bé vào quá trình tiếp cận văn bản

Trang 1

1.1 Việc giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường ngày càng được chú trọng hơn, đặc biệt là trong thời đại ngày nay, cùng với hai phân môn Tiếng Việt

và Làm văn, Ngữ văn được coi là môn chủ đạo, góp phần to lớn trong việc giáo dục và đào tao thé hé HS, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu của giáo dục nói riêng và của toàn xã hội nói chung trong quá trình phát triên

1.2 Thực tiễn dạy học Ngữ văn trong nhà trường PT hiện nay còn nhiều bất cập, chất lượng dạy học Ngữ văn ngày càng hạn chế Bên cạnh những HS yêu thích

học văn thì còn nhiều em cảm thấy học văn là một “cực hình” Nguyên nhân của

hiện tượng này là do nhiều phía, trong đó phương pháp dạy học là một trong những nguyên nhân cơ bán Giảng dạy Ngữ văn còn ảnh hưởng khá nặng nề của cách dạy văn theo truyền thống, chưa phát huy được năng lực văn của HS Để giải quyết, thay đổi hiện trạng này, các nhà nghiên cứu giáo dục đã tìm ra phương pháp dạy

học đổi mới, trong đó dạy học văn theo con đường đọc - hiểu là một được đưa lên

hàng đầu Theo con đường đọc-hiểu, HS sẽ phát huy được khả năng sáng tạo của mình, các em không chỉ được cung cấp những tri thức cụ thể của từng bài học mà còn được cung cấp những kiến thức về thể loại để có thể đọc - hiểu bất cứ một tác phẩm nào khác cùng thê loại mà mình đã được học

Trang 2

1.3 Tùy bút nói riêng và thể loại kí nói chung là thể loại văn học hấp dẫn và đầy lí thú, nhưng để hiểu được nó không phải là điều đễ dàng Để khắc phục những cách hiểu đơn giản về thể loại tùy bút, GV hướng dẫn cho HS đọc - hiểu tùy bút theo đặc trưng thể loại của nó

1.4 Nguyễn Tuân là một tác giả văn học - một nghệ sĩ tài hoa trong đòng

văn học Việt Nam hiện đại Con người và tác phẩm của Nguyễn Tuân đã khẳng

định một phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt Trong chương trình Ngữ văn lớp 12, tap I đã tuyển chọn tùy bút: “Người lái đò sông Đà” (trích đoạn) để giảng dạy Đây vẫn được coi là một văn bản khó giảng dạy đối với GV và khó tiếp thu với HS Để nâng cao chất lượng giảng đạy tùy bút của Nguyễn Tuân trong nhà trường PT nói riêng và giảng dạy thê kí nói chung, tác giả bài viết muốn góp phần

nhỏ bé vào quá trình tiếp cận văn bản theo đặc trưng loại thé

1.5 Là một sinh viên, một GV tương lai với đề tài nảy, người viết có cơ sở

kiến thức, bước đầu tiếp cận phương pháp dạy học mới và phương pháp nghiên cứu khoa học để phục vụ công tác chuyên môn ở trường PT sao cho đạt chất lượng

tốt nhất

Do là lí do người viết lựa chon và nghiên cứu đề tài: “Đọc — hiểu tùy bút: Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân) theo đặc trưng thể loại”

2 Lich sir van dé

Nghiên cứu về thể loại, về đọc - hiểu tác phẩm trong nhà trường và vấn đề tiếp nhận văn học là công việc không còn mới mẻ Đã có rất nhiều công trình

nghiên cứu đạt được nhiều thành tựu, tạo nền tảng cơ sở, mở ra nhiều con đường

tiếp nhận và giảng đạy

2.1 Các công trình nghiên cứu giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại: 2.1.1 GS.Nguyễn Thanh Hùng trong “Hiểu văn dạy Văn” đưa ra phương pháp giảng dạy theo đặc trưng thể loại Qua công trình này đã đưa ra đặc trưng của

Trang 3

thé loại trữ tình và một vài kết luận về phương pháp giảng dạy trữ tình theo đặc trưng thể loại

2.1.2 GS.Trần Thanh Đạm trong công trình “Mấy vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể”, trong đó đi sâu nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của thể ký Tác giả cũng chỉ ra những phương pháp giáng day kí nói chung và tùy bút, bút ký nói riêng theo đặc trưng thể loại cho phù hợp

2.1.3 Giáo trình “Lí luận văn học” của Đại học Tổng hợp do GS Hà Minh Đức (chủ biên) đưa ra các đặc trưng của thể loại kí và trong đó có chí ra các đặc trưng của thể loại tùy bút một cách chung nhất Theo GS Hà Minh Đức thì tùy bút

được xếp vào loại ký trữ tình bên cạnh kí tự sự và kí chính luận Tùy bút là thê loại

gần với bút kí

2.1.4 Một số bài viết khác xoay quanh thê loại tùy bút với nhà văn Nguyễn Tuân đều góp phần chỉ ra các đặc trưng độc đáo Riêng biệt của tùy bút Nguyễn Tuân như:

Bài viết của GS.Hà Văn Đức: “Tùy bút Nguyễn Tuân sau cách mạng tháng tám” (Một số đặc điểm thể loại) ° Tác giá bài viết đã đề cập đến thể loại tùy bút với một vài đặc điểm, qua đó góp phần hình thành và thê hiện những yếu tố trong phong cách của nhà văn Nguyễn Tuân

Bài viết của Vương Trí Nhàn: “Nguyễn Tuân và thể loại tub bút) “” đã nghiêng về việc đề cao thể tài tùy bút Bài viết cũng cho chúng ta biết: ở Việt Nam thời kì văn học Trung cô, tùy bút chưa được định hình là một thể loại mà phải đến

thé ki XX, trong van xudi hién dai, thé loai tùy bút mới được ra đời Và tac gia bai

viết cũng khẳng định sự đóng góp to lớn của nhà văn Nguyễn Tuân trong quá trình hình thành thể loại tùy bút

Bài viết của GS Nguyễn Đăng Mạnh: “7hể ứài tùy bút của Nguyễn Tuân ”, Œ? Giáo sư qua bài viết đã đưa ra cách hiểu về tùy bút, chỉ ra những đặc trưng cơ bản của tùy bút Nguyễn Tuân, qua đó thể hiện một phong cách độc đáo cùng sự

Trang 4

đóng góp của nhà văn

Bài viết của GS Phong Lê: “Nguyễn Tuân trong tùy bút? ?®_ Bài viết nhẫn mạnh đến cái tôi của Nguyễn Tuân trong tùy bút và sự thay đôi của tôi ấy qua hai giai đoạn: trước cách mạng và sau cách mạng

Ngoài ra còn nhiều bài viết khác về tùy bút “Sông Đà” như: “Nguyễn Tuân

và Sông Đà” của Nam Mộc : “Cảm tưởng đọc “Sông Đà” của nhà văn Nguyên NgọcPC”: “Đọc “Sông Đà” của Nguyễn Tuân” của Trương Chính tÐ_ Những bài viết trên đều tập trung thể hiện sự thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan của nhà văn Nguyễn Tuan sau cach mang, va khang định sự thành công, độ chín về nghệ thuật cũng như tư tưởng của nhà văn Nguyễn Tuân qua tùy bút “Sông Đà”

2.2 Vấn đề đọc — hiểu văn bản văn học rong nhà trường THPT được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu

2.2.1 Cuốn: “Phương pháp giảng dạy tác phẩm trong nhà trường phổ thông”của A Nhicônxki (Nga) đã chú ý đến hoạt động đọc, chú ý đến vị trí, vai trò của người HS trong nhà trường PT Trong cuốn này tác giả cũng chú ý đến “đọc diễn cảm”

2.2.2 “Giáo trình phương pháp luận dạy học”của la.Rex đã trình bày một cách có hệ thống các phương pháp, các biện pháp dạy học Trong cuốn này tác giả chú ý đến phương pháp “đọc sáng tạo”và coi đó là một phương pháp đặc biệt, phương pháp đặc thù nhằm phát triển cảm thụ nghệ thuật, hình thành những thê nghiệm nghệ thuật bằng những phương tiện nghệ thuật

2.2.3 “Dạy đọc — hiểu là tạo nền tảng văn hóa cho người đọc” của GS Nguyễn Thanh Hùng đã chỉ ra việc đọc — hiểu sẽ góp phần hình thành củng có và phát triển năng lực, nắm vững và sử dụng tiếng Việt một cách thành thao

Từ bình diện văn hóa Ấy, bài viết cũng xác định đọc là một năng lực văn hóa có ý

nghĩa cơ bản đối với sự phát triên nhân cách

2.2.4 “Đọc văn, học văn ”của GS Trần Đình Sử Ngay trong lời mở đầu, tác

Trang 5

giả cũng quan niệm rõ ràng về đọc — hiểu văn và xem đây như là công việc đầu tiên và cần có của quá trình học văn Đọc văn là đi tìm ý nghĩa của văn bản, ý nghĩa của thế giới và cuộc đời

2.2.5 “Dạy văn dạy cái hay cái đẹp” của GS Nguyễn Duy Bình nhắn mạnh:

“Nhiệm vụ then chốt trước hết của các GV văn đối với HS là giúp các em biết đọc tác phẩm, biết tái hiện hình tượng, nội dung chứa đựng trong tác phẩm để trên cơ

sở đó giúp các em biết phân tích cái hay, cái đẹp của nó

2.2.6 “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học”, GS Phan Trọng Luận đã phân tích rõ tầm quan trọng của hoạt động đọc, tức là đọc từ chữ đầu tiên đến chữ cuối,

đọc để âm vang, đọc để tri giác, cám giác được bằng mắt, bằng tai tất cả những hình ảnh, những chỉ tiết, những từ ngữ Và quan trọng hơn, đọc ở đây còn là quá trình tiếp cận văn học, từng bước xâm nhập vào nội dung, ý nghĩa của tác phẩm.Trong quá trình đọc, tác giả nhắn mạnh đến vai trò của liên tưởng, tưởng tượng

