Kinh nghiệm phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất kính xây dựng trên thế giới và trong nước - Bài học kinh nghiệm cho Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu 23 1.2.2.1.. Th
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
PHẠM QUỐC KHÁNH
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH DOANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN KÍNH VIGLACERA ĐÁP CẦU
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số : 60.30.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Thế Phán
Thái nguyên, năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phạm Quốc Khánh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự hướng dẫn nhiệt tình của Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thế Phán cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô trong khoa sau đại học, trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên Em xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc nhất tới những sự giúp đỡ quý báu đó
Để hoàn thành Luận văn này tôi xin chân thành cám ơn Lãnh đạo Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu, Tổng công ty Viglacera, Hiệp hội kính xây dựng Việt Nam và các ban ngành trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn./
Bắc Ninh, ngày tháng năm 2012
Phạm Quốc Khánh
Trang 4MỤC LỤC
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH
DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT SẢN PHẨM
KÍNH XÂY DỰNG
5
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh doanh của doanh nghiệp 5
1.1.1.4 Nội dung phát triển kinh doanh của doanh nghiệp 6 1.1.2 Phát triển kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất kính xây dựng 9 1.1.2.1 Đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất kính xây dựng 9 1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh doanh của doanh
nghiệp sản xuất kính xây dựng
10
1.2 Cơ sở thực tiễn của ngành sản xuất kính xây dựng 18 1.2.1 Sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp sản xuất kính xây dựng 18
1.2.1.2 Lịch sử phát triển ngành sản xuất kính xây dựng ở Việt Nam 20 1.2.2 Kinh nghiệm phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất
kính xây dựng trên thế giới và trong nước - Bài học kinh nghiệm cho Công
ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu
23
1.2.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh doanh kính xây dựng trên thế giới 23
1.2.2.3 Bài học, kinh nghiệm cho Công ty Viglacera Đáp Cầu 26
Trang 5Chương II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KINH DOANH
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT SẢN PHẨM KÍNH XÂY DỰNG
29
2.2.4.2 Sử dụng các mô hình phân tích và dự báo môi trường kinh doanh 30
2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh quy mô kết quả phát triển kinh doanh 34 2.3.2 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh chất lượng và hiệu quả của hoạt động 36 2.3.3 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính của doanh nghiệp 37
Chương III:THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH TẠI CÔNG TY
3.1.3 Tầm nhìn và sứ mệnh của Công ty Viglacera Đáp Cầu 45
3.2 Thực trạng phát triển kinh doanh của Công ty cổ phần kính
Viglacera Đáp Cầu
45
3.2.1 Thực trạng phát triển kinh doanh theo chiều rộng 45
3.2.1.3 Về tăng cường các nguồn lực mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh 52
Trang 63.2.2.2 Về đầu tư các nguồn lực theo chiều sâu 54
3.2.3.2 Thành tựu và nguyên nhân đạt được những thành tựu 57
Chương IV: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH
DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN KÍNH VIGLACERA ĐÁP CẦU
70
4.1 Định hướng và mục tiêu phát triển của Viglacera Đáp Cầu trong
thời gian tới
70
4.1.1 Xu hướng phát triển kinh doanh kính xây dựng trên thế giới 70 4.1.2 Định hướng phát triển kinh doanh kính xây dựng ở nước ta 70 4.1.3 Định hướng và mục tiêu phát triển kinh doanh của Công ty Viglacera
