1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu

46 471 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nông nghiệp ven biển và tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế vùng ven biển Nông nghiệp ven biển trong bài viết này được hiểu là các hoạt động sản xuất của con người trong các lãn

Trang 1

Đặt vấn đề 3

Chương 1 Tổng quan tài liệu 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1 Vùng ven biển (Coastal Areas) 4

1.1.2 Nông nghiệp ven biển và tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế vùng ven biển 4

1.1.3 Biến đổi khí hậu 5

1.2 Điều kiện tự nhiên vùng ven biển ở Việt Nam 5

1.2.1 Khí tượng 5

1.2.2 Thủy văn và tài nguyên nước mặt 6

1.2.3 Địa hình, địa mạo 7

1.2.4 Thổ nhưỡng 7

1.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế ven biển 10

Chương 2 Sản xuất nông nghiệp vùng ven biển 12

2.1 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển nông nghiệp ở các vùng ven biển Việt Nam 12

2.1.1 Thuận lợi 12

2.1.2 Khó khăn 13

2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp vùng ven biển Việt Nam 13

2.2.3 Về trồng trọt 14

2.2.2 Về chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản ven biển 16

2.2.3 Nghề làm muối (diêm nghiệp) 20

2.2.4 Về công nghiệp chế biến thủy sản ven biển 21

2.2 Một số giải pháp sản xuất nông nghiệp vùng ven biển Việt Nam 21

2.2.1 Sản xuất nông nghiệp trên đất mặn ven biển 21

2.2.2 Sản xuất nông nghiệp trên đất cát và cồn cát ven biển 25

Trang 2

2.2.3 Sản xuất nông nghiệp trên đất phèn ven biển 28

2.2.4 Sản xuất nông nghiệp trên phù sa ven biển 29

2.2.5 Sản xuất nông nghiệp trên đất đỏ vàng ven biển 29

2.3 Định hướng phát triển nông nghiệp vùng ven biển ở Việt Nam 30

Chương 3 Biến đổi khí hậu và sự ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp vùng ven biển 32

3.1 Một số nguyên nhân gây biến đổi khí hậu 32

3.2 Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp vùng ven biển ở Việt Nam 33

3.2.1 Tác động đến ngành trồng trọt 33

3.2.2 Tác động đến hoạt động chăn nuôi gia súc 41

3.3 Một số giải pháp khắc phục 41

Kết luận 45

Tài liệu tham khảo 46

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt nam có đường bờ biển dài trên 3200 km từ điểm cực đông ở phía Bắc là Mũi Ngọc tỉnh Quảng Ninh đến điểm cực Tây ở phía nam là Hà Tiên tỉnh Kiên Giang, và được bao bọc bởi hệ thống đảo ven bờ gồm trên 2700 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên đới chuyển tiếp giữa đất liền và biển Với đặc điểm của vị trí địa lí như vậy, vùng ven biển Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phỏng, bảo vệ chủ quyền lảnh thổ và lãnh hải của Tổ quốc Nhiều Nhà kinh tế thế giới đã cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của biển và đại dương Vì vậy, khai thác tiềm năng kinh tế các vùng biển và ven biển đã trở thành vấn

đề mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới

có biển Do trải dài từ: 21o31' đến 8o31’ vĩ độ Bắc nên có nhiều yếu tố và đặc điểm tự nhiên khác nhau đã chi phối, tác động tới quá trình phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung của các vùng ven biển ở Việt Nam

Mặc dù vậy, vấn đề sản xuất nông nghiệp vùng ven biển hiện nay còn ít được quan tâm nghiên cứu Hơn thế nữa, trong những năm qua, nền nông nghiệp vùng ven biển đã gặp phải nhiều khó khăn do chuyển đổi cơ cấu kinh tế, do các chính sách sử dụng đất đai chưa hợp lý và nhất là do biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng xuất hiện những thiên tai đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và sản lượng nông nghiệp, đặt nền nông nghiệp đứng trước những thách thức hệ trọng

Chính vì thế em chọn đề tài “ Sản xuất nông nghiệp vùng ven biển ở Việt Nam

và biến đổi khí hậu” nhằm tìm hiểu một cách tổng quan về sản xuất nông nghiệp vùng ven biển ở Việt Nam, những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và những biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Vùng ven biển (Coastal Areas)

Vùng ven biển là nơi chuyển tiếp giữa lục địa và biển, là vùng chịu sự tương tác giữa môi trường nước biển và nước ngọt Hoạt động thủy triều tác động lên vùng này hình thành các hệ sinh thái thủy sinh vô cùng đa dạng và phong phú, có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và phát triển kinh tế của vùng Vùng ven biển là nơi tiếp nhận nguồn dinh dưỡng hữu cơ dồi dào bắt nguồn từ các con sông cũng như được bổ sung

từ biển, là nguồn cung cấp thức ăn dồi dào để hỗ trợ cho sự sống của nhiều loại sinh vật khác nhau Thực tế, vùng cửa sông ven biển được coi là vùng có năng suất sinh học cao vào loại bậc nhất trên hành tinh [8]

Vùng ven biển hay dải ven biển Việt Nam chạy dài theo 3200 km bờ biển với ranh giới trùng với địa giới hành chính của các quận, huyện ven biển Có gần một nửa

số tỉnh/thành phố (29/63 tỉnh/thành phố, trong đó có 3 thành phố trực thuộc Trung ương) thuộc vùng biển, đảo và ven biển, gồm 148 huyện/quận, (trong đó có 101 huyện, 35 quận, thị xã, thành phố và 12 huyện đảo) với tổng diện tích tự nhiên là 65.312 km2, chiếm khoảng 20% diện tích cả nước Vùng biển đặc quyền kinh tế nước

ta rộng trên 1 triệu ki-lô-mét vuông ; bờ biển kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến

Hà Tiên (Kiên Giang) dài 3.260 km; có khoảng 3.000 hòn đảo, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, được chia thành 3 nhóm chính: Đảo xa bờ gồm: Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Yết, Sinh Tồn, Bạch Long Vĩ, Côn Đảo, Thổ Chu Đảo tuyến giữa: Cô Tô, Lý Sơn, quần đảo Nam Du, Cù Lao Thu (Phú Quý), Phú Quốc Đảo ven bờ: Cái Bầu, Cát Bà, Cồn Cỏ, Hòn Tre, Hòn Khoai

1.1.2 Nông nghiệp ven biển và tầm quan trọng của việc phát triển kinh

tế vùng ven biển

Nông nghiệp ven biển trong bài viết này được hiểu là các hoạt động sản xuất của con người trong các lãnh vực như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy-hải sản, đánh bắt cá, làm muối, và chế biến nông sản, thủy hải sản sau thu hoạch

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông - một biển lớn, quan trọng của khu vực và thế giới Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 thì Việt Nam không chỉ có phần lục địa nhỏ hẹp mà còn có cả vùng biển rộng lớn hơn 1 triệu

Trang 5

km2, gấp hơn ba lần diện tích đất liền Bờ biển trải dài theo chiều dài của đất nước với khoảng 100 cảng biển, 48 vịnh lớn nhỏ và trên 112 cửa sông, cửa lạch đổ ra biển Trên lãnh hải vùng biển Việt Nam có hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ với diện tích phần đất nổi trên mặt biển khoảng 1.636 km2, được phân bố chủ yếu ở vùng biển Đông Bắc

và Tây Nam với những đảo nổi tiếng về cảnh đẹp và có vị trí chiến lược như Bạch Long Vĩ, Phú quốc, Thổ Chu, Côn Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quý, Cát Bà, Hoàng Sa, Trường Sa

