1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

283 Đánh giá tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ trong các Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

24 666 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Người hướng dẫn Phạm Thái Sơn - Kiểm toán 40A
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kiểm toán
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 106 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

283 Đánh giá tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ trong các Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Trang 1

Mục lục

Trang

Lời nói đầu 2

Những lý luận chung về KTNB và thực trạng tổ chức KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay 4

I- Những vấn đề lý luận chung về KTNB 4

1 KTNB và vai trò của KTNB trong các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng 4

2 Vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung hoạt động của KTNB 5

3 Mô hình, nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức KTNB 7

II- Thực trạng của việc tổ chức KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay 11

1 Sự cần thiết của KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay 11

2 Đánh giá sự phát triển KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay .13

3 Những khó khăn chính trong việc tổ chức bộ máy KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay 15

III- Một số giải pháp trong việc giải quyết khó khăn trong việc hình thành KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay .19

1 Hoàn thiện về mặt chính sách 19

2 Hỗ trợ về mặt đào tạo và các điều kiện khác để nâng cao và phát triển đội ngũ KTVNB 21

3 Về chính sách vật chất và phơng tiện kỹ thuật 21

4 Về tổ chức bộ máy KTNB 22

IV- Một số kiến nghị rút ra từ thực tế 23

1 Mô hình tổ chức 23

2 Về cơ cấu bộ phận KTNB ở các tổng công ty, các doanh nghiệp có quy mô lớn 24

3 Hớng nghiên cứu mới 24

Kết luận 26

Tài liệu tham khảo 27

Lời nói đầu

Theo thời gian, cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội, cơ chế thị trờng ra đời làm cho các hoạt động tài chính và sở hữu ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, chức năng kiểm tra kế toán không đáp ứng đợc nhu cầu

Trang 2

của ngời sử dụng thông tin Chính vì thế, kiểm toán ra đời nh một đòi hỏikhách quan để đáp ứng nhu cầu đó Càng ngày, kiểm toán càng trở nên cóvai trò quan trọng và càng phát triển, khẳng định là một môn khoa học, mộtlĩnh vực nghiên cứu riêng Cơ chế thị trờng cạnh tranh gay gắt đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải nỗ lực vơn lên từ chính bản thân mình, các nhà quản trịphải có những quyết định và phơng pháp quản lý đúng đắn để đảm bảo choviệc kinh doanh có hiệu quả Cũng từ đó, kiểm toán nội bộ (KTNB ) ra đời

nh một nhu cầu tất yếu, cần thiết để giúp cho các nhà quản trị có đầy đủthông tin chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp mình, về cácbáo cáo tài chính đợc lập để làm cơ sở cho việc quản trị doanh nghiệp

ở Việt Nam hiện nay, KTNB có một vai trò hết sức to lớn trong đánhgiá tính chính xác của các báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ hoạt độngtrong doanh nghiệp, tạo niềm tin cho những ngời sử dụng thông tin và là cơ

sở để ra các quyết định của nhà quản trị Tuy nhiên, KTNB là lĩnh vực rấtmới mẻ ở Việt Nam, việc tổ chức KTNB trong các DNNN có một ý nghĩarất to lớn đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vànhất là trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nớc hiện nay Docòn mới mẻ nên việc tổ chức bộ máy KTNB trong các DNNN ở Việt Namhiện nay vẫn còn có nhiều vấn đề khó khăn

Đề tài với chủ đề: "Đánh giá tổ chức bộ máy KTNB trong các doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam " sẽ giúp ta nhìn nhận rõ hơn về thực

trạng của việc tổ chức bộ máy KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiệnnay cũng nh đề cập tới một số kiến nghị và giải pháp để giải quyết nhữngkhó khăn đó

Đề tài đợc chia làm 2 phần:

Phần I: những vấn đề lý luận chung về KTNB và thực trạng

tổ chức KTNB trong các DNNN ở nớc ta hiện nay.

Phần II: một số kiến nghị và giải pháp tổ chức bộ máy KTNB

trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay.

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - giảng viên: Bùi Minh Hải đã

h-ớng dẫn tận tình và giúp đỡ em hoàn thành đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2001.

Sinh viên thực hiện: Phạm Thái Sơn

Trang 3

Phần I Những vấn đề lý luận chung về kiểm toán nội bộ

và thực trạng tổ chức kiểm toán nội bộ trong

các DNNN ở nớc ta hiện nay.

