1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Một số đặc trưng của thể loại kịch và phương pháp dạy văn bản kịch trong môn ngữ văn ở THCS

26 2,9K 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 282,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế ở trường THCS An Khánh cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình đổi mới phương pháp dạy Ngữ văn, đặc biệt là dạy văn bản kịch. Để có một giờ dạy tốt cần có sự đầu tư thích đáng về thời gian, trong khi đời sống giáo viên còn nhiều khó khăn, cơ sở vạt chất và các phương tiện dạy học như tài liệu tham khảo, băng đĩa, tranh ảnh còn ít, chủ yếu là dạy chay. Một số đoạn trích kịch ở lớp 9 được sắp xếp ở cuối chương trình nên việc đầu tư cho bài dạy chưa nhiều. Chính vì những lý do trên mà tôi đã lựa chọn đề tài này nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn. Hạn chế số lượng học sinh yếu kém, tăng số lượng học sinh giỏi, khắc phục một phần tình trạng chán học văn đang gia tăng hiện nay.

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA THỂ LOẠI KỊCH

VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VĂN BẢN KỊCH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS

A LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học được các cấp quản lýgiáo dục quan tâm nhiều, coi đó như một nỗ lực của ngành cần được khai tháctriệt để, nhằm tạo ra “bước nhảy” về chất lượng giáo dục Nghị quyết TW2 khoá

VIII của Đảng đã chỉ rõ “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học” Quan điểm của Đảng ta từng coi giáo dục là quốc sách

hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, vì vậy yêu cầu đổimới phương pháp dạy học được đặt ra là một vấn đề quan trọng và cấp bách

Luật giáo dục của điều 24.2 đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thôngphải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp vớiđặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện

kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềmvui, hứng thú học tập cho học sinh

Để đáp ứng yêu cầu đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành thay sáchgiáo khoa các bộ môn lớp 6, 7, 8, 9 tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện đổi mớiphương pháp dạy học Một trong những nét mới khá nổi bật của chương trìnhNgữ văn THCS đó là đã giới thiệu một số trích đoạn kịch bản văn học tiêu biểu

Ở lớp 7 là thể loại chèo của sân khấu dân gian Việt Nam: Trích “Nỗi oan hại chồng”, chèo “Quan âm Thị Kính”; Ở lớp 8 trích: “Ông Giuốc đanh mặc lễ phục”-trong vở hài kịch của Môlie “Trưởng giả học làm sang”; Ở lớp 9 là 2 đoạn trích của hai vở kịch nói hiện đại “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng, “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ Vì vậy buộc người giáo viên phải nắm được đặc

trưng của thể loại kịch và đổi mới phương pháp dạy văn bản kịch

Trang 2

Thực tế ở trường THCS An Khánh cũng gặp nhiều khó khăn trong quátrình đổi mới phương pháp dạy Ngữ văn, đặc biệt là dạy văn bản kịch Để có mộtgiờ dạy tốt cần có sự đầu tư thích đáng về thời gian, trong khi đời sống giáo viêncòn nhiều khó khăn, cơ sở vạt chất và các phương tiện dạy học như tài liệu thamkhảo, băng đĩa, tranh ảnh còn ít, chủ yếu là dạy chay Một số đoạn trích kịch ởlớp 9 được sắp xếp ở cuối chương trình nên việc đầu tư cho bài dạy chưa nhiều.Chính vì những lý do trên mà tôi đã lựa chọn đề tài này nhằm góp phần nâng caochất lượng giảng dạy môn Ngữ văn Hạn chế số lượng học sinh yếu kém, tăng sốlượng học sinh giỏi, khắc phục một phần tình trạng chán học văn đang gia tănghiện nay.

B-CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1 Đặc trưng bộ môn.

Văn học là một loại hình nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng hình tượngvăn học thông qua một chất liệu đặc biệt là ngôn từ (một thứ ngôn ngữ đã đượcchọn lọc, gọt rũa tinh tế) Nhà văn lấy ngôn từ làm chất liệu để xây dựng nên tácphẩm của mình, tái hiện lại bức tranh sinh động về cuộc sống và con người Qua