2.2.7 “Một số vấn đề đọc — hiểu văn bản Ngữ văn” của TS.Nguyễn Trọng

Hoàn đã đề cập đến vấn đề đọc — hiểu và những căn cứ cơ bản để cho việc đọc —

hiểu được thực hiện dễ dàng

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã khảo sát một cách có hệ

thống và đều nhấn mạnh tầm quan của việc đọc văn Đọc văn là bước đầu tiên, là nền tảng của việc học văn Muốn hiểu được văn bản, học được văn thì phải bắt đầu bằng việc đọc văn

2.3 Tiếp nhận văn học - những công trình nghiên cứu

Tiếp nhận văn học được nhìn nhận như một lý thuyết để đi vào cắt nghĩa, lý

giải tác phẩm văn học Bắt đầu từ thế ki XIX và phát triển mạnh vào thé ki XX với các tên tuổi của các nhà nghiên cứu phương Tây như: H.R.Dauxo, D Slentet (Đức), J.Nobika (Nga)

Ở nước ta người đầu tiên đưa vấn đề này vào trong nhà trường là GS Phan

Trang 6

Trọng Luận, với cuốn “Cảm thụ văn học và giảng dạy văn học” (xuất bản năm

1983) với công trình nghiên cứu này tác giá đã nêu ra những vấn đề cơ bản về cảm

thụ văn học và giảng dạy văn học trong nhà trường, tạo tiền đề cho việc vận dụng

những thành quả đạt được của lý thuyết tiếp nhận vào giảng dạy, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giảng đạy văn trong nhà trường Trong bộ giáo trình

“Phương pháp dạy học văn” (xuất bản năm 2004), GS Phan Trọng Luận cũng đưa ra năng lực tiếp nhận văn học song song với những năng lực sáng tạo văn học của bạn đọc Đến thập kỉ 90 của thế ki XX, vấn đề này được chú ý nhiều hơn với các công trình nghiên cứu của GS.TS.Nguyễn Thanh Hùng, PGS TS Ngyễn Thị Thanh Hương, TS Nguyễn Trọng Hoàn

Trong chuyên luận: “Đọc và tiếp nhận văn chương”, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng, tác giả đã đề cập đến những vấn đề cốt lõi của lý thuyết tiếp nhận văn học cũng như việc vận dụng những nội dung ấy vào dạy đọc tác phâm văn chương Trong chuyên luận “Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn chương ở trường phổ thông”, GS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương đã đề cập khá cụ thê vấn đề tiếp

nhận văn học cũng như vận dụng nó vào dạy học tác phẩm van hoc cu thé trong

nha truong

Cùng quan tâm đến vấn đề này, còn các nhà nghiên cứu khác như TS Nguyễn Trọng Hoàn trong: “Tiếp cận văn học”

Nói tóm lại, vấn đề tiếp nhận văn học đang được rất nhiều nhà nghiên cứu

quan tâm và nó đang mở ra những khả năng mới cho việc khám phá và dạy học tác phẩm văn chương ở trường PT

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm:

3.1 Củng cô và nâng cao hiểu biết về phương pháp đạy học Ngữ văn theo hướng đổi mới

3.2 Nắm được phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt của Nguyễn Tuân,

Trang 7

đặc điểm tùy bút của Nguyễn Tuân, từ đó tìm ra cách tiếp cận tùy bút phù hợp với

đặc trưng thê loại

3.3 Bồi dưỡng năng lực đọc — hiểu, cảm thụ tác phẩm, làm cơ sơ cần thiết cho giáng đạy sau này ở trường phố thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết tập trung vào những nhiệm

vụ cơ bản sau:

4.1 Tìm hiểu lý thuyết tiếp nhận, lý thuyết đọc - hiểu

4.2 Nghiên cứu đặc trưng của thể loại tùy bút và đặc trưng riêng của tùy bút

Nguyễn Tuân

4.3 Vận dụng vào quá trình đọc — hiểu tùy bút Nguyễn Tuân qua đoạn trích:

“Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân (SGK Ngữ văn I2, tập I, Nxb Giáo dục

— 2008

5 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc trưng thê loại tùy bút qua tùy bút “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn

Tuân)

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Dé tài nghiên cứu trong phạm vi của thê loại tùy bút

Khảo sát qua đoạn trích được học trong chương trình THPT

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp phân tích

6.2 Phương pháp so sánh

6.3 Phương pháp thống kê

6.4 Phương pháp thực nghệm

7 Đóng góp của khoá luận

Khoá luận góp một phần nhỏ vào việc rèn luyện các thao tác, các bước

Trang 8

đọc - hiểu trong quá trình giảng dạy thể loại tuỳ bút ở nhà trường THPT Qua đó góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn học trong trường nhà trường PT

8 Cấu trúc của khóa luận

Khóa luận gồm 3 phần:

Phần mở đầu

Phần nội dung bao gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn

Chương 2: Những đặc điểm tùy bút Nguyễn Tuân và đọc — hiểu tùy bút:

“Người lái đò sông Đà” theo đặc trưng thể loại

Chương 3: Thực nghiệm giáo án

Trang 9

tư, tiềm tàng một khả năng phát triển Các em luôn chịu sự tác động của môi

trường xung quanh Trong môi trường mà các em tồn tại đó có rất nhiều tác động

từ nhiều hướng khác nhau ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của các em Nhưng đồng thời các em với những năng lực tự nhiên vốn có, cũng luôn có sự đánh giá, nhận xét các hiện tượng, các mối quan hệ trong xã hội theo những chuân mực của bản thân Các em luôn mở rộng mọi giác quan đê tiếp xúc và lĩnh hội kinh nghiệm, học tập xung quanh mình cái hay, cái tốt Tuy nhiên hoạt động nhận thức

đó muốn đạt được hiệu quả cao thì phải có sự tổ chức bài bản và chặt chẽ của

người lớn, nhất là trong hoạt động Sư phạm

Trong rất nhiều yếu tố tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển và hoàn thiện

nhân cách của HS, giáo dục được coi là nhân tố quan trọng nhất Có thê nói, chỉ trong hoạt động giáo dục các em mới được phát triển một cách toàn diện, không

chỉ ở mặt tâm lí mà còn cả ở mặt trí lực, thé luc

Lửa tuổi HS Trung học phô thông - tuôi thanh niên (từ 14,15 đến 18 tuổi) là giai đoạn phát triển, bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi trưởng

thành về mặt thé luc, nhưng sự phát triển còn kém so với sự phát triển của người

lớn Tuổi thanh niên bắt đầu thời kì phát triển ôn định về mặt sinh lí, sự phát triển

hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp

và chức năng của não phát triển Tri giác có mục đích đã đạt đến mức cao Quan sát trở nên có mục đích và hệ thống, toàn diện hơn Tuy vậy, quan sát của thanh niên — HS cũng khó có hiệu qủa nếu thiếu sự chỉ đạo của GV GV can quan tam dé

hướng các em vào một nhiệm vụ nhất định, không vội vàng kết luận khi chưa tích lũy đủ mọi sự kiện

Ở tuổi thanh niên — HS ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một gia tăng rõ rệt Các em biết sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ: tóm tắt các

ý chính, so sánh đối chiếu, đặc biệt các em đã tạo được tâm thế trong ghi

Trang 10

nhớ Nhưng một số em còn ghi nhớ chung chung, cũng có khi các em đánh giá thấp việc ôn tập tải liệu

Các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng

tạo những đối tượng quen biết đã được học hoặc chưa quen biết, chưa được học ở

trường Tư đuy của các em đã chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Những điều kiện đó tạo cho HS thực hiện các thao tác tư duy phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng

và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội

Trong quá trình giáo dục nói chung cũng như trong hoạt động hướng dẫn HS đọc — hiểu văn bản nói riêng, GV phải biết tổ chức, hướng dẫn HS căn cứ vào đặc

điểm tâm sinh lí cuả các em để các em có thể phat trién đồng bộ, toàn diện tất cả

những khả năng tâm lí

1.1.1.2 Lí luận dạy học hiện đại

Quan niệm dạy học truyền thống với tất cả bề dày kiến thức và kinh nghiệm phong phú của nó Còn nhiều hạn chế: Chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của HS Mô hình tiêu biểu của quan niệm đó là: Thầy giáng - trò nghe, thầy đọc - trò chép Trong hoạt động dạy học thầy luôn là người giữ vai trò trung tâm, HS chỉ

là nhân vật thụ động qua sự truyền đạt của GV mà nắm kiến thức chứ chưa chủ động tích cực trong việc tìm ra tri thức từ tác phẩm văn học Mối quan hệ chính

trong cách đạy học truyền thống là mối quan hệ thầy - trò HS không được đặt trong quan hệ với tác phẩm văn học, với tri thức trong tác phẩm nên HS không phát huy được khả năng vốn có của mình

Với những hạn chế trên, đổi mới phương pháp dạy học là một nhu cầu tất yếu và đó là cơ sở cho sự ra đời của phương pháp day học hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường

Lí luận dạy học hiện đại đã chỉ rõ: Phương pháp dạy học tích cực ở trạng thái động, lay HS làm trung tâm HS tự tìm ra kiến thức dưới sự hướng dẫn, tổ chức

Trang 11

của người GV Chúng ta thấy mô hình dạy học hiện đại là: tri thức, năng lực — thầy giáo — học sinh Theo cơ chế này, GV và HS đều là những người bình đẳng trước tác phẩm văn học Thầy giáo có thé tiếp nhận tác phẩm văn học và HS cũng vậy

Nhưng do kinh nghiệm của HS còn hạn chế, cho nên việc tìm ra tri và năng lực

trong tác phẩm còn gặp nhiều khó khăn Do đó, thầy giáo là người hỗ trợ, giúp đỡ

HS khám phá tác phẩm Mối quan hệ chính trong cơ chế này là mối quan hệ giữa

tri thức, năng lực của dân tộc và nhân loại kết tỉnh trong sản phẩm văn với HS

Trong mối quan hệ này, HS là người tự khám phá ra tri thức, tự chuyên tri thức vào trong bản thân mình Với cách dạy mới này, GV chỉ giữ vai trò là người hướng

dẫn, điều khiển mọi hoạt động của HS

Trong hoạt động học hiện đại, hình thức đối thoại được sử dụng cao HS

được đối thoại với nhiều đối tượng (trò với thầy, trò với trò, trò với tác phẩm văn học) Trong đó có sự hợp tác với các bạn trong lớp học được quan tâm chú ý Với phương pháp dạy học này giúp cho HS biết cách học và giải quyết vấn đề, tự tìm ra

tri thức, tự đánh giá sửa sai, tự điều chỉnh hay nói một cách khác HS có điều kiện

phát huy tích cực hoạt động của mình

Lí luận đạy học hiện đại đặt van dé doc — hiểu văn bản lên hàng đầu Đó cũng là tư tưởng sâu sắc của cách dạy học hiện đại HS phải đọc - hiểu văn bản để chiếm lĩnh văn bản từ hình thức ngôn ngữ đến nội dung tư tưởng Có thể nói không bắt đầu bằng hoạt động đọc hiểu thì HS không thể hiểu được văn bản

