Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến —- K29C Sinh LOI CAM DOAN Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài “Nghiên cứu đánh giá chất lượng đàn bò giống Holstein Friesian nuôi tại cao nguyên
Trang 1Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến —- K29C Sinh
TRUONG DHSP HA NOI 2 KHOA SINH - KTNN
TRAN THI HAI YEN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHÁT
LUONG DAN BO GIONG HOLSTEIN
FRIESIAN NUOI TAI CAO NGUYEN MOC CHAU VA TINH TUYEN QUANG
KHOA LUAN TOT NGHIEP
Chuyên ngành: Di truyền học
Mã số: 010506
Hướng dẫn khoa học: Nguyễn Văn Lại
Hà Nội - 2007
Trang 2Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến —- K29C Sinh
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn thây giáo Thạc sĩ Sinh học Nguyễn Văn Lại
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này
Đồng thời em cũng gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thây cô giáo khoa Sinh - KTNN, các cô chú nhân viên của Trung tâm nhân giống bò sữa cao sản Phú Lâm - Tuyên Quang và Trung tâm nhân giống bò sữa Mộc Châu
đã tạo điều kiện cho em thực hiện thành công đề tài này
Vì thời gian nghiên cứu và kinh nghiệm thực tẾ có hạn nên kết quả nghiên cứu khó tránh khỏi nhưng thiếu sót bất cập Em rất mong được sự góp
ý của quỷ thây cô và bạn đọc
Xuân Hoà, tháng 5 nam 2007
Người thực hiện
Trần Thị Hải Yến
Trang 3Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến —- K29C Sinh
LOI CAM DOAN
Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài “Nghiên cứu đánh giá chất lượng đàn bò giống Holstein Friesian nuôi tại cao nguyên Mộc Châu và tỉnh Tuyên Quang” là kết quả của riêng tôi Kết quả này phản ánh đúng thực trạng chăn nuôi bò sữa của tính Tuyên Quang cũng như tình hình phát triển đàn bò trong
cả nước Đây là kết quả nghiên cứu mới nhất và không trùng với kế! quả của
các tác giả khác Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, tháng 05 năm 2007
Sinh viên
Trần Thị Hải Yến
Trang 4Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến - K29C Sinh
MỤC LỤC
Trang
Phần 1 Đặt vấn đề - Hee 5
Phần 2 Tông quan vấn đề nghiên cứu 2- 22 s2zse+e 7
2.1 Lịch sử nghiên cứu về sự phát triển của đàn bò Holstein
l0 7 2.2 Cơ sở khoa học về sự sinh trưởng và khả năng cho sữa của bò
Phần 3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu - 11
3.1 Đối tượng nghiên cứu cccccc c2 11
3.2 Thời gian va phương pháp nghiên cứu 12
3.3 Xác định các tham số thống kê cơ bản 15
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận -©55-5cs+csze: 16 4.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh Tuyên Quang 16 4.2 Đặc điểm thời tiết khí hậu vùng đôi núi Tuyên Quang 17 4.3 Chất lượng đàn bò và khả năng cho sữa của bò giống Holstein
I8 057 6Ầ 24
4.3.1 Kết quả nghiên cứu khối lượng bê sơ sinh 24
4.3.2 Kết quả nghiên cứu khối lượng bê cai sữa 25 4.3.3 Kết quả nghiên cứu khối lượng bê lúc 12 tháng
¡m1 26 4.3.4 Kết quả nghiên cứu khối lượng cái tơ khi phối
giống lần đầu -52- 2s eEerrerrerrrrrrrre 26 4.3.5 Kết quả nghiên cứu khối lượng cái tơ khi có chửa lần