đó nhà văn gửi gắm những tình cảm, tư tưởng và thái độ của mình trước cuộcsống

Văn học giúp chúng ta nhận thức cuộc sống, đưa đến những suy tưởngsâu lắng trong tâm hồn tình cảm để cuộc sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn Sự nhậnthức và suy tưởng đó phụ thuộc rất nhiều vào bề dày vốn sống và những tri thức,kinh nghiệm của mỗi cá nhân Do vậy, dạy Ngữ văn về một phương diện nào đó

là dạy cách tiếp nhận văn học có vai trò tích cực sáng tạo của học sinh

Việc đưa những tác phẩm kịch vào chương trình, chủ yếu nhằm tạo điềukiện cho học sinh tiếp xúc với đủ 3 loại hình (tự sự, trữ tình, kịch) và một số thểkịch quen thuộc: Dân gian, cổ điển, hiện đại Bên cạnh đó cũng cần có sự phânbiệt: kịch là một loại hình nghệ thuật tổng hợp (Văn học, hội hoạ, kiến trúc, điêukhắc, âm nhạc, nhảy múa ) trong khi đó văn học là loại hình nghệ thuật ngôn từ.Xem biểu diễn kịch trên sân khấu không giống với việc đọc một bài văn, một bàithơ Tuy nhiên kịch được dạy học trong nhà trường là kịch bản văn học có bảngphân vai, hướng dẫn nội dung về cách thức diễn vở kịch

Trang 3

Là một thể loại văn học nằm trong loại hình nghệ thuật kịch, tác phẩmkịch nói cũng chỉ thực sự khai thác trọn vẹn khi được diễn trên sân khấu Sau laođộng của nhà viết kịch là chặng đường sáng tạo thứ 2 của đội ngũ nghệ sĩ sânkhấu gồm đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, hoạ sĩ Nhưng không phải bất cứ một kịchbản văn học nào cũng có điều kiện để dàn dựng trên sân khấu Là một thể loạivăn học có đặc trưng riêng trong cấu trúc hình tượng, phương thức biểu hiệntrong ngôn ngữ nghệ thuật chúng ta vẫn có thể thưởng thức tác phẩm kịch bằngcách đọc kịch bản văn học.

Dạy kịch bản văn học không đơn thuần là phân tích văn học, giảng văn,thưởng thức vẻ đẹp của một lời văn hoặc biện pháp tu từ, cũng không phải để môphỏng diễn theo cử chỉ, điệu bộ của nhân vật kịch Kịch bản văn học vừa thể hiệnđặc trưng của một văn bản văn học, vừa thể hiện đặc trưng của thể loại kịch Sựkết hợp giữa hai phương diện này vừa tạo nên sức hấp dẫn riêng của một loại vănbản, lại vừa là thử thách không dễ vượt qua cho người dạy và người tiếp nhận

Đổi mới phương pháp dạy văn bản kịch yêu cầu giáo viên phải nắm chắcđặc trưng của thể loại kịch Vận dụng linh hoạt các nguyên tắc, các thao tác giảngdạy, các phương pháp khác nhau phải phù hợp với đặc trưng bộ môn Nhằm pháthuy tối đa tinh thần chủ động, tích cực sáng tạo của học sinh, giúp các em tự tìmtòi, tự khám phá ra chân lý, thay vì cách học một chiều trước đó

2 Đặc điểm về tâm sinh lý của học sinh THCS

Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THCS có nhiều điểm khác với họcsinh Tiểu học, nó biểu hiện bước phát triển mới về đời sống tâm lý Đó là nhucầu được chiếm lĩnh tri thức, khả năng trí nhớ và liên tưởng, hoạt động tâm lýdần vượt lên bản năng để có ý thức và năng lực tư duy trội lên, năng lực súc cảmtrực tiếp mau lẹ Trẻ em hôm nay vượt trội về năng lực cảm xúc và trí tuệ LX

Vư Gôtxki đã chỉ ra sự kiện căn bản của lứa tuổi thiếu niên là tuổi dậy thì, donhững thay đổi căn bản về cấu trúc sinh lý mà “Cả một thế giới mới của nhữngrung động nội tâm, những kích thích được mở, đời sống nội tâm phức tạp lênkhông ngừng so với tuổi nhi đồng trước đó Khả năng rung cảm cao, thời kỳ đóđặc trưng bằng sự mạnh mẽ và dễ xúc động của tình cảm” (Trí tưởng tượng sángtạo ở lứa tuổi thiếu nhi – Nhà xuất bản Phụ nữ H1985)

Trang 4

Học sinh THCS so với học sinh Tiểu học nhanh nhạy trong cảm thụ vànhận thức văn học Khả năng liên tưởng, tưởng tượng linh hoạt hơn, logic hơn.Khả năng ghi nhớ tái hiện hình tượng văn học, khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ

đã lưu loát và vững bền hơn Các em dễ hứng thú, tích cực nhưng cũng dễ chánnản trong tìm tòi khám phá các tác phẩm ( tò mò muốn biết tình tiết cốt truyện sốphận nhân vật) Định hướng học tác phẩm chưa tốt ( Thích truyện tranh, truyệnphiêu lưu, truyện cổ tích thần thoại ) Một số tác phẩm trong chương trình nhất làthể loại kịch chỉ tự học, đọc khi có nhiệm vụ được giao Nhìn chung học sinhTHCS đã có khả năng độc lập, tích cực trong học tập nhưng năng lực và hứngthú cá nhân chưa bền vững Nhất là học sinh ở vùng nông thôn việc tiếp xúc vớisân khấu kịch còn hạn chế, chủ yếu qua Tivi, sách giáo khoa Vì vậy giáo viêncần nắm được tâm sinh lý của học sinh để giúp học sinh tiếp cận tri thức hiệu quảnhất

3 Thực tế giảng dạy và học tập ở nhà trường

Những năm gần đây nhà trường luôn có thành tích cao trong các kỳ thigiáo viên giỏi và học sinh giỏi bộ môn Ngữ văn Song quan niệm của một số phụhuynh về vấn đề dạy văn học còn lệch lạc, thiên về đầu tư cho các môn khoa học

tự nhiên Mặt khác trình độ giáo viên trong nhóm ngữ văn chưa đồng đều, việcđổi mới phương pháp dạy học còn hạn chế Đối với thể loại kịch nhiều giáo viênvẫn xác định là khó dạy Kinh nghiệm thưởng thức kịch còn hạn chế, tài liệu viét

về kịch ít và càng ít phổ biến Đó là những khó khăn khi dạy học kịch Nhóm ngữvăn đã tiến hành một số chuyên đề về dạy văn bản kịch,song chưa được kết quảnhư mong muốn Đó là cơ sở mà tôi nhận thấy cần phải đầu tư vào tìm hiểu đặctrưng của kịch và đổi mới phương pháp dạy văn bản kịch trong trường THCS

C NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

Trang 5

Kịch là một trong 3 phương thức cơ bản của văn học (kịch, tự sự, trữtình) Kịch vừa thuộc sân khấu, vừa thuộc văn học Nó vừa để diễn là chủ yếu lạivừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch Song nói đến kịch

là phải đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành động, cử chỉ,điệu bộ, lời nói ( Riêng kịch câm thì không diễn tả bằng lời)

Kịch được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặcnhững xung đột muôn thưở mang tính nhân loại ( như giữa thiện và ác, cao cả vàthấp hèn, ước mơ và hiện thực ) Những xung đột ấy được thể hiện bằng một cốttruyện có cấu trúc chặt chẽ qua hành động của các nhân vật và theo những quytắc nhất định của nghệ thuật kịch Trong kịch thường chứa đựng nhiều kịch tính,tức là những sự căng thẳng do tình huống tạo ra đối với nhân vật

Phần lớn kịch đươc xây dựng trên hành đồng bên ngoài với những diễnbiến của chúng và theo những nguyên tắc có sự đấu tranh chống lại của các nhânvật Tuy nhiên, cũng có hành động bên trong, qua đó nhân vật chủ yếu là suyngẫm và chịu đựng một tình huống xung đột bên trong hết sức căng thẳng

Trong kịch, những lời phát biều của các nhân vật ( Trong đối thoại hoặcđộc thoại) nói lên hành động, ý chí và sự tự khám phá tích cực của họ có một ýnghĩa quyết định Còn những lời trần thuật ( Câu chuyện kể của nhân vật vềnhững điều đã qua, sự thông báo của người dẫn truyện, những lời chỉ dẫn của tácgiả trong kịch bản) chỉ đóng vai thứ yếu và nhiều khi không cần đến

* Về mặt kết cấu:

Vở kịch thường chia thành nhiều hồi, cảnh, nhằm tạo ra sự trùng khớpgiữa thời gian, địa điểm và hành động kịch đồng thời làm cho cái được trình diễnmang màu sắc xác thực của đời sống Qua các thế kỷ khác nhau, mối quan hệgiữa ba yếu tố: Thời gian, địa điểm, hành động trong kết cấu của kịch khôngngừng thay đổi tuỳ theo quan niệm của người sáng tạo và quy mô, tầm vóc củanhững sự kiện biến cố được phản ánh

Trên cấp độ loại hình, kịch bao gồm nhiều thể loại: Bi kịch, hài kịch,chính kịch, cùng nhiều tiểu loại và biến thể khác nhau