Trang 12

văn học là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn

học, bat dau ti sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm

hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ của tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc:

cách hiểu, ấn tượng, trí nhớ, ảnh hưởng, trong hoạt động sáng tạo, bản dịch,

chuyển thể ”

Trong chuyên luận “Đọc và tiếp nhận văn chương”, GS TS Nguyễn Thanh

Hùng quan niệm: “7 iép nhận văn học là quả trình đem lại cho người đọc sự hưởng

thụ và hướng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cô và phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tỉnh thần và năng lực xúc cảm của con người trước đời sống ”

Bàn về vấn đề này, PGS TS Nguyễn Thị Thanh Hương cũng khẳng định:

“Tiếp nhận văn học là một quá trình" và “Quá trình tiếp nhận là một quá trình tâm

lí phức tạp vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan”

Như vậy có thể hiểu một cách chung nhất, tiếp nhận văn học chính là quá

trình người đọc hòa mình vào tác phâm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn từ, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hóa và bằng cả tâm hồn mình, người đọc khám phá ý nghĩa của từng câu chữ, cảm nhận sức sống của từng hình ảnh, hình tượng nhân

vật Dõi theo diễn biến của câu chuyện, làm cho tác phẩm từ một văn bản khô khan

biến thành một thé giới sống động đầy cuốn hút

1.1.2.2 Bản chất của tiếp nhận văn học

Thực chất của tiếp nhận văn học chính là một cuộc giao tiếp ngầm diễn ra

giữa nhà văn và người đọc, người đọc ở vào một tâm trạng đặc biệt vừa quên mình

vừa nhập tâm, vừa sống và thể nghiệm nội dung của tác phẩm Có thể xem tiếp nhận văn học là quá trình tác động thẳm mỹ mà ở đó người đọc tiếp nối, tham gia

vào mục đích sáng tạo của nhà văn, hiện thực hóa ý đồ nghệ thuật của nhà văn qua

Trang 13

sự đồng điệu và nhân lên cảm xúc, qua sự lay thức tâm hồn và mở ra những hiểu

biết mới mẻ về cuộc đời Dưới sự ảnh hưởng tích cực của hình tượng văn học, quá

trình tiếp nhận, hướng con người vào quy luật vận động của cái đẹp và sự kiến tạo thế giới tinh thần phong phú, đa dạng

1.1.2.3 Bạn đọc với vấn đề tiếp nhận

Cũng như bắt cứ một loại hình nghệ thuật nào, trong đời sống văn học luôn

có môi quan hệ qua lại giữa sáng tạo, truyền bá và tiếp nhận Nếu tác giả là người sáng tạo tác phẩm văn học và tác phẩm là phương tiện truyền bá thì người đọc là chu thé tiếp nhận văn học Không có người đọc, không có công chúng thì những cố găng của tác giả, mọi giá trị của tác phẩm cũng trở nên vô nghĩa

Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của văn học, tác giả, tác phẩm là điểm xuất phát, sự tiếp nhận, bạn đọc là điểm kết thúc của sự tiếp nhận văn học Như

vậy người đọc giữ vai trò hoàn thành quá trình sáng tạo tác phâm văn chương Người sáng tạo và nhà lí luận coi người đọc là người đồng sáng tạo Những giá trị của bất kì một tác phẩm văn học nào được khám phá, được phát hiện đều là nhờ

vào người đọc Người đọc cảm thụ tác phẩm, thấy được cái hay, cái đẹp của tác

phẩm và có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại hay loại trừ của tác phẩm Tóm lại, người đọc có vai trò rất quan trọng trong quá trình tiếp nhận, quyết định sự tồn tại tác phẩm văn học

Trong sự giao tiếp giữa tác phẩm với độc giả, tính cá thể hóa, chủ động, tích cực là đặc điểm đầu tiên của người tiếp nhận Ở đây năng lực, thị hiếu thâm mỹ, sở thích cái nhân giữ vai trò rất quan trọng Tùy theo bạn đọc khác nhau mà có sự tiếp

nhận tác phẩm khác nhau Điều này còn phụ thuộc vào: lứa tuôi, trình độ học vấn,

kinh nghiệm sống, nghề nghiệp, địa vị xã hội, .thậm chí cùng một người nhưng lúc nhỏ đọc tác phẩm ấy đánh giá khác, sau lớn lên đánh giá khác, lúc về già đánh giá khác

Tính đa dạng, không đồng nhất cũng là một đặc điểm nổi bật trong sự giao

Trang 14

tiếp của người đọc với tác phẩm Theo GS Phan Trọng Luận thì tính đa dạng

không đồng nhất trong tiếp nhận được gọi là hiện tượng thị sai trong cảm thụ văn học Tức là ở những chủ thể cảm thụ, tiếp nhận khác nhau trước một hiện tượng

văn học Đọc “Truyện Kiều”của Nguyễn Du, người thấy ở Thúy Kiều tắm gương hiểu nghĩa, người coi nàng như biểu tượng cho thân phận đau khổ của người phụ

nữ, .Sở dĩ có hiện tượng ấy bởi lẽ:

Thứ nhất do bản thân tác phẩm: nội dung tác phẩm càng phong phú, hình tượng nghệ thuật càng phức tạp, ngôn từ càng đa nghĩa bao nhiêu thì sự tiếp nhận

từ người đọc về tác phẩm càng lắm hình nhiều vẻ bấy nhiêu

Thứ hai là do chủ thể tiếp nhận: tuổi tác, kinh nghiệm sống, học van, hay tam trạng người đọc tác động đến quá trình tiếp nhận Cùng đọc tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, trẻ em thì thích thú và chú ý đến trận giao chiến của

ông lão và con sông Đà hung bạo Còn người lớn, người có học vấn, ở một trình độ

cao hơn thì không chỉ thấy điều đó mà còn cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn từ

nghệ thuật

Hay vẫn là bài thơ: “Thơ duyên ” của Xuân Diệu nhưng khi vui đọc khác,

khi buồn đọc khác, khi đang yêu đọc lại khác Dù cách hiểu có khác nhau nhưng người đọc luôn có gắng nỗ lực đề hiểu được đích thực giá trị của tác phẩm Sự gặp

gỡ, đồng điệu hay tiếng nói tri âm trong tiếp nhận không phải là không có nhưng

để có sự đồng điệu hoàn toàn thì đó là điều không dễ Nói như nhà nho Cao Bá Quát: “Xưa nay, nỗi khổ của con người ta không gì bằng chữ tình, mà cái khó ở đời không gì bằng sự gặp gỗ”

Bạn đọc và tác phẩm văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ không thê tách

rời Người nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm luôn hướng đến nhu cầu của bạn đọc Công chúng sẽ là môi trường thẩm định giá trị tác phẩm văn học một cách tin cậy nhất

Tiếp nhận văn học diễn ra mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh Trong quá trình tiếp

nhận người đọc sẽ gặp phải những khó khăn, những khó khăn đó chính là những

Trang 15

khoảng cách thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học Khoảng cách về ngôn ngữ, tâm lý

và lịch sử Tồn tại những khoảng cách trên là một điều không thể tránh khỏi vì bất

cứ một tác phẩm văn học nào khi ra đời cũng có hoàn cảnh của nó Hoàn cảnh rộng hay hẹp đều ảnh hưởng đến quá trình sản sinh tác phẩm của người nghệ sĩ sáng tạo Vượt qua những khoảng cách trên, người đọc mới tiếp nhận tác phẩm đúng hướng

và toàn diện nhất Những khoảng cách trong tiếp nhận văn học có thê tiếp nhận bằng nhiều cách khác nhau song không thể không nhắc đến con đường hữu hiệu

nhất là đọc - hiểu theo đặc trưng thể loại

1.1.3 Vấn đề đọc — hiểu

1.1.3.1 Khái niệm đọc - hiểu

Theo Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, quyền “Giáo dục”: “Đọc là một

quá trình hoạt động tâm lý nhằm tiếp nhận ý nghĩa từ ký hiệu ngôn ngữ được in hay viết ”

Đọc tác phẩm văn học không chỉ là một hoạt động nhận thức nội dung tủ

tưởng văn bản mà còn là một họa động trực quan sinh động, giàu cảm xúc, có tính trực giác và khái quát trong sự nếm trải của con người

Theo GS Nguyễn Thanh Hùng: Đọc văn thực chất là giải quyết vấn đề tương quan của ba tầng cấu trúc: câu trúc ngôn ngữ, cấu trúc hình tượng, và cầu trúc ý nghĩa thẩm mỹ Hay nói cách khác, đọc văn chương tức là bóc tách từng bậc

ý nghĩa tác phẩm để đi tìm ý nghĩa nghệ thuật ân dấu đằng sau tác phẩm

“Đọc” có nhiều quan niệm khác nhau, có thể hiểu một cách chung nhất: đọc tác phẩm văn học vốn là hoạt động đặc thù của nhận thức văn học, hoạt động tinh thần cao cấp, hoạt động sáng tạo Khi đọc, người đọc và tác giả luôn diễn ra một

cuộc giao tiếp ngầm, thông qua văn bản Qua quá trình tiếp nhận ấy, khoảng cách

giữa bạn đọc và nhà văn rút ngắn lại, bạn đọc được coi là người đồng sáng tạo với nhà văn Đọc văn thê hiện năng lực hiểu mình, hiểu văn hóa và hiểu thế gidi Hiéu như vậy, thì đọc là một hoạt động văn hóa có tầm nhân loại và có ý nghĩa giáo dục