Trải dài trên tuyến ven biển có 29 tỉnh, thành phố với 124 huyện, thị xã; 612 xã, phường (trong đó có 12 huyện đảo, 53 xã đảo) với khoảng 20 triệu người sống ở ven

bờ và 17 vạn người sống ở các đảo Vì vậy, khai thác tiềm năng kinh tế trên biển và ven biển để phát triển kinh tế đất nước thật sự là vấn đề có tính chiến lược, lâu dài và

có tương lai to lớn, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh

tế - xã hội của nước ta

Thực tiễn các nước trên thế giới đã cho thấy kinh tế các vùng lãnh thổ, các địa bàn ven biển luôn đi đầu trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có biển Trong đó, kinh nghiệm về phát triển kinh tế các tỉnh ven biển của Trung Quốc trong những năm cải cách và mở cửa vừa qua đã là một thực tiễn quốc tế rất thuyết phục đối với Việt Nam Thực tiễn này nói lên rằng nếu biết đầu tư khai thác các tiềm năng “kinh tế” và

“địa kinh tế” vùng ven biển thì biển sẽ thực sự là “bạc” đối với mỗi quốc gia có biển

1.1.3 Biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo

Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu: “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra

những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế

- xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”

1.2 Điều kiện tự nhiên vùng ven biển ở Việt Nam

1.2.1 Khí tượng

Biển Đông và vịnh Thái lan đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành các đặc điểm khí hậu vùng ven biển Việt Nam Ở đây, các tác nhân như hoàn lưu gió mùa, mối

Trang 6

tương tác biển – lục địa, điều kiện địa hình, hướng của các đoạn đường bờ… tác động tương hỗ với nhau, hình thành nên một dải khí hậu miền duyên hải rất đặc sắc [4] Nhìn chung khí hậu có những phân hóa chính sau:

- Sự phân hóa rõ nét mùa đông của chế độ nhiệt theo phương kinh tuyến

- Sư phân hóa đa dạng về chế độ mưa ẩm theo không gian chiều dài vùng ven biển

- Tính chất biển của khí hậu trên toàn vùng ven biển

Vùng ven biển nước ta được chia ra thành 4 khu vực khí hậu chính với đặc điểm tài nguyên khác nhau [7] là:

- Khu vực Vịnh Bắc Bộ từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh

- Khu vực nam Vịnh Bắc Bộ từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế

- Khu vực Trung và Nam Trung Bộ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận

- Khu vực Nam Bộ từ Bà Rịa – Vũng Tàu đến Kiên Giang

Đánh giá chung, điều kiện khí hậu ven biển khá khuận lợi cho đời sống dân cư và nhiều loại hình sản xuất

1.2.2 Thủy văn và tài nguyên nước mặt

Dọc theo dải đất ven biển Việt Nam, trung bình cứ 20-25 km đường bờ ta lại gặp một cửa sông đổ ra biển [3] Chính vì thế, chế độ nước vùng cửa sông ven biển luôn liên quan mật thiết với chế độ nước vùng ven bờ và chế độ triều ven biển nước ta Chế độ thủy triều ở vùng ven biển Việt Nam rất đặc sắc và khá đa dạng, không giống với nhiều vùng biển khác trên thế giới và có thể được chia thành 8 khu vực khác nhau

Dòng chảy sông ngòi thuộc vùng ven biển chịu tác động đồng thời của hai nhân

tố biển và lục địa, mối tương tác này khá phức tạp Ở mỗi khu vực khác nhau, mức độ ảnh hưởng của nhân tố này cũng thay đổi khác nhau Điều này đặc biệt quan trọng đối với quá trình khai nước nước cho mục đích sản xuất nông nghiệp

Nhìn chung, vùng ven biển nước ta có lượng nước mặt tương đối dồi dào – ngoại trừ vùng ven biển Thuận Hải bị thiếu nước mặt vào mùa khô Nói chung, ở khía cạnh thuận lợi thì tài nguyên nước mặt đáp ứng tốt cho nhu cầu dân sinh và phát triển sản xuất

Tuy nhiên ở khía cạnh tác động tiêu cực của điều kiện thủy văn (bao gồm cả vấn

đề khí tượng) đến đời sống và sản xuất của nhân dân vùng ven biển thì phải kể đến

Trang 7

hiện tượng lũ lụt, mưa bão, áp thấp nhiệt đới nhất là ở khu vực ven biển Trung và Nam Trung Bộ Ngược lại với mưa lũ thì ở một số nơi tình trạng khô hạn kéo dài, khan hiếm nước sản xuất, sinh hoạt nghiêm trọng cũng thường xảy ra ( ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận) Trong điều kiện như vậy thủy triểu và nước mặn dễ dàng xâm nhập vào sông, đã gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt Ven biển đồng bằng Nam

Bộ, trong mùa khô cũng có nhiều nơi thiếu nước ngọt trầm trọng kết hợp với hiện tượng nhiễm mặn, ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp ở đây

1.2.3 Địa hình, địa mạo

Địa hình núi có ở một số các huyện ven biển với nhiều quá trình mang tính ngoại sinh bất lợi bởi ở đây năng lượng, thế năng địa hình rất lớn

Địa hình đồi chiếm diện tích khá lớn, có đầy đủ những điều kiện để phát triển các cây công nghiệp dài ngày (chè, cà phê) hoặc cây hoa màu

Địa hình đồng bằng trên các trũng vòng tân kiến tạo là các đồng bằng delta lớn, rất thuận tiện cho dân sinh, phát triển nông nghiệp, trước hết là cây lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, trong khai thác cần đề phòng bị nhiễm mặn

Nhóm địa hình đồng bằng rìa miền nâng thường nhỏ hẹp, có tiềm năng phát triển cây nông nghiệp, cây công nghiệp, rau, hoa màu, song thường xẩy ra cac quá trình rửa trôi và thoái hóa cát, cát bay và cát chảy

Địa hình bờ bãi có khả năng nuôi trồng thủy sản (tôm, cá, rau câu…)

1.2.4 Thổ nhưỡng

Thổ nhưỡng vùng ven biển là khá phong phú về chủng loại và phức tạp trong phân hóa Chính vì thế, tài nguyên đất ven biển cần được sử dụng với những định hướng sau:

a) Nhóm đất cát ven biển có độ phì nhiêu kém, tỉ lệ cát chiếm đến 85-90%

nhưng do địa hình bằng, hệ thống thủy lợi sớm được giải quyết, giao thông thuận lợi nên đã thực hiện thâm canh, cải tạo đất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng nên ở nhiều vùng đất cát ven biển hiện nay nhân dân đã có thu nhập khá

Đất cát bở rời, thô, màu vàng, trắng, đỏ hay xám tùy vào điều kiện địa hình, hàm lượng silic cao, sét và limon thấp (0-6%), đôi khi có vệt loang lỗ đỏ vàng hay kết von,

có chỗ lẫn cả vỏ sò, ốc N, P, K và lượng mùn rất thấp, pH dao động tùy nơi, khoảng 4,5-7,5 Có thể phân ra 3 loại đất cát chủ yếu [1]:

Trang 8

- Đất cồn cát và trắng (222000 ha): tập trung chủ yếu ven biển miền Trung từ Quảng Bình tới Bình Thuận, nhiều nơi được gió vun cao thành đụn 50-70m như từ Đồng Hới tới Vĩnh Linh