* Ở cấp độ thể loại:

Trang 6

Là một khái niệm kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học-sân khấu

có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch Với ý nghĩa này, kịch cũng gọi làchính kịch (hoặc kịch dram) Cũng giống như hài kịch, kịch tái hiện cuộc sốngriêng của con người bình thường nhưng mục đích chính không phải là cười nhạo,chế diễu các thói hư tật xấu mà là mô tả cá nhân trong các mối quan hệ chứađựng kịch tính đối với xã hội Và cũng giống với bi kịch, kịch chú trọng tái hiệnnhững mâu thuẫn gay gắt, song những xung đột của nó cũng không căng thẳngđến tột độ, không mang tính chất vĩnh hằng và về nguyên tắc có thể giải quyếtđược ổn thoả Còn các tính cách của kịch thì không có gì đặc biệt, phi thường

Kịch hình thành như một thể loại vào nửa sau thế kỷ XVIII qua sáng táccủa các nhà khai sáng ở Pháp và Đức như Đi-đơ-rô (1713-1784), Bô-méc–se(1732-1799), G.E Let xing (1729-1781) Nó hướng về những lợi ích tinh thầnđạo đức, về lý tưởng của các lực lượng dân chủ tiến bộ đương thời Trong quátrình phát triển của kịch, tính kịch bên trong của nó ngày càng cô đọng, dồn nénhơn Nó cũng tiếp nhận những thủ pháp nghệ thuật, những phương tiện biểu đạtcủa các thể loại văn học sân khấu khác như bi hài kịch, kịch hề để tăng thêmsức hấp dẫn và tác động nghệ thuật của nó đối với công chúng

Ở Việt Nam kịch ra đời vào những năm 20 của thế kỷ XX với những

sáng tác như “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long, “Kim Tiền” của Vi Huyền

Đắc Từ sau Cách mạng tháng Tám, kịch ngày càng chiếm vị trí quan trọngtrong đời sống văn học-sân khấu và xã hội ở nước ta

2 Đặc trưng của kịch

2.1 Xung đột kịch

Do tính chất loại biệt của sự phản ánh, kịch lấy xung đột làm nội dungphản ánh Nghệ thuật kịch bao giờ cũng phản ánh cuộc sống trong một quá trìnhnhất định, ở trạng thái khách quan, dưới dạng trực tiếp, cụ thể sinh động nhưđang diễn ra trước mắt người xem Nó hoàn toàn khác hẳn với hội hoạ, điêukhắc, chỉ phản ánh cuộc sống tập trung trong mộ khoảnh khắc nhất định; nó cũngkhông giống với âm nhạc và thơ trữ tình lấy việc phản ánh tâm trạng, tình cảmcủa con người trước một sự kiện nào đó làm nội dung chủ yếu Chính tính chấtđặc biệt ấy buộc nghệ thuật kịch phải chọn những chất liệu có tính chất động làm

Trang 7

cơ sở cho nội dung kịch, nghĩa là nó phải phản ánh cuộc sống trong sự vận độngcủa nó Mà đã nói tới vận động là không thể không nói tới xung đột.

Lấy xung đột trong đời sống làm cơ sở cho sự sáng tạo nghệ thuật, nhàviết kịch đến với hiện thực bằng con đường ngắn nhất Pha-đê-ép đã từng khẳng

định: “Xung đột là cơ sở của kịch” Thực tế trong sự vận động của hình tượng

thơ cũng có bộc lộ mâu thuẫn giữa những trạng thái tình cảm khác biệt của cảmxúc: Vui và buồn, hạnh phúc và đau khổ Trong các tác phẩm tự sự như tiểuthuyết, truyện vừa, truyện ngắn, yếu tố mâu thuẫn tồn tại ngay trong sự vận độngcủa cốt truyện và trong sự phát triển của các tính cách nhân vật Với kịch, yếu tốxung đột mang một sắc thái thẩm mỹ khác Nhà viết kịch hiện đại Xô Viết Ác-bu-dốp đã cho rằng: “Trong kịch không có những yếu tố tuỳ hứng mà người nghệ

sĩ có quyền dùng khi điều khiển số phận những con người trong các tiểu thuyết

và truyện ở đây có một khuôn khổ rất chặt chẽ, không có thì giờ để mạn đàm,giải thích, luận bàn” Sự khác biệt ấy chính là tính chất tập trung cao độ của sựxung đột kịch, sự chi phối trực tiếp đến cấu trúc tác phẩm, đến nhịp độ vận độngdồn dập khác thường của cốt truyện