0 27 4.3.6 Kết quá nghiên cứu khối lượng cái tơ lứa đẻ I 28
4.3.7 Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản của bò cái
Trang 5Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến - K29C Sinh
Holstein Eriesian s5 s«ccsesceree 28 4.3.8 Nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất sữa và chất lượng sữa của đàn bò giống Holstein Friesian 30
4.4 Nguyên nhân của sự thất bại khi nuôi bò nhập nội ở
Tuyên Quang - + 2x 2 gi, 31
4.5 Định hướng phát triển đàn bò và giải pháp khắc phục 33
Phần 5 Kết luận -2 ©2¿+©2+++EEEtEEEC2EEEEEEE221E2Exrrrkrrrree 38
Phan 6 Tài liệu tham kháo -.-2:¿+2+++22+zrsczxzrsrxeee 39
Trang 6Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến —- K29C Sinh
Đàn bò giống Holstein Friesian (HF) đã nhập vào nước ta từ rất sớm
(trước 1970) Chúng được chuyến đến nuôi ở Cao nguyên Mộc Châu - Sơn
La, một phần về cơ sở Đức Trọng - Lâm Đồng HF là giống cho năng suất sữa cao nhất thế giới, vì vậy chúng được lựa chọn là mục tiêu số l của ngành
chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam
Thực hiện chương trình phát triển kinh tế đất nước ở các tỉnh miền núi, trong đó có Tuyên Quang, theo các nghiên cứu và đánh giá của Viện chăn
nuôi thì điều kiện khí hậu, địa chất ở vùng núi Tuyên Quang là tương thích
cho sự sinh trưởng, phát triển của giống bò sữa cao sản HF Vậy nên, Dự án chăn nuôi bò sữa tại Tuyên Quang được thành lập và triển khai năm 2003 nhằm góp phần nâng cao mức sống người dân và phát triển kinh tế xã hội,
mặc đù bước đầu còn gặp nhiều khó khăn
Để phân tích, đánh giá chất lượng đàn bò giống HF muôi tại Tuyên
Quang trong những năm gần đây, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và so sánh với đàn bò giống HF muôi tại Mộc Châu - nơi có điều kiện thích hợp nhất cho sự phát triển của đàn bò và cũng là cơ sở chăn nuôi bò sữa phát triển nhất nước ta, qua đó biết được tiềm năng của đàn bò và những mặt khó khăn cần khắc phục để có hướng đầu tư, quản lí ngày càng tốt hơn, nhằm nâng cao chất lượng đàn bò và rút kinh nghiệm cho việc chăn nuôi sau này
Xuất phát từ mục tiêu đó, được sự giúp đỡ của Trung tâm nhân giống
bò sữa cao sản Phú Lâm - Tuyên Quang và Trung tâm nhân giống bò sữa
Mộc Châu - Sơn La, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài:
Trang 7Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến —- K29C Sinh
"Nghiên cứu đánh giá chất lượng đàn bò giống Holstein Friesian nuôi tại cao nguyên Mộc Châu và tỉnh Tuyên Quang”
° Muc dich cua dé tai:
- Xác định được sự tác động của điều kiện khí hậu nóng ẩm lên sự sinh
° Nhiệm vụ của đề tài:
- Xác định được tiềm lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuyên
Quang
- Xác định sự ảnh hưởng của khí hậu nóng âm đến chất lượng đàn bò
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của đàn bê và cái tơ giống
HF
- Nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh sản của đàn bò cái HF
- Nghiên cứu, đánh giá khả năng sản xuất sữa và chất lượng sữa của đàn
bò
- Tìm giải pháp khắc phục những khó khăn khi chăn nuôi bò sữa ôn đới
trong điều kiện nhiệt đới.