Trang 16

sâu sắc Đọc gan liền với hiểu, bởi vì mục đích cuối cùng của đọc là để hiểu

“Hiểu” là một khái niệm có nội dung rất rộng, theo M.Bakhtin trong sách

“Con người trong thế giới ngôn từ”, “hiểu” trong đọc - hiểu bao gồm nhiều hành động gắn liền với nhau Đó là các hoạt động:

1 Cam thu: (tiếp nhận) kí hiệu vật chất (màu sắc, con chữ )

2_ Nhận ra: kí hiệu quen hay lạ, hiểu ý nghĩa của nó được lặp lại trong ngôn

ngữ

3 Hiểu ý nghĩa: của nó trong ngữ cảnh

4_ Đối thoại với ý nghĩa đó (tán thành, phản đối), trong nhận thức bao gồm

cả sự đánh giá về chiều sâu và chiều rộng

Bản chất tâm lí của sự hiểu là biến cái của người khác thành “cái vừa của mình — vừa của người khác” Hiểu bao giờ cũng là sự “tự hiểu” nghĩa là biến cái tự hiểu thành kiến thức, quan điểm, niềm tin, của mình Với ý nghĩa đó “hiểu” còn là

“sáng tạo” Nó là sự bừng sáng trong khoảnh khắc (giác ngộ, bừng ngộ) sau khi đã nghiền ngẫm, là sự phát hiện cái ý nghĩa không có sẵn giữa các dòng văn và diễn

đạt bằng lời của người đọc Như thế đọc luôn gắn liền với nhiều mức độ hiểu, do

vậy “hiểu không bao giờ giản đơn chỉ là hiểu nghĩa”

1.1.3.2 Đọc — hiểu, một con đường tiếp nhận tác phẩm văn học

Theo lí luận dạy học hiện đại, đọc — hiểu văn bản được đặt lên hàng đầu trở

thành một phương pháp, một tri thức công cụ của dạy học Ngữ văn

Phương pháp đọc — hiểu là phương pháp hướng dẫn HS đọc văn, phát hiện ý nghĩa trong ngữ cảnh

Theo GS Nguyễn Thanh Hùng — người được coi là tác giá của lý thuyết đọc

— hiểu thì đọc — hiểu gồm bốn mức độ: đọc thông, đọc thuộc; đọc kĩ, đọc sâu; đọc

hiểu, đọc diễn cảm; đọc sáng tạo, đọc ứng dụng Theo GS Nguyễn Khắc Phi thì đọc — hiểu gồm 3 mức độ: đọc trong dòng: hiểu ngôn từ của văn bán; đọc trên

dòng: đọc được ý nghĩa khái quát và hiểu được nó; đọc ngoài dòng: đọc được

Trang 17

hình tượng, hiểu được điều tác giá muốn gửi gắm qua tác phẩm hay nói cách khác

là hiểu được ý ngoài lời

Đọc — hiểu với các cấp độ trên, không chỉ là hoạt động thông thường mà đã trở thành năng lực văn hóa, năng lực văn của mỗi người Nó là một hoạt động phân tích và tổng hợp phức tạp, được truyền đạt thông qua nội dung ý trong từ và câu,

dé diễn tả mối quan hệ khác nhau những ý nghĩa được sắp xếp trong kí hiệu ngôn ngữ, như sự phân tích ý nghĩa sâu xa trong văn bản mà người đọc phải tái tạo lại

đủ, hiểu đúng thông tin giao tiếp

Tóm lại, đọc — hiểu với những tiền đề lý thuyết ngày càng phát triển và trở thành một phương pháp, một con đường đặc trưng dé tiếp nhận tác phâm văn học 1.1.3.3 Vai trò, chức năng của đọc — hiểu

Trong dạy học hiện nay, kết hợp với quan niệm dạy học lấy HS làm trung tâm hướng tới quá trình tự vận động bên trong của chủ thê HS thì đọc - hiểu ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng

Trong quá trình tiếp cận tác phẩm văn học, chúng ta không chỉ dừng lại ở bề ngoài lớp vỏ ngôn từ mà còn phải đi tìm những tầng ý nghĩa 4n trong từng câu chữ,

để nhận thấy tư tưởng, tình cảm mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc Người

đọc bắt buộc phải thực hiện hoạt động đọc để chiếm lĩnh văn bản Do vậy đọc — hiểu vừa là một phương tiện để nghiên cứu, vừa là một đòi hỏi bắt buộc để tìm hiểu văn bản văn học

Thông qua hoạt động đọc — hiểu HS sẽ có nhu cầu nhận được thêm kinh

nghiệm, hiểu biết về đời sống xã hội Dần dần tích lũy kiến thức để hiểu văn hiệu đời, hiểu người và tự hoàn thiện nhân cách của mình

Hoạt động đọc — hiểu là cách thức hướng dẫn HS đọc văn, phát hiện ra ý

nghĩa trong ngữ cảnh HS tự chủ động tìm ra tri thức của văn bản dưới sự hướng dẫn của GV Đọc — hiểu bắt buộc cả GV và HS phải làm việc thực sự để lĩnh hội

tác phẩm Dạy đọc — hiểu sẽ tránh được lối học vẹt trong nhà trường PT Tức là

Trang 18

không phải đọc văn bản một cách vô hồn mà phải đọc văn bản ở nhiều cấp độ khác

nhau Qua đó HS sẽ ghi nhớ bài học một cách sâu sắc hơn, từ đó phát huy óc sáng tạo, trí trởng tượng phong phú cho các em Từ việc đọc hiểu văn bản ở trong nhà

trường, các em sẽ tự trang bị cho mình những kĩ năng đọc — hiểu bất kì một văn

bản nào khác trong thực tiễn

Đọc - hiểu muốn đạt được kết quả cao thì phải có sự hỗ trợ của, định hướng của GV GV là người khơi gợi, dẫn dắt các em đọc — hiểu văn bản một cách dễ dang hon HS tìm ra tri thức, GV phải biết cách uốn nắn tổng kết, chắt lọc kiến

thức để phù hợp với yêu cầu của bài học Dạy điều mà HS đã biết sẽ dé gay tâm lí chán nản, mệt mỏi, làm giảm đi hừng thú của các em Những chỗ khó hiểu GV phái tạo ra tình huống có vẫn đề, gợi mở, hướng dẫn dé từ đó HS tìm tòi, suy nghĩ tìm lời giải đáp

Nói tóm lại, đọc — hiểu là một trong những cách thức quan trọng, cần thiết và ngày càng được chú trọng trong dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT Có thể

nói đọc — hiểu là con đường hữu hiệu nhất nhằm nâng cao chất lượng của việc dạy

học Ngữ văn trường nhà trường

1.1.4 Thể loại tùy bút

Bắt kì một tác phẩn văn học nào cũng đều được sáng tác theo một phương

pháp sáng tác, một kiểu sáng tác và theo một thể loại nhất định Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định

trong quá trình phát triển của lịch sử văn học Các tác phâm được coi là cùng thé loại khi chúng giống nhau về cách thức tổ chức tác phâm, đặc điểm các loại hiện tượng đời sống được miều tả và tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với hiện tượng đời sống

1.1.4.1 Khái niệm về tùy bút

Từ điển thuật ngữ văn học Liên Xô trước đây cho rằng: “Tùy búứ (essai- tiếng Pháp) là tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ và có cầu trúc tự do, biểu thị những ấn

Trang 19

tượng và suy nghĩ cá nhân về những sự việc, những vấn đề cụ thể và hoàn toàn không tính tới việc đưa ra cách giải quyết có định và đây đủ về đối tượng ”

Trong một số cuốn từ điển khác, người ta còn nói rõ thêm: “Được gọi là tùy bút, là những tác phẩm mà ở đó nổi lên trên bình diện thứ nhất, những phẩm chất riêng, cốt cách riêng của tác giả Chỉ những người muốn làm rõ cái giọng điệu độc đáo của riêng mình, những người thích tự biểu hiện, tự phân tích, đồng thời những bút pháp vừa giàu chất hình tượng, vừa có khả năng viết chặt chẽ như châm ngôn những người đó mới đi vào tùy bút”

Nhìn chung những quan điểm trên đều có sự giống nhau là đề cập đến tính chất chủ quan của tùy bút Có thể nói không có tính chất chủ quan thì không ra tùy bút Nhưng dù là chủ quan thì người nghệ sĩ cũng luôn phải bắt nguồn từ cái khách quan của cuộc đời để xây dựng lên cái chủ quan trong trang văn của mình Đó là quy luật phản ánh của văn học

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” “: “7y bứt là một lọaj hình kí, rất gần

với bút kí, kí sự ”

Nói như GS Nguyễn Đăng Mạnh thì tùy bút được hiểu là “phóng bút tùy bút

mà viết chứ sao! Nhưng chính vì thế mà khó Vậy thì còn có thể nói gì về quy tắc

thể loại của nó nữa „00,

Trong dòng văn học Việt Nam, Nguyễn Tuân được coi là người viết tùy bút nhiều nhất, cũng từng định nghĩa tùy bút một cách dí dỏm: “Tùy bứ¿ là từy theo bút, theo cảm hứng?