Đáp Cầu
73
4.2 Các giải pháp phát triển của Công ty Viglacera Đáp Cầu 75
4.2.4 Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của công ty 79 4.2.5 Giải pháp về nguồn nhân lực, tái cơ cấu bộ máy tổ chức cho phù hợp 80 4.2.6 Đầu tư đổi mới trang thiết bị và hệ thống công nghệ tiên tiến, hiện đại 84
Trang 7GIẢI THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viglacera Đáp Cầu Tên viết tắt của Công ty Cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
SXKD sản xuất kinh doanh
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các nhà máy sản xuất kính tấm xây dựng đến năm 2011 22
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của công ty Viglacera Đáp
Bảng 3.4 Kết quả sản xuất kinh doanh theo sản phẩm (2009-2011) 48
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh doanh của công ty 56 Bảng 3.7 Thị phần trong nước và giá bán sản phẩm kính truyền thống 57 Bảng 3.8 Thị phần trong nước và giá bán sản phẩm sau kính 59
Bảng 4.1 Công suất thiết kế và sản lượng vật liệu xây dựng đến năm
2020
71
Bảng 4.2 Kết quả điều tra các yếu tố cần thay đổi nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh của c ông ty Viglacera Đáp Cầu 76
Bảng 4.3 Kế hoạch kinh phí xây dựng thương hiệu hàng năm của
Bảng 4.4 Kế hoạch đào tạo cán bộ hàng năm của Công ty Viglacera
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH ( HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ)
Hình 2.3 Các mục tiêu chức năng chéo và chuỗi giá trị 33
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy Công ty Viglacera Đáp Cầu 41
Biểu đồ 3.4 Lợi nhuận trước thuế của từng sản phẩm từ 2009-2011 49 Phụ lục 1 Biểu tượng của Công ty và một số sự kiện quan trọng 92 Phụ lục 2 Các sản phẩm của công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu 93
Phụ lục 4 Tổng hợp kết quả điều tra các yếu tố cần thay đổi nhằm nâng
cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Viglacera Đáp Cầu 98
Phụ lục 6 Phiếu điều tra các yếu tố cần thay đổi nhằm nâng cao hiệu
quả kinh doanh của Công ty Viglacera Đáp Cầu 101
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, mọi doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong hoạt động SXKD, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động SXKD của mình Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì không còn cách nào khác là phải biết đổi mới cho phù hợp từ việc nghiên cứu xem sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào đến việc tổ chức điều hành sản xuất
ra sao để với chi phí thấp nhất sản xuất ra được sản phẩm chất lương đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng
Hiện nay, Việt Nam tham gia các Diễn đàn kinh tế và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO – World Trade Organization), nền kinh tế Việt Nam ngày càng thích nghi hơn với kinh tế thị trường, từng bước hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới Cũng giống như các doanh nghiệp khác, Công ty Cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu đang đứng trước những vận hội hết sức to lớn, nhưng đồng thời cũng đang ngày càng phải đối mặt với việc kinh doanh ngày càng phức tạp trên mọi lĩnh vực, không chỉ thuần túy là các doanh nghiệp trong nước mà còn cả các đối thủ
là các doanh nghiệp nước ngoài Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Công ty Cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu nói riêng ngày càng phải củng
cố các nguồn lực, chú trọng hơn nữa và chuẩn bị sẵn sàng để nâng cao năng lực kinh doanh của mình
Đặc biệt, từ sau đợt khủng khoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 vừa qua, mọi
dự báo, chiến lược được xác lập từ trước đều bị đảo lộn, toàn bộ ngành sản xuất vật liệu xây dựng trong đó có lĩnh vực sản xuất kính xây dựng bị tổn thất nặng nề, thị trường sụt giảm, nhiều tập đoàn, công ty trong ngành phải dừng, thu hẹp sản xuất