Trang 8Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến —- K29C Sinh
Phần 2
TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU
2.1 Lịch sử nghiên cứu về sự phát triển của đàn bod Holstein Friesian
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Giống bò sữa Holstein Friesian (hay còn gọi là bò Hà Lan, bò Lang trắng đen) thuộc chủng Bos primigenus Đây là giống bò chuyên dụng cho năng suất sữa cao nhất thế giới Vì vậy, nó được lựa chọn để nghiên cứu và chăn nuôi trên phạm vi rộng khắp, đặc biệt là châu Âu, châu Mĩ, châu Úc và
châu Á
Ban đầu bò Hà Lan hình thành và phát triển trong điều kiện có nhu cầu mạnh về sữa cùng với đà phát triển công nghiệp ở châu Âu Bò Hà Lan có tỉ
lệ mỡ thấp (dưới 4%) và ban đầu ngoại hình cũng chưa được vững chắc, hay
bị lao nhất ở những con cao sản Vì vậy, quá trình cải biến bò Hà Lan cũng là
cả một quá trình tạo dáng bò sữa, tạo thé chat chắc chắn đi đôi với việc không
ngừng nâng cao sản lượng sữa và tỉ lệ mỡ sữa Đến cuối thế ki XX bò Hà Lan
đã đạt mức cao sản: ngoại hình đẹp, thể chất vững chắc, lượng sữa/chu kì đến 10.000 lít, mỡ sữa ~4% [41]
Tuy nhiên chưa phổ biến đại trà vì trình độ cao sản bao giờ cũng đi đôi
với cải tiến môi sinh, điều kiện kinh tế và điều kiện kĩ thuật liên tục
Sự phát triển của công nghệ sinh học, di truyền học đã cải biến nguồn gen của bò HF làm tăng độ thích ứng của nó với nhiều điều kiện thời tiết, khí hậu và địa chất
2.1.2 Tình hình nghiên cứu về chăn nuôi bò sữa ở trong nước
Theo xu thế phát triển chung của ngành chăn nuôi bò sữa thế giới, trong những thập niên gần đây, Việt Nam đã chú trọng đầu tư cho nghiên cứu
và mở rộng quy mô phát triển đàn bò
Trang 9Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến - K29C Sinh
Theo Cục chăn nuôi Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm
2000 ở Việt Nam, tiêu thụ sữa bình quân là 5,2 lít/người; năm 2005 tăng lên 7,9 lít/người Tốc độ tăng trưởng nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm sữa bình quân là 8,7%/năm, sản xuất sữa trong nước mới đáp ứng được gần 22% nhu
cầu tiêu dùng nội địa [7] Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và phát triển
đàn bò là một tất yếu khách quan
Năm 2001, đàn bò sữa cả nước có 41.000 con; đến năm 2005 cả nước
đạt 107.609 con, với khoảng 19600 hộ chăn nuôi bò sữa tại 33 tỉnh thành phó, trung bình 5,3 con/hộ (Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, 30/1 1/2006)
Cùng với việc tăng số lượng đàn bò sữa, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm cải biến nguồn gen của bò gốc ôn đới thích nghi với điều kiện nhiệt đới như: Nhóm nghiên cứu của Thạc sĩ Phạm Kim Ngọc — Khoa Sinh trường
Đại học Khoa học tự nhiên Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với đề
tài “Tạo phôi bò bằng công nghệ thụ tỉnh trong ống nghiệm”, và nhiều công trình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Trạch và cộng sự - Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội,
Theo các chuyên gia Nhật Bản, nghề chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam rất mới, nên hầu hết người nông dân chăn nuôi bò sữa chưa được đảo tạo những kiến thức cơ bản về nuôi bò sữa, mà vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm chăn nuôi các loại gia súc truyền thống Bò sữa khác hắn với những vật nuôi truyền