- Đất cồn cát đỏ (77000 ha): chỉ thấy ở Bình Thuận Cát đỏ có nhiều sét và limon hơn cát trắng và vàng, đồng thời mức feralit hóa cao hơn do tuổi già hơn

- Đất cát biển (234000 ha): thường nằm trong các dải cồn, địa hình thấp, bằng phẳng, rất nghèo dinh dưỡng, hàm lượng mùn thường dưới 0,8%, rất nghèo

N, P và các cation kiềm, kiềm thổ

b) Nhóm đất mặn ven biển: có độ phì nhiêu khá và trung bình

Nhóm đất mặn này là “đất có vấn đề”, phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng đồng bằng Nam Bộ như Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, trà Vinh, Bến Tre và ở các tỉnh ven biển vùng đồng bằng Bắc Bộ như Quảng Ninh, Hải Phòng,Thái Bình, Nam Ðịnh, Ninh Bình và Thanh Hóa Ngoài ra còn một số diện tích đất mặn nội địa phân bố ở Ninh Thuận, Bình Thuận được xếp là đất mặn kiềm [1] Đất bị nhiễm mặn do nước biển và có chứa nhiều loại muỗi khác nhau, trong đó muối clorua bao giờ cũng chiếm

ưu thế Nước mặn từ chỗ có hại đã trở thành nguồn lợi Trước đây, đến những vùng đất mặn dù ở miền Bắc hay miền Nam đều thấy chung một cảnh là “đất không nuôi nổi người”, nhưng giờ đây đã khác, do việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và sự hiểu biết của người dân về đất mặn đã tăng lên, đồng lúa trĩu hạt, kết hợp với nuôi trồng thủy sản, đời sống của người dân đã được cải thiện

c) Nhóm đất phèn: có độ phì nhiêu tiềm tàng khá cao Tuy nhiên yếu tố hạn chế

tăng trưởng và năng suất cây trồng trên loại đất này chính là độ chua cao Đất phèn là loại đất có nhiều sulfua chủ yếu dưới dạng pirite (Fe2S), khi bị oxy hóa pirite bị chuyển hóa thành jarosite KFe3(SO4)2(OH)6và khi giải phóng ra nhiều acid sulfuaric làm đất chua dữ dội, tác động đến nhiều mặt của sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp Phần lớn đất phèn tập trung ở sâu trong nội địa, một phần đất phèn còn lại tập trung ở dải ven biển miền Bắc, Trung và miền Nam Tại đây đất phèn có thể bị nhiễm mặn Thành phần cơ giời của đất phèn thường có tỉ lệ sét 50-60%, tỉ lệ cát chiếm khoảng 25-30%, bùn khoảng 10-15% Nói chung thành phần cơ giới của đất phèn là từ sét đến sét nặng [1]

Trang 9

d) Nhóm đất phù sa: Chủ yếu ở ven các con sông, một phần rải rác dọc bờ biển,

dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, nhiều loài thực vật ngập mặn

đã bao phủ chủ yếu là cây Đước (Rhizophora sp) và Mắm (Avicenia sp) Những thực

vật chịu mặn này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giữ lại các vật liệu lắng tụ, làm giảm sự cuốn trôi do nước và sóng, cung cấp sinh khối cho trầm tích Sự ổ định của mực nước biển dẫn đến sự bồi lắng trầm tích ven biển khá nhanh với vật liệu sinh phèn thấp

Đặc tính chung của loại đất này thích hợp cho gieo trồng các loại cây lương thực

và các loại cây công nghiệp như mía, các loại đậu đỗ, các loại rau quả Nhóm đất này được phân ra 3 đơn vị đất (đất phù sa trung tính ít chua, đất phù sa chua, đất phù sa đốm rỉ) và 5 đơn vị phụ đất (đất phù sa trung tính ít chua cơ giới nhẹ, đất phù sa trung tính ít chua cơ giới nặng, đất phù sa trung tính ít chua giàu mùn, đất phù sa trung tính

ít chua glây nông, đất phù sa trung tính ít chua glây sâu)

e) Nhóm đất đỏ vàng: chiếm một diện tích nhiều nhất trên dải ven biển nước ta,

có các loại đất như sau [14]:

- Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính được phân bố tập trung ở các

tỉnh: Nghệ An và Quảng Trị lẻ tẻ ở Thanh Hóa Đât nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính có diện tích khoảng 152 nghìn ha

- Đất đỏ nâu trên đá vôi có diện tích khoảng 23 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở

Nghệ An, Quảng Bình, do nằm ở địa hình dốc xen kẽ với các thung lũng hẹp nên tính chất khá phức tạp Đất thường có thành phân cơ giới nặng và kết cấu tốt, xốp song tốc

độ thấm nước mạnh

- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất có diện tích khoảng 1.255 nghìn ha,

phân bố chủ yếu là: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Huế, tập trung ở những vùng đồi bị phân cách mạnh Đất có độ dày trung bình, đất chua pH 4-4,5; thành phần cơ giới sét nhẹ, lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo Đất có độ phì trung bình, trên loại đất này người dân đã trồng ngô, sắn, mía…

Thiên Đất vàng đỏ trên đá trên đá macma axit, có diện tích khoảng 887 nghìn ha,

phân bố rãi rác ở tất cả các tỉnh trong vùng Do địa hình dốc và nằm trên đá mẹ axit nên tầng đất mỏng Do bị rữa trôi nên tầng mặt nhẹ hơn tầng sâu Đất chua, đạm rất nghèo, lân tầng mặt rất nghèo, các chất dinh dưỡng dễ tiêu cũng nghèo Đất dễ bị thoái hóa, trên loại đất này nên sử dụng vào mục đích lâm nghiệp

Trang 10

- Đất vàng nhạt trên đá cát có diện tích khoảng 1.296 nghìn ha, phân bố ở tất cả

các tỉnh trong vùng Đất có tầng mỏng, dày dưới 1 m, thành phần cơ giới cát pha đến cát bị rữa trôi mạnh, chua nghèo mùn và các chất dinh dưỡng cả tổng số lẫn dễ tiêu Đây là loại đất rất xấu phân bố ở địa hình dốc, dễ bị xói mòn

- Đất nâu vàng trên phù sa cổ có diện tích khoảng 54 nghìn ha, phân bố ở các

tỉnh: Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế Đất phân bố ở địa hình bằng phẳng Đất có tầng mỏng, hơi xốp, đất chua, độ bão hòa bazơ thấp Đất có chất lượng thấp, nhưng thuận lợi cho sản xuất cây hàng năm

1.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế ven biển

Kinh tế biển và ven biển hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế trực tiếp sử dụng các nguồn lực của biển, ven biển và các hoạt động kinh tế hỗ trợ cho hoạt động kinh tế trực tiếp sử dụng các nguồn lực của biển và ven biển - Các hoạt động kinh tế diễn ra gắn trực tiếp với các nguồn lực của biển và ven biển gồm: (i) Kinh tế vận tải biển và dịch vụ cảng biển; (ii) Kinh tế nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, làm muối, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản); (iii) Khai thác dầu khí; (iv) Du lịch, nghỉ ngơi, giải trí biển - Các hoạt động phục

vụ phát triển kinh tế biển, ven biển trên đất liền, hải đảo gồm: (i) Đóng và sửa chữa tàu biển; (ii) Cung cấp dịch vụ biển; (ii) Thông tin liên lạc biển; (iii) Nghiên cứu khoa học