1 KTNB và vai trò của KTNB trong các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng.

a) Kiểm toán nội bộ là gì?

Lịch sử phát triển hoạt động kiểm toán ở các nớc có nền kinh tế thị ờng cho thấy KTNB là một nghề nghiệp mới mẻ Tuy lúc đầu KTNB mangtính chất không chuyên, không tồn tại ở các doanh nghiệp hoặc đợc coi nhmột phần của kiểm toán độc lập, nhng về sau nó đã trở thành một nghề cótính chuyên nghiệp

tr-Một cách cơ bản có thể hiểu KTNB là một bộ phận đợc lập ra trongmột đơn vị, thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát để giúp các nhà quản lýcấp cao trong đơn vị đó gia tăng đợc quyền lực của mình nhằm quán xuyến

đựoc các hoạt động đã và đang diễn ra trong đơn vị, bao gồm: những quytắc đặt ra có đợc tuân thủ không? Tài sản có đợc toàn vẹn không? Cán bộ,

Trang 4

CNV làm việc có hiệu quả không? Các quy định hiện hành có phù hợp khi

điều kiện thay đổi? Đánh giá tính chính xác của các báo cáo tài chính

Nh vậy, KTNB hình thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu quản lýcủa bản thân doanh nghiệp KTNB thực hiện chức năng đánh giá một cách

độc lập và khách quan cơ cấu kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp Phạm vicủa KTNB bao gồm tất cả các mặt hoạt động của của doanh nghiệp và ở tấtcả các cấp quản lý khác nhau KTNB xem xét, đánh giá và báo cáo về thựctrạng của hệ thống kiểm soát nội bộ, đa ra những phân tích, kiến nghị, t vấnmang tính chất chuyên nghiệp để lãnh đạo doanh nghiệp có cơ sở tin cậytrong việc quản lý thành công các hoạt động của doanh nghiệp

b) Vai trò và ý nghĩa của KTNB trong các doanh nghiệp.

Mỗi doanh nghiệp có một hệ thống kiểm soát nội bộ là điều kiện cầnthiết và lý tởng để Ban Giám đốc và Hội đồng Quản trị chỉ đạo, quản lýkinh doanh một cách có hiệu quả, cũng nh mang lại sự đảm bảo chắc chắn,tin cậy và hiệu quả cho các quyết định và chế độ quản lý KTNB là một bộphận cơ bản và quan trọng trong hệ thống kiểm soát nội bộ, vì thế KTNB cómột ý nghĩa rất quan trọng và tồn tại nh một nhu cầu cần có của doanhnghiệp Trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh ác liệt hiện nay, đối tác kinhdoanh đợc mở rộng với sự cạnh tranh của các luật chơi trên thị trờng Trong

điều kiện các báo cáo tài chính của doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa công khaivới các đối tợng bên ngoài khi có xác nhận của kiểm toán độc lập thì KTNBcũng ý nghĩa và cần thiết đối với ngời quản lý và điều hành doanh nghiệp,cũng nh đối với tổ chức kiểm toán độc lập khi xem xét và kiểm toán báocáo tài chính của doanh nghiệp

Xuất phát từ mục tiêu của KTNB là nhằm củng cố cơ cấu kiểm soátnội bộ, thúc đẩy việc sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực củadoanh nghiệp, ta thấy việc tổ chức bộ máy KTNB trong các doanh nghiệptrong điều kiện thị trờng hiện nay là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớntrong công tác quản trị doanh nghiệp

2 Vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung hoạt động của KTNB.

Trớc hết cần phải khẳng định rằng KTNB là nhu cầu tự thân của cácdoanh nghiệp, chính vì thế phạm vi của KTNB là rất linh hoạt và tùy thuộcvào quy mô, cơ cấu của doanh nghiệp cũng nh nhu cầu quản lý đơn vị, dovậy KTNB trong các doanh nghiệp khác nhau là khác nhau và phù hợp vớitừng hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp

a) Chức năng và vị trí của KTNB:

KTNB hình thành do nhu cầu quản lý nên chức năng của nó cũng trảiqua quá trình phát triển từ thấp tới cao cùng với khoa học quản lý kinh tế,