thống khác, không thể muôi tuỳ tiện mà đòi hỏi phải có đầy đủ cơ sở vật chất,
kiến thức, tay nghề, dinh đưỡng, thú y và đất trồng cỏ
Tiến sĩ Moriyama, chuyên gia Nhật Bản về quản lý chăn nuôi bò sữa khẳng định: “Thái Lan, Indonesia cũng có điều kiện khí hậu nóng ấm, nhưng
đã nuôi bò sữa thành công Muốn thể Việt Nam phải tìm giải pháp và mô hình thích hợp trong chăn nuôi bò sữa ” [7]
Trang 10Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến - K29C Sinh
- Sự sinh trưởng xảy ra theo 3 hướng:
+ Thay đổi về thể tích
+ Thay đổi về khối lượng
+ Thay đổi về kích thước
Người ta dùng phương pháp cân đo theo từng thời điểm đề đánh giá Đối với bò thường cân đo lúc sơ sinh, 4, 12 tháng tuổi, khi phối giống lần
đầu, khi có chửa lần đầu và qua một số lứa đẻ
- Đánh giá con vật bao gồm:
+ Độ sinh trưởng tuyệt đối: Là kích thước, thể tích, khối lượng gia súc tăng được trong một đơn vị thời gian
+ Độ sinh trưởng tích luỹ: Là kích thước, thể tích, khối lượng gia súc đo được ở các thời điểm sinh trưởng.gia súc tăng được trong một đơn vị thời gian
+ Độ sinh trưởng tương đối: Là tỉ lệ phần trăm của kích thước, thể tích, khối lượng của gia súc tăng lên sau một giai đoạn nhất định so với kích thước, khối lượng thể tích ban đầu
2.2.2 Khả năng sản xuất sữa
* Cơ sở di truyền của năng suất sữa:
Sản lượng sữa là một tính trạng sỐ lượng có hệ số di truyền, h’= 0,35 [4] Khả năng cho sữa phụ thuộc vào giống bò và ngay cả các cá thé
Trang 11Khoá luận tốt nghiệp Tran Thị Hải Yến - K29C Sinh
Lượng sữa và khả năng tiết sữa ngoài chịu ảnh hưởng của nhiều gen còn phụ thuộc vào tuối, thời gian giữa các lứa đẻ, thời gian nghỉ đẻ kéo dài, khoảng cách giữa các lần vắt sữa, tháng đẻ, đặc biệt là mức độ nuôi dưỡng và chăm sóc
Đề đánh giá sức sản xuất sữa, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Sản lượng sữa (kg) được tính hàng ngày, tháng, chu kì cho sữa, thường cứ 10 ngày cân đo một lần (3 lần/tháng), từ đó tính trung bình ngày, tháng, chu kì cho sữa (trong phạm vi của đề tài chúng tôi chỉ tính bình quân của cả chu kỳ cho sữa)
* Cơ sở di truyền của chất lượng sữa:
Đây là tính trạng được quy định bởi nhiều gen, các gen di truyền theo kiểu cộng gộp Mặt khác chất lượng sữa ngoài sự phụ thuộc vào yếu tố di truyền còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh, tức phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng, chăm soc,
Để đánh giá chất lượng sữa: Dùng phương pháp phân tích để đánh giá
về một số chỉ tiêu như tỉ lệ mỡ trong sữa, protein, khoáng, vật chất khô trong sữa theo phương pháp quy định chung tại Viện chăn nuôi
Ví dụ: Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra được các số liệu khi đánh giá chất lượng sữa: Tương quan giữa sản lượng sữa với tỉ lệ mỡ sữa và protein trên đàn bò HF của trung tâm giống Sao Đỏ (Mộc Châu, Sơn La) Lương Văn Lãng và CTV (1981) đã tính được mối tương quan kiểu hình giữa sản lượng
sữa và tỉ lệ mỡ là — 0,3567, giữa sản lượng sữa và lượng mỡ là 0,66
Hayes và nhiều người khác (1990) xác định hệ số tương quan di truyền giữa sản lượng sữa với tỉ lệ mỡ sữa và protein trên 5 vạn bò HF trong 10 năm