- công nghệ biển; (iv) Đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển; và (v) Các ngành nghiên cứu, khai thác tài nguyên - môi trường biển… Các ngành nghề trên đây

có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam,

là một lợi thế lớn để Việt Nam nhanh chóng phát triển thành quốc gia giàu mạnh và thịnh vượng về kinh tế Chính vì vậy, từ nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ trương, chính sách nhằm quản lý, bảo vệ và khai thác biển Tiêu biểu là Nghị quyết 03-NQ/TW ngày 6/5/1993 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt Trong đó khẳng định rằng, phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia Sau Nghị quyết này, Thủ tướng Chính phủ đã có các chỉ thị triển khai thực hiện như: Chỉ thị 399 ngày 5/8/1993 về Một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt và Chỉ thị 171/TTg năm 1995 triển khai Nghị quyết 03-NQ/TW Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và đưa ra một số quan điểm

Trang 11

trong phát triển kinh tế biển Đó là: “Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá kinh tế biển hướng mạnh vào xuất khẩu, dựa trên những tiến bộ khoa học, công nghệ Gần đây nhất, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư Khóa X đã đề ra định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 như sau: “ Đến năm 2020 phát triển thành công, có bước đột phá về kinh tế biển, ven biển trên các mặt: (i) Khai thác, chế biến dầu khí; (ii) Kinh tế hàng hải; (iii) Khai thác và chế biến hải sản; (iv) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; (v) Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với các khu đô thị ven biển Trước mắt tập trung phát triển du lịch biển, xây dựng cảng biển, phát triển công nghiệp đóng tàu, phát triển ngành dịch vụ mũi nhọn như vận tải biển, các khu kinh tế biển Tạo các điều kiện cần thiết bảo đảm an ninh, an toàn cho những người dân hoạt động trên biển, người dân sinh sống ở những vùng thường bị thiên tai; đồng thời xây dựng các cơ sở bảo vệ môi trường biển Hạn chế, ngăn chặn ô nhiễm và suy thoái môi trường biển; bảo vệ và phát triển bền vững các hệ sinh thái biển và ven biển, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững đất nước…” Định hướng chiến lược vùng biển

và ven biển Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ (Thanh Hóa-Bình Thuận) là: “Xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển của vùng, là một trong ba trung tâm kinh tế lớn của nước ta Xây dựng hành lang kinh tế trên cơ sở tuyến cao tốc Bắc – Nam, các cảng nước sâu, sân bay quốc tế, phát triển các đô thị ven biển Xây dựng các khu kinh tế tổng hợp; chú trọng phát triển kinh tế hàng hải, du lịch” Chính phủ đã chỉ đạo định hướng phát triển các ngành công nghiệp để phát triển kinh tế ven biển là: ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, công nghiệp cơ bản, then chốt như: chế biến khí, công nghiệp điện, công nghiệp đóng tàu, sản xuất xi măng, chế biến thủy sản công nghệ cao Ngoài ra, phát triển các ngành công nghiệp khác như: may mặc, da giày, chế biến gỗ, điện tử, điện gia dụng phù hợp với điều kiện từng địa phương Đặc biệt ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông thôn ven biển

Trang 12

CHƯƠNG 2 SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG VEN BIỂN 2.1 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển nông nghiệp ở các vùng ven biển Việt Nam

2.1.1 Thuận lợi

 Nguồn lợi thủy sản là tiềm năng to lớn của nông nghiệp ven biển

Nguồn lợi thủy sản biển của Việt Nam được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác có giá trị kinh

tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó trên 100 loài có giá trị kinh tế cao với tổng trữ lượng hải sản khoảng 3- 4 triệu tấn, khả năng cho phép khai thác 1,5 - 1,8 triệu tấn/năm Đến nay đã xác định 15 bãi cá lớn quan trọng, trong đó 12 bãi cá phân bố ở vùng ven bờ và 3 bãi

cá ở các gò nổi ngoài khơi Dọ các tỉnh ven biển có trên 370.000 ha mặt nước các loại

có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn - lợ, nhất là nuôi các loại đặc sản xuất khẩu như tôm, cua, rong câu… Riêng diện tích nuôi tôm nước lợ có tới 300.000 ha Ngoài

ra, còn hơn 500.000 ha các eo vịnh nông và đầm phá ven bờ như Vịnh Hạ Long, Bái

Tử Long, Phá Tam Giang, Vịnh Văn Phong… là môi trường rất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển

Những tiềm năng trên là điều kiện quan trọng để Việt Nam phát triển mạnh ngành kinh tế thủy sản trên biển và ven biển, đi theo chúng là ngành công nghiệp chế biến thủy sản đa dạng một cách toàn diện và tiến tới hiện đại với giá trị cao và được thị trường ưa chuộng

 Nguồn muối biển là lợi thế riêng của nông nghiệp ven biển

Nguồn lợi muối chứa trong nước biển bình quân 3.500gr/m3 là nguồn ngusyên liệu vô tận để phát triển ngành muối công nghiệp và muối dân sinh

Vai trò của muối đối với toàn bộ nền kinh tế Việt Nam là rất to lớn Sự phát triển mau chóng của các ngành công nghiệp hoá chất đòi hỏi một lượng lớn muối ăn với độ tinh kiết khá cao Trong khi phần lớn mọi người quen thuộc với việc sử dụng nhiều muối trong chế biến thực phẩm, nhưng họ có thể lại không biết là muối được sử dụng rất nhiều trong các ứng dụng khác Từ muối ăn nóng chảy, ta có thể điện phân để lấy kim loại Natri (Na) nguyên chất, dung dịch muối ăn điện phân sẽ cho ta xút (NaOH)

Trang 13

và Clo (Cl2), Hyđro (H2), axít Clohyđric (HCl), và những hoá chất cơ bản dùng để sản xuất ra rất nhiều sản phẩm công nghiệp khác

Muối ăn còn dùng trong việc sản xuất thuốc nhuộm, thuốc nổ, Natri Carbonat (Na2CO3), phân bón Amon Clorua (NH4Cl), xà phòng và bột giặt Ngoài ra nước ót của muối (là phần dung dịch còn lại trên ruộng muối sau khi muối đã kết tinh) có thể tạo ra Magie Oxit (MgO), Magie Clorua (MgCl) sử dụng trong công nghiệp sản xuất gốm sứ, thủy tinh…

- Hoạt động lâm nghiệp biển, ven biển cũng quan trọng, nhưng với vai trò bảo vệ môi trường sinh thái biển, ven biển, chống bão, gió và chắn cát bay hơn vai trò kinh tế, kinh doanh

- Đối với nghề chăn nuôi: do trồng trọt khó phát triển, đặc biệt là các loại cây lương thực, nên ngành chăn nuôi với những loài vật sử dụng các nguồn thức ăn tinh bột sẽ không đủ để phát triển Các loài vật tiêu thụ chủ yếu thức ăn thô, lá cây, cỏ dại…có thể phát triển được ở những vùng này, nhưng cũng không thể thành quy mô lớn

Ngoài ra tình trạng thiếu nước ngọt và đất đai khô cằn cũng là yếu tố hạn chế phát triển chăn nuôi ở những vùng này

2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp vùng ven biển Việt Nam

Từ các lợi thế và bất lợi nêu trên cho thấy kinh tế nông nghiệp ven biển thường hướng vào phát triển các hoạt động khái thác, nuôi trồng thủy sản như: đánh bắt thủy sản nước mặn trên biển; nuôi trồng các loại thủy sản nước mặn, nước lợ trên biển (bằng các phương tiện lồng bao nhân tạo); nuôi trồng thủy sản trên đất liền bằng cách

