1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống khảm trai Chuyên Mỹ, Phú Xuyên, Hà Nội

43 758 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 17,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm sinh hoạt bình thường hàng ngày, mà một số còn là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của nên văn hóa xã hội, mức độ phát tri

Trang 1

TRUONG DAI HQC SU PHAM HA NOI 2

KHOA SINH - KTNN

đắc dc dịc cặc tị dị c dc

NGUYEN THI THUY

BAO TON VA PHAT TRIEN LANG

NGHE TRUYEN THONG KHAM TRAI

CHUYEN MY - PHU XUYEN - HA NOI

KHOA LUAN TOT NGHIEP DAI HOC

Chuyén nganh: Sinh thai - Môi trường

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

GIGI THIEU CHUNG

Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam vốn có truyền thống quý báu từ lâu đời Truyền thống đó gắn liền với tên những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những sản phẩm thủ công truyền thống, với những nét độc đáo, tỉnh

xảo, hoàn mỹ

Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm sinh

hoạt bình thường hàng ngày, mà một số còn là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của nên văn hóa xã hội, mức độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí,

đặc điểm nhân văn của dân tộc

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam có những nét riêng và độc đáo,

tên của sản phẩm luôn kèm theo tên của làng làm ra nó; sản phẩm nổi tiếng cũng làm cho làng nghề tạo ra các sản phẩm ấy nổi tiếng Ví dụ như: lụa Vạn

Phúc (Hà Đông), sơn mài Hạ Thái (Thường Tín), tơ sợi Tân Triều (Thanh Trì),

gốm sứ Bát Tràng

Kham trai hay còn gọi là khảẩm xà cừ hoặc cẩn xà cừ cũng là một nghề

thủ công có truyền thống lâu đời của Việt Nam Do có địa thế thuận lợi, đất nước nằm trải dài theo bờ biển nên nguồn nguyên liệu đồi dào, vì vậy từ xa

xưa nghề này đã rất phát triển Làng nghề xã Chuyên Mỹ ở phía Nam thủ đô

Hà Nội là cái nôi của nghề khảm xà cừ Việt Nam Với lịch sử 1000 năm, trải qua bao sóng gió, thăng trầm, nghề khảm trai Chuyên Mỹ được người dân nơi

đây đời này qua đời khác, tiếp tục lưu truyền và phát triển, tạo nên sức sống bền bỉ cho một làng nghề cổ

Trước đây, các sản phẩm khảm trai chủ yếu là sập gụ tủ chè, bàn ghế

hoành phi câu đối được sử dụng trong triều đình hay phục vụ đời sống của

các quan lại, quí tộc Ngày nay, cùng với sự phát triển xã hội ngày càng cao,

sản phẩm của làng nghề cũng ngày càng đa dạng Nhờ có nghề kham trai truyền thống mà nhiều gia đình đã thoát nghèo, làm giàu từ nghề, tạo công ăn

Trang 3

việc làm cho nhiều lao động tại địa phương cũng như ở nhiều nơi, đời sống

nhân dân ngày càng được nâng cao, góp phần phát triển kinh tế xã hội

Tuy nhiên, do sự xuất hiện của hàng loạt các sản phẩm nội thất mới nên nhu cầu của người tiêu dùng đối với các mặt hàng khảm trai ngày càng

giảm dẫn tới thiếu thị trường Thêm vào đó là việc thiếu thợ lành nghề, thiếu

cải tiến Kĩ thuật, thiếu quan tâm tới việc đổi mới mẫu mã, chưa thực sự nhạy

bén trước những biến động của thị trường Vì vậy, nghề Kham trai truyền thống xã Chuyên Mỹ đang đứng trước nguy cơ mai một, thậm chí biến mất như nghề tranh Đông Hồ (Thuận Thành - Bắc Ninh), tranh Hàng Trống (Hà

Nội)

Trước những khó khăn mà nghề khảm trai truyền thống ở xã Chuyên

Mỹ đang gặp phải thì việc nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề theo hướng quảng bá thương hiệu, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, gắn với du lịch làng nghề là một vấn đề cần thiết

Trang 4

MO DAU

1 Ly do chon dé tai

Kinh tế làng nghề dang đóng góp gì cho nền kinh tế Việt Nam? Tại sao

cùng một môi trường kinh tế xã hội, nhưng có những làng nghề phát triển

mạnh, lại có những làng nghề mai một, thậm chí có nguy cơ biến mất?