Tom lại, có thể hiểu một cách chung nhất, tùy bút là thê loại có lối viét trong

đối tự do, phóng khoáng Người viết tùy bút thường mượn cớ thuật lại một sự kiện,

một mẫu chuyện nào đó mà mình có trải qua để nhân đấy nêu lên những vấn đề

khác mà bàn bạc, nghị luận, triết lí và nói ra những suy tưởng của mình một cách

thoải mái, phóng túng Nhà văn tùy theo ngọn bút mà đưa đây, có thể đi từ việc này sang việc khác, từ liên tưởng này sang liên tưởng khác, để bộc lộ những suy

Trang 20

nghĩ và cảm xúc của mình về đối tượng được phản ánh

Tùy bút là một thê loại khó viết Người viết tùy bút phải có bản lĩnh, riêng với cách cảm nghĩ, độc đáo về cuộc đời Vì thế đến với thể loại này có rất nhiều cây bút nhưng không phải nhà văn nào cũng đạt được những thành công

1.1.4.2 Đặc điểm cơ bản của thể loại tùy bút

Tùy bút là một thể tài nhỏ nằm trong loại kí, vì vậy nó ngoài những đặc trưng riêng thì nó còn mang những đặc trưng chung của loại hình kí: Tôn trọng sự

thực khách quan trong việc phản ánh sự vật, hiện tượng; nhân vật trần thuật trong

tùy bút thường chính là tác giả Tác giả đóng vai nhân vật “tôi” để kế lại câu chuyện của mình Tuy vậy nó cũng mang những đặc trưng riêng biệt, độc đáo

* Tùy bút là thể loại giàu chất trữ tình

Nói đến chất “trữ tình” chúng ta thường nghĩ đến đặc trưng của thể loại thơ ca Nhưng tính chất trữ tình ấy có thể bắt gặp trong tùy bút Bởi khi viết tùy bút, nhà văn vừa phản ánh sự vật khách quan, vừa phát biểu những cảm xúc chú quan của mình

Chat trữ tình là một nét nỗi bật của tùy bút Qua việc ghi chép những con

người thực, và sự việc cụ thể có thực, tác giả đặc biệt chú trọng đến việc bộc lộ

cảm xúc, suy tưởng và nhận thức, đánh giá của mình về con người và về cuộc sống

hiện tại Nếu kí tự sự nghiêng về phần chính luận, nhà văn thường đặt ra nhiều vấn

đề giới thuyết bình luận, chứng minh thì trong kí trữ tình nghiêng về phần ghi nhận cảm xúc và suy nghĩ chủ quan của nhà văn trước những sự kiện của đời sống khách quan Có thể nói tùy bút là thê tiêu biểu nhất trong kí trữ tình bên cạnh bút kí

Chất trữ tình của tùy bút được thể hiện ở việc tác giả được phép trực tiếp bộc

lộ cảm nghĩ chủ quan của mình thông qua cái “tôi” chủ quan mà phản ánh hiện thực Do tính chất trữ tình này mà người ta có thể nói viết tùy bút không nhằm thông tin sự thực mà thông tin tâm trạng Trong tùy bút, sự thật chỉ là cái cớ để chủ thể bộc lộ nội tâm Chỉ một tiếng dân ca nghe văng vắng trong đêm khuya mà

Trang 21

người chiến sĩ trong đêm trước sáng mai ra trận trong thiên tùy bút nổi tiếng

“Đường chúng ta đi” của Nguyễn Trung Thành đã bộc lộ nhiều suy nghĩ da diết

và cháy bỏng, một niềm tin về những lẽ sống lớn của dân tộc Hay trong tùy bút

“Séng Đà ” của Nguyễn Tuân, chúng ta luôn thấy một cái “tôi” tràn ngập cảm xúc hân hoan, vui sướng như muốn hát vang lên bài ca, ca ngợi công cuộc xây dựng

A13

mảnh đất Tây Bắc giàu tiềm năng Cái “tôi” đó lúc có lúc hòa nhập vào một nhân vật nào đấy trong hành trình khám phá Song người đọc vẫn nhận ra đó là tác giả

đã hòa mình vào nhân vật để bày tỏ tâm tư, tình cảm của mình

Có thể nói chất trữ tình là đặc điểm nổi bật, quan trọng nhất của tùy bút

Chất trữ tình đậm nhạt và cách thức thể hiện như thế nào lại phụ thuộc vào từng nhà tùy bút cụ thể Nhưng một điều cần phải thấy rõ rằng đây là đặc trưng bao quát quán xuyến, chi phối tất cả những đặc điểm còn lại của tùy bút

* Tuỳ bút là thể có nhiều yếu tố chính luận và suy tướng triết lí

Là một thể nằm trong kí, tùy bút phải mang những đặc điểm chung của thể kí như: Tính xác thực về nội dung miêu tả, tính ngắn gọn súc tích về hình thức diễn

đạt, tư tưởng phải nổi rõ, kết cấu phải minh bạch và một số đặc trưng có tính chất

đặc thù như: yếu tô chính luận, chất suy tưởng và triết lí

Chat chính luận thông thường được hiểu là việc người viết đặt ra các van dé,

giới thiệu, bình luận, chứng minh về vấn đề đó Chất chính luận thường thể hiện lập trường, thái độ của người viết Người viết có thể phê phán, đồng tình hay không đồng tình nhưng thái độ, lập trường ấy được thê hện một cách trực tiếp, rõ ràng

Trong tùy bút, chất chính luận thể hiện ở việc tác giả đóng vai nhân vật

Ass

“tôi” trong tác phâm hoặc qua nhân vật có những nhận xét, bình giá, bàn luận, về

một vấn đề của hiện thực khách quan mà tác giả chọn làm điểm tựa cho dòng suy

tưởng của mình Những nhận xét, bình giá, bàn luận ở đây mang nhiều yếu tổ chủ quan của tác giả nhưng nó luôn thê hiện thái độ, tư tưởng rõ ràng

Trang 22

Trong tùy bút chất suy tưởng và triết lí cũng được thê hiện rất rõ, nó cũng bắt nguồn từ cái “tôi” đóng vai tác giả trong cảm hứng suy nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng Sự liên tưởng phong phú dựa trên kinh nghiệm sống dày dạn và sự từng trải, trải nghiệm cuộc sống mà đúc kết thành những triết lí sâu sắc Có thể triết lí đó phù hợp hay không phù hợp còn tùy thuộc vào những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống

Trong tùy bút “Đường chúng ta đi” của Nguyễn Trung Thành, mỗi câu văn

là một sự liên tưởng đến những sự kiện có thật đã xảy ra ở miền Nam Tác giả nói

đến Chợ Được,Vĩnh Trinh, Hướng Điền, Ngân Sơn .mỗi cái tên ay chứa đựng cả

một giai đoạn lịch sử đẫm máu mà để quốc Mĩ đã gây nên

Cảm hứng vui tươi phấn khởi trong tùy bút “Sông Đà” của Nguyễn Tuân cũng mang nhiều suy tưởng quay ngược về quá khứ để nhìn lại lịch sử của một vùng đất đã từng bị sự thống trị của bọn để quốc thực dân Và đứng trong hiện tại, nhà văn cũng suy tưởng đến một tương lai tươi đẹp của mảnh đất Tây Bắc, Tổ quốc Việt Nam Cùng với sự suy tưởng ấy là những câu văn mang đậm tính triết lí Khi tác giả chứng kiến cảnh chia tay của những con người lên Tây Bắc xây dựng vùng đất mới “bỏ một thói quen, kế cả thói quen đối với làng gốc gác của mình để

mà ra đi, nó rất giăng xé rất là phiền phức” ” Tác giả đã hiểu nét tâm lí đó của những con người nhiệt tình, ca ngợi cái mới, những con người biết vượt qua sự giằng xé để làm nên cái mới Nhà văn đã triết lí: “Có những sự chia tay rất là tat yếu trong đời sống tiễn lên” “” Rồi khi đã gắn bó, nhiều phen “sống chết” với mảnh đất Tây Bắc, nhà văn cũng có những câu văn triết lí về qué huong “Co thé nói một cách khác rằng những người ích kỉ cũng là người không có quê hương Tôi cho rằng chỗ nào mà mình có nhiều cảm xúc trước thực tế mà mình có góp phần xây dựng, chỗ nào mình gắn bó với vận mệnh nơi đó, nhân dân và tập thể nơi đó yêu thương mình, thì nơi đấy là quê hương của mình”

Nói tóm lại, chất suy tưởng và triết lí là một đặc trưng của tùy bút Nếu

Trang 23

không có chất suy tưởng thì tùy bút sẽ mất đi phần nào tính phong phú trong nội dung phản ánh Chất triết lí trong tùy bút làm cho câu văn trở nên sâu sắc và ý vị hơn Người đọc có thể tham kháo thêm những bài học về cuộc đời ấn chứa trong

đó

* Cấu trúc của tùy bút rất tự do, không bị ràng buộc bởi cốt truyện nhưng không bị lan man mà vẫn theo một mạch cảm hứng nhất định, thể hiện tư tưởng của tác giả

Như đã nói tùy bút là một thể loại có lối viết tương đối tự đo, phóng khoáng

Mặc dù nằm trong thể loại kí, một loại văn tự sự nhưng nó không có cốt truyện,

hoặc nếu có thì cũng rất tản mạn, rời rạc Bởi vì đó là những trang viết theo dòng

suy tưởng, tưởng tượng của tác giả Trong tùy bút cái “tôi” đóng vai trò là tác giả

bộc lộ cảm xúc, mạch văn được trôi chảy theo dòng tâm trạng của nhà văn nên

người đọc thấy nó như bài thơ văn xuôi đài Trong đó tac gia sir dung liên tưởng, tưởng tượng đề dẫn dắt độc gia di rat xa trong không gian và thời gian kết hợp với

việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật động đáo, sáng tạo, những hình ảnh, liên hệ

bất ngờ, giàu chất thơ Trong tùy bút, nhà văn thường kết hợp xen kẽ việc miêu tả

đối tượng khách quan với việc bộc lộ cảm xúc chủ quan Sự kiện khách quan trong

tùy bút thường không được trình bày liên tục do sự phát triển xen kẽ những cảm xúc chủ quan Đang ở sự kiện này, chỉ tiết này, nhà văn lại liên tưởng sang nhiều

sự kiện khác Hoặc nhìn sự vật ở nhiều điểm nhìn khác nhau để phục vụ cho dòng

suy tưởng Tuy vậy, nhưng dù tác giả có đưa bạn đọc đi đâu, xa bao nhiêu theo dòng suy tưởng thì những vấn đề, nội dung phản ánh trong tùy bút vẫn heo một

cảm hứng chủ đạo, vẫn thé hiện được tư tưởng của nhà văn trong đó

* Ngôn ngữ của tùy bút giàu hình ảnh và chất thơ

Đây là một đặc trưng thuộc hình thức của tùy bút Đặc trưng này góp phần quan trọng trong việc thể hiện tính chất trữ tình của của tùy bút Ngôn ngữ của tùy