Trang 14

lấy nước biển (tạo các ao nuôi thủy sản nhân tạo); nuôi trồng đánh bắt trên các vùng nước lợ ở các vùng cửa sông đổ ra biển Kèm theo các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy sản biển và ven biển là các hoạt động chế biến các loài thủy sản nước mặn và nước lợ, các hoạt động dịch vụ cho hoạt động nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản

Theo kết quả của đề tài “Đánh giá thực trạng và xác định cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng ven biển giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020”, nhóm tác giả đã

đưa ra cơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế của các xã vùng đồng bằng ven biển được chuyển dịch theo hướng tích cực của từng thời kỳ từ 2005-2010 Đó là tỷ trọng sản xuất của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm và tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp, dịch vụ tăng lên Như vậy, xu hướng chuyển dịch cơ cấu của các ngành kinh tế của các xã vùng đồng bằng ven biển là phù hợp với định hướng chung của các huyện cũng như của tỉnh trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, sự chuyển dịch vẫn còn chậm, nhất là trong nhóm ngành công nghiệp

và xây dựng

Đối với cơ cấu kinh tế của ngành nông-lâm-ngư nghiệp, thì nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của các xã vùng đồng bằng ven biển Mặc dù thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, song sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp vẫn phát triển theo hướng tích cực Đây chính là kết quả của việc chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp

Tình hình phát triển các hoạt động kinh tế nông nghiệp ven biển, hải đảo trong thời gian qua như sau:

Trang 15

các khu rừng ngập mặn ven biển để giữ vững môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học vốn có, từ đó bảo đảm sự phát triển bền vững

Về trồng lúa:

- Vùng đồng bằng ven biển Trung

Bộ có 3 vụ lúa trong năm: vụ đông

xuân, hè thu và vụ mùa ( còn gọi là vụ

ba, vụ tám và vụ mười )

 Vụ đông xuân (vụ ba): bắt

đầu từ cuối tháng 10 và thu

hoạch vào tháng 4( tháng 3

âm lịch )

 Vụ hè thu ( vụ tám) : bắt đầu

từ cuối tháng 4 và thu hoạch

vào cuối tháng 9 ( tháng 8 âm lịch)

 Vụ mùa ( vụ mười): bắt đầu từ cuối tháng 5 và thu hoạch vào tháng 11(tháng 10 âm lịch)

 Những vùng không chủ động nước thường gieo mạ, cấy giống các tỉnh phía Bắc

 Những vùng chủ động nước gieo vãi (gieo sạ), giống các tỉnh phía nam Tóm lại, ở đồng bằng ven biển Trung Bộ do địa hình dốc và hẹp, nên yếu tố chính để quyết định thời vụ, phương thức gieo cấy là nước và đất

- Vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm qua sản lượng lúa

ở một số tỉnh vẫn tăng mặc dù gặp phải nhiều khó khăn

Trong vụ đông xuân các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long đã xuống giống hơn 1,5 triệu ha, tương đương với năm trước nhưng có sự khác biệt về phân bổ diện tích xuống giống trong các tháng so với vụ đông xuân 2010-2011 Trong đó, các giống lúa thơm Jasmine 85, VD 20, nếp chiếm khoảng 8-10% diện tích; các giống lúa chất lượng cao OM 2517, OM 6162, OM 2514; 0M 6976, OM 4218, OM 6073 chiếm 60% diện tích

Vụ thu đông và vụ mùa, nhờ định hướng phát triển xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long trên cơ sở an toàn, hiệu quả, các tỉnh đã đầu tư hệ thống đê bao chống lũ,

Hình 1 Làm ruộng ở ven biển Hà

Tĩnh

Trang 16

khai thác hiệu quả công trình thủy lợi, vừa bảo vệ sản xuất lúa an toàn, đồng thời ổn định đời sống nông dân vùng lũ

Kết quả, toàn vùng đã xuống giống 623.751ha, trong đó nhiều tỉnh có diện tích lúa thu đông tăng so với cùng kỳ năm 2011 như An Giang tăng 10.000 ha, Kiên Giang tăng 5.685 ha

2.2.2 Về chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản ven biển

Cho đến nay chưa có thống kê đầy đủ về tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm ở các tỉnh ven biển Việt Nam Một số tỉnh có diện tích lớn, có thể phát triển các đàn trâu,

bò, dê… với số lượng lớn như Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Ninh Thuận, Bình Thuận,… Tuy nhiên phương thức chăn vẫn chủ yếu là quảng canh, tận dụng, trâu bò được thả trên các bãi chăn tự nhiên

Chăn nuôi ở miền biển và vùng cát Quảng trị cũng phát triển khá mạnh Tổng đàn gia súc, gia cầm đều tăng về số lượng và chất lượng Đàn trâu tăng lên 5.358 con

so với năm 2003; đàn bò và đàn lợn tuy ổn định về số lượng nhưng chất lượng được cải thiện nhiều thông qua công tác lai giống, nâng cấp chất lượng đàn nái và đực giống Trang trại chăn nuôi phát triển khá mạnh, nhất là chăn nuôi lợn và gia cầm Bà con nông dân còn tận dụng điều kiện thuận lợi về hệ sinh thái đất cát, diện tích rộng vừa phát triển chăn nuôi, vừa cải tạo đất, giảm giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh

Hoạt động nuôi trồng thủy sản ven biển có rất nhiều tiềm năng và lợi thế Trên phạm vi cả nước, diện tích có khả năng nuôi trồng thủy sản ven biển khoảng trên 400.000 ha ở các vịnh và đầm phá Ở Quảng Ninh - Hải Phòng là hơn 200.000 ha; Thừa Thiên - Huế đến Bà Rịa - Vũng Tàu hơn 41.000 ha; Ðông và Tây Nam Bộ có hơn 62.000 ha Riêng vịnh Văn Phong tỉnh Khánh Hòa có hơn 20.000 ha có thể phát triển nuôi trồng thủy sản biển với giống loài phong phú, nhưng tập trung chủ yếu vào các loại tôm hùm, cá song, cá giò, cá cam, cá hồng, cua, ghẹ, hải sâm, bào ngư, trai lấy ngọc, ngao, nghêu, hầu, trồng rong sụn, nuôi sứa đỏ và san hô

Trước tình trạng nguồn lợi hải sản đang suy kiệt, ngư dân đã chuyển mạnh nghề thủy sản từ khai thác sang nuôi trồng ven biển với nhiều hình thức đa dạng Nhà nước

đã ban hành các chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng thủy sản trên các vùng ven biển và hải đảo Chính phủ đã phân cấp

Trang 17

cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương toàn quyền quyết định giao, cho thuê đất và mặt nước ven biển cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu sử dụng vào nuôi trồng, phát triển kinh tế thủy sản Nhà nước đã đầu tư cho quy hoạch các vùng nuôi thả thủy sản ven biển đất liền và hải đảo Cho phép nhập khẩu một số giống, loài đặc sản sạch bệnh có giá trị kinh tế cao, quý hiếm và kỹ thuật sản xuất giống thủy sản biển nhân tạo Tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nuôi trổng thủy sản biển; ưu tiên bố trí kinh phí cho công tác khuyến ngư Hỗ trợ tín dụng cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các vùng nuôi trồng thủy sản ven biển, cụ thể là Ngân hàng Chính sách xã hội và các tổ chức tín dụng khác đã đáp ứng nhu cầu vay vốn của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình vay vốn nuôi trồng thủy sản ven biển và hải đảo