Xung đột là động lực thúc đẩy sự phát triển của hành động kịch nhằmxác lập lên những quan hệ mới giữa các nhân vật vốn được coi là kết thúc tất yếucủa tác phẩm kịch Thiếu xung đột, tác phẩm kịch sẽ mất đi đặc trưng cơ bản đầutiên của thể loại, sẽ là những “vở kịch tồi” Vì vậy người viết kịch phải tạo đượcnhững xung đột mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, tính khái quát lớn lao nhưng phảihết sức chân thực, nghĩa là xung đột mang tính điển hình hoá

Thiếu ý nghĩa điển hình, tác phẩm kịch chỉ là sự mô phỏng những mâuthuẫn vụn vặt, tầm thường của đời sống Thiếu ý nghĩa chân thức, tác phẩm kịchchỉ là sự giả tạo, là những dòng lý thuyết suông Công chúng tìm đến với kịch làtìm đến một sự đồng cảm hoặc phản bác đối với tác giả trước những vấn đề quantrọng của đời sống Nghệ thuật kịch luôn là diễn đàn tư tưởng của cuộc sống, làmối giao cảm sâu xa giữa tác giả và khán giả

Ví dụ: Trong đoạn trích “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng, xung đột cơ

bản trong kịch “Bắc Sơn” là xung đột giữa lực lượng Cách mạng và kẻ thù Xungđột cơ bản ấy được thể hiện thành những xung đột cụ thể giữa các nhân vật và

Trang 8

trong nội tâm của một số nhân vật (Thơm, bà cụ Phương) Xung đột kịch diễn ratrong chuỗi các hành động kịch có quan hệ gắn kết với nhau Trong hồi bốn,xung đột giữa cách mạng và kẻ thù được thể hiện trong sự đối đầu giữa Ngọccùng đồng bọn với Thái Cửu Xung đột ấy lại diễn ra trong hoàn cảnh cuộc khởinghĩa bị đàn áp, kẻ thù đang truy lùng những chiến sĩ cách mạng Nhưng xungđột ở hồn kịch này còn diễn ra ở nhân vật Thơm đã có bước ngoặt quyết định,khiến cô lựa chọn đứng hẳn về phía cách mạng.

Nới tới xung đột kịch ta cần chú ý đến vai trò tư tưởng của người viết.Phản ánh những xung đột trong đời sống người viết muốn gửi gắm một ý nghĩa

tư tưởng nào đó tới khán giả như Pô-gô-đin–nhà viết kịch Xô Viết nổi tiếng, khiông nói tới khán giả như Pô-gô-đin nhà viết kịch nổi tiếng, khi ông nói tới mối

quan hệ giữa xung đột và tư tưởng “Xung đột là điều kiện quan trọng đầu tiên của tác phẩm, nó mang lại cho tác phẩm kịch sự sống và sự vận động Nhưng xung đột bao giờ cũng phụ thuộc vào một cái cao nhất và cũng là linh hồn của

nó, đó là tư tưởng chủ đề của của tác phẩm” Mối quan hệ giữa hai yếu tố này là

mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau, nhưng tư tưởng chủ đề là cái gốc, cótính chất quyết định

Ví dụ trong vở “Tôi và chúng ta” Lưu Quang Vũ muốn ca ngợi những

con người mạnh dạn đổi mới có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu tráchnhiệm, để phát triển sản xuất, đem lại nguồn lợi hạnh phúc cho mọi người Tácgiả tổ chức những chất liệu mà anh thu thập được trong cuộc sống thành xung độtgiữa những người cùng sống trong một nhà máy Một bên tiêu biểu cho loạingười máy móc, bảo thủ như phó giám đốc Nguyễn Chính, còn một bên là giámđốc Hoàng Việt đại diện cho cái mới, dám nghĩ dám làm Thông qua cuộc đấutranh đó mà khán giả tiếp thu được vở kịch như ý đồ tác giả muốn nói

2.2 Hành động kịch

Theo Arixtốt “Hành động là đặc trưng của kịch” Nếu xung đột được coi

là điều kiện cần thiết làm nảy sinh tác phẩm, thì hành động lại là yếu tố duy trì sựvận hành của tác phẩm Trong mối giao lưu đó, xung đột là nơi quy tụ, chọn lọc

và tổ chức hành động kịch Tính kịch của tác phẩm nằm trong xung đột nhưngxung đột lại là yếu tố để giải toả nằm trong xung đột ấy Hành động kịch thường

Trang 9

phát triển theo hướng thuận chiều với xung đột kịch Xung đột càng căng thẳngthì thiên hướng hành động càng trở nên quyết liệt, vì thế sức hấp dẫn của tácphẩm tăng lên.