1979 — 1989, con của 75 đực được chọn lọc và đánh giá qua đời sau là -0,49
và — 0,54 Nói chung tương quan kiểu hình giữa sản lượng sữa và tỉ lệ mỡ, protein là âm, dao động từ -0,099 đến -0,35 và giữa sản lượng sữa với lượng
mỡ là dương, từ 0,67 đến 0,74 [4]
11
Trang 12Khoá luận tốt nghiệp Tran Thị Hải Yến - K29C Sinh
Phan 3
DOI TUQNG VA PHUONG PHAP NGHIENCUU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đàn bò sữa HF thuần chủng nhập từ Ba Vì —- Hà Tây chăn muôi tại Trung tâm nhân giống bò sữa cao sản Phú Lâm — Tuyên Quang theo phương
thức tập trung Có tổng đàn bò năm 2003 là 963 con (đến 2006 là 1847 con)
Đàn bò sữa HF thuần chủng của Công ty giống bò sữa Mộc Châu nuôi tại cao nguyên Mộc Châu theo phương thức tập trung và khoán hộ, có tổng đàn bò năm 2003 là 2783 con với 518 hộ, bình quân 5,4 con/hộ (I->40 con/hộ) Bò được nuôi nhốt tại chuồng có kết hợp chăn thả vận động, chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý theo quy trình kĩ thuật của công ty Các hộ tự sản xuất thức ăn thô xanh và một phần thức ăn hỗn hợp Công ty cung cấp các dịch vụ khuyến nông, thú y, thụ tinh nhân tạo, một phần thức ăn hỗn hợp, thức ăn đậm đặc và thu mua các sản phẩm sữa, con giống
Tiến hành điều tra thu thập số liệu về các chỉ tiêu kinh tế, kĩ thuật của
đàn bò được các cán bộ kĩ thuật, các hộ ghi chép hàng ngày để đánh giá
3.1.2 Đặc điểm của giống bò sữa HF
Bò sữa Holstein Friesian là giống bò chuyên sữa nổi tiếng thế giới được tạo ra từ thế kỉ thứ XIV ở tỉnh Fulixon của Hà Lan, là nơi có khí hậu ôn hoà, mùa hè kéo dài và đồng cỏ rất phát triển Bò HF không ngừng được cải thiện
về phâm chất, năng suất và hiện nay được phân bố rộng rãi trên toàn thế giới nhờ có khả năng cho sữa cao và cải tạo các giống bò khác theo hướng sữa rất tốt
Bò HF có 3 dạng màu lông chính: Lang trắng đen (chiếm ưu thế), lang trắng đỏ (ít) và toàn thân đen riêng đỉnh trán và chót đuôi trắng Các điểm trắng đặc trưng là: điểm trắng ở trán, vai có vệt trắng kéo xuống bụng, 4 chân
Trang 13Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến —- K29C Sinh
và chót đuôi trắng Toàn thân có dạng hình nêm đặc trưng của bò sữa Đầu
con cái dài, nhỏ, thanh; đầu con đực thô Sừng nhỏ, ngắn, chĩa về phía trước
Trán phẳng hoặc hơi lõm Cổ thanh, dài vừa phải, không có yếm Vai — lưng — hông — mông thắng hàng Bốn chân thăng, đẹp, hai chân sau doãng Bầu vú rất phát triển, tĩnh mạch vú ngoằn ngoèo nỗi rõ
Tầm vóc của bò HF khá lớn: Khối lượng sơ sinh khoảng 35 -> 45 kg,
trưởng thành 450 ->750 kg/con cái, 750 ->1100 kg/con đực Bò thành thục
sớm, có thé phối giống lúc 15 ->20 tháng tuổi Khoảng cách lứa đẻ khoảng 12 ->13 tháng
Năng suất sữa trung bình khoảng 5000 — 8000 kg/chu kì (10 tháng), tỉ lệ
mỡ sữa thấp, bình quân 3,3 -> 3,6% Năng suất sữa biến động nhiều tuỳ theo điều kiện nuôi đưỡng và thời tiết khí hậu, cũng như kết quả chọn lọc của từng THƯỚC
Bo HF chịu nóng và chịu kham khổ kém, dé cam nhiễm bệnh tật, đặc biệt là các bệnh kí sinh trùng đường máu và bệnh sản khoa Bò HF chỉ nuôi thuần tốt ỏ những nơi có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ bình quân năm dưới 21C 3.2 Thời gian và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 2 năm 2006 Số liệu qua