Để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng

ta đã tập trung toàn bộ sức người, sức của mà chưa chú ý đầy đủ đến các giá trị văn hóa của dân tộc dẫn đến các giá trị đó đang dần bị đi vào quên lãng Để bảo tồn và duy trì các giá trị văn hóa dân tộc, nhiều làng nghề truyền thống đã

tục tập quán, nếp sống đậm nét dân gian và chứa đựng tính nhân văn sâu sắc

Làng nghề truyền thống từ lâu đã làm phong phú thêm truyền thống văn hóa Việt Nam Làng nghề phát triển còn tạo ra bộ mặt đô thị hóa cho nông thôn để

nông dân ly nông nhưng không ly hương và làm giàu trên quê hương mình

Nó làm giảm bớt căn bệnh “to đầu” vì làn sóng nông dân nhập cư về các thành phố lớn kéo theo hàng loạt hệ quả xã hội nặng nề Nó không chỉ đem lại nhiều lợi ích mà còn đảm bảo cho việc lưu giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa đặc trưng của dân toc Kham trai ở xã Chuyên Mỹ - Phú Xuyên - Hà Nội là một làng nghề như thế Làng nghề này đã tận dụng nguồn lao động nông nhàn tại chỗ, với quy mô đơn giản, phù hợp, vốn đầu tư vừa phải tạo nguồn thu nhập đáng

Trang 5

kể cho gia đình và xã hội, góp phần giải quyết sự dư đôi lao động trong những

ngày nông nhàn

Tuy nhiên hiện nay, do xu thế phát triển của thời đại, quá trình đô thị

hóa ngày càng nhiều; cộng thêm việc các nghệ nhân (bàn tay vàng) ngày một

thưa dần, bí quyết làm nghề dần bị thất truyền, mẫu mã sản phẩm chưa thay

đổi kịp với thị hiếu người tiêu dùng, công nghệ sản xuất còn thô sơ, quy mô nhỏ lẻ, các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường chưa triệt để, cơ sở vật chất hạ

tầng thiếu đồng bộ đã khiến cho làng nghề đứng trước nguy cơ dần bị mai

một

Để khắc phục những khó khăn còn tồn tại của làng nghề, thực hiện nghị quyết của tỉnh (thành phố), đảm bảo phát triển bên vững làng nghề nên tôi đã chọn đề tài:

“Bdo tôn và phát triển làng nghề truyền thống Khẩm trai Chuyên Mỹ

- Phú Xuyên - Hà Nội”

2 Mục tiêu

- Tìm hiểu quy mô sản xuất của làng nghề khảm trai ở xã Chuyên Mỹ

huyện Phú Xuyên thành phố Hà Nội

- Tìm hiểu các nguyên nhân làm làng nghề bị suy giảm và mai một, từ

đó đề ra các giải pháp khắc phục nhằm bảo tồn và phát triển nó

3 Ý nghĩa

Đề tài này có nhiều ý nghĩa thiết thực:

1) Bảo tồn làng nghề hiện có, gìn giữ những nét giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc của địa phương

2) Mở rộng quy mô phát triển của làng nghề, góp phần phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người lao động

3) Xây dựng giải pháp, quy hoạch tổng thể, chính sách quản lý phù hợp nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch kinh tế xã hội của

vùng

Trang 6

4) Từ đó có thể góp phân vào việc bảo tồn và phát triển các làng

nghề khác của Hà Nội mở rộng và ở các địa phương khác có

cùng hoàn cảnh như xã Chuyên Mỹ - Phú Xuyên - Hà Nội

Trang 7

CHUONG 1:

PHUONG PHAP, THOI GIAN VA DIA DIEM NGHIEN CUU

1.1 Phương pháp nghiên cứu

1- Điều tra khảo sát thực địa

- Điều kiện tự nhiên của xã

- Đời sống của nhân dân trong xã

- Khảo sát tình hình sức khỏe của nhân dân địa phương qua quan sát, phỏng vấn và qua số liệu của trạm y tế xã

- Các số liệu được ghi chép qua báo cáo của ủy ban nhân dân xã

Chuyên Mỹ

- Phỏng vấn các chủ cơ sơ sản xuất trong xã

2 Nghiên cứu, thu thập tài liệu

3- Phân tích số liệu để tìm hiểu tình hình phát triển của làng nghề

1.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài tiến hành từ tháng 7/2008 đến tháng 8/2009

1.3 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu tại xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội

Trang 8

CHUONG 2:

TONG QUAN DE TAI NGHIEN CUU

Mặc dù vẫn tồn tại và phát triển, thu hút nhiều lao động, sản phẩm có đầu ra và ngày càng góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người

dân, cũng như khôi phục những di sản văn hóa, nhưng các làng nghề truyền

thống ở Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết Đó là làm sao để phát triển làng nghề bên vững, hài hòa giữa lợi ích

kinh tế và an ninh xã hội, gìn giữ môi trường, bảo tồn văn hóa (Theo TS

Nguyễn Xuân Chính, giám đốc sở Công nghiệp Hà Tay (cñ)) [10]

Vấn đề phát triển làng nghề hiện nay đang được Nhà nước và các cơ

quan tổ chức hết sức quan tâm Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các buổi hội thảo nhằm tìm ra các biện pháp hữu hiệu giải quyết các vấn để còn

tồn đọng trong các làng nghề nhằm gìn giữ và phát triển làng nghề [4]