bút trau chuốt, giàu hình ảnh và mang đậm chất thơ Đó là sự sáng tạo tài hoa của

Trang 24

người viết tù bút dựa trên cơ sở biết tận dụng kho ngôn ngữ dân tộc vốn đã mang màu sắc gợi hình, gợi âm thanh Cho nên trong tùy bút, người đọc được thưởng thức những câu văn đẹp như những câu thơ trữ tình mềm mại Nguyễn Tuân là một nhà nghệ sĩ tiêu biểu cho việc sáng tạo ra những câu văn ấy Khi nhà văn miêu tả cái đáng nằm của con sông Đà: “Sông Đà tuôn dài tuôn dài nhì một ảng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuỗn cuộn mù khói Mèo đốt nương xuân” 2 _ Hay trong những câu văn mang hình ánh của sự liên tưởng trong một thế giới của âm nhạc, vũ đạo tác động mạnh mẽ tới người đọc với những hình ảnh gây ám ảnh khôn nguôi về một quá khứ buồn bã ra đi cùng với văn hóa xòe của đồng bào người Thái trên Tây Bắc: “Ngoài sân múa xòe kia, tiếng thác sông Đà vẫn xô đá ào ào Và trong đêm tiệc, máu động trinh cứ rỏ theo bước đi của đôi chân khiêu vũ, cô gái xòe cứ giẫm lên máu mình mà múa, rồi máu tươi ấy khô dân một đồng trên cuộc đời đã biến thành một cái đệm, lớp máu đêm sau đóng vấy lên lớp máu đêm đâu và cứ thế cử

thé”,

Ngôn ngữ giàu hình anh và chất thơ của tùy bút được thể hiện rất khác nhau

ở những cây bút khác nhau Có thể nói ngôn ngữ giàu hình ảnh và chất thơ là yếu

tố tạo nên nét gợi cảm của tùy bút

1.2 Cơ sơ thực tiễn

Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo thê loại đã được đặt ra từ lâu Song việc áp dụng vào giảng đạy còn đè đặt và thưa thớt Ở trường PT, GV chủ yếu vẫn còn coi trọng phương pháp giảng dạy theo truyền thống, chưa cập nhật được phương pháp dạy học theo hướng đôi mới

Cùng với các thê loại văn học khác, tùy bút từ lâu đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường PT Phần lớn GV vẫn giảng dạy tùy bút như một tác phẩm truyện ngắn Đi phân tích nhân vật, cốt truyện, chủ đề tác phẩm Tức là căn cứ vào các đặc điểm của truyện ngắn để giảng dạy một tác phẩm tùy bút Phương pháp dạy

Trang 25

chủ yêu là thuyết giáng, bình phẩm Nguyên nhân chủ yếu của việc giảng đạy như trên là do người GV nhằm lẫn giữa thẻ loại tùy bút với thể loại tự sự Phần lớn GV không chú ý đến các đặc điểm riêng biệt của thể loại tùy bút Tùy bút cũng là một

thể tài thuộc loại văn xuôi nhưng nó là một loại ký trữ tình, ngoài đặc điểm chung

của văn xuôi thì nó còn có những đặc trưng riêng biệt Không đi phân tích tùy bút theo đặc trưng của nó, bài giảng của GV trở nên khô khan, máy móc GV không đi vào trọng tâm mà đễ đi vào lan man, thuyết giảng theo cảm hứng

Cùng với việc giảng dạy tùy bút như trên, HS khi cũng hạn chế trong việc tiếp nhận các tác phẩm tùy bút Chủ yếu HS nắm hình tượng và nội dung tác phẩm

một cách sơ lược, HS chưa thấy được cái hay, cái đẹp của tác phẩm được viết theo thé loại tùy bút Và quan trọng hơn là HS chưa năm được các đặc trưng của thé loại tùy bút, mặc dù đã được học nó Với cách học này, HS sẽ cảm thấy lúng túng,

không biết cách đọc — hiểu một tác phẩm tùy bút khác ngoài những bài đã được

GV hướng dẫn trong SGK

Thực trạng dạy và tùy bút cũng như những thể loại khác như trên sẽ làm giảm chất lượng giảng dạy tùy bút nói riêng và các thê loại khác nói chung Đề giờ dạy tác phẩm tùy bút có hiệu quả, nâng cao được khả năng truyền đạt và tiếp thu của HS thì đổi mới phương pháp dạy học là điều tất yêu Các nhà giáo dục học, nghiên cứu đã tìm ra phương pháp dạy học phù hợp, mang lại hiệu quả giáo dục cao đó là: dạy tác phâm văn chương theo đặc trưng thể loại HS không chỉ được cung cấp những tri thức cụ thể về tác phẩm mà còn biết cách khám phá, chiếm lĩnh các tác phẩm văn học Những kiến thức về đặc trưng thê loại sẽ là công cụ để các

em khám phá, tìm tòi những tác phâm văn học khác ngoài chương trình trong nhà

trường HS sẽ có thể đọc hiểu bất cứ một tác phẩm văn học nào theo đặc trưng của thể loại mà mình đã được học Điều đó sẽ tạo nên một tâm lí hứng thú, say mê, óc

sáng tạo đối với việc học Ngữ văn ở nhà trường

Có thể nói đọc — hiểu văn học theo đặc trưng thé loại chính là con đường đặc

Trang 26

thù để tiếp nhận tác phẩm trong nhà trường nói riêng và ngoài cuộc sống nói chung

Chương 2:

NHỮNG ĐẶC DIEM TUỲ BÚT NGUYÊN TUAN

VÀ ĐỌC- HIỂU TUỲ BÚT “NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ”

THEO ĐẶC TRƯNG THÊ LOẠI

2.1 Những đặc điểm tùy bút Nguyễn Tuân

Hiện nay, trong bất cứ một cuốn từ điển thuật ngữ văn học nào, khi nói đến

thể loại tùy bút người ta không thể không nhắc đến Nguyễn Tuân Điều đó đã trở

thành một quy luật, một sự tự nhiên phù hợp với lịch sử Bởi vì lần đầu tiên trong

lịch sử văn học đân tộc, Nguyễn Tuân là nhà văn đã bắt tay vào làm công việc

“khai sơn phá thạch” cho một thé tài mà trước mình không có và khi nó đã được

định hình rồi thì ai cũng cảm thấy nó không thể thiếu trong đội hình các thể loại

văn học.

Trang 27

Trên văn đàn văn học không thiếu nhà văn văn viết tùy bút song để trở

thành một nhà tùy bút, để tạo ra cho mình một sự nghiệp văn chương đáng để đời

thì có lẽ chỉ có Nguyễn Tuân Trong lịch sử văn học dân tộc, có thể nói chưa có ai vượt qua Nguyễn Tuân về tài năng trong thể loại này Có thể nói Nguyễn Tuân là nhà văn của thê loại tùy bút Nói như nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn:

“Trước sau Nguyễn Tuân sống chết với thể loại tùy bút”

Tùy bút do tính chất tự do phóng khoáng của nó nên mỗi cây bút lại có màu sắc riêng Tùy bút của Nguyễn Tuân là sản phẩm tinh thần của chính nhà văn nên nó cũng mang những nét riêng độc đáo

2.1.1 Tùy bút Nguyễn Tuân có nhiều yếu tố truyện

Xét riêng về mặt thê loại, quá trình sáng tác của Nguyễn Tuân là quá trình đi

từ truyện ngắn đến tùy bút

Trước cách mạng tháng tám, ông viết cả hai loại, nhưng chủ yếu là truyện ngắn Các tác phâm truyện ngắn chủ yếu được tập hợp trong tập “Vang bóng một thời” - một tác phẩm thê hiện cái nhìn của nhà văn hướng về vẻ dep trong quá khứ, với cảm hứng chung là đi tìm vẻ đẹp một thời vàng son đã mắt

Sau Cách mạng tháng tám, ông viết truyện ít hơn.Từ khoảng năm 1960 trở lại đây, tùy bút dường như là thể duy nhất của ông Những tuỳ bút nổi tiếng sau cách mạng như: “Đường vui”, “Tình chiến dịch”, và đặc biệt là tùy bút “Sông Đà” gồm mười lăm thiên tùy bút và một bài thơ ở đạng phác thảo ca ngợi mánh đất Tây Bắc giàu đẹp, đang chuyển mình trên con đường xây dựng cuộc sông mới; tùy bút “Hà Nội ta đánh Mỹ giới”, một cuỗn phim quay lại cận cảnh cuộc chiến đầu của nhân dân Hà Nội anh hùng chống lại đế quốc Mỹ

Khi đọc truyện ngắn, truyện đài của nguyễn Tuân, người đọc thường thấy pha chất tùy bút, ngược lại khi đọc tùy bút của ông người ta lại thấy có pha chất truyện Nghĩa là có đùng nhiều đến tưởng tượng đề dựng cảnh, dựng truyện và mô

tả tâm lý, khắc họa tính cách nhân vật đến một chừng mực nào đây.

Trang 28

Nhiều nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Tuân sử dụng đại từ nhân xưng

ngôi thứ nhất “tôi”, thậm chí một vài nhân vật khác mặc dù có tên cụ thể nhưng

thực chất vẫn mang hình bóng chủ quan của tác giả Tùy bút của Nguyễn Tuân không chỉ trình bày những cảm xúc, suy nghĩ chủ quan mà trong một chừng mực

nhất định ông còn mô tả tâm lí nhân vật, khắc họa tính cách nhân vật, tạo nên

những cốt truyện đơn giản

Ở đây người ta thấy có sự xâm nhập của yếu tô truyện trong tác phẩm của Nguyễn Tuân Ranh giới giữa các thể loại có phần bị xoá nhoà Trong tác phẩm

%Chiếc lư đồng mắt cua”, người đọc có thê nhận thấy sự đan xen của nhiều cốt truyện cùng một lúc: chuyện kể về cuộc sống buông thả của nhân vật “tôi” trong

xóm cô đầu, bên bàn đèn thuốc phiện; chuyện ông Thông phu, một chủ nhà hát lịch lãm, tài hoa; chuyện về lai lịch chiếc lư đồng mắt cua, đôi nét về cuộc đời của cô