Ở thời điểm dần thoát ra khỏi cuộc khủng khoảng kinh tế như hiện nay, kinh doanh ngày càng quyết liệt hơn trên thương trường, việc xác định đề ra các giải pháp kinh doanh dựa trên cơ sở khai thác tối đa các điểm mạnh, các lợi thế đang có
Trang 11và hạn chế tới mức thấp nhất các yếu điểm, chớp lấy những cơ hội và giảm thiểu tới mức thấp nhất các tác động ảnh hưởng của những thách thức, đang là vấn đề hết sức cấp bách đối với Công ty Cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu
Việc nghiên cứu đề ra các giải pháp kinh doanh sẽ chỉ ra cho chúng ta biết được phải kinh doanh bằng cách nào, từ đó giúp chúng ta làm chủ trong mọi tình huống và chủ động trong kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp có thể giữ được vị thế của mình trên thị trường, chiếm lĩnh được những thị phần nhất định, góp phần hết sức quan trọng quyết định sự thành công của doanh nghiệp và hướng cho doanh nghiệp phát triển ổn định, bền vững Với lý do đó, trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sỹ Quản lý kinh tế của mình, tôi đã chọn đề tài
“Giải pháp phát triển kinh doanh của Công ty Cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu
” để làm đề tài tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Bên cạnh việc đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản nhất về kinh doanh, tôi còn phân tích thực trạng kinh doanh ở Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu Đồng thời đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh doanh các loại sản phẩm kính xây dựng của công ty
Để hoàn thành mục tiêu đặt ra, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản như sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về phát triển kinh doanh của doanh nghiệp
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển kinh doanh của một số đơn vị
- Phân tích, đánh giá thực trạng kinh doanh của Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu
- Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh doanh cho Công ty cổ phần kính
Viglacera Đáp Cầu
Trang 123 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động SXKD của Công ty Cổ phần Kính
Viglacera Đáp Cầu
- Phạm vi địa bàn nghiên cứu
Tại Việt Nam có nhiều doanh nghiệp sản xuất kính xây dựng, nhưng tác giả chọn Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu vì:
- Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu là doanh nghiệp có truyền thống sản xuất kính, có khối lượng sản phẩm và thị phần kính xây dựng lớn
- Tác giả công tác tại Công ty nên có sự hiểu biết và có điều kiện để thu thập, tiếp cận các nguồn tài liệu, tư liệu đảm bảo tính đầy đủ và chính xác
- Phạm vi thời gian :
Tập trung nghiên cứu thực trạng kinh doanh từ năm 2007 đến 2011 của Công
ty Cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu
4 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa lý luận về phát triển kinh doanh của doanh nghiệp nói chung
- Phân tích, đánh giá thực trạng kinh doanh các sản phẩm kính xây dựng của Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu làm rõ hơn các điểm mạnh, điểm yếu những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân tồn tại
- Phân tích và dự báo các cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài đối với việc phát triển kinh doanh của Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh doanh của Công ty, nhằm xây dựng công ty trở thành doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các sản phẩm kính xây dựng hàng đầu Việt Nam
Việc nghiên cứu sẽ cung cấp một bức tranh toàn cảnh về môi trường kinh doanh của Công ty Cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu, từ đó Công ty sẽ lựa chọn giải pháp tối ưu nhằm khai thác tối đa lợi thế kinh doanh trong tương lai
Trang 135 Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần kết luận và 4 chương, nội dung tóm tắt của mỗi chương được trình bày dưới đây:
Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương II Phương pháp nghiên cứu
Chương III Thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu
Chương III Định hướng và một số giải pháp phát triển kinh doanh của Công
ty Cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 14Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT SẢN PHẨM KÍNH XÂY DỰNG 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất kính 1.1.1 Tổng quan về phát triển kinh doanh
1.1.1.1 Khái niệm kinh doanh
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm về kinh doanh hay hoạt động kinh doanh Nhưng dưới góc độ pháp lý thì kinh doanh được hiểu là: " Việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" (Theo khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005)
Như vậy, Kinh doanh là một hoạt động kinh tế do chủ thể kinh doanh thực hiện, chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp Kinh doanh bao giờ cũng gắn với thị trường, không có thị trường thị không có kinh doanh Một doanh nghiệp có thể đảm nhận tất cả các khâu của quá trình kinh doanh, nhưng cũng có thể chỉ thực hiện một khâu nào đó, chẳng hạn như sản xuất hay tiêu thụ và có mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận, ngoài ra còn có các mục tiêu khác là đó là các mục tiêu xã hội
1.1.1.2 Khái niệm về phát triển
Triết học Mác–Lênin cho rằng, các sự vật, hiện tượng không những có mối
liên hệ biện chứng mà còn còn luôn luôn vận động, phát triển không ngừng Phát triển là khuynh hướng chung của thế giới Vận động và phát triển không phải là
đồng nghĩa với nhau Vận động diễn ra theo nhiều khuynh hướng, còn phát triển chỉ phản ánh một khuynh hướng vận động, vận động đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phát triển là khuynh hướng chung có tính phổ biến, được thể hiện cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy Nguyên nhân của sự phát triển là do sự liên hệ, tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố trong lòng các sự vật, hiện tượng
Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu
Trang 151.1.1.3 Khái niệm về doanh nghiệp
Doanh nghiệp là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học Doanh nghiệp như một cái áo khoác (phương tiện) để thực hiện ý tưởng kinh doanh Muốn kinh doanh, thương nhân phải chọn lấy cho mình một trong số những loại hình mà pháp luật quy định
Về góc độ pháp lý, theo Khoản 1, Điều 4, Luật Doanh nghiệp ban hành ngày
29 tháng 11 năm 2005 của Việt Nam, khái niệm về doanh nghiệp như sau: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh"
Trên thực tế doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: cửa hàng, nhà máy, xí nghiệp, công ty theo các căn cứ khác nhau sẽ chia ra nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau:
+ Theo quy mô doanh nghiệp, chia ra: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ
+ Theo hình thức sở hữu, gồm: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghệp tư nhân, doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài
+ Theo trách nhiệm pháp lý, chia ra: doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý vô hạn, doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý hữu hạn và doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý hỗn hợp
+ Theo lĩnh vực kinh doanh, phân chia doanh nghiệp theo các ngành nghề đăng ký hoạt động
Doanh nghiệp có vai trò quan trọng Đó là nơi trực tiếp tạo ra của cải, thu hút lao động, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động… Doanh nghiệp chính là những tế bào của nền kinh tế Mỗi doanh nghiệp là một cộng đồng có truyền thống lịch sử và văn hóa của riêng mình Mỗi một doanh nghiệp có đời sống riêng trải qua các giai đoạn thành lập, trưởng thành phát triển, thịnh vượng và suy thoái, sau đó tiếp tục phát triển trong một chu kỳ mới
1.1.1.4 Nội dung phát triển kinh doanh của doanh nghiệp
Không có một doanh nghiệp nào tồn tại vĩnh cửu nếu doanh nghiệp đó không xác định được mục đích và mục tiêu hoạt động cho chính nó Hoạt động của doanh