Làng nghề Khảm trai Chuyên Mỹ cũng đã nằm trong nhiều dự án bảo tồn của tỉnh Hà Tây (cũ) như dự án “Xây dựng mô hình Bảo tàng di sản văn

hóa làng và Hành trình văn hóa du lịch làng nghề” do TS Đặng Văn Bài, Cục trưởng Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa - Thông tin) đưa ra năm 2006 Dự án này

nằm trong hội thảo “Phát triển bền vững làng nghề Hà Tây Thực trạng và giải

pháp” [10]

Tuy nhiên, các giải pháp được đưa ra cho những vấn đề này cũng chỉ

mới là những gợi ý chung chung như đề nghị Nhà nước, các bộ, ngành liên

quan đầu tư kinh phí, có chương trình, dự án quy hoạch bảo tồn, phát triển

làng nghề mà chưa có một giải pháp cụ thể Hơn nữa đây là một dự án đòi hỏi nguồn kinh phí lớn Việc khai thác du lịch làng nghề là loại hình du lịch

văn hóa chất lượng cao, kén khách, cho nên đòi hỏi phải được tiến hành hết

sức chu đáo, khoa học, cần có quy hoạch cụ thể Vì vậy, dự án chưa thực sự đem lại hiệu quả

Trang 9

Điểm mới trong công trình tôi nghiên cứu: đây là công trình đầu tiên đề cập riêng đến việc sản xuất khẩm trai tại làng nghề xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội Công trình đề cập đến các khâu của quá trình sản xuất, thực trạng và xu hướng hoạt động của làng nghề Từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những bất lợi để bảo tồn, duy trì và phát triển làng nghề bền vững

Trang 10

CHUONG 3:

KET QUA NGHIEN CUU VA THAO LUAN

3.1 Sơ lược về điều kiện tự nhiên và xã hội xã Chuyên Mỹ - Phú Xuyên -

Hà Nội

3.1.1 Vị trí địa lý [I0]

Xã Chuyên Mỹ nằm ở phía cực tây vùng chiêm trũng huyện Phú Xuyên, cách đường quốc lộ 1A gần 10 km Xã có các mặt [10]:

- Phía Đông: giáp xã Tân Dân

- Phía Tây: giáp xã Trung Tú - Ứng Hoà

- Phía Nam: giáp xã Minh Đức - Ứng Hoà

- Phía Bắc: giáp xã Hoàng Long

3.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy van [5, 6]

Xã Chuyên Mỹ nằm trong vùng châu thổ sông Hồng nên điều kiện khí hậu nơi đây mang đậm nét của khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ, đó là kiểu khí

hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm

3.1.2.1 Chế độ nhiệt

Nhiệt độ của vùng tương đối điều hòa, nhiệt độ cao nhất trong năm là

38°C và nhiệt độ thấp nhất trong năm 9°C Sự chênh lệch về nhiệt độ lên tới

29°C trong nam

3.1.2.2 Chế độ mưa

Do nằm trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng nên đặc điểm

chế độ mưa của vùng này cũng là những nét đặc trưng về chế độ mưa của xã

Chuyên Mỹ - Phú Xuyên - Hà Nội

3.1.2.3 Hệ thống kênh mương

Khu vực Chuyên Mỹ có duy nhất một con sông Nhuệ chảy qua Nhân đân trong xã sống doc hai bên sông Do có nghề trồng lúa từ lâu đời, lại là

Trang 11

vùng chiêm trũng nên có mạng lưới kênh mương khá dày đặc, có vai trò quan trọng trong công tác tưới tiêu phục vụ mùa màng cũng như đời sống của nhân dân

3.1.3 Điều kiện xã hội [3]

3.1.3.1 Dân cư

Xã Chuyên Mỹ nằm ở phía Tây huyện Phú Xuyên Đây là một xã thuộc

huyện ngoại thành thành phố Hà Nội Do có tuyến đường quốc lộ 1A cũ và

đường cao tốc chạy qua nên Phú Xuyên là huyện cửa ngõ nằm trên trục giao

thông quan trọng nối liên Hà Tây cũ với các tỉnh phía Nam

Theo thống kê, xã Chuyên Mỹ có tổng diện tích đất tự nhiên là 792 ha,

trong đó có 506 ha đất canh tác (có 124,2 ha được chuyển đổi cơ cấu kinh tế

trang trại) Dân số trong xã gồm 9150 khẩu thuộc 2137 hộ Số người trong độ

tuổi lao động là 5450 lao động

Xã có một đền thờ cụ tổ làng nghề Trương Công Thành ở thôn Chuôn

Ngọ được Bộ văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa

7/7 thôn của xã đều được tỉnh công nhận là làng nghề

3.1.3.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp, ngành nghề

Phát triển kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ

công nghiệp Trong đó phát triển tiểu thủ công nghiệp là chủ yếu với các nghề truyền thống như: sơn mài, khảm trai và chế biến nguyên liệu khảm Hiện nay, nghề mộc cũng khá phát triển với số hộ làm ngày càng tăng

Xã có I hợp tác xã nông nghiệp và 2 doanh nghiệp tập thể là Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và Quỹ tín dụng nhân dân