đào Tâm- một con hát có giọng ca say mà đằm thắm Trong những câu chuyện trên, ít nhiều Nguyễn Tuân đã khắc hoạ được chân dung, tính cách nhân vật Chẳng hạn như tính cách của ông Thông Phu, một con người tài hoa, tài tử, vượt lên trên những ràng buộc của dư luận xã hội để được sống theo đúng ý thích, sở nguyện của mình Hoặc cô đào Tâm sống trong cảnh trụy lạc song vẫn kiêu hãnh, không chịu lệ thuộc vào ai và luôn tin vào khả năng của mình Cũng có những tác phẩm, Nguyễn Tuân ghi rõ là truyện dài hay truyện ngắn, nhưng kết cấu của chúng vẫn nghiêng về tuỳ bút hơn là những thê loại tự sự khác Chẳng hạn như “Thiếu quê hương” chủ yếu là bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ chủ quan của nhà văn, còn cốt

truyện thì lỏng lẻo, tính cách của nhân vật không được chú ý khắc hoạ rõ nét

Như vậy, yếu tô truyện luôn đan xen và ít nhiều có mặt trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân Sự có mặt của nó làm tăng thêm tính khách quan và hấp dẫn cho những trang văn

2.1.2 Tùy bút của Nguyễn Tuân mang đậm chất ký, ghi chép sự thật, thông tin thời sự chính xác, tỉ mỉ

Trang 29

Tuỳ bút của Nguyễn Tuân mang đậm chất kí, ghi chép thời sự, thông tin chính xác Nó là một thê tài nằm trong kí Cho nên ít nhiều nó phải mang đặc điểm chung của thê loại kí Một trong những đặc trưng cơ bản của thể loại ký là tôn trọng sự thật khách quan và tính xác thực của đời sống Tuỳ bút của Nguyễn Tuân

có đặc điểm này là một điều tất yếu Nhưng điều đáng nói là trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân người ta thấy nó mang đậm chất kí, những sự việc sự vật mà Nguyễn

Tuân nói đến luôn được tìm hiểu cặn kẽ tỉ mí “đến chân tơ kẽ tóc” Tuỳ bút của Nguyễn Tuân người ta thấy pha chất du kí, kí sự, phóng sự điều tra

Nguyễn Tuân trước khi là một nhà tuỳ bút thì ông đã là một nhà báo, một thông tin viên, ông cũng đã viết nhiều du kí, phóng sự đặc sắc Khi đến với tuỳ bút,

nó đã có ít ảnh hưởng của kinh nghiệm nghề nghiệp Nhưng lí do quyết định có lẽ

là do con người, tính cách của Nguyễn Tuân Nguyến Tuân là một con người ham

xê dịch, mà ông đã nâng lên thành hẳn một chủ nghĩa xê dịch trong văn chương

của ông Chính vì ham đi nhiều quan sát nhiều, tìm hiểu nhiều mà Nguyễn Tuân trở thành con người có hiểu biết rộng, có tri thức chính xác về nhiều sự việc, vùng đất mà ông quan tâm

Nhiều bài tuỳ bút của Nguyễn Tuân cung cấp cho người đọc những kiến thức đa dạng, nhiều mặt về cả lịch sử, địa lí, địa chất, hội hoạ, âm nhạc Sự hiểu

biết sâu sắc cặn kẽ của Nguyễn Tuân về một sự vật, hiện tượng nào đó nhiều lúc

đưa lại cho người đọc những trang viết đầy hấp dẫn thú vị Khi nhà văn kể câu chuyện về loài ong làm mật một cách tỉ mi đến từng con số, khiến người đọc không khỏi ngạc nhiên, giật mình sửng sốt: “Cới giọt mật mà con ong làm ra đó là kết quả của 2.700.000 chuyến bay và trong nửa lít mật hoa phân chất ra được 50.000 thứ hoa tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số”“? Những con số ấy vừa cung cấp một tri thức chính xác, vừa nhắc nhở chúng ta một bài học không bao giờ cũ về sự kiên nhẫn trong

)

lao động và sáng tạo để vươn tới cái đẹp, hoàn thiện.“ Chỉ có Nguyễn Tuân mới

Trang 30

lật lại lịch sử, đếm lại từng nhịp của cây cầu Hiền Lương trong thời kì đất nước

còn bị chia cắt Tác giả say sưa kế về lịch sử của cây cầu một cách khá cặn kế:

“Câu Hiền Lương bắc vào năm 1950, có bẩy nhịp khớp vào nhau Sắt cầu của Anh

“made in England”, van cầu Mĩ “US- Vigira”, nhân công cầu là đám công bình trong quân đội viễn chỉng Pháp cộng với nhân lực PMT cầu có bẩy nhịp, cộng lại chỉ có 178 mét, và ván cầu tổng cộng chỉ có 894 miếng ván Chiều dài cầu, miễn Bắc miền Nam mỗi bên giữ 89 thước nhưng ván cầu thì 450 tấm thuộc về Bắc

và nhự thế ta hơn mấy tấm” f Đọc tuỳ bút “Sông Đà” cũng vậy, người đọc không chỉ được đắm mình trong một cảnh sắc thiên nhiên vừa đữ đội, hoang sơ vừa trữ tình thơ mộng mà còn có thêm nhiều hiểu biết về lịch sử một vùng đất đầy đau thương đang chuyển mình đi lên với cuộc sống mới Qua những trang tuỳ bút của Nguyễn Tuân có thể thấy ông đã có mặt ở nhiều nơi, quan tâm tới nhiều mặt của đời sống

2.1.3 Tuỳ bút của Nguyễn Tuân thể hiện một cái “tôi” bản ngã của nhà văn Nhắc đến cái “tôi” bản ngã của người nghệ sĩ là người ta nghĩ đến cái riêng

của mỗi nhà văn Để khẳng định được tiếng nói của mình thì mỗi nhà văn đều chọn cho mình một chất giọng riêng, một lối viết riêng, một cách nói riêng Nếu cách

viết ấy 6n định trong suốt quá trình sáng tác sẽ tạo lên phong cách của nhà văn Nguyễn Tuân là một cái tôi đầy bản lĩnh, đầy ngạo nghễ trong dòng văn học

Việt Nam hiện đại Bằng nỗ lực không ngừng để làm mới mình, Nguyễn Tuân đã

khẳng định được một phong cách riêng độc đáo Người xưa thường nói: “Văn cũng

nh người ”, Nguyễn Tuân là con người thích cuộc sống tự do phóng khoáng thậm

chí đôi lúc còn phóng túng Ông ham mê du lịch, thích chủ xê dịch, không chịu

được nhưng những cái gì chung chung, bằng phẳng, nhợt nhạt Một cá tính mạnh

mẽ, không ưa sự gò bó, khuôn phép Cho nên Nguyễn Tuân tìm đến với thể loại tuỳ bút, một thê văn tự do, phóng khoáng là một điều dễ hiểu

Nhắc đến kí trong những năm gần đây, người ta thấy xuất hiện một cây bút

Trang 31

mới mà Nguyễn Tuân từng nhận xét “ 7rong kí của anh có rất nhiều ánh lửa ” Đó chính là nhà viết kí Hoàng Phủ Ngọc Tường Hai nhà viết kí lớn này gặp nhau ở tài năng và sự đam mê, nhưng mỗi nhà văn lại có một phong cách riêng

Nếu Hoàng Phủ Ngọc Tường mang phong cách nhẹ nhàng, ngôn ngữ hình ảnh giàu cảm xúc, nghiêng về những cái bình dị nhưng lại rất sâu sắc thì đến với Nguyễn Tuân, người ta thấy một phong cách tài hoa uyên bác Với một chất

văn xuôi mạnh mẽ và cái nhìn hóm hỉnh về mọi sự vật Nét tài hoa trong văn Nguyễn Tuân thể hiện ở việc ông luôn nhìn nhận và khám phá mọi sự vật hiện

tượng ở phương diện thấm mĩ, miêu tả con người ở góc độ tài hoa nghệ sĩ Không phải ngẫu nhiên mà có người đã gọi Nguyễn Tuân là: “Người nghệ sĩ luôn ấi săn tìm cái đẹp” Vẻ uyên bác của Nguyễn Tuân thể hiện ở sự hiểu biết rộng rãi, uyên thâm Trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân, đặc biệt là những tuỳ bút sau cách mạng,

người đọc không chỉ bắt gặp một nhà văn học mà còn bắt gặp một nhà lịch sử học, một nhà quân sự, một nhà địa lí, một nhà hội hoạ

Trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân, người đọc cìn thấy một tài kể chuyện rat vui, hóm hỉnh và có đuyên của ông Nếu trong tuỳ bút trước cách mạng, người đọc

còn thấy một giọng điệu pha chút khinh bạc, ngạo đời thì sau cách mạng cái chất khinh bạc đó đã hoàn toàn mắt hẳn, thay vào đó là một lối kế say sưa, vui nhộn và

di dom Giọng văn của ông luôn chuyển đổi, đang trang nghiêm cô kính bỗng chuyên sang giọng bông đùa bốc tếu, nghịch ngợm, có khi đang nói giọng Bắc lại chuyển sang giọng Trung, giọng Nam Nhiều khi ông còn nhìn cuộc sông với con mắt rất nhộn, rất nghịch Đoạn văn ông tả miếng đòn hiểm ác của thác nước sông

Đà quật ngã người lái đò với những hình ảnh, liên tưởng nghịch ngợm và bạo miệng khiến người đọc phải bật cười: “Sóng thác đã đánh đến miếng đòn độc hiểm

nhất, cả cái luỗng nước vô sở chỉ bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò, hột sinh dục

muốn vọt lên tận cổ” Viết về thằng phi công Mĩ Michkén - con tên đô đốc chỉ huy hạm đội 6 bị bắt sống, ông tưởng tượng ra cảnh thằng đô đốc chết, thằng con

Trang 32

không về đưa ma được, chiếc kỳ hạm đô đốc “phải treo mũ rơm, gậy tre lên đâu

ở cổng trời Hà Giang Rõ nhất là thiên nhiên Tây Bắc với con sông Đà hung bạo,

kẻ thù số một của con người Nói như vậy không có nghĩa là tuỳ bút của Nguyễn Tuân không có những trang viết trữ tình thơ mộng Những đoạn tả con sông Đà đẹp như một bức tranh thuỷ mặc “ Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một ảng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuỗn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân ” Nhưng trong cái vẻ trữ tình thơ mộng ấy nó cũng có một vẻ khác lạ Nó không phải là vẻ đẹp dịu dàng, nhẹ nhàng man mác, cũng không êm địu như chất trữ tình của “Một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế” trong bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường mà nó là vẻ đẹp trữ tình pha chút hùng vĩ, cao sang khác lạ Vẻ trữ tình ấy có lẽ bắt nguồn từ thời tiền sử, quá vãng nào đó “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử hôn nhiên như một nỗi niềm cổ tích xưa” Đó là vẻ đẹp trữ tình Nguyễn Tuân và chỉ có ở

