307 Mối quan hệ rủi ro kiểm toán, trọng yếu và giá phí kiểm toán đối với Công ty kiểm toán độc lập
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, nước ta đang nhanh chóng hội nhập cùng nền kinh tế thếgiới Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2007 như dấu mốcđánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của Việt Nam trên trường quốc tế Do vậynhu cầu về chất lượng thông tin tài chính đang ngay càng trở lên cấp thiết hơnbao giờ hết đặc biệt từ khi thị trường chứng khoán bùng nổ vào đầu năm
2006 Tuy nhiên, hầu hết những nhu cầu trên chỉ được thực hiện bởi nhữngCông ty kiểm toán quốc tế Sự yếu kém của các Công ty nhỏ tại Việt Namkhông những đáp ứng không đủ về số lượng mà cả về chất lượng cũng là điềurất đáng quan tâm hiện nay Các Công ty nhỏ số lượng thành viên có chứngchỉ kiểm toán viên ít, lại tiến hành cạnh tranh không lành mạnh bằng việcgiảm giá phí kiểm toán đến mức rất thấp để có thể kiếm được các đơn đặthàng Việc này không chỉ ảnh hưởng rất lớn đến những người sử dụng cácbáo cáo tài chính được kiểm toán mà còn ảnh hưởng đến sự minh bạch củatình hình tài chính và sự phát triển bền vững nền kinh tế Để giải quyết vấn đềtrên không phải việc đơn giản do hệ thống kế toán tài chính chưa ổn định, luậtpháp ban hành không đầy đủ, cụ thể và còn mâu thuẫn với chuẩn mực, nguồnnhân lực không đủ đáp ứng Do vậy, em đã chọn đề tài này với mong muốntìm hiểu một cách kĩ hơn ảnh hưởng của giá phí kiểm toán, trọng yếu đến rủi
ro kiểm toán “ Mối quan hệ rủi ro kiểm toán, trọng yếu và giá phí kiểm toán đối với Công ty kiểm toán độc lập” Đây là đề tài rất khó và nóng bỏng
hiện nay, do vậy mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng em không thể tránh khỏisai sót trong quá trình thu thập, đọc và dịch tài liệu nên rất mong được sự góp
ý của cô để em có thể hoàn thành tốt đề án và có thể làm tốt hơn cho nhữnglần sau
Trang 2Kết cấu của đề án được chia thành hai phần như sau:
Phần I: Khái niệm chung.
Phần II: Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán, trọng yếu và giá phí kiểm toán.
Em xin cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của cô giáo ThS Bùi Thị Minh Hải
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3PHẦN I KHÁI NIỆM CHUNG
1 Rủi ro kiểm toán.
1.1 Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và rủi ro kinh doanh.
+ Khái niệm về rủi ro
Rủi ro: Là khả năng gặp nguy hiểm có thể phát sinh từ một vài tiếntrình hay từ một vài sự kiện
Ví dụ: rủi ro phát sinh từ tiến trình bê một tập sách nặng là bị đau lưng
Có thể phân biệt Rủi ro như sau: Rủi ro tĩnh và rủi ro động
Rủi ro động là những rủi ro liên quan đến sự luôn thay đổi, đặc biệt làtrong nền kinh tế Đó là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có lợi, nhưngcũng có thể sẽ mang đến sự tổn thất ( sự thay đổi về thị hiếu khách hàng cóthể phù hợp với sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh hay không, sựthay đổi về công nghệ kĩ thuật có phù hợp với khả năng tài chính của doanhnghiệp hay không, sự thay đổi đó có quá nhanh hay không? )
Rủi ro tĩnh là những rủi ro, mà hậu quả của nó chỉ liên quan đến sự xuấthiện tổn thất hay không, chứ không có khả năng sinh lời, và không chịu sựảnh hưởng của những thay đổi trong nền kinh tế Những rủi ro tĩnh thườngliên quan đến các đối tượng: tài sản, con người, trách nhiệm dân sự
+ Khái niệm rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh là hiểu theo nghĩa rộng là rủi ro của một cá nhân, tổchức nào đó trong quá trình kinh doanh Rủi ro kinh doanh có thể bắt nguồn
từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: tình hình an ninh xã hội không đảmbảo, môi trường kinh tế khắt khe, trình độ nhân công, tình hình kinh tế thếgiới…Nhưng xét trong mối quan hệ với rủi ro kiểm toán thì rủi ro kinh doanh
Trang 4được hiểu là sự thua lỗ, mất mát trong hoạt động kinh doanh mà có liên quanđến việc sử dụng báo cáo tài chính đã được kiểm toán.