Trang 5

trình độ và kinh nghiệm quản lý của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Mặc

dù theo kinh nghiệm của các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, chứcnăng của KTNB hiện đại là đánh giá độc lập hệ thống kiểm soát nội bộ, nh-

ng chức năng truyền thống của KTNB là xem xét , đánh giá độ tin cậy,thống nhất của các thông tin tài chính, đánh giá việc sử dụng tiết kiệm, hữuhiệu vốn và tài sản của doanh nghiệp Chính vì thế, việc quy định chứcnăng, nhiệm vụ cho KTNB cần phải xem xét phù hợp với điều kiện cụ thểcủa từng quốc gia, từng khu vực kinh tế, từng ngành và từng đơn vị

Về vị trí của KTNB: Trong sơ đồ quản lý doanh nghiệp, trách nhiệm

và nhiệm vụ càng lớn thì vị trí càng cao Do tính chất đặc thù của hoạt độngkiểm toán, đảm bảo tính khách quan trong công việc, bộ phận KTNB cần đ-

ợc tổ chức độc lập với các bộ phận quản lý và điều hành kinh doanh trongdoanh nghiệp và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của ( Tổng ) Giám đốc hoặcHĐQT của doanh nghiệp

b) Nhiệm vụ của KTNB:

Về cơ bản, nhiệm vụ của KTNB bao gồm các nhiệm vụ sau:

- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu, số liệu kếtoán, việc chấp hành chế độ, thể lệ kế toán tài chính của nhà nớc

- Kiểm tra và xác nhận mức độ trung thực, hợp lý của các báo cáoquyết toán do kế toán và các bộ phận khác trong doanh nghiệp lập ra

- Kiểm tra xác nhận giá trị vốn góp của doanh nghiệp và các đối tác thamgia liên doanh với doanh nghiệp Kiểm tra xác nhận tính trung thực, hợp lý,

đầy đủ của số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của đơn vị liên doanh

- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của hệ thống kiểm soát nội bộ trong

đó có hệ thống kế toán Giám sát sự hoạt động và tham gia hoàn thiện chúng

- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của quy chế kiểm soát nội bộ,

đồng thời có kiến nghị hoàn thiện các quy chế này

- Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên KTNB có trách nhiệm hớngdẫn nghiệp vụ cho cán bộ kế toán và các cán bộ nghiệp vụ khác có liên quan, đềxuất các quyết định quản lý, xử lý về tài chính và các nội dung xử lý khác

Trang 6

- Có quyền yêu cầu các bộ phận và các cá nhân có liên quan cung cấp

đầy đủ, kịp thời các tài liệu về kế toán, tài chính và các tài liệu khác có liênquan tới nội dung đợc kiểm toán

- Có quyền đối chiếu xác minh các thông tin kinh tế có liên quan tới

đối tợng đợc kiểm toán ở trong và ngoài doanh nghiệp

- Có quyền kiến nghị với chủ thể đợc kiểm toán có biện pháp sửa chữasai phạm và có quyền ghi kiến nghị của mình vào báo cáo kiểm toán

- Đề xuất với lãnh đạo doanh nghiệp những kiến nghị và biện pháp vềquản lý

Đó là một số quyền hạn cơ bản của KTNB, bên cạnh đó tùy thuộc vào từng doanh nghiệp, từng điều kiện mà KTNB có thể có thêm các quyền khác.

d) Nội dung hoạt động của KTNB:

Hoạt động của KTNB trong doanh nghiệp thực hiện một số nội dung chủ yếu sau:

- Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liênquan, giám sát sự hoạt động của các hệ thống này cũng nh tham gia hoànthiện chúng

- Kiểm tra các thông tin tác nghiệp, thông tin tài chính, bao gồm việcsoát xét lại các phơng tiện đã sử dụng để xác định, tính toán, phân loại vàbáo cáo những thông tin này, kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các số d vàcác bớc công việc

- Kiểm tra tính hiệu quả, sự tiết kiệm và hiệu suất của các hoạt động,

kể cả các quy định không có tính chất tài chính của doanh nghiệp

Nh vậy, lĩnh vực hoạt động của KTNB bao gồm cả kiểm toán tài chính và kiểm toán nghiệp vụ trong doanh nghiệp.