các năm 2004, 2005 tôi tham khảo tư liệu, số sách của trung tâm
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp điều tra, thu thập đữ liệu trên số sách kĩ thuật —
kinh tế, báo cáo tổng kết và sản xuất định kì ở hộ, phòng kĩ thuật, phòng kế
toán trung tâm Tham khảo các tài liệu, dé tài khoa học đã được nghiên cứu
và công bố liên quan đến đàn bò HF thuần chủng nuôi tại Tuyên Quang và Mộc Châu Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh vật thông thường 3.2.2 Điều kiện nuôi dưỡng và các chí tiêu theo dõi
Trang 14Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến —- K29C Sinh
Dan bo HF dua tr Ba Vi — Ha Tay lên vùng núi Tuyên Quang được chọn lọc từng con và đánh số, có phiếu theo đõi cụ thể của từng con Bò
được nuôi nhốt tại chuồng có kết hợp chăn thả vận động, chăm sóc nuôi
dưỡng theo quy trình kĩ thuật của trung tâm
Qua theo dõi khả năng thu nhận thức ăn hàng ngày của I bò HF được trình bày qua bảng sau:
Bang l: Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của một bo HF tai Tuyên
Quang
Thức ăn | SÔ lượng (kg) trao đôi A khô ^ (8) (8) (g)
Cúc chí tiêu theo dõi:
* Khả năng sinh trưởng và phát triển:
+ Trọng lượng sơ sinh: Bò con sau khi sinh ra được lau chủi rớt rãi,
bam 16 tai và đưa lên cân trọng lượng sơ sinh trước khi bú sữa đầu
+ Trọng lượng hàng tháng: Bò được cân lại vào lúc 4, 12 tháng tuổi vào các buổi sang trước khi ăn
+ Trọng lượng theo chu kì sinh sản: Bò được cân trước khi mang thai, khi mang thai và sau khi sinh qua mỗi lứa đẻ
+ Số lượng bò được theo dõi ghi vào số sách, có phân loại bò đẻ đực
cái riêng Bò ở gia đình chăn nuôi theo phương thức khoán hộ có theo dõi các chỉ tiêu tương tự như ở tại trung tâm
* Theo dõi khả năng cho sữa:
Trang 15Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến —- K29C Sinh
+ Theo dõi sản lượng sữa:
- Kiểm tra sản lượng sữa của con mẹ bằng phương pháp vắt sữa con
mẹ, sau đó cho con con vào bú thúc trực tiếp, cân trọng lượng bò con trước và
sau khi bú mẹ để xác định lượng sữa bò con bú được
Lượng sữa thực tế của con mẹ bằng tổng lượng sữa vắt cộng tổng lượng sữa khi bò con thúc bú mẹ
+ Vắt sữa theo quy trình: Thông thường vắt 2 lần/ngày
+ Theo đõi khả năng sản xuất sữa theo từng chu kỳ cho sữa rồi tổng hợp tính bình quân của 3 năm nghiên cứu
* Theo đối chất lượng sữa:
Phân tích hàm lượng mỡ sữa, protein, vật chất khô, khoáng ở sữa theo
phương pháp chung tại Viện chăn nuôi (Theo nghiên cứu đánh giá, chất lượng sữa của bò HF giảm dần theo các tháng trong chu kỳ cho sữa, chất lượng sữa tốt nhất ở những tháng đầu của chu kỳ) Tính trung bình của cả 3 năm 2004, 2005 và 2006
Khi phân tích hàm lượng mỡ sữa, protein: sử dụng axit sulphuric đậm đặc, các chất khô không mỡ bị hoà tan, hỗn hợp được ly tâm và tỷ lệ phần trăm chất béo được đọc trên ống ly tâm chia vạch ở 65°C Sử dụng cồn izoamylic để tách lớp mỡ và phần còn lại được rõ ràng
Khi tính hàm lượng vật chất khô, khoáng trong sữa: dựa trên kết qua do
tỷ trọng và kết quả xác định hàm lượng chất béo, sử dụng công thức Fleischmans để tính:
Vat chat khé (g) = “SO O° p
Trang 16Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến - K29C Sinh
Trang 17Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến —- K29C Sinh