+ Khái niệm rủi ro kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 rủi ro kiểm toán là “rủi
ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”.
+ Mối quan hệ giữa rủi ro kinh doanh và rủi ro kiểm toán
Một cách đơn giản, rủi ro kiểm toán là rủi ro kiểm toán viên đưa ra ýkiến không đầy đủ, không chính xác về các sai sót trọng yếu của báo cáo tàichính
Rủi ro kinh doanh là sự mất mát và hủy hoại về tài sản và danh tiếngcủa cá nhân hay tổ chức nào liên quan đến việc sử dụng báo cáo tài chính đãđược kiểm toán bởi các kiểm toán viên
Cho đến những năm 30 của thế kỉ XX, bằng sự phá sản của hàng loạtcác tổ chức tài chính, tín dụng lớn nhất Bắc Mĩ và Tây Âu, chức năng tự kiểmtra của kế toán đã bộc lộ điểm yếu của mình so với yêu cầu quản lý trước hết
là đối với các tổ chức tài chính và tiếp đó là các doanh nghiệp sản xuất vàdịch vụ rồi đến các đơn vị sự nghiệp công cộng Sự cách biệt giữa thực trạnghoạt động tài chính với sự phản ánh nó trong kế toán là tất yếu dù với sự tiến
bộ của khoa học kĩ thuật khoảng cách này có thể được rút ngắn nhưng khôngthể xóa bỏ Kiểm toán ra đời đã hạn chế được rất nhiều khoảng cách trên Cácnhà đầu tư, chủ sở hữu có thể yên tâm hơn khi thực hiện quyết định đầu tưcủa mình do báo cáo tài chính đã được bên thứ ba độc lập kiểm tra Do vậy
mà rủi ro kiểm toán ngày càng trở thành một phần quan trọng của rủi ro kinhdoanh Đặc biệt ở Việt Nam hiện này, theo xu thế xã hội hóa, toàn cầu hóa
Trang 5một doanh nghiệp không chỉ có một hay một vài chủ sở hữu mà có đến hàngtrăm, hàng nghìn chủ sở hữu Do vậy, rủi ro kiểm toán ngày càng trở lên quantrọng các thông tin đòi hỏi ngày càng chính xác và đầy đủ Chính vì vậy cácnhà hoạch định và các cơ quan chức năng liên quan cần phải chú trọng để cóthể đáp ứng nhu cầu của xã hội Tránh để tình trạng thiếu hụt nặng nề về nhânlực cũng như chất lượng kiểm toán Vì điều nay có thể làm chậm tốc độ pháttriển thậm chí có thể gây khủng hoảng kinh tế.
1.2 Rủi ro tiềm tàng( Inherent Risk) - IR
Theo chuẩn mực kiểm toán số 400 rủi ro tiềm tàng là “rủi ro tiềm ẩn,
vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ”.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng, nhưng ta có thểxem xét trên các nhân tố cụ thể sau:
+ Nhân tố từ phía Ban giám đốc doanh nghiệp (khách hàng)
Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc cũng như
sự thay đổi thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán Nếu Bangiám đốc không liêm khiết việc thông đồng với kế toán hoặc ép kế toán phảighi chép sai sự thật về tình hình tài chính của Công ty việc này rất khó pháthiện do có sự hợp lý hóa các chứng từ, sổ sách từ trên xuống dưới Trongtrường hợp này kiểm toán viên phải đánh giá khả năng xảy ra các sai phạmtrọng yếu Hoặc khi Ban giám đốc theo đuổi các biện pháp làm tăng lợi nhuậncho cổ phiếu phát hành trên thị trường chứng khoán họ sẽ có động thái để làmđẹp báo cáo tài chính Do vậy kiểm toán viên cần phải tăng mức độ rủi rotiềm tàng và cần xem cẩn trọng các khoản mục, nghiệp vụ trên báo cáo tàichính Cuối cùng là thái độ hợp tác của nhà quản lý, nếu giữa kiểm toán viên
Trang 6và nhà quản lý có sự bất đồng, nhà quản lý không tích cực hợp tác thì kiểmtoán viên cùng cần phải đánh giá trọng yếu ở mức cao.