Số lượng lao động khá lớn: có 1450 cơ sơ sản xuất kinh doanh hàng tiểu

thủ công nghiệp với 4490 lao động, tạo công ăn việc làm cho 100% số người trong độ tuổi lao động của xã và 600 - 800 lao động mỗi năm ở các xã lân cận

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung chủ yếu là nghề kham trai sơn mài Sản phẩm hàng hóa sơn khảm và nguyên liệu khảm chủ yếu tiêu thụ

Trang 12

trong nước, tỷ lệ xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 10% va déu thong qua khâu trung gian

Ngoài phát triển làng nghề tại địa phương, xã có 250 - 300 hộ đứng chủ

thuê mướn lao động ở các nơi đi làm nghề kham trai sơn mài khắp tỉnh thành

trong cả nước như: thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Hà Nam,

Đồng Nai, Huế nhìn chung các cơ sở này làm ăn có hiệu quả, cho thu nhập

cao

Hợp tác xã sơn khảm Ngọ Hạ của xã đảm bảo công ăn việc làm thường

xuyên cho 50 xã viên và hàng trăm lao động nhận làm, đào tạo nghề cho

90 - 100 lao động thuộc các đối tượng trẻ em tàn tật mỗi năm Hàng năm, hợp

tác xã đều mở các lớp đào tạo nghề cho những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, con em các đối tượng chính sách có nhu cầu học tập Những đối tượng ở xa được bố trí nơi ăn chốn nghỉ, các em gặp khó khăn về kinh tế được hỗ trợ kinh phí giúp các em có điều kiện vào học Hợp tác xã còn là nơi quảng bá sản

phẩm cho khách du lịch về thăm quan và đặt hàng Hiện xã có 3 công ty tư nhân với số lao động thường xuyên từ 50 - 70 người, các công ty này đều làm

ăn có hiệu quả

3.2 Lịch sử hình thành làng nghề Khảm trai xã Chuyên Mỹ - Phú Xuyên

- Ha Noi [2, 3, 10]

Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nghiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt

Nam Việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư

dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải mùa vụ chính

Nghề khảm trai ra đời vào thời nhà Lý từ thế kỷ XI do cụ Trương Công

Thanh phát minh ra

Cụ Trương Công Thành là phó tướng của nhà vua, cụ là người thông thạo văn võ và đã từng tham gia trong quân đội của Lý Thường Kiệt Cụ có công phạt Tống bình Chiêm, bảo vệ đất nước

Trang 13

Sau khi tham gia nhiều cuộc chỉnh chiến bảo vệ đất nước, ông không ở lại triểu đình làm quan mà đi ngao du khắp nơi Khi đến bãi sông, bãi biển thấy vỏ trai, vỏ ốc bị mưa gió xô đẩy làm mòn lớp vỏ bên ngoài, lộ ra nhiều

màu sắc óng ánh trong sáng trông rất đẹp Sau mấy ngày ngắm nhìn, suy nghĩ,

vốn sẵn có hoa tay, ông ghè ra mài, gọt theo ý muốn rồi xếp đi xếp lại vào các

nét chữ ở hoành phi câu đối Ông nghĩ: “Nét mực nho cũng đẹp nhưng thay

thế bằng chất liệu vỏ trai chắc và đẹp hơn nhiều” Thế là ông tiến hành thể

hiện, trước hỏng sau được và ông lại ngồi đũa, mài những mảnh trai đó thành hình hoa lá được nhiều người khen ngợi

Khi về thăm quê hương, ông cho mọi người xem và dạy cho dân làng phường Ngọ (thôn Chuôn Ngọ ngày nay) Sự ra đời của nghề khẩm bắt nguồn

từ đó Cụ Trương Công Thành chính là ông tổ nghề khảm của xã Chuyên Mỹ

Để tưởng nhớ công lao của cụ, dân làng đã lập miếu thờ, đồng thời lấy ngày mồng 9 tháng Giêng âm lịch là ngày sinh và mồng 9 tháng Tám là ngày mất

của cụ làm ngày giỗ tổ Hàng năm cứ vào ngày ấy dân làng tế rước linh đình

và gọi là ngày việc làng Từ đó đất Chuyên Mỹ đã kế thừa, duy trì và phát triển làng nghề khẩm trai truyền thống ngày càng phong phú và đa dạng Nam 1996, miếu thờ được Bộ văn hóa xếp hạng di tích lịch sử Năm