Hành động kịch cần được hiểu trong tình huống thống nhất vẹn toàn của

nó Hành động kịch không phải là những hành động đơn lẻ, ngắt quãng mà làmột chuỗi hành động liên tục xoay quanh trục xung đột Hành động kịch ở đâychính là cốt truyện kịch được tổ chức một cách thống nhất, chặt chẽ trong khuônkhổ của một chính thể nghệ thuật Các cốt truyện bằng hành động ấy xoáy vàotrung tâm xung đột bằng sự liên kết theo một quy luật riêng: quy luật nhân quả.Mọi hành động trong tác phẩm kịch dù trực tiếp hay gián tiếp đều dựa trên luậtnhân quả

Hình thức nhân quả trực tiếp là hình thức mà hành động thứ nhất lànguyên nhân sinh ra hành động thứ 2 và có thể cho đến hết

Ví dụ trong đoạn trích “Nỗi oan hại chồng” trích vở chèo cổ “Quan âm Thị Kính”

Hành động 1: Hai vợ chồng Thiện Sĩ ngồi học và khâu vá dưới trăng, sau

đó Thiện Sĩ ngủ thiếp đi Đây là nguyên nhân của hành động thứ 2

Hoạt động thứ 2: Thị Kính cắt chiếc râu mọc ngược cho chồng là kết quả

của hành động 1 và là nguyên nhân của hành động 3

Hành động 3: Bố mẹ Thiện Sĩ vu cho Thị Kính giết chồng, đuổi Thị

Kính đi là kết của của hành động 2 và là nguyên nhân của hành động tiếp theo làThị Kính giả trai đi tu

Hình thức nhân quả gián tiếp là hình thức mà hành động thứ nhất có khi

là nguyên nhân của hành động thứ tư hoặc thứ 5

Ví dụ: Trong vở Ô-Ten-Lô (Hồi 1, cảnh 1 và 2).

Cảnh 1: Vẫn theo hình thức nhân quả trực tiếp.

Hành động thứ nhất: Iagô rủ Rôđơrigô đến nhà Brabanxiô báo

Đétxđêmôna bỏ nhà đi theo ÔtenLô

Trang 10

Hành động thứ hai: Iagô chọc tức Brabanxiô về việc Đétxđêmôna tự ý

lấy ÔtenLô sau đó lánh mặt đi vì sợ lộ

Hành động thứ ba: Brabanxiô đem gia nhân đi lùng bắt ÔtenLô.

Cảnh 2: (Theo hình thức nhân quả gián tiếp).

Hành động thứ tư: Iagô tìm ÔTenLô và nói xấu Brabanxiô để gây hiềm

khích giữa hai người Hành động này có nguyên nhân từ hành động thứ 2: Iagôkhích Brabanxiô (cảnh 1)

Trong thực tế: Hình thức nhân quả trực tiếp thường được dùng trong các

kịch bản ca kịch dân tộc như Tuồng, Chèo, viết theo lối tự sự, có tuyến kịch rõràng Còn hình thức nhân quả gián tiếp lại được dùng trong các kịch bản kịchnói, viết thành nhiều tuyến kịch, chồng chéo lên nhau, cùng song song phát triển

Mối quan hệ giữa hành động và nhân vật kịch là trục chính để xác địnhtính cách nhân vật Dù ở dạng nào, nhân vật kịch cũng khẳng định bản chất củamình bằng hình động: Một ácPaGông keo kiệt (Môlie); Ôtenlô cuồng nhiệt cả tinnhưng không kém phần hung bạo, một Dex-mô-na trong trắng, ngây thơ, Iagôgian trá và hiểm độc, Hăm-lét đau đớn (Sếch-x-pi-a) Bấy nhiêu tính cách là bấynhiêu sự trăn trở, giằng xé dữ dội từ bên trong và những hành động quyết liệt ởbên ngoài