Trang 16nghiệp chỉ có hiệu quả một khi kế hoạch của nó gắn bó chặt chẽ với mục tiêu để cho phép đạt được những mục đích Kế hoạch đó đòi hỏi phải được điều chỉnh kịp thời theo những biến động của môi trường (môi trường chính trị pháp luật, kinh tế, văn hoá xã hội, điều kiện tự nhiên…); đồng thời gắn bó với những khả năng cho phép các nguồn lực của doanh nghiệp như: vốn, lao động, công nghệ… Từ những kế hoạch đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có cơ cấu tổ chức hợp lý, xác định cụ thể nhiệm
vụ cho từng bộ phận, cá nhân; đồng thời phối hợp hoạt động nhằm đạt được mục đích của doanh nghiệp
Mục đích của doanh nghiệp là thể hiện khuynh hướng tồn tại và phát triển, doanh nghiệp có 3 mục đích cơ bản:
- Mục đích kinh tế: Thu lợi nhuận, đây là mục đích quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp hoạt động SXKD Lợi nhuận không chỉ nhằm để tăng tích lũy phát triển SXKD, mà còn thoả mãn các nhu cầu cụ thể và đa dạng của mọi người tham hoạt động trong doanh nghiệp
- Mục đích xã hội: cung cấp hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội, đây
là mục đích quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp hoạt động công ích
- Mục đích môi trường: Phát triển kinh doanh của doanh nghiệp phải không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái
Mục tiêu là biểu hiện mục đích của doanh nghiệp, là những trạng thái, cột mốc cụ thể được phát triển từng bước Một mục tiêu là một câu hỏi cần có lời giải đáp trong một khoảng thời gian nhất định
Các doanh nghiệp khác nhau hoặc cùng một doanh nghiệp nhưng tại các thời điểm khác nhau thì sẽ có phương hướng phát triển kinh doanh khác nhau, có 3 phương hướng phát triển kinh doanh của doanh nghiệp là:
- Một là: Phát triển theo chiều rộng như : mở rộng quy mô các yếu tố đầu vào, đầu ra, các nguồn lực cho sản xuất như: mở rộng nhà nhà máy, tăng thêm cơ sở; tăng thêm phân xưởng, nhân lực, vốn, vật tư, máy móc thiết bị… và cuối cùng là tăng sản lượng, tăng loại mặt hàng, doanh số…cụ thể :
+ Về sản phẩm : đó là việc phát triển danh mục sản phẩm, quy mô doanh thu
và lợi nhuận theo từng sản phẩm và tổng thể toàn doanh nghiệp, sản lượng sản xuất
Trang 17+ Về không gian (phạm vi hoạt động kinh doanh): đó là việc mở rộng quy mô kinh doanh, mở rộng chi nhánh, mạng lưới kinh doanh, mở rộng thị trường
+ Về quy mô sản xuất : đó là việc sử dụng các nguồn lực đầu vào như vốn tăng thêm, điện tích nhà xưởng được mở rộng, đầu tư thêm các dây chuyền sản xuất
- Hai là: Phát triển theo chiều sâu như : tăng cường chất lượng các yếu tố sản xuất: nâng cao chất lượng nhân lực, hoàn thiện tổ chức quản trị; nâng cao chất lượng nguyên liệu vật tư, cải tiến thiết bị, máy móc, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ sản xuất mới; sử dụng đồng vốn có hiệu quả… và cuối cùng là doanh số lớn hơn, kết quả sản xuất, hiệu quả kinh doanh cao hơn, chi tiết gồm :
+ Về sản phẩm chất lượng cao đó và việc phát triển sản suất các sản phẩm có chất lượng đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về kỹ thuật chất lượng, mẫu mã đáp ứng được yêu cầu cao của khách hàng
+ Về chất lượng dịch vụ khách hàng đó là việc giao nhận, vận chuyển, thanh toán đáp ứng thỏa mãn hầu hết các khách đến giao dịch
+ Về việc đầu tư các nguồn lực theo chiều sâu đó là việc nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ cao trong hoạt động SXKD, áp dụng các phương pháp quản lý mới, đào tạo đổi mới nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, áp dụng các thành tựu trong việc lãnh đạo và quản trị doanh nghiệp
- Ba là: Phát triển theo chiều rộng kết hợp với việc phát triển theo chiều sâu Vậy doanh nghiệp sẽ đi theo con đường nào? Tùy theo điều kiện cụ thể của môi trường kinh doanh Nhìn chung, đa số đều vừa phát triển theo chiều rộng, vừa phát triển theo chiều sâu được sử dụng phổ biến