+ Đặc điểm của ngành và hoạt động của Công ty
Trong một doanh nghiệp rủi ro kiểm soát thấp hay cao phụ thuộc vào
hệ thống kiểm soát nội bộ của Công ty đó Nhưng trong một cuộc kiểm toánnếu xem xét hình thức hoạt động của doanh nghiệp theo tiêu thức tập trung vàphân tán kiểm toán viên thường đánh giá các Công ty hoạt động theo hìnhthức tập trung hoặc gần nhau có mức rủi ro tiềm tàng thấp hơn khi các Công
ty hoạt động theo hình thức phân tán Ngoài ra, nếu công ty nhỏ, mới thànhlập hay ít được biết đến kiểm toán viên cần phải tìm kiếm các thông tin vềCông ty thông qua ngân hàng địa phương hoặc các cơ quan quản lý vì khảnăng xảy ra rủi ro tại những Công ty này rất cao
Kết quả hoạt động của các doanh nghiệp rất nhạy cảm với các nhân tốkinh tế như: sự thay đổi tỉ giá hối đoái, các sản phẩm được Nhà nước bảo hộ,các chính sách của Nhà nước…Khi đó, nhà quản lý có thể sẽ có những độngthái làm sai lệch báo cáo tài chính Do vậy, mức độ rủi ro tiềm tàng sẽ tănglên
Nhân tố ngành cũng cung cấp cho kiểm toán viên những thông tin hữuích cho việc đánh giá rủi ro tiềm tàng Trước tiên, xác định vị thế của Công tytrong ngành, từ đó kiểm toán viên có thể đánh giá mức độ lợi nhuận tương đốicủa Công ty tương ứng với thị phần trên thị trường Thứ hai, cần xác định tỉsuất tăng trưởng của ngành, các ngành có tỉ lệ tăng trưởng mạnh thường có rủi
ro tiềm tàng cao hơn Cuối cùng, cần đánh giá vị trí của ngành trong toàn bộnền kinh tế Những ngành nhỏ thường có khả năng xảy ra các sai phạm trọngyếu về báo cáo tài chính hơn các ngành lớn và có vị trí quan trọng trong nềnkinh tế
+ Trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ:
Trang 7Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót, như: Báo cáo tài chính
có những điều chỉnh liên quan đến niên độ trước; báo cáo tài chính có nhiềuước tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi chính sách kế toán.Trong trường hợp này kiểm toán viên nên đánh giá tăng rủi ro tiềm tàng.Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế,như: Số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế đối với chi phí phátsinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giáTSCĐ, ;
Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản, như: phát sinh nhiều nghiệp vụthu, chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lượng lớn, thời gian thanh toán dài ;Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải có
ý kiến của chuyên gia, như: xảy ra kiện tụng hoặc trộm cắp, ;
Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thờiđiểm kết thúc niên độ;
Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính bất thường khác.
1.3 Rủi ro kiểm soát( Control Risk) – CR
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 hệ thống kiểm soát nội bộ
là “hệ thống kiểm soát nội bộ: Là các qui định và các thủ tục kiểm soát do
đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát”.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 rủi ro kiểm soát là “rủi
ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo
Trang 8cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”.
Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ: Môi trường kiểmsoát, hệ thống kế toán, thủ tục kiểm soát, kiểm toán nội bộ
Môi trường kiểm soát: Là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm
và hoạt động của thành viên Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc đối với hệthống kiểm soát nội bộ và vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị
Môi trường kiểm soát có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các thủtục kiểm soát Môi trường kiểm soát mạnh sẽ hỗ trợ đáng kể cho các thủ tụckiểm soát cụ thể Tuy nhiên môi trường kiểm soát mạnh không đồng nghĩavới hệ thống kiểm soát nội bộ mạnh Môi trường kiểm soát mạnh tự nó chưa
đủ đảm bảo tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kế toán: Là các qui định về kế toán và các thủ tục kế toán
mà đơn vị được kiểm toán áp dụng để thực hiện ghi chép kế toán và lập báocáo tài chính
Thủ tục kiểm soát: Là các quy chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vịthiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụthể
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế, kiểm toán nội bộ là “một hoạt động
đánh giá được lập ra trong một doanh nghiệp như một loại dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”.