Trong vở chèo cổ “Quan âm Thị Kính” có hành động cắt râu cho chồng

của Thị Kính rất kịch tính Hành động này đã tạo thành một mối quan hệ mới,làm thay đổi vị trí trí của Thị Kính từ chỗ là người vợ yêu chồng đến chỗ bị nghioan là giết chồng vì sau đó bị đuổi ra khỏi nhà Xem đến đấy, khán giả sẽ hồihộp, lo lắng, chờ đợi xem số phận của Thị Kính sau này sẽ ra sao? Nỗi oan kialiệu có được giải không Mặt khác qua hành động này, chúng ta thấy được mộtphần tính cách của Thị Kính Đó là một tâm hồn trong sáng, chân thật của mộtngười vợ thương yêu chồng rất mực, không muốn để chồng xấu vì một chiếc râumọc ngược dưới cằm Nếu tác giả thay bằng hành động như Thị Kính ngồi quạtcho Thiện Sĩ ngủ thì không có nỗi oan Thị Kính và Thị Kính không thể trở thànhmột hình tượng nghệ thuật có giá trị tố cáo xã hội cũ

2.3 Ngôn ngữ kịch

Trang 11

Khi nói về các yếu tố của văn học Giooc-ki đã coi “ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học” Điều đó có nghĩa là không có ngôn ngữ sẽ không có văn

học Đối với nghệ thuật kịch, vai trò quan trọng đó của ngôn ngữ được nhiều tácgiả kịch nổi tiếng trên thế giới công nhận A.N.axtrop xki nhà sáng lập ra nềnkịch ở Nga ở thế kỷ XIX đã coi ngôn ngữ là điều kiện đầu tiên của tính nghệ

thuật Giooc ki trong bài “Bàn về kịch” đã khẳng định “Ngôn ngữ đối thoại có ý nghĩa to lớn và thậm chí có ý nghĩa quyết định đối với việc sáng tác kịch” So với

các thể loại khác, hệ thống ngôn ngữ kịch mang tính đặc thù rõ rệt

* Ngôn ngữ nhân vật: Đây là hình thái tồn tại duy nhất của ngôn ngữkịch So với hệ thống ngôn ngữ tự sự đây là điểm khác biệt rất rõ Ngôn ngữ tácgiả, biểu hiện trong các lời chỉ dẫn về hoàn cảnh, về nhân vật chỉ có giá trịhướng dẫn người đọc, diễn viên, đạo diễn, hoạ sĩ trong khi đọc kịch bản, còn khidựng trên sân khấu chúng sẽ biến mất và nhường chỗ cho tiếng nói của hoạ sĩtrong các cảnh trí, cho ngôn ngữ hành động của diễn viên Ngôn ngữ nhân vậtbao gồm hai hình thức chủ yếu là đối thoại và độc thoại

* Ngôn ngữ đối thoại: Là sự đối đáp qua lại giữa các nhân vật ngôn ngữđối thoại được coi là dấu hiệu đầu tiên của ngôn ngữ kịch Ngôn ngữ độc thoại làtiếng nói của nhân vật chỉ nói với chính mình Để nhân vật tự nói lên những uẩnkhúc bên trong, các tác giả kịch nhằm khai thác chiều sâu tâm lý cho các nhânvật Khi trình diễn trên sân khấu, người ta có thể thay đổi màu sắc, ánh sáng, sửdụng tiếng vọng, hoặc tái hiện những hình bóng đã lùi vào quá khứ Sân khấuhiện đại còn sử dụng thủ pháp đồng hiện: Nhân vật tự phân thân để đối thoại

cùng nhau như “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ Ngôn ngữ

nhân vật kịch dù đối thoại hay độc thoại trước hết đó là ngôn ngữ khắc hoạ tính

cách Từ những “Lời ăn tiếng nói” riêng của mình, nhân vật kịch “phải biểu hiện

ở mức chính xác tối đa một cái gì đó điển hình” (Gorki) Sự chính xác tối đa theo

yêu cầu Gorki chính là ở chỗ: Mỗi nhân vật với một nguồn gốc xuất thân, bảnchất xã hội là một đặc điểm cá tính riêng phải có tiếng nói riêng thật phù hợp Đó

là một đòi hỏi tất yếu, bởi vì bản chất của nhân vật kịch chỉ có thể được bộc lộqua chính lời lẽ của chính họ mà thôi

2.3.1 Những đặc điểm của ngôn ngữ kịch.

Trang 12

* Ngôn ngữ mang tính hành động:

Hệ thống ngôn ngữ có nhiệm vụ mô tả chân dung kịch bằng một loạt cácthao tác hành động Tính hành động của nhân vật kịch không chỉ bộc lộ tronghình tượng sân khấu mà nó đã được hình thành ngay từ trong cấu tạo kịch bảnvăn học Ngôn ngữ trong tác phẩm kịch phải đảm bảo cho sự phát triển đầy kịchtính của cốt truyện và những phản ứng hành động theo kiểu dây chuyền của cácnhân vật kịch Tính hành động là đặc điểm, diễn viên xử lý thích hợp với hànhđộng của nhân vật trên sân khấu

Ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ hội thoại gần gũi với đời sống

Ngôn ngữ kịch súc tích, dễ hiểu và ít nhiều mang tính chất khẩu ngữ.Ngôn ngữ kịch vừa gần với tiếng nói hàng ngày lại vừa có tính chất văn học.Trong kịch thơ và ca kịch dân tộc ngôn ngữ giàu tính ước lệ, cách điệu phù hợpvới âm nhạc

Ví dụ: Ngôn ngữ của Đào Huế ở lớp “Đánh ghen” trong trích đoạn chèo

cổ “Tuần Ty - Đào Hiếu” vừa gần gũi với đời sống, vừa được cách điệu lên và

phù hợp với âm nhạc của lớp này

Đào Huế: - Liến chi, liến chi! Rẽ cậu ra để tôi trả lời cho em

Ới con tê ơi! Mày lấy được chồng bà Đất lơ trời lẳng, đất lẳng trời lơ

Có thể ông tơ chết tiệt, bà nguyệt chết dầm,

Mồ cha đứa làm mối đặng người ni cho cậu

(Vĩa) Ối em ơi! Em nghĩ mình em đáng giá lạng vàng mười

Đem ra kẻ chợ kém người năm phân (Hát sắp đuổi) Chém cha con bợm lầu xanh

Rủ rê chồng chị, dỗ dành chồng tao.

Ở đây ta thấy tác giả khuyết danh của vở chèo vận dụng rất tài tình ngônngữ dân gian của quần chúng kết hợp với yếu tố âm nhạc dựng nên ngôn ngữnhân vật Đào Huế với giọng đay nghiến, chì chiết, khinh bỉ của một bà vợ đánhghen

Trang 13

Trong sân khấu kịch nói không sử dụng ngôn ngữ xa lạ với đời sống Cácnhân vật kịch đối đáp với nhau một cách tự nhiên giản dị theo cách đối thoạitrong đời sống hàng ngày Tuy nhiên sự giản dị, tự nhiên ấy không hề mâu thuẫnvới những cách nói năng giàu ẩn ý, giàu hình tượng và ý nghĩa triết lý sâu xa màchúng ta thường bắt gặp trong các tác phẩm kịch Là một hình thái ngôn ngữnghệ thuật, ngôn ngữ kịch phải đạt đến trình độ điêu luyện Tuy vậy tác phẩmkịch loại bỏ hoàn toàn những lời lẽ thô thiển cũng như những cách nói năng tựnhiên chủ nghĩa Trong vở “Tôi và chúng ta” Lưu QuangVũ đã thể hiện điều đónên người xem có thể tiếp thu được một cách dễ dàng nội dung đối thoại của cácnhân vật.

Lê Sơn: – Chỉ e làm giả thì được huân chương, còn làm thật thì lại no

đòn!

Hoàng Việt: – Da tôi dày lắm, cậu yên chí!

Lê Sơn: – Anh thật là Thôi được, hứa với anh: Tôi không chạy đâu! Chỉ

tuần sau là quy trình sản xuất mới sẽ được triển khai Ông Đông

ki sốt! Khổ thân tôi, tôi lại giống kị mã Xan-chô, rất yêu vàkhông thể thiếu được Đông ki-Sốt Này nhưng dứt khoát các cốixay gió nó sẽ cho chúng ta ăn đòn nhừ tử đấy!

(Anh đi khuất)Tóm lại, cái khó của một vở kịch là đòi hỏi mỗi nhân vật phải tự biểuhiện tính cách bằng lời nói và hành động Tài năng của một nhà viết kịch bộc lộngay trong khả năng vận dụng tối đa sức mạnh đặc biệt của ngôn ngữ hội thoại

để cấu trúc tác phẩm và khắc hoạ hình tượng ở Việt Nam các tác giả: NguyễnHuy Tưởng, Lộng Chương, Đào Hồng Cẩm, Lưu Quang Vũ đã thể hiện khá rõ cátính sáng tạo của mình trong sáng tạo ngôn ngữ

II Đổi mới phương pháp dạy kịch trong trường THCS

1- Khởi động dạy một cách hấp dẫn.

Đây là hoạt động đầu tiên cho việc dạy bài mới Nhưng đôi khi người dạythường xem nhẹ hoặc bỏ qua nó Có những thầy cô đơn giản hóa lời giới thiệubài mới bằng điệp khúc muôn thủa : “Tiết trước chúng ta học bài… hôm nay ta

Ngày đăng: 21/09/2014, 14:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w