Kết quả là hoạt động nuôi trồng thủy sản đã phát triển khá nhanh ở các tỉnh có biển Thí dụ: trong giai đoạn 2001-2005, tổng số lồng bè nuôi trồng thủy sản ven biển

đã tăng hơn 1,6 lần, từ 23.989 lên 38.965 lồng Trong đó, số lồng nuôi tôm hùm là 30.115, nuôi cá là 8.850 lồng Sản lượng thủy sản nuôi bằng lồng bè nước mặn đã tăng

từ 2.635 tấn năm 2001 lên hơn 10.000 tấn vào năm 2005 Sản phẩm thủy sản nuôi trồng ven biển có chất lượng và giá trị cao, được người tiêu dùng ưa thích Tuy nhiên,

so với nghề nuôi trồng thủy sản nói chung thì nuôi trồng thủy sản biển còn rất nhỏ, chỉ chiếm khoảng 1,9% sản lượng nuôi trồng thủy sản cả nước hàng năm (38.965 tấn/ 2.085.200 tấn).Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2010 đạt 2 triệu tấn Trong đó : nuôi nước ngọt đạt 0,98 triệu tấn, nuôi mặn lợ đạt 1,02 triệu tấn (nuôi biển đạt 0,2 triệu

có quy hoạch tổng thể nhưng chỉ mới có rất ít xã có quy hoạch chi tiết, ngoại trừ một

số vùng trọng điểm phát triển khu công nghiệp nuôi tôm như ở Quỳnh Bảng (Nghệ An) và Hoằng Phụ (Thanh Hoá) Việc quản lý nuôi trồng thủy sản do cấp xã đảm

Trang 18

nhiệm, nơi thường thiếu cán bộ chuyên trách và sự phát triển nuôi trồng thủy sản gần như hoàn toàn tự phát Do vậy, việc theo dõi chất lượng môi trường trong khu nuôi, đánh giá tác động môi trường trước và trong khi tiến hành nuôi lên các hệ sinh thái nông nghiệp và tự nhiên xung quanh hầu như chưa có Tuy vậy, một số tác động tiêu cực, tuy có khác nhau ở các vùng khác nhau, cũng đã được đề cập Thứ nhất là sự ô nhiễm khu nuôi do việc sử dụng thức ăn, thuốc, hoá chất chưa hợp lý và việc xử lý chất thải sau khi nuôi, đặc biệt là các khu nuôi thâm canh Thứ hai, việc mở rộng khu nuôi làm nhiễm mặn đất nông nghiệp, vùng sinh thái nhạy cảm như rừng ngập mặn, giao thông và việc lưu thông nước Nuôi tôm trên cát ở khu vực này tuy chưa có dữ liệu cụ thể về mức độ nhiễm mặn nước ngầm nhưng cũng là điều khó tránh khỏi [2] Việc phát triển kinh tế thủy sản nuôi trồng ven biển và hải đảo trong những năm gần đây đã mở ra một hướng phát triển kinh tế mới của ngành kinh tế thủy sản nói chung và ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng ở các tỉnh có biển Hoạt động này đã tạo

cơ hội cho các tổ chức, người dân ven biển đầu tư phát triển, tự tạo việc làm và thu nhập cho bản thân và gia đình Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở các vùng ven biển Góp phần điều chỉnh giảm bớt hoạt động khai thác ven bờ bằng phương tiện thủ công làm cạn kiệt tài nguyên thủy sản biển, nhất là người dân ở các xã nghèo vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, bảo vệ và phát triển được nguồn lợi thủy sản

Thực trạng mô hình nuôi tôm trên cát tại một số vùng ven biển Việt Nam

Những năm gần đây, Quảng Ngãi nói riêng và các vùng ven biển miền Trung nói chung đã và đang phát triển mạnh nhiều dự án nuôi tôm Dự án đã được triển khai nhanh với hàng trăm hộ nông dân đầu tư làm hồ nuôi tôm sú Tỉnh Ninh Thuận cũng thành công với mô hình nuôi tôm trên cát, với vài héc ta lúc đầu chỉ sau 2 năm sau, diện tích nuôi tôm tăng lên 200 héc ta, dẫn đầu cả nước về diện tích nuôi tôm trên cát

Từ sự thành công của Ninh Thuận, hàng loạt các tỉnh duyên hải miền Trung thi nhau phát triển và kêu gọi được những dự án lớn đầu tư vào nuôi tôm trên cát; trong đó, nổi lên là dự án đầu tư hơn 2.200 héc ta để nuôi tôm trên cát của công ty Việt Mỹ tại Quảng Trị và dự án 2.000 héc ta nuôi tôm trên cát tại Lệ Thủy (Quảng Bình)

Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, các chủ đầu tư nhận ra rằng, để cải tạo một héc ta đất cát thành một héc ta nuôi tôm cần đến 500 triệu đồng thay vì 300 triệu đồng

Trang 19

như tính toán ban đầu Trong khi đó, năng suất của vụ thu hoạch đầu tiên chỉ đạt trung bình 1,75 tấn héc ta ( khoảng 83 triệu đồng), rất thấp so với kỳ vọng

Chính vì vậy, nhiều chủ đầu tư bắt đầu tìm cách tháo chạy khỏi dự án Hậu quả, nguồn nước ở những vùng nuôi tôm bị nhiễm mặn nặng, người dân không thể sử dụng nước cho sinh hoạt hàng ngày trong một thời gian dài Còn nhà đầu tư nuôi tôm tại Lệ Thủy thì “rút lui” không kèn trống khi dư án mới bắt đầu triển khai vài tháng vì không hiệu quả

Việc phát triển nuôi tôm trên cát ở các xã ven biển tại các vùng ven biển miền Trung nói chung còn mang tính tự phát Người nuôi tôm thấy cái lợi trước mắt đã đầu

tư một cách ồ ạt, mạnh ai nấy làm bất chấp những quy định trong công tác quy hoạch, quản lý đất đai, và tác động môi trường chung quanh Nhiều hạng mục công trình như đường giao thông nội vùng, đường dây điện, hệ thống mương xả nước, bể chứa và xử

lý nước thải đang đầu tư dở dang, không đạt yêu cầu đã gây ô nhiễm môi trường trong vùng nuôi tôm khá nghiêm trọng và ảnh hưởng sinh hoạt của nhiều hộ dân ở đây.Có thể thấy, nhiều hộ nuôi tôm hiện nay chưa nắm vững thời vụ, kỹ thuật nuôi và hồ tôm xây dựng tạm bợ đã dẫn đến xả nước thải bừa bãi, dịch bệnh lây lan nhanh chưa có biện pháp khắc phục

Hình 2: Nước xả đen ngòm, bốc mùi hôi

ra xử lý Tuyến đường liên xã dọc các hồ tôm, một bên là dãy hồ tôm, một bên là rừng dương phòng hộ, ở giữa là con kênh thoát nước thải từ các hồ tôm chảy tràn ra tạo thành nhiều vũng nước đen ngòm, mùi xú uế bốc lên nồng nặc, hôi thối cả một vùng

Trang 20

2.2.3 Nghề làm muối (diêm nghiệp)

Nghề làm muối được phát triển gắn chặt với sử dụng, khai thác nguồn nước biển

ở những vùng có lợi thế về đất phù hợp cho sản xuất muối và có đủ ánh nắng mặt trời

để làm khô nước biển

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tình hình sản xuất muối của diêm dân đang có nhiều tín hiệu tích cực, trong quý I/2012, sản lượng muối tăng đáng kể, giá cũng tăng và lượng muối tồn kho cũng giảm so với cùng kỳ năm