2002, nhân dân trong xã đã xây mới lại một đền thờ khang trang tại thôn

Chuôn Ngọ Nơi đây trang trí những bức hoành phi, câu đối do các bàn tay

tỉnh xảo nhất của làng thể hiện Nổi bật là bức Đại tự có ghi bốn chữ “Công

cái hoàn vũ” (Tạm dịch: công đầu là gìn giữ bờ cõi) Có thể nói đây là bức Đại

tự khảm lớn nhất Việt Nam hiện nay

Trước kia người thợ Chuyên Mỹ chủ yếu làm hoành phi, câu đối và

trang trí một số đồ gỗ sang trọng như: sập gụ, tủ chè Ngày nay, theo nhu

cầu thị trường, các sản phẩm Chuyên Mỹ ngày càng đa dạng với chất lượng

cao, thỏa mãn nhu cầu thị trường trong nước cũng như quốc tế đó là: khảm đồ

Trang 14

thờ cúng, giường chiếu, bàn ghế, tráp, đồ lưu niệm, tặng phẩm hay cả những

thứ đơn giản như bàn cờ, khuy áo

Khảm trai thường kết hợp với đồ gỗ đánh bóng, sơn mài mỹ nghệ Các họa tiết ở đồ khẩm xà cừ có thể là về hoa lá, chim bướm, các danh lam thắng

cảnh ở Việt Nam hay từ một truyện cổ tích nào đó trong dân gian như: Tam

Quốc, “Tam Cố Thảo Lư”, văn chương cầu hiền hay theo mẫu ước lệ: tùng,

cúc, trúc, mai, tứ dân cảnh (bốn cảnh của người Việt xưa là: Ngư - Tiểu -

Nông - Mục) Ngày nay, đề tài được khảm thường là các di tích, danh lam

thắng cảnh nổi tiếng: chùa Một Cột, vịnh Hạ Long, Huế

Sản phẩm của Chuyên Mỹ đã từng tham gia các cuộc triển lãm thành tựu kinh tế toàn quốc tại Hà Nội, có mặt ở các điểm du lịch, các thị trường lớn

trong nước như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh

3.3 Quy trình sản xuất hàng Kham trai

Chất liệu chủ yếu là xà cừ Xà cừ thông thường được lấy từ trai, ốc nên kham xa cit con được gọi là khám trai hay khảm ốc

Vỏ trai sau khi trải qua các công đoạn: ép, mài, lau trở thành nguyên

liệu chính cho nghề khảm Trong cơ chế thị trường hiện nay, nguồn nguyên

liệu dùng cho nghề khảm trai ở Chuyên Mỹ gồm đủ loại, ngoài nguồn nguyên

liệu trong nước thì người thợ Chuyên Mỹ còn phải mua nguyên liệu của các

nước: Hồng Kông, Inđônêxia, Trung Quốc , nguyên liệu quí như ốc phải

mua từ Singapo Trong đó, loại vỏ trai được ưa chuộng là vỏ của trai ngọc môi vàng (người dân thường gọi là trai nứa, trai đen) Người thợ còn sử dụng một

loại nguyên liệu đặc biệt là bào ngư Cửu Khổng (có 9 lỗ vỏ ở phía mép vỏ) có

vân màu sắc phong phú hơn màu cầu vồng ding dé kham các mặt hàng nổi như: núi non, cánh phượng, cánh công

Vỏ trai có kích thước lớn, mặt trong có lớp xà cừ dày màu óng ánh

Người thợ khẩm trai dùng những mảnh vỏ trai để khảm lên các đồ vật

Trang 15

Để làm ra một sản phẩm khảm trai phải mất khá nhiều thời gian và công sức, bắt buộc phải qua 5 - 6 công đoạn Công đoạn nào cũng đòi hỏi sự

khéo léo, tỉ mỉ của người thợ

Có hai loại khẩm:

+ Kham chim

+ Kham néi

Các công đoạn cơ bản của nghề khẩm chìm [2]:

Bước đầu là chẻ vỏ thành mảnh theo chiều dọc con trai (theo thớ), bỏ phần xương Mài sạch vỏ đen bằng máy, đem ngâm nước rồi ép phẳng Trước đây, người thợ đem mảnh trai hơ trên đèn nóng để uốn phẳng miếng ốc Hiện nay công đoạn này đã được thay thế bằng máy ép, vừa tiết kiệm thời gian và công sức, miếng trai lại được ép phẳng hơn, giữ được màu sắc cũng như tính chất Sau đó vẽ mẫu cho bức tranh, các họa tiết thường là hoa lá, cây cành, chim thú hoặc các cảnh sinh hoạt thường ngày, các lễ hội hay các điển tích

điển cố Tiếp theo là cưa trai theo nét vẽ Bước kế tiếp là đục gỗ (mặt vật dụng

muốn khẩm thường là mặt gỗ, người thợ phải khoét lõm trên mặt để nhận lấy

miếng vỏ ốc) Sau đó, gắn trai vào gỗ, người thợ thường dùng sơn ta để gắn rồi thể hiện đường nét Tiếp đến, dùng bột đen sơn để làm rõ các chỉ tiết của bức

tranh và đem mài lớp sơn phủ đi để lộ ra các họa tiết Công đoạn mài cũng khá phức tạp, trước mài bằng giấy ráp cát to, tiếp theo là cát mịn rồi lại đánh bằng

vôi bột, đánh một lần nữa bằng lá ngái rồi xoa bột gạo lên Cuối cùng, toàn bộ

sản phẩm được đánh vécni cho bóng lên để họa tiết nổi lên sống động như một bức tranh Lúc này, một sản phẩm khảm trai mới được hoàn thành Khẩm trai

thường được kết hợp với đồ gỗ đánh bóng sơn mài mỹ nghệ

Các công đoạn cơ bản của nghề khẩm nổi [2]:

Về cơ bản, khảm nổi cũng gồm các bước như khẩm chìm: chẻ vỏ thành mảnh, mài sạch vỏ đen, ép phẳng, cưa trai để tạo họa tiết cho bức tranh Tuy nhiên, không có bước đục gỗ tạo chỗ lõm để nhận lấy miếng trai mà các họa

Trang 16

tiết được xếp ngay trên bé mat vat kham, sau đó dùng keo cố định họa tiết Vì

vậy, không có công đoạn dùng bột đen sơn và mài Loại hình khảm này thường được dùng để tạo những bức tranh với kích thước lớn hay những bức đại tự (Ảnh 1)

Hiện nay, công đoạn khắc thủ công có thể thay thế bằng máy khắc laser

và các loại máy móc hỗ trợ khác, song việc cẩn các mảnh xà cừ và hoàn thiện

sản phẩm vẫn không thể thiếu được đôi bàn tay của các nghệ nhân

Các chủ sơn khẩm thường không sản xuất gỗ trực tiếp mà mua ở nơi

khác cách nhà không xa Điều này làm giảm bớt chi phí vận chuyển

Những mảnh trai không dính trực tiếp mà dùng keo gắn Sơn chủ yếu

được dùng là sơn ta, đại kiều, sơn bóng

Khẩm xà cừ có ở đồ trang sức, khuy áo, đũa, đồ gỗ như bàn ghế, giường, sập, tủ, tranh treo tường

Đặc điểm của sản phẩm khẩm trai xã Chuyên Mỹ là những mảnh trai

gắn vào gỗ rất khít, có độ bền cao, sắc nét, chi tiết trang trí rất sinh động, đặc

sắc (Ảnh 2) Tuy nhiên, nền các bức khảm thường có màu tối của lớp sơn đen chứ không có nhiều màu sắc như các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác do bản

thân chất liệu xà cừ tạo nên nhiều màu sắc óng ánh cho chi tiết trang trí (Ảnh 3a và 3b) Những mảnh trai vô tri, vô giác qua bàn tay khéo léo, óc sáng tạo

phong phú được gắn vào gỗ để trở thành sản phẩm có giá trị văn hóa, nghệ

thuật cao

Sản phẩm kham trai của Chuyên Mỹ hơn hẳn các sản phẩm khẳm trai ở

các nơi khác, kể cả Đồng Ky nhờ đường nét tinh xảo, có hồn Chính vì thế, giá trị của một sản phẩm không hề rẻ Đối với những hàng đặt như tủ chè, sập gụ

khẩm ốc giá tới 15 - 100 triệu đồng, tùy theo chất liệu khảm, tủ chè gỗ trắc

khảm ốc đỏ giá có thể tới 80 - 200 triệu đồng

Trang 17

3.4 Thuc trang lang nghé Kham trai - Sơn mài xã Chuyên Mỹ

3.4.1 Giai đoạn trước 1945

Nghề khảm trai Chuyên Mỹ ra đời cách đây gần 1000 năm do cụ

Trương Công Thành sáng tạo ra Ông là một vị tướng giỏi đưới triều Lý

Bước đầu nghề còn mang tính chất thô sơ, nhỏ lẻ, chỉ dùng đôi bàn tay

khéo léo để tạo nên các sản phẩm

Hầu hết những sản phẩm của làng là khảm trai trên những khay trà

trong triều đình và khẩm trên những bàn tiệc của vua chúa Chiếc khay khảm trai được đặt trên những chiếc sập khảm trai là những biểu tượng cho sự sang trọng và có địa vị Chỉ những người giàu có và các nhà nho mới có được những vật đó Khảm trai còn được sử dụng trong những ngôi nhà xây dựng theo kiểu kiến trúc cổ: khảm những vòm mái với những viên ngói màu xanh của hoàng thành [10]

Sang triểu Trần thì nghề khảm vỏ ốc đã khá điêu luyện nên được triều

đình trưng thu làm cống phẩm gửi sang tặng nhà Nguyên năm 1289 [2]

Một trong những nghệ nhân được xem như người “giữ lửa” cho làng

nghề - ông Trần Bá Dinh, năm nay đã 71 tuổi cho biết, cách đây khoảng hơn

100 năm, nghề khảm trai bắt đầu hưng thịnh, người dân Chuôn Ngọ thường

gọi sản phẩm là “hàng lái” bán cho các lái buôn người Huế, Quảng Ngãi mang

lên kinh thành xưa [2]

Khi người châu Âu sang đến Việt Nam thì trình độ hàng khảm được

nhắc đến là một trong những nghệ thuật cao, rất tinh vi, khéo léo Điển hình là

năm 1868, khi người Pháp chiếm xong Nam Kỳ, thống đốc De La Grandière

đã xin triều đình Huế gửi hai người thợ khảm giỏi vào Sài Gòn để truyền nghề Sang năm 1877 thì hàng kham ốc Việt Nam được triều đình gửi sang Pháp dự Hội chợ [2]