Trước tiên, kiểm toán viên phải tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộcủa khách hàng Hệ thống kiểm soát nội bộ có tồn tại hay không? Nếu tồn tạithì nó có hiệu lực không? Và có được thực hiện kiểm soát thường xuyên, liêntục hay không? Rủi ro kiểm soát được đánh giá thông qua sự hiểu biết về
Trang 9thống kiểm soát nội bộ Nếu hệ thống kiểm soát vận hành hữu hiệu thì rủi rokiểm soát được đánh gía thấp và ngược lại.
Sau đó kiểm toán viên tiến hành đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soátcho từng mục tiêu kiểm soát cụ thể Công việc này được tiến hành riêng rẽcho từng loại nghiệp vụ kinh tế cụ thể theo các bước sau:
- Nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vậndụng
- Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù
- Nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nộibộ
- Đánh giá rủi ro kiểm soát
Đánh giá ban đầu có thể sử dụng yếu tố định tính là thấp, trung bình,cao hoặc sử dụng tỷ lệ phần trăm Đây là công việc mang tính chất định tính
do vậy đòi hỏi kiểm toán viên phải có trình độ
Mức độ rủi ro kiểm soát ban đầu sẽ được chỉnh sửa cho hợp lý sau khikiểm toán viên tiến hành các thủ nghiệm kiểm soát ở giai đoạn tiếp theo củacuộc kiểm toán
Trong một số trường hợp để hạn chế rủi ro tiềm tàng, Ban giám đốc
đã thiết lập các thủ tục kiểm soát Khi đó, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Do vậy kiểm toán viên phải tiến hành đánhgiá đồng thời cả rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát khi xác định mức rủi rophát hiện
Kiểm toán viên có thể quyết định đánh giá mức rủi ro kiểm soát là lớnnhất bởi vì họ cho rằng các chính sách hoặc cac thủ tục kiểm soát không hiệuquả mà do vậy không thể đảm bảo các thông tin tài chính chính xác Ngoài ra,kiểm toán viên cũng có thể đánh giá mức rủi ro kiểm soát lớn nhất nếu họ tin
Trang 10rằng việc thực hiện các thủ nghiệm cơ bản hiệu quả hơn việc thực hiện cácthủ tục kiểm soát chi tiết kiểm soát nội bộ
Khi kiểm toán viên đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức thấp hơn mức caonhất, nghĩa là họ đã quyết định dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ của kháchhàng Họ sẽ sử dụng hệ thống kiểm soát nội bộ để giảm bớt các thủ nghiệm cơbản
1.4 Rủi ro phát hiện( Detection Risk) - DR
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 rủi ro phát hiện là “rủi
ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện được”.
Rủi ro phát hiện có thể phân chia thành: Rủi ro chọn mẫu và rủi ro dokiểm toán viên không phát hiện ra sai sót
Rủi ro chọn mẫu là do trong thực tế với nguồn kinh phí có hạn và thờigian thực hiện ngắn kiểm toán viên không thể kiểm tra tất cả các khoản mục,nghiệp vụ trên báo cáo tài chính Do vậy kiểm toán viên chỉ có thể kiểm tramột phần của tổng thể và suy rộng ra toàn bộ Nghĩa là sẽ có trường hợp mẫuchọn không đại diện cho tổng thể, dẫn đến kiểm toán viên không thể phát hiện
ra sai phạm và có kết luận kiểm toán không chính xác
Rủi ro do kiểm toán viên không phát hiện được sai sót là rủi ro xảy rakhi kiểm toán viên áp dụng sai thủ tục kiểm soát hoặc hiểu sai kết quả kiểmtoán Rủi ro không phát hiện sai sót có thể xảy ra ngay cả khi kiểm toán viênkiểm tra 100% tổng thể Tuy nhiên rủi ro này có thể được hạn chế bằng cáchđào tạo đội ngũ kiểm toán viên, thực hiện lập kế hoạch kiểm toán một cáchchi tiết, hợp lý và phân công những kiểm toán viên có kinh nghiệm giám sátchặt chẽ các trợ lý kiểm toán và các kiểm toán viên có năng lực yếu
Trang 11Bằng cách sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán, các kiểm toán viên đánhgiá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát để xác định mức rủi ro phát hiện Tuynhiên, kiểm toán viên không nên dựa hoàn toàn vào những đánh giá trước đó