Mặt khác phải quan tâm đến sự phát triển bền vững, tức là phát triển cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường; xu hướng phát triển phải ổn định, liên tục và lâu dài Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tại Johannesburg (công hoà Nam Phi) năm 2002 đều thống nhất khẳng định : “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của con người trong hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững cần phải:
Trang 18phát triển bền vững kinh tế; phát triển bền vững về xã hội; phát triển bền vững về môi trường
1.1.2 Phát triển kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất kính xây dựng
1.1.2.1 Đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất kính xây dựng
Các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam nói chung, khi nói đến ngành công nghiệp sản xuất kính xây dựng đều được phân chia làm 2 lĩnh vực nhỏ là: sản xuất sản phẩm kính và sản xuất sản phẩm sau kính, cụ thể:
* Đối với lĩnh vực sản xuất kính bao gồm các dòng sản phẩm tương ứng với từng chủng loại sản phẩm sau:
+ Kính tấm xây dựng (sheet glass) được sản xuất trên công nghệ cho dòng thuỷ tinh nóng chảy chạy qua trục rulô kéo kính Các loại sản phẩm này có phẩm cấp trung bình vì bề mặt sản phẩm không được phẳng do trục kéo bị ăn mòn trong quá trình sử dụng, dây chuyền sản xuất có tuổi thọ (từ 5 đến 7 năm mới phải đại tu)
+ Kính nổi (float glass) sản xuất theo công nghệ cho thuỷ tinh nóng chảy chạy trên bề mặt của bể thiếc đang nung do đó sản phẩm có bề mặt phẳng cao, dây chuyền sản xuất bền vững (trên 10 năm mới phải đại tu) tuy nhiên chi phí đầu tư lớn
+ Kính cán vân hoa xây dựng được sản xuất theo công nghệ kéo ngang, sản phẩm được tạo hình thông qua các trục cán ép có khắc các loại hoa văn, đặc điểm dễ sản xuất, chi phí đầu tư thấp tuy nhiên thị phần sản phẩm không lớn so với kính tấm
và kính nổi
* Đối với lĩnh vực sản xuất sau kính
Các sản phẩm sau kính được sản xuất trên cơ sở nguyên liệu là các sản phẩm kính (gọi là phôi kính) các đơn vị sản xuất thực hiện các công đoạn tráng, phủ, tôi, dán, cắt, mài, uốn để tạo ra các sản phẩm sau kính khác nhau như kính gương, kính tôi an toàn, kính dán, kính mosaic, kính bảo ôn, kính uốn…Đặc điểm sản xuất các sản phẩm này có chi phí đầu tư ít hơn so với sản lĩnh vực sản xuất kính, nhiều mẫu
mã chủng loại sản phẩm được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, nội thất, ngoại thất
và trong nhiều lĩnh vực khác có liên quan như sản xuất ô tô, tàu hoả…
Do tính chất công nghệ đặc thù trong sản xuất kính xây dựng có quy trình kỹ thuật sản xuất phức tạp, máy móc thiết bị tự động hoá cao, chất lượng sản phẩm phụ
Trang 19thuộc rất nhiều vào yếu tố công nghệ, chi phí đầu tư ban đầu Đặc biệt yếu tố công nghệ, danh tiếng, uy tín của Hãng chế tạo và chuyển giao sẽ quyết định đến sự khác biệt về chất lượng sản phẩm sản xuất Các dây chuyền sản xuất kính đều sử dụng nhiều nhiên liệu (Dầu FO, Gas) để nung chảy thuỷ tinh và duy trì nhiệt độ Lò nấu ở mức cao, phải chạy liên tục cho đến khi kết thúc 1 chu kỳ sản xuất từ 5 đến 7 năm tuỳ theo kết cấu lò nấu) Đây là điểm khác biệt lớn nhất so với các doanh nghiệp sản xuất khác
Ngành sản xuất kính xây dựng ở Việt Nam mới đang trong giai đoạn phát triển ban đầu còn rất non trẻ, số lượng doanh nghiệp kinh doanh trong ngành không nhiều kinh nghiệm và trình độ phát triển không đồng đều, dây chuyền máy móc thiết
bị công nghệ có mức độ hiện đại trung bình thậm trí lạc hậu, đội ngũ kỹ thuật trong nước đôi khi chưa am hiểu công nghệ, năng lực tài chính của các doanh nghiệp sản xuất còn yếu, công tác quản lý của Nhà nước còn buông lỏng, các quy định mang tính pháp lý còn thiếu cho nên sản phẩm tạo ra có chất lượng thấp hơn, tiêu hao nguyên vật liệu cao hơn, thiếu sản phẩm có chất lượng cao
1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất kính xây dựng
a Các yếu tố môi trường vĩ mô
a1 Môi trường chính trị - pháp luật
- Việt Nam có nền chính trị ổn định, hệ thống các quan điểm, đường lối, chính sách: Chính phủ và Nhà nước luôn có các giải pháp tích cực nhằm hoàn thiện và cải