3 Mô hình, nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức KTNB.

a) Mô hình tổ chức:

Từ những vai trò của KTNB trong doanh nghiệp thì việc tổ chức KTNBtrong doanh nghiệp là cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp Tuy nhiên, tùy theo quy mô của doanh nghiệp mà tổ chức bộ máykiểm toán cho phù hợp Bộ phận KTNB trong các doanh nghiệp nhà nớc nên

đợc tổ chức nh thế nào ? Về vấn đề này, có 2 loại quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất: Bộ phận KTNB trực thuộc HĐQT mà trực tiếp là chịu sự chỉ đạo của Ban kiểm soát Có nh vậy bộ phận KTNB mới

phát huy đợc tính độc lập, kết quả KTNB mới có tính khách quan, khắc

phục tình trạng " vừa đá bóng vừa thổi còi".

Mô hình 1: Mô hình bộ máy KTNB theo quan điểm này nh sau

Trang 7

Mô hình trên đợc coi là mô hình lý tởng, nó bảo đảm điều kiện về tính

độc lập của KTNB nhng không có tính thực tế Đó là vì HĐQT và Ban kiểmsoát không trực tiếp điều hành và quản lý doanh nghiệp, hơn nữa, HĐQT ởTổng Công ty nhà nớc hiện nay còn nhiều thành viên kiêm chức nên không

Mô hình 2 : ktnb trực thuộc Tổng Công ty (giám đốc) của dn

Quan hệ trực thuộc

Quan hệ kiểm tra

Luồng thông tin phản hồi

Hội đồng Quản trị.

Bộ phận KTNB

Cán bộ quản lý cấp trung gian Ban Giám đốc

Cán bộ quản lý cấp DN

Tổng Công ty ( Giám đốc)

Hội đồng Quản trị

( HĐQT )

Bộ phận KTNB

Cán bộ quản lý cấp trung gian

Cán bộ quản lý cấp

DN

Quan hệ trực thuộc Quan hệ kiểm tra Luồng thông tin phản hồi

Trang 8

Cách tổ chức theo mô hình này phù hợp với điều kiện thực tiễn củacác DNNN trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên để KTNB thực sự có hiệuquả thì ngời đứng đầu bộ phận KTNB phải đợc quyền tự do báo cáo kết quảkiểm toán với Ban kiểm soát của HĐQT (nếu doanh nghiệp có HĐQT).

Nh vậy qua việc phân tích những chức năng, đặc điểm của KTNB thìviệc hình thành KTNB trong các doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tếthị trờng phát triển đa chiều, cạnh tranh gay gắt là một điều cần thiết đểnâng cao tính hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp, chỉ ra các vấn

đề, các hớng để hoàn thiện hệ thống chính sách, hệ thống kế toán trongdoanh nghiệp, đồng thời tùy theo mỗi nhu cầu tự thân, mỗi điều kiện hoàncảnh của các doanh nghiệp mà có cơ cấu tổ chức KTNB cho phù hợp, đảmbảo tính hiệu quả của bộ phận này trong quá trình kiểm toán và kiến nghịchiến lợc cho các nhà quản trị trong quá trình lãnh đạo doanh nghiệp ở cảtầm vĩ mô và vi mô

b) Nguyên tắc, nhiệm vụ của tổ chức bộ máy KTNB.

Bộ máy kiểm toán bao gồm con ngời và các phơng tiện chứa đựng cácyếu tố cấu thành của kiểm toán để thực hiện chức năng của kiểm toán

Tổ chức bộ máy kiểm toán chính là việc tạo ra các mối liên hệ giữacác yếu tố cấu thành kiểm toán, giữa các phân hệ trong hệ thống kiểm toán

và chín giữa bản thân của hệ thống kiểm toán với các yếu tố khác trong môitrờng hoạt động của kiểm toán Chính từ việc tổ chức bộ máy kiểm toán màcác mối liên hệ đợc duy trì đảm bảo cho hệ thống thực hiện tốt chức năngxác minh và bày tỏ ý kiến

Tổ chức bộ máy KTNB phải đảm bảo:

- Tính khoa học: Tổ chức bộ máy KTNB phải phù hợp với nguyên lý

chung của lý thuyết kiểm toán Tùy theo đặc điểm tổ chức của doanhnghiệp là tổ chức theo phơng pháp chức năng hay trực tuyến tham mu mà đ-

a ra mô hình tổ chức bộ máy KTNB cho phù hợp

- Tính nghệ thuật: Tổ chức bộ máy KTNB phải chú ý tới nhân tố con ngời.