Trang 18

3.4.2 Giai doan tit 1945 dén 1990

Giai đoạn chiến tranh, có lúc nghề tưởng như mai một, đến nam 1954,

giải phóng miền Bắc, xã khôi phục lại nghề khẩm trai, sản xuất các sản phẩm

khẩm trai lên gỗ dán xuất khẩu cho các nước [10]

Đến đầu những năm 80, sản xuất ngành thủ công có nhiều khó khăn phức tạp do sự chuyển đổi cơ chế thị trường, tình hình Đông Âu xấu đi nên

các ngành thủ công nghiệp không kí được hợp đồng, sản phẩm bị ứ đọng, chưa tiếp cận được thị trường và thị hiếu người tiêu dùng, cộng thêm sức ép của hàng ngoại tác động mạnh vào thị trường trong nước Mặt khác, mẫu mã tuy

đã đa dạng phong phú hơn thời kỳ trước nhưng vẫn chưa đủ sức cạnh tranh,

hàng còn kém chất lượng, quản lý vật tư, tiền vốn còn lỏng lẻo tùy tiện, chỉ

tiêu còn lãng phí, quy mô vẫn còn nhỏ lẻ, chủ yếu là sản xuất ngay tại hộ gia đình, doanh thu thấp dẫn đến đời sống xã viên chưa cao, việc làm không ổn định Do vậy, xã có 3 Hợp tác xã thủ công mỹ nghệ, nhưng đến lúc này, Hợp tác xã thủ công Thượng Trung và Bối Khê bị giải thể, chỉ còn Hợp tác xã thủ công Ngọ Hạ đứng vững Sản phẩm chủ yếu là: hoành phi, câu đối, sập gụ tủ chè, đồ nội thất (Ảnh 4) [3]

Thu nhập từ ngành thủ công nghiệp [3]:

- Năm 1989 đạt 355 triệu đồng, trong đó:

+ Hợp tác xã Bối Khê: 130 triệu

+ Hợp tác xã Ngọ Hạ: 197 triệu

+ Hợp tác xã Thượng Trung: 28 triệu

- Năm 1990 đạt 240 triệu, trong đó:

+ Hợp tác xã Bối Khê: 160 triệu

+ Hợp tác xã Ngọ Hạ: 80 triệu

Như vậy, trong thời kỳ này, tình hình phát triển của các Hợp tác xã thủ

công mỹ nghệ tương đối phức tạp (Biểu đồ 1)

Trang 19

3.4.3 Giai doan tit 1991 dén 2000 [3]

Trong vòng 30 năm trở lại đây, do nhu cầu của thị trường tăng cao, nghề khẩm trai ở Chuyên Mỹ phát triển mạnh, cung cấp cho thị trường trong

nước và xuất khẩu ra nước ngoài với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tỉnh xảo,

hiếm nơi nào có được

Nghề Khảm trai giai đoạn này đã phát triển bằng nhiều hình thức, lấy

hộ gia đình là nguồn chủ đạo trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, đã công

nghiệp hóa, cơ giới hóa một số khâu trong chế biến nguyên liệu phục vụ cho

sơn kham, đồ mộc Theo thống kê năm 1994, toàn xã có 95% số hộ làm nghề

và có 50% số lao động làm nghề chuyên nghiệp và 50% số lao động làm nghề bán chuyên nghiệp

Hợp tác xã thủ công Ngọ Hạ vẫn duy trì đảm bảo công ăn việc làm thường xuyên cho trên 40 lao động và một số hộ gia đình Đồng thời được sự

tài trợ của tổ chức Tầm nhìn thế giới, sự hỗ trợ của các ngành, các cấp, Hợp

tác xã đã mở 2 lớp dạy nghề cho 100 cháu có hoàn cảnh khó khăn trong khu vực Kết quả thu nhập trong 2 năm 1994 và 1995 của Hợp tác xã là:

- Nam 1994: 400 triệu

- Nam 1995: 250 triéu

Múc lương bình quân của xã viên hàng tháng là 250.000đ/tháng

Tình hình chung về sản xuất và thu nhập của ngành nghề trong 2 năm

1996, 1997 bị ảnh hưởng nhiều của nền kinh tế thị trường Hàng hóa sản xuất

ra tuy không bị ứ đọng nhiều nhưng việc tiêu thụ gặp rất nhiều khó khăn Kết

quả:

- Tổng giá trị thu nhập năm 1996 là 18,4 tỷ đồng, bình quân hộ đạt

9.868.315 đồng/ năm, bình quân khẩu là 2.339.000 đồng/năm

- Tổng giá trị thu nhập năm 1997 đạt 19,3 tỷ, bình quân hộ 9.851.000

đồng/năm, bình quân khẩu 2.379.420 đồng/năm

Như vậy thu nhập năm 1997 tăng so với năm 1996 (biểu đồ 2)