2011

Cụ thể, sản lượng muối tính đến 20/3 đạt khoảng 214,8 ngàn tấn (bằng 157,2%

so với cùng kỳ), trong đó: muối sản xuất thủ công đạt 146,4 ngàn tấn (bằng 126% so với cùng kỳ ), muối sản xuất công nghiệp đạt 68,4 ngàn tấn (bằng 337% so với cùng kỳ)

Hình 4 Người dân làm muối ở Hải Hậu – Nam Định

(Nguồn VnExpress)

Lượng muối tồn trong diêm dân và một số doanh nghiệp sản xuất đến thời điểm 20/3 khoảng 111,1 ngàn tấn (bằng 54,8% so với cùng kỳ), trong đó: Miền Bắc tồn 8.666 tấn; Miền Trung tồn 14,7 ngàn tấn; Đồng bằng sông Cửu Long tồn 87,7 ngàn tấn

Điều đáng mừng là giá muối trên cả nước có xu hướng tăng và giữ ở mức hợp lý

có lợi cho diêm dân Cụ thể, giá muối từng khu vực như sau: tại miền Bắc giá muối dao động 1.200 - 2.800 đ/kg; Nam Trung Bộ giá muối sản xuất thủ công 900-1.400 đ/kg, giá muối sản xuất công nghiệp 1.000 - 1.100 đ/kg; Đồng bằng sông Cửu Long: muối đen và vàng 700–1.000 đ/kg, muối trắng 1.100 - 1.500 đ/kg

Trang 21

2.2.4 Về công nghiệp chế biến thủy sản ven biển

Đến năm 2011, cả nước đã có tổng số hơn 470 cơ sở - doanh nghiệp chế biến thủy sản Trong đó, 248 cơ sở - doanh nghiệp (chiếm gần 53%) đã đạt tiêu chuẩn của thị trường Liên minh châu Âu (EU) - một thị trường khó tính nhất thế giới; trên 300 cơ

sở - doanh nghiệp được Hàn Quốc công nhận tiêu chuẩn chất lượng Hiện hàng thủy sản chế biến Việt Nam đã có mặt trên 140 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường lớn như Nhật Bản, EU và Bắc Mỹ Để đạt mục tiêu chiến lược đến năm 2020 Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển, làm giàu

từ biển, ngành chế biến thủy sản nói chung và chế biến thủy sản biển phải phát huy đầy đủ vị trí, vai trò của mình trong việc tạo đầu ra tốt nhất cho các hoạt động đánh bắt

và nuôi trồng thủy sản, gắn ngành thủy sản với thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước,

từ đó tạo động lực thúc đẩy toàn ngành khai thác tối đa các tiềm năng về nguồn lực sẵn

có mà biển đã tạo ra

2.2 Một số giải pháp sản xuất nông nghiệp vùng ven biển Việt Nam

2.2.1 Sản xuất nông nghiệp trên đất mặn ven biển

a) Nhiễm mặn và kinh nghiệm nhận biết

Nghiên cứu cho thấy, nguyên nhân nhiễm mặn ở vùng ven sông chủ yếu do hạn, nước biển xâm nhập vào các dòng sông, trong khi đó nhiễm mặn ở vùng cát ven biển

là do bão, thủy triều và nước biển dâng theo các khe suối Nhiễm mặn làm mất chất dinh dưỡng trong đất, cây trồng kém phát triển Một số kinh nghiệm của người dân trong việc xác định đất, nước nhiễm mặn [6]

Kinh nghiệm khi quan sát kết cấu, màu sắc và mùi vị của đất và nước

Đất canh tác có váng màu vàng khi có nước và có váng màu trắng khi không có nước Khi đi trên mặt đất khô, nếu cảm thấy đất xốp hoặc có in bàn chân Màu nước đen và có mùi chua, tanh Nước sông vào ban đêm có ánh bạc lấp lánh Có nhiều bọt trắng trên mặt nước ở hai bên bờ sông Khi hạn, trên mặn đất có lượng muối màu trắng Khi hạn, đất sẽ rốp bề mặt Đất, nước có vị mặn và mùi tanh của biển

Kinh nghiệm khi quan sát cây trồng, cây cỏ và rong rêu

Cỏ chỉ, cỏ gấu ven sông bị ngập nước, vàng úa và chết Có nhiều rêu hai bên bờ sông Nước bị nhiễm mặn tưới cho lúa sẽ làm cây bị úa vàng Đất nhiễm mặn thường chỉ có rau đắng Đất nhiễm mặn thường có các loại rêu Lá cây khoai lang bạc, màu trắng, gốc to và dòn hơn bình thường

Trang 22

Kinh nghiệm khi quan sát các sinh vật trong đất, nước

Xuất hiện sứa, nuốt, cua và một số loài tôm, cá nước mặn xuất hiện trên sông, khu vực đất canh tác Đất bị mặn không có giun đất sinh sống Xuất hiện nhiều hà ở các gốc tre, gốc cây ngập nước ven sông Trâu bò, thường liếm trên bề mặt đất nhiễm mặn

b) Một số giải pháp:

 Đối với các nhà quản lý:

Vạch ra một chiến lược khai thác và bảo vệ tài nguyên đất mặn ven biển và nước

lợ, nước ngọt, bao gồm cả công tác phát triển tưới tiêu ngắn hạn và dài hạn trên những lưu vực cửa sông ven biển, những vùng quan trọng, thực sự xem đất mặn là một tài nguyên, để rồi sử dụng một cách hữu hiệu và bền vững

 Đối với cây trồng và vật nuôi nông nghiệp

- Nâng cấp các hệ thống tưới tiêu để tăng cường năng lực tiêu và kiểm soát mực nước ngầm để kiểm soát việc phát sinh mặn

- Cải thiện đội phì nhiêu của đất trồng bằng cách sử dụng phân hữu cơ bao gồm

cả rơm, rạ, các phần thừa của thực vật, phân xanh, phân chuồng, phân ủ,…

- Sử dụng cây trồng, vật nuôi phù hợp:

Lúa là cây trồng chủ lực ở một số vùng, do vậy, người dân nên sử dụng các giống lúa ngắn ngày và có khả năng chịu mặn để đưa vào sản xuất Các giống lúa như Khang Dân, Ma Lâm, HT1, Ô Môn được người lựa chọn để sản xuất vào vụ hè, giống HT1 được ưu tiên sản xuất trong vụ Đông-Xuân Đối với những vùng nhiễm mặn không trồng được lúa thì chuyển sang trồng sắn, ớt, ngô

Khoai lang là cây được người dân lựa chọn trồng trên những vùng đất nhiễm mặn nhẹ Một số giống ngắn ngày được lựa chọn như khoai chỉa đỏ, Đà Nẵng ruột tím, trắng Tân Kỳ Để hạn chế nhiễm mặn, người dân lên luống khoai rất cao, có những luống cao khoảng 1m

 Bảo vệ rừng ngập mặn ven biển và tài nguyên thủy sản

 Trồng rừng và chống xói lở bờ biển, hạn chế tác hại sóng thần, kết hợp nuôi tôm cá, kết hợp du lịch sinh thái

Một số mô hình nông nghiệp kết hợp [1]:

 Mô hình trồng rừng ngập mặn kết hợp nuôi tôm công nghiệp

Trang 23

Kết hợp nuôi tôm công nghiệp, tỉ lệ rừng/ 1 vuông tôm = 1/3, chu kì kinh tế 3 năm (cho đất nghỉ 1 năm, xử lý ô nhiễm), có ao lắng lọc riêng, tưới tiêu riêng, bảo đảm

kĩ thuật tốt

 Mô hình nuôi tôm sinh thái

Sử dụng khoảng 40/60 diện tích rừng đước hay cây lác đại, có hệ thống kênh tưới, tiêu riêng biệt, thả tôm sú 10 con/m2, mỗi đợt sổ cũng thu được 30kg/công, lợi hơn là nuôi tôm công nghiệp

 Mô hình tôm lúa

Trên vùng đất mặn xa nguồn nước ngọt người dân đã đắp những con đê nhỏ (rộng khoảng 0,7 – 1,4m) bao quanh các cánh đồng ruộng khoảng 1 -4 ha để kiểm soát

sự xâm nhập mặn Các giống lúa chịu mặn đã được trồng ở đây vào mùa mưa Năng suất của giống lúa này có thể đạt 2,5 – 3 tấn/ ha với 2 vụ tôm vào mùa khô

 Một vụ lúa vào mùa mưa

Ở các vùng đất mặn xa nguồn nước ngọt thậm chí xa nước biển, người dân chờ đến khi có mưa để trồng một vụ lúa mùa hè Vào mùa khô, mặt đất bị nứt nẻ, nước ngầm dân lên gây mặn cho đất Vào đầu vụ, độ mặn khá cao và đến cuối vụ thì độ mặn giảm xuống Có thể thu được năng suất lúa 3 – 3,5 tấn/ha Đây là vụ lúa truyền thống

 Hai vụ lúa vào mùa mưa

Ở đồng bằng sông Cửu Long, người dân đã áp dụng kĩ thuật xạ khô để trồng lúa

2 vụ ngắn ngày Sau khi thu hoạch vụ lúa hè, đất được cày lên để cắt đứt mao mạch không cho nước ngầm dâng lên

Ngay trước khi mùa mưa bắt đầu,

đất đai được chuẩn bị, chia thành

các luống và giữa các luống có

rãnh tiêu nông

 Mô hình nuôi nghêu trên

vùng sinh thái cửa sông

ven biển:

Chọn bãi nuôi ở vùng gần

bờ cách bờ từ 700 – 1000 m Mặt

bãi bằng phẳng không ứ động

nước nhiều Có chế độ thủy triều lên xuống đều đặn, khi nước rút thì bãi hoàn toàn

Hình 5 Thu hoạch nghêu

Nguồn http://giaoducmoitruong-giz-baclieu.com/

Ngày đăng: 20/09/2014, 17:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bá, (2009). Môi trường tài nguyên đất Việt Nam, Nxb Giáo Dục, tr [660- 662], [920-922], [937-938], [956-959] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường tài nguyên đất Việt Nam
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
2. Bộ thủy sản, (2007), Đánh giá hiện trạng môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản khu vực Bắc Trung Bộ, Dự án VIE/97/030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản khu vực Bắc Trung Bộ
Tác giả: Bộ thủy sản
Nhà XB: Dự án VIE/97/030
Năm: 2007
4. Phạm Hoàng Hải, Trần Nam Bình, Vương Tấn Công, (2004). Nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, tài nguyên đối với sự phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển Việt Nam, Địa lý nhân văn số 1 (6), Viện KHVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, tài nguyên đối với sự phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hải, Trần Nam Bình, Vương Tấn Công
Nhà XB: Địa lý nhân văn
Năm: 2004
6. Võ Chí Tiến, Lê Thị Hoa Sen, Hoàng Thị Thái Hòa, Hoàng Mạnh Quân và Lê Đình Phùng, “Kiến thức bản địa và kinh nghiệm thực tiễn của người dân ứng phó với nhiễm nặm trong sản xuất nông nghiệp”, Kết quả nghiên cứu về nhiễm mặn ở Quảng Trị, trang 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức bản địa và kinh nghiệm thực tiễn của người dân ứng phó với nhiễm nặm trong sản xuất nông nghiệp”
7. Nguyễn Khanh Vân, (2002). Đặc điểm tài nguyên khí hậu dải ven biển Việt Nam, Viện Địa lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tài nguyên khí hậu dải ven biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khanh Vân
Năm: 2002
8. Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, (2004). Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - x. hội dải ven biển Việt Nam, Đề xuất các mô hình phát triển cho một số khu vực trọng điểm, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - x. hội dải ven biển Việt Nam, Đề xuất các mô hình phát triển cho một số khu vực trọng điểm
Tác giả: Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
18058/Can-Tho-phat-trien-nen-nong-nghiep-thich-ung-voi-bien-doi.aspx 13. http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/nong-nghiep-nong-thon/2012/17587/Quang-Tri-phat-trien-nong-nghiep-vung-bien-theo-huong-ben-vung.aspx 14. http://vaas.vn/kienthuc/cayngo/dattrongngovungbactrungbo.php Link
3. Nguyễn Đức Chính, Vũ Cự Lập, (1970). Địa lý tự nhiên Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
5. Thủ tướng chính phủ, (2011). Quyết định Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2015 và định hướng năm 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Làm ruộng ở ven biển Hà - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 1. Làm ruộng ở ven biển Hà (Trang 15)
Hình 2: Nước xả đen ngòm, bốc mùi hôi - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 2 Nước xả đen ngòm, bốc mùi hôi (Trang 19)
Hình 4. Người dân làm muối ở Hải Hậu – Nam Định - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 4. Người dân làm muối ở Hải Hậu – Nam Định (Trang 20)
Hình 5. Thu hoạch nghêu - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 5. Thu hoạch nghêu (Trang 23)
Hình 6. Giống khoai lang KMT7 - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 6. Giống khoai lang KMT7 (Trang 26)
Hình 7. Trồng tỏi ở Khánh Hòa - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 7. Trồng tỏi ở Khánh Hòa (Trang 27)
Hình 8: Tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 8 Tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp (Trang 33)
Hình 9. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 9. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (Trang 33)
Bảng 1: Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá ở Sóc - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Bảng 1 Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá ở Sóc (Trang 34)
Hình 10.  Nguồn nước không đáp - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 10. Nguồn nước không đáp (Trang 36)
Bảng 2. Tình hình thiệt hại do mặn huyện Vĩnh Châu giai đoạn 2001 – 2005 - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Bảng 2. Tình hình thiệt hại do mặn huyện Vĩnh Châu giai đoạn 2001 – 2005 (Trang 37)
Hình 12. Diện tích lúa sẽ bị thu hẹp và chuyển sang nuôi tôm tại khu vực Mỹ - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 12. Diện tích lúa sẽ bị thu hẹp và chuyển sang nuôi tôm tại khu vực Mỹ (Trang 38)
Bảng 3.  Tình hình biến động sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2000 đến năm - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Bảng 3. Tình hình biến động sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2000 đến năm (Trang 40)
Hình 15. Lũ năm 2011 tại Đồng bằng sông Cửu Long gây thiệt hại nhiều hoa màu - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 15. Lũ năm 2011 tại Đồng bằng sông Cửu Long gây thiệt hại nhiều hoa màu (Trang 41)
Hình 16. Một nông dân tham gia trồng rừng và bảo vệ rừng, sản xuất nông  nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản vùng đệm ven biển cù lao Cổ Chiên –Trà Vinh - Phát triển nông nghiệp ven biển Việt Nam ứng phó biến đổi khí hậu
Hình 16. Một nông dân tham gia trồng rừng và bảo vệ rừng, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản vùng đệm ven biển cù lao Cổ Chiên –Trà Vinh (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w