Trong sơ đồ tổ chức bộ máy kiểm toán cần phải phân công rõ ràngchức năng và nhiệm vụ của mỗi ktv nhằm đạt hiệu quả và hiệu suất cao

- Phải đảm đủ về số lợng nhân viên trong bộ phận kiểm toán cũng làmột vấn đề quan trọng

Số lợng nhân viên kiểm toán có thể đợc xác định qua công thức sau:

Số lợng nhân viên KTNB =

k

b t ai

Trong đó:

Trang 9

ai: Thời gian cần thiết để tiến hành kiểm toán một hoạt động hoặc một bộphần của doanh nghiệp bao gồm cả thời gian kiểm toán dự tính, thờigian đi lại nếu có.

t: Tần suất kiểm toán các bộ phận hoặc các hoạt động tơng ứng/năm.b: Thời gian dự kiến phát sinh cho các hoạt động đào tạo, nghỉ phép, hội họp k: Thời gian làm việc trung bình của một KTV/năm

n: Tổng số bộ phận hoặc hoạt động cần đợc kiểm toán

- Điều quan trọng trong tổ chức KTNB là phải xác định quy mô của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có thực sự cần bộ máy KTNB hay không, quy

mô của doanh nghiệp nh thế thì bộ máy KTNB nên có quy mô nh thế nàothì thích hợp

- Tùy theo cơ cấu của doanh nghiệp nh thế nào mà tổ chức KTNB cho

phù hợp sao cho đem lại hiệu quả cao nhất, tốn chi phí ít nhất

- Tổ chức bộ máy KTNB phải quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ:Tập trung dân chủ thích ứng với từng bộ phận kiểm toán

- Hệ thống bộ máy KTNB bao gồm các mối liên hệ trong và ngoàikhác nhau và phải phù hợp với nguyên lý chung của lý thuyết tổ chức vàquy luật biện chứng về mối liên hệ

Để tổ chức bộ máy KTNB thì cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Phải xác định kiểu mô hình tổ chức phù hợp với đặc điểm, cơ cấu tổ

chức của doanh nghiệp

- Xác định kiểu liên hệ trong từng mô hình

- Xây dựng mối liên hệ giữa các yếu tố cơ bản cấu thành nên hệ thống

1 Sự cần thiết của KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay:

KTNB là hoạt động trong phạm vi doanh nghiệp, do ngời của doanhnghiệp thực hiện để phục vụ cho các yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh

Trang 10

và quản lý tài chính của bản thân doanh nghiệp Với mục tiêu nh vậy, đặcbiệt là trong cơ chế quản lý tài chính kiện nay - doanh nghiệp đợc quyền tựchủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tàichính đến mức cao nhất - thì KTNB càng là một đòi hỏi cấp bách với tất cảcác DNNN.

Theo Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 03/10/1996 của Chính phủ, từ năm

1997 cơ quan quản lý tài chính các cấp sẽ không tiến hành kiểm tra phêduyệt quyết toán sản xuất kinh doanh hàng năm của các DNNN CácDNNN phải công khai báo cáo tài chính và chịu trách nhiệm về các số liệu,chỉ tiêu đã công bố Đây là một quy định nhằm nâng cao tính chủ động, tựchủ, tự chịu trách nhiệm cho các DNNN nhng đồng thời cũng gây không ítkhó khăn, lúng túng cho họ Từ trớc năm 1997, sau khi quyết toán năm đợcduyệt, lãnh đạo doanh nghiệp hoàn toàn yên tâm về kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, về các mặt hoạt động và giải pháp tàichính trong năm vì đã đợc các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nớc xácnhận Mọi sai sót, vi phạm của doanh nghiệp cũng đã đợc giải quyết hoặcxóa bỏ thông qua việc duyệt quyết toán Chính vì vậy, trong điều kiệnkhông còn kiểm tra phê duyệt quyết toán hàng năm, KTNB với chức năngkiểm tra, xác nhận tính trung thực và hợp lý, hợp pháp của các thông tintrong báo cáo tài chính sẽ giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp bớt lúng túng,yên tâm hơn khi ký các báo cáo tài chính và công khai báo cáo tài chínhtheo cơ chế về quản lý tài chính DNNN