Phần 4
KÉẾT QUÁ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang cách Hà Nội 165 km đường bộ (theo quốc lộ 2) về phía
Bắc; diện tích tự nhiên 5.868 km’, dan sé trén 720 ngàn người với trên 22 dân
tộc cùng chung sống Tuyên Quang giáp với các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Yên Bái, Phú Thọ và Vĩnh Phúc; là một tỉnh với 4% dân sé đang có mức sống thấp, toàn tỉnh có 144 thôn bản/2260 thôn bản có tỉ lệ hộ nghèo trên 10%
Đất đai bao gồm 71.812,81 ha là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp
- Công tác thú y: Thường xuyên kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn kịp
thời dịch bệnh bảo vệ đàn gia súc gia cầm phát triển 6n định
Từ các đặc điểm trên cho thấy, việc phát triển kinh tế của tỉnh Tuyên Quang
có một số thuận lợi như đất đai đa dạng, phong phú, có diện tích đổi rộng có
thể chăn nuôi, phát triển đàn đại gia suc, nguén lao động dư thừa còn nhiều,
song cũng có một số khó khăn như thiếu nguồn vốn, thiếu các kiến thức về
17
Trang 18Khoá luận tốt nghiệp Tran Thị Hải Yến - K29C Sinh
chăn nuôi, chăm sóc, bảo vệ vật nuôi Chính vì vậy, việc tìm ra hướng phát
triển kinh tế của tỉnh mà cụ thể là trồng cây gì, nuôi con gì, chế biến chúng ra
sao để thu được giá trị kinh tế nhất, nâng cao mức sống của nhân dân là một
vấn đề cấp thiết chung của tất cả các cấp, các ngành
4.2 Đặc điểm thời tiết khí hậu vùng đồi núi Tuyên Quang
4.2.1 Kết quả so sánh các yếu tố khí tượng vùng đồi núi Tuyên
Quang và Mộc Châu
Tuyên Quang là một tỉnh nghẻo chưa từng nuôi bò sữa bao giờ Vì vậy khi nhập bò sữa về nuôi, Viện khoa học công nghệ, Viện chăn nuôi quốc gia
đã nghiên cứu và tìm hiểu về đặc điểm thời tiết khí hậu của tỉnh, so sánh với
thời tiết khí hậu của Mộc Châu - nơi có điều kiện thích hợp cho sự phát triển
đàn bò sữa Kết quả được trình bày ở các bảng sau:
Bảng 2: Các yếu tổ khí tượng vùng đôi núi Tuyên Quang [6]
Trang 19
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Hải Yến - K29C Sinh
Bảng 3: Các yếu tổ khí tượng cao nguyên Mộc Chau [8]
Qua hai bảng trên cho thấy khí hậu vùng đôi núi Tuyên Quang và Mộc
Châu gần như tương đồng, thể hiện khá rõ đặc trưng của khí hậu nhiệt đới
nóng âm, các tháng trong năm khác nhau rõ rệt và chia làm 4 mùa, mùa đông tir thang 11 - 1 nhiệt độ thấp, ít mưa nên độ âm thấp nhưng kèm theo gió mùa đông bắc nên lạnh buốt Mùa xuân từ tháng 2 — 4 mưa nhiều hơn, nhiệt độ cao hon, có gió nồm nên gây ra mưa phùn, độ ẩm rất cao Mùa hạ từ tháng 5 — 7 năng nhiều, nhiệt độ cao hơn, có khi có gió bão khô cằn nên hay gây ra mưa bão hơn Mùa thu từ tháng 8 - 10, nhiệt độ thấp dần, lượng mưa vừa phải
Từ kết quả so sánh trên cho thấy nếu đàn bò giống HF có khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu tại Mộc Châu thì chúng cũng có khả năng
phát triển tốt ở vùng đồi núi Tuyên Quang
4.2.2 Khó khăn của việc nuôi bò sữa gốc ôn đới trong điều kiện
nhiệt đới
Một điều quan trọng ta phải nhận thức rõ ràng rằng năng suất sữa của
bò không chỉ phụ thuộc vào phẩm giống đơn thuần mà còn phụ thuộc rất lớn vào môi trường trong đó bò được nuôi dưỡng Nói cách khác, năng suất sữa khai thác được trong thực tế là do kết quá tương tác giữa tiềm năng di truyền
19