Nguyễn Tuân

Trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân , người đọc thấy một cái tôi chủ quan đậm

Trang 33

chất Nguyễn Tuân Như nhà nghiên cứu văn học Trương Chính đã từng nhận xét:

“Nguyễn Tuân là một nhà văn chủ quan nhất trong các nhà văn của chúng ta”, Chất chủ quan ấy thể hiện ở một cái tôi Nguyễn Tuân luôn sống theo cách sống của riêng mình, dám nói những suy nghĩ, cảm xúc của mình Với những quan niệm

và nhìn nhận của một người nghệ sĩ dày dạn kinh nghiệm như Nguyễn Tuân nhiều lúc đưa đến cho người đọc nhiều bài học, cách nhìn đời quý giá Như khi ông quan niệm về quê hương khi đã gắn bó với mảnh đất Tây Bắc, về ngôn ngữ của ta khi ông say sưa tiếng của dân tộc mình, hay nhiều quan niệm bổ ích về văn chương nghệ thuật Nhưng cũng có lúc ông rơi vào chút cực đoan như khi ông quá ca ngợi

vẻ đẹp lãng mạn của mái tóc một người đàn bà và cho rằng: “Cái người nào suốt một đời mà chưa được ngắm một mái tóc cho tử tế thì cái thẩm mĩ quan của người

() Đây là một quan niệm hết sức chủ quan, nhưng nó chỉ là

ấy còn lung lay lắm

quan niệm trước cách mạng, nó là sự trốn đời của Nguyễn Tuân vào “Tóc chị

Hoài” để cho ta thấy một tâm trạng bề tắc của Nguyễn Tuân trước cuộc sống Khi cách mạng đến thì Nguyễn Tuân không còn những quan niệm như thế nữa Cái tôi của nhà văn đã hoà nhập vào quần chúng để cái tôi ay khong con thay minh “thiéu quê hương giữa cuộc đời ”

2.1.4 Tuỳ bút của Nguyễn Tuân đậm chất trữ tình, thơ mộng kết hợp với chất trí tuệ sắc sảo, liên tưởng phong phú, táo bạo, bắt ngờ làm lên một nét độc đáo riêng biệt

Chất trữ tình là một đặc điểm nổi bật trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân Nhưng điều đáng nói ở đây là người đọc thấy một sự kết hợp hài hoà giữa chất trữ tình và chất trí tuệ sắc sảo cùng với sự liên tưởng phong phú táo bạo của Nguyễn Tuân Qua các thiên tuỳ bút, Nguyễn Tuân trò chuyện với bạn đọc không chỉ bằng trái tim nghệ sĩ giàu cảm xúc mà còn bằng trí tuệ sáng suốt của một con người từng

trải, lịch lãm, có nhiều kinh nghiệm, có học vấn rộng về nhiều lĩnh vực trong đời

sống Những tri thức về nhiều ngành nghệ thuật làm cho văn của ông cũng giàu

Trang 34

chất trí tuệ, nhiều thông tin chính xác tỉ mỉ Vốn hiểu biết phong phú cộng với sự nhạy cảm của các giác quan đã giúp cho ngôn ngữ và bút pháp miêu tả của Nguyễn

Tuân có một khả năng đặc biệt trong việc tạo hình, tạo cảnh, tạo không khí Đó là

cảnh thiên nhiên đầy chất thơ của Lai Châu “t đèo Khau Ma Hồng nhìn xuống thung lũng choẻ vàng mây trắng giống như những cánh hoa thêu nổi trên tắm lụa chín” Những trang văn tả trận đánh dữ dội giữa con thuyền đuôi én do những người lái đò trên sông đũng cảm day dan kinh nghiệm và tài trí chỉ huy với mấy

chục cái thác dữ trên sông Đà như dàn thành thế trận trên sông như “?ực sẵn để

vỗ lấy con thuyên đơn độc và liều lĩnh”

Tuỳ bút của Nguyễn Tuân giàu hình tượng giàu nhạc điệu và đầy chất thơ Đặc biệt là Nguyễn Tuân đã sử dụng ngôn ngữ của nhiều ngành nghệ thuật khác

nhau như: âm nhạc, điện ảnh, hội hoạ, để làm tăng thêm khả năng biểu hiện của

văn chương Như trong “Hà Nội fa đánh Mĩ giới” khi mêu tả tên tù binh Mĩ bị giải qua các phố Hà Nội, sự quan sát của Nguyễn Tuân có lúc như một ống kính điện ảnh quay từ xa dé thu toàn cảnh “ một xêri đặc tả” từ những góc độ khác nhau như:

“trông nghiêng, trông chếch ba phân tư góc” đề làm hiện rõ bộ mặt thâm hại của những tên tù binh MI

Nhờ hiểu biết về hội hoạ mà trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân chúng ta thấy ông sử dụng các gam màu, sắc độ rất bạo, rất tài hoa: “7răng ngàn láng thuỷ ngân sông Đà như một áng tóc mun dài ngàn vạn vạn sải đàn cá dẫm xanh quay vot lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi ” Những câu văn vừa thơ

mộng, đẹp như dải lụa vừa thể hiện sự liên tưởng so sánh rất hình ảnh và mới lạ

Nếu không có con mắt của một nhà hội hoạ thì Nguyễn Tuân không thể có những câu văn đẹp như vậy

Nguyễn Tuân cũng là một người rất say mê và sành sỏi về âm nhạc, đặc biệt

là các loại đàn nhạc cụ của dân tộc, các loại hình sân khấu truyền thống như: hát bội, hát chèo, ca Huế, ca cải lương Có lẽ cũng vì vậy mà trong tuỳ bút của ông

Trang 35

đôi khi ta bắt gặp những điệu hò ơ ngân đài, thắm thiết như vọng ra từ chính tâm

hồn của tác giả Ông miêu tả làn điệu dân ca quan họ Bắc Ninh đầy chất tạo hình:

“Mềm mại như những đường cong các mái đình cổ kinh Bắc” Ông thấy được “ca nhạc và màu sắc quân áo tươi chói trong những buổi thu thanh vốn dân tộc và đĩa hát, càng gợi nhắc đến những nét dịu dàng của bức tranh tổ nữ yếm đào làng

Ho",

Có thể nói, chất trí tuệ sắc sảo, liên tưởng phong phú, so sánh táo bạo, sắc

sảo, bất ngờ là nét làm nên vẻ đẹp riêng, độc đáo của tuỳ bút Nguyễn Tuân

Là một nhà văn yêu thiết tha tiếng mẹ đẻ, Nguyễn Tuân đã dày công trong việc tìm tòi, sáng tạo trong cách diễn đạt ý, tả cảnh, trong cách đặt câu, dùng từ

mới lạ Ông có vốn từ vựng cực kì phong phú, một lối hành văn độc đáo, tinh tế và

rất có duyên Câu văn của Nguyễn Tuân dường như chứa đựng được mọi âm

thanh, màu sắc của cuộc sống Hay nói cách khác đó là sự hoà quyện của thơ ca,

âm nhạc, hội hoạ

Đọc Nguyễn Tuân nhà tu từ học sẽ tìm kiếm được nhiều biện pháp tu từ thú

vị: so sánh, ân dụ, nhân hoá, hoán dụ, tượng trưng

Trước cách mạng, lối chơi ngông và chủ nghĩa độc đáo của Nguyễn Tuân thường dẫn đến những lối ví von tuy chính xác và mới lạ nhưng nhiều khi thật oái oăm: “Ông thử roi vào mặt trồng, rồi uốn hai đầu xuống thân roi ưỡn ngửa mãi lên như lúc người đàn bà tránh một cái hôn bạo” Và khinh bạc: “Thuỷ tỉnh bóng đèn điện không có lửa, dưới ánh nắng bóng bảy như đô tế nhuyễn mạ và vô liêm si như những cuộc đời không có chân giá, mỗi tí hào nhoáng phủ lên trên chỉ toàn là của ãi mượn ”“? Và bì quan “Đề lên màu tang bằầu không khí thu muộn, chất bóng chat pha lê nổi bật lên như nét cười của một người công bình lúc tắt nghỉ”Œ?

Sau cách mạng, Nguyễn Tuân vẫn không ngừng tìm tòi sáng tạo để có một cách viết mới lạ, khác người Nguyễn Tuân có lối tả cảnh vật bằng những liên tưởng chuyên đổi cảm giác rất tinh tế Có khi từ cảm giác chuyên sang tâm trạng:

Ngày đăng: 21/09/2014, 16:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Binh (1993), Day van dạy cái hay cái đẹp, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Day van dạy cái hay cái đẹp
Tác giả: Nguyễn Duy Binh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
9. Phuong Luu (2006), Li luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Li luận văn học
Tác giả: Phuong Luu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
13. Hoàng Phê (2003) (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2003
15. SGV Ngữ văn lớp 12 tập I, Nxb Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Ngữ văn lớp 12 tập I
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
2. Tran Thanh Dam, Huynh Ly, Hoang Nhu Mai, Phan Si Tan, Dam Gia Can Khác
3. Hà Minh Đức (2003), 1í luận văn học Nxb Giáo dục Khác
4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2003), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Tr. 162 — 163 Khác
5.Nguyễn Thanh Hung (2003), Hiéu van day van, Nxb Gido dục Khác
6. Nguyễn Thị Thanh Hương, Phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học ở nhà trường Phổ thông, Nxb Giáo dục Khác
7. Phan Trọng Luận (2000), Phương pháp dạy học văn, Nxb ĐHQGHN Khác
10. Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Nhà văn Việt Nam tư tưởng và phong cách, Nxb DHQGHN, tr.128 — 143 Khác
11. Tôn Thảo Miên (2003), Nguyễn Tuân về tác gia tác phẩm, Nxb Giáo đục, tr.69-300 Khác
12. Lã Như Nguyên (2005), Tuyển tập Nguyễn Tuân, Tập I, IL, II, Nxb Văn học, tr.5 — 58 Khác
14. SGK Ngữ văn 12 tập I, Nxb Giáo dục, 2008 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w