Trang 20

Trong 2 năm 1999 va 2000, mặc dù chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan nhưng kinh tế tiểu thủ công nghiệp vẫn có tốc độ tăng trưởng khá, mẫu mã thường xuyên được thay đổi, nhiều hộ đã dần dần hoàn thiện dây

chuyền sản xuất (mộc khảm kết hợp), một số công đoạn đã được cải tiến bằng

máy nhỏ, ví dụ máy đột dập để cắt những mảnh trai theo khuôn có sẵn nhanh hơn cắt bằng tay nhiều lần (Ảnh 5) Chất lượng sản phẩm đã được nhân dân

chú trọng hơn, một số mặt hàng có chất lượng cao thu hút được khách hàng Một số hộ đã chuyển đến nơi có thị trường tiêu thụ sản phẩm tốt để sản xuất,

thuê cửa hàng ở một số thành phố lớn để tiêu thụ sản phẩm Hợp tác xã thủ công Ngọ Hạ đã có nhiều cố gắng, với kinh tế thị trường khó khăn phức tạp

vẫn đảm bảo có việc làm thường xuyên cho xã viên Doanh thu hàng năm từ

450 - 550 triệu, lương của xã viên bình quân 430.000 đồng/tháng, tăng so với

1996 là 72% và đã tự nâng cấp nhà xưởng trên 50 triệu đồng Quỹ tín dụng

nhân dân sau 6 năm thành lập và hoạt động đã khẳng định vai trò vị trí của

mình trong phát huy nội lực, làm lành mạnh quan hệ tiền tệ ở nông thôn, tạo

điều kiện cho kinh tế địa phương phát triển; dư nợ cho vay trên 3 tỷ đồng, tăng

so với năm 1996 là 108%, nguồn vốn cho vay 100% huy động vốn tại chỗ; đã mua được trụ sở trang thiết bị phục vụ làm việc với số tiền gần 100 triệu đồng; chất lượng hoạt động mỗi ngày một nâng lên, được nhân dân tin tưởng

Thu nhập tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ năm 1999 là 18,5 tỷ; năm

2000 là 19,25 tỷ: tốc độ tăng trưởng 18,6%

3.4.4 Giai đoạn từ 2001 đến nay

Kinh tế tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ Mặt hàng sản xuất đa dạng, mẫu mã thường xuyên được đổi mới, chất lượng được nâng lên Tổng

mức đầu tư cho sản xuất ngày càng nhiều theo hướng công nghiệp hóa Nhiều gia đình đã đầu tư mở rộng sản xuất, cải tiến công cụ lao động, mua sắm máy móc, phương tiện cho sản xuất Đặc biệt là các hộ ở thôn Thượng đã đưa máy

Trang 21

mài trai liên hoàn vào sản xuất, tăng năng suất gấp nhiều lần, cải thiện điều

kiện làm việc cho người lao động

Nghề sơn khảm cũng có bước phát triển khá, trước đây nhân dân thôn Bối Khê thường phải đi làm cho các công ty ở Hà Nội, từ năm 2003 đến nay

nhiều gia đình đã đầu tư mở rộng sản xuất tại thôn, thu hút được nhiều lao

động, cơ bản giải quyết được những khó khăn về mặt xã hội so với những năm trước đây Toàn xã có 95% số hộ có thu nhập từ ngành nghề, 100% người lao

động đều có việc làm Hiện nay có 350 hộ có quy mô sản xuất vừa và khá với thu nhập mỗi năm từ 50 - 100 triệu đồng, thu hút từ 700 - 800 lao động ở các

nơi khác đến làm tại xã

Du lịch làng nghề có bước phát triển mới, năm 2004 có 26 đoàn với 312 lượt người tham quan du lịch làng nghề, trong đó có cả người nước ngoài [1] Hợp tác xã thủ công Ngọ Hạ hoạt động ngày càng hiệu quả, doanh thu

năm sau cao hơn năm trước Năm 2004 đạt 1,2 tỷ đồng, đã tranh thủ sự giúp

đỡ của các cấp, các ngành đầu tư xây dựng cơ bản trên 1 tỷ đồng, mở 5 lớp

học với 250 người được đào tạo và đào tạo nâng cao tay nghề Đặc biệt đã mở

được 1 lớp dạy nghề cho 100 học sinh là trẻ em khuyết tật ở trong xã, trong huyện và trong tỉnh [2] Quá trình hoạt động đã chú trọng việc quảng bá, giới

thiệu sản phẩm làng nghề truyền thống Gắn sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với

du lịch làng nghề Hiện nay đã có phòng trưng bày giới thiệu sản phẩm làng

nghề Đời sống của xã viên được nâng lên

Giá trị thu nhập ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ:

- Năm 2005 [3]: 41,605 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 78,5%; tốc độ tăng

trưởng 17,5%/năm

- Nam 2007 [1]:

+ Giá trị sản xuất ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ước đạt

75 tỷ đồng; thu nhập bình quân của một lao động ở mức

16 triệu đồng/năm

Ngày đăng: 21/09/2014, 14:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w