ở Việt Nam hiện nay, mô hình HĐQT ở các Tổng công ty đợc thànhlập theo Nghị định 90/CP và 91/CP có khác so với các nớc Trong mỗi Tổngcông ty nhà nớc có Ban kiểm soát trực thuộc HĐQT, ngoài các thành viênchuyên trách, HĐQT còn có một số thành viên kiêm nhiệm Trong Bankiểm soát, ngoài Trởng Ban kiểm soát, phần lớn các ủy viên là các thànhviên kiêm nhiệm, có thành viên không thuộc Tổng công ty Với bộ máy nhvậy, Ban kiểm soát khó lòng thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm theoquy định của nhà nớc mới đợc ban hành theo điều lệ mẫu của Tổng công ty

nhà nớc Vì vậy, ở các DNNN mà trớc hết là các Tổng công ty cần thiết phải tổ chức bộ phận KTNB để giúp chủ doanh nghiệp điều hành và quản

lý mọi mặt hoạt động có hiệu quả Đó là một nhu cầu cần thiết và nên làm

vì sự phát triển của doanh nghiệp

Đối với nớc ta hiện nay đang tiến hành quá trình cổ phần hóa các DNNN, việc cổ phần hóa sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn luôn cố

gắng vơn lên để đứng vững trên thị trờng, hơn nữa các cổ đông đòi hỏi phảibiết thông tin chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp để chia sẻcác lợi ích và rủi ro cũng nh tham gia quản lý doanh nghiệp, do vậy KTNBlại càng cần thiết hơn bao giờ hết đối với các DNNN đang tiến hành cổ

Trang 11

phần hóa, và nó không thể thiếu đối với các doanh nghiệp đã chuyển đổisang hình thức cổ phần.

Nớc ta đang phát triển và mở rộng hoạt động của thị trờng chứng khoán, thông tin tài chính của doanh nghiệp là hết sức cần thiết và có ý

nghĩa quan trọng đối với những ngời tham gia thị trờng, theo đó, KTNBcung cấp thông tin và kiến nghị các biện pháp quản lý về doanh nghiệp sẽtạo niềm tin cho các cổ đông và giúp cho doanh nghiệp quản lý tốt, có cácbiện pháp để phát triển sản xuất kinh doanh

Nh vậy, xét tình hình hiện nay, việc tổ chức bộ máy KTNB trong cácDNNN ở Việt Nam hiện nay là một nhu cầu cần thiết để đảm bảo cho cácdoanh nghiệp hoạt động tốt, và là cơ sở để doanh nghiệp cạnh tranh, tồn tạivững trên thị trờng

2 Đánh giá sự phát triển KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay:

Nh đã nói ở trên, KTNB có một vai trò và vị trí đặc biệt trong doanhnghiệp, tuy nhiên chúng ta còn hiểu biết quá ít về lĩnh vực này so vớiKTNN và KTĐL Trên thực tế, chúng ta cha có một công trình, một đề tàinào nghiên cứu một cách có hệ thống và sâu sắc về KTNB, trong điều kiện

đó, vớng mắc về nhận thức là lẽ đơng nhiên, việc triển khai hoạt độngKTNB ở các doanh nghiệp lại càng lúng túng

ở Việt Nam đã xuất hiện những nhu cầu và điều kiện cần thiết choviệc thiết lập hệ thống KTNB trong các đơn vị kinh tế lớn nh các Tổng công

ty 90, 91; các Bộ, ngành, địa phơng trong phạm vi cả nớc Tuy nhiên, đâymới chỉ là giai đoạn đầu của việc hình thành một hệ thống KTNB trong hầuhết các doanh nghiệp, chính vì thế KTNB mới hình thành đợc rất ít, cònchập chững, tập trung chủ yếu ở các Tổng công ty, các doanh nghiệp có quymô lớn Hơn nữa, KTNB bớc đầu còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trongviệc tổ chức và hoạt động, bộ phận KTNB còn quá mỏng manh so với cảmột khối lợng công việc khổng lồ Chúng ta có thể lấy ví dụ về hoạt độngKTNB trong các Tổng công ty tiêu biểu: Xin lấy mô hình KTNB của Tổngcông ty xây dựng Sông Đà và Tổng công ty xăng dầu Việt Nam(Petrolimex):

Tổng công ty xây dựng Sông Đà là một doanh nghiệp có quy mô tầmtrung bình trong số những tổng công ty 90 của Nhà nớc, hình thành và hoạt