để thực hiện các hiện các thử nghiệm cơ bản Bởi vì những đánh giá định tínhcủa kiểm toán viên không thể đảm bảo độ chính xác Trong trường hợp kiểmtoán viên phát hiện ra bằng chứng cho thấy rằng mức độ rủi ro tiềm tàng vàkiểm soát ban đầu là không chính xác thì kiểm toán viên nên đánh giá lạiphạm vi của các thủ tục đã thực hiện Và nếu bằng chứng đó chỉ rằng rủi rotiềm tàng và rủi ro kiểm soát đã được đánh giá quá thấp thì kiểm toán viênnên tiến hành thêm các thủ tục kiểm toán nhằm đạt được mức rủi ro phát hiệnmong muốn
1.5 Mô hình rủi ro kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán chỉ ra rằng kiểm toán viên nên lập kế hoạch thuthập để có thể đạt được mức rủi ro kiểm toán mong muốn nhưng lại khôngcung cấp những hướng dẫn cụ thể để có thể đánh giá mức độ rủi ro kiểm toán
Do vậy, xác định rủi ro kiểm toán và sử dụng mô hình kiểm toán phụ thuộcrất lớn vào kiểm toán viên
Mô hình kiểm toán có thể được sử dụng để đánh giá không chỉ cho toàn
bộ báo cáo tài chính mà còn có thể sử dụng cho từng khoản mục, nghiệp vụ
Mô hình kiểm toán dùng để đánh giá báo cáo tài chính được phản ánh nhưsau:
AR = IR × CR × DR
Trong đó:
AR: là rủi ro kiểm toán
IR: là rủi ro tiềm tàng
CR: là rủi ro kiểm soát
DR: là rủi ro phát hiện
Trang 12Mô hình rủi ro kiểm toán tuy đơn giản nhưng có ý nghĩa rất lớn chokiểm toán viên trong việc lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán sao cho hợp lý
và đủ để bảo đảm duy trì rủi ro phát hiện ở mức thấp cho phép Vận dụng môhình trên kiểm toán viên có thể đưa ra bảng xác định mức rủi ro phát hiện để
có thể dễ dàng thực hiện các cuộc kiểm toán
Từ mô hình trên ta có công thức tính rủi ro phát hiện như sau:
DR =
CR IR
AR
Các loại rủi ro có thể đánh giá cụ thể bằng các con số theo tỉ lệ phầntrăm hoặc được đánh giá khái quát theo yếu tố định tính như “thấp”, “trungbình”, “ cao” Dưới đây là bảng xác định mức rủi ro phát hiện theo yếu tốđịnh tính
bình Cao Tối đa
Trang 13 Vùng tô đậm thể hiện mức độ rủi ro phát hiện.
2 Trọng yếu.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 và 320 trọng yếu “là
thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin hoặc một số liệu trong báo cáo tài chính”.
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó haythông tin đó thiếu chính xác thì sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sửdụng báo cáo tài chính Mức độ trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng củathông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọngyếu của thông tin phải được xem xét cả trên tiêu chuẩn định lượng và địnhtính
Trọng yếu, xét trong quan hệ với nội dung kiểm toán, là khái niệmchung chỉ rõ tầm cỡ và tính hệ trọng của phần nội dung cơ bản của kiểm toán
có ảnh hưởng đến tính đúng đắn của việc nhận thức, đánh giá đối tượng kiểmtoán và việc sử dụng thông tin đã đánh giá đó để đưa ra quyết định quản lý.Trên góc độ của người sử dụng thông tin, nói một cách giản đơn, một thôngtin quan trọng và cần phải được trình bày nếu có khả năng ảnh hưởng tớiquyết định của người sử dụng
Rõ ràng thực trạng hoạt động tài chính cũng như hiệu quả nghiệp vụ làvấn đề rất rộng và trên thực tế không thể kiểm toán được tất cả các thông tin
đã thu được và chưa thu được của hoạt động tài chính và nghiệp vụ phải kiểmtoán Hơn nữa, người sử dụng cũng chỉ quan tâm tới bản chất của thực trạngtài chính và hiệu quả hoạt động Điểm gặp nhau giữa kiểm toán và quản lýnày dẫn tới tính tất yếu phải lựa chọn nội dung kiểm toán tối ưu vừa đánh giáđúng bản chất của đối tượng kiểm toán, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu củangười quan tâm với giá phí kiểm toán thấp trên cơ sở thực hiện tốt chức năngkiểm toán