động hơn 30 năm qua với nhiều công trình xây dựng lớn Xác định đúng

đắn sự cần thiết của KTNB đối với sự phát triển của Tổng công ty, ngày1/1/1998 phòng KTNB Tổng công ty chính thức ra đời Giai đoạn đầu,phòng KTNB gồm 5 cán bộ KTV có trình độ chuyên môn sau đại họcchuyên ngành tài chính kế toán và trình độ đại học, có nhiều năm thực tếcông tác trong lĩnh vực kiểm tra kiểm soát nội bộ hoặc trong lĩnh vực tàichính của Tổng công ty Vừa xây dựng vừa hoạt động, trong năm 1998

Trang 12

kiểm toán Tổng công ty xây dựng Sông Đà đã hoàn thành một khối lợngcông việc đáng kể Tại các doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty tuycòn đang hoàn thiện về công tác tổ chức nhng 100% đơn vị đã bổ nhiệm đ-

ợc KTV hoặc thành lập tổ KTNB Tuy nhiên, chỉ một số đơn vị sớm tuyểnchọn bổ nhiệm đợc KTV đủ năng lực và ổn định tổ chức thì phát huy đợctác dụng bớc đầu, có đóng góp vào công tác chấn chỉnh quản lý tại doanhnghiệp Sau khi Bộ Tài chính ban hành Thông t số 171/TT-BTC, phần lớnKTNB tại các doanh nghiệp thành viên trong hệ thống KTNB Tổng công tyvẫn cha thực sự đi vào hoạt động Có nhiều lý do nhng nguyên chính là sựkhó khăn về tuyển chọn và điều động cán bộ Để hoạt động KTNB đi vàonền nếp, hiện nay Dự thảo quy chế KTNB của Tổng công ty đang đợc hoànthiện khâu cuối cùng

Petrolimex là một trong những doanh nghiệp đặc biệt của Nhà nớc,doanh số và luân chuyển vốn hàng năm rất lớn, mạng lới kinh doanh rộngkhắp Tháng 2/1999 Phòng KTNB Tổng công ty ra đời và đi vào hoạt động.Qua một quá trình hoạt động, do khối lợng công việc là rất lớn và do tính uthế của KTĐL trong lĩnh vực này, phòng KTNB Tổng công ty đã đề xuấtphơng án tiến tới thuê kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán báo cáo tàichính hàng năm, KTNB chỉ phối hợp hỗ trợ và học hỏi kinh nghiệm Theo

đề xuất, nhiệm vụ chính của KTNB là kiểm toán hoạt động và kiểm toántính tuân thủ, điều này phù hợp với lực lợng kiểm toán trong nội bộ, đồngthời giảm chi phí đáng kể so với thuê kiểm toán độc lập hoàn toàn

Nh vậy có thể thấy rằng hiện nay hệ thống KTNB ở Việt Nam cha pháttriển mà đang trong giai đoạn đầu hình thành, lực lợng KTV còn quá ít, hệthống chính sách, quy chế về KTNB cha đợc xây dựng và hoàn thiện, cha

đáp ứng đợc nhu cầu kiểm toán của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động chacao, còn nhiều lúng túng, khó khăn trong quá trình hình thành và hoạt động.Hiện nay Nhà nớc cũng đang khuyến khích các DNNN hình thành bộphận KTNB trong doanh nghiệp Theo điều 36, chơng V - Nghị định 59/CPngày 3/10/1996 quy định: "Doanh nghiệp tự tổ chức KTNB báo cáo tàichính của mình hoặc thuê kiểm toán độc lập nếu thấy cần thiết" chính lànhằm tạo cho DNNN cơ hội lựa chọn việc có nên tổ chức bộ phận KTNBtrong doanh nghiệp hay không

Mặt khác, giữa thực trạng phát triển KTNB trong các DNNN ở ViệtNam hiện nay và nhu cầu đòi hỏi của Nhà nớc về khía cạnh pháp lý còn cómột số mâu thuẫn: Theo Điểm 3, Mục I - Thông t 73 TC/TCDN ngày12/11/1996 của Bộ Tài chính: " báo cáo tài chính đợc coi là hợp pháp, hợp

lệ khi có đủ chữ ký của ngời lập, ngời kiểm toán, Kế toán trởng, giám đốc

và đóng dấu của doanh nghiệp", trong điều kiện hiện nay khi mà lực lợngcán bộ kiểm toán và hệ thống KTNB cha phát triển và hoàn thiện, cha đáp

Ngày đăng: 25/03/2013, 17:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w