tổ môi trường chính trị, xây dựng và hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp luật, hệ thống các chính sách xã hội làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế xã hội, tăng cường đấu tranh phòng chống nạn tham nhũng, quan liêu, cửa quyền
- Các xu hướng quan hệ đối ngoại : Việt Nam đang thực hiện chủ trương bình thường hóa quan hệ và tăng cường hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, là thành thành viên của APEC, WTO Việc nghiên cứu môi trường quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp xác định được mức độ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp mình Khu vực hóa và toàn cầu hóa đã, đang và sẽ là xu hướng tất yếu mà Chính phủ, các ngành và các doanh nghiệp đều phải tính đến
Trang 20a2 Môi trường kinh tế
- Sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới và trong nước: Khi nền kinh tế đang
ở giai đoạn tăng trưởng cao, sẽ có nhiều cơ hội cho đầu tư, mở rộng hoạt động của các doanh nghiệp; còn ngược lại, khi nền kinh tế sa sút thì chi phí tiêu dùng sẽ giảm
đi, đồng thời các lực lượng cạnh tranh sẽ tăng lên
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế :Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế Việt Nam
có xu hướng tăng dần tỷ trọng ngành kinh tế công nghiệp và dịch vụ, giảm kinh tế nông nghiệp, khuyến khích phát triển thành phần kinh tế tư nhân… do đó các doanh nghiệp phải nghiên cứu để tìm kiếm các cơ hội đầu tư phù hợp
- Khủng hoảng kinh tế và lạm phát trong thời gian qua sẽ ảnh hưởng mạnh đến các doanh nghiệp trong nước nói chung do giá cả đầu vào biến động nhanh trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm sẽ chậm lại
- Lãi suất và xu hướng lãi suất : trong thời gian vừa qua Nhà nước thực hiện nhiều biện pháp để giảm lãi suất và tiếp tục duy trì đưa lãi suất trợ lại mức thấp hơn
để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp tiết giảm chi phí tài chính, khuyến khích đầu tư khôi phục nền sản xuất
- Tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm Đối với ngành sản xuất kính xây dựng nguyên liệu chiếm giá trị lớn phải nhập khẩu như : Dầu Fo, Dầu điêzen, Sô đa… có xu hướng tăng giá do yếu tố tỷ giá hối đoái
- Tiền lương và thu nhập dân cư: khi dân cư có thu nhập tăng thì nhu cầu sửa chữa, xây dựng nhà cửa tăng kéo theo nhu cầu về sản kính xây dựng tăng và ngược lại
a3 Môi trường xã hội
- Dân số: dân số, sự gia tăng dân số, cơ cấu dân số: Việt Nam là nước có dân
số đông với hơn 86 triệu người Đây là nguồn cung lao động dồi dào cho xã hội và đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn cho nhiều doanh nghiệp
- Văn hóa : Môi trường văn hóa bao gồm các yếu tố triết học, tôn giáo, ngôn ngữ, văn học nghệ thuật Khi bước vào toàn cầu hóa, giao lưu về văn hóa giữa các vùng miền, cũng như các nền văn minh trên thế giới làm cho Việt Nam nhanh chóng tiếp thu được những cái mới trong xu hướng tiêu dùng
Trang 21- Lao động, số, chất lượng, cơ cấu lao động: với lợi thế về nguồn lao động dồi dào, cơ cấu lao động chủ yếu trẻ tuy nhiên lao động có tay nghề ít
- Tâm lý dân tộc: đổi trong tư duy xây dựng và sử dụng vật liệu hiện nay, Thiết kế hiện đại ứng dụng vật liệu mới đặc biệt là kính xây dựng làm cho ngôi nhà
có diện mạo khác trước
- Phong cách, lối sống và đạo đức xã hội cách sống của người Việt Nam tích lũy cho xây dựng nhà cửa, công trình kiến trúc cũng là nhân tố có tác động mạnh mẽ đến thị trường vật liệu xây dựng
- An ninh trật tự, công tác an sinh xã hội luôn được của Nhà nước quan tâm xem xét, nó tác động đến việc ổn định đời sống nhân dân, các công trình phúc lợi được xây dựng ngày một nhiều sẽ gián tiếp thúc đẩy các ngành sản xuất hàng hoá, dịch vụ phát triển
a4 Môi trường kỹ thuật và công nghệ
- Những phát minh sáng chế và cải tiến: những phát minh khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật đã đem lại những thay đổi to lớn, có những ảnh hưởng khá mạnh mẽ đến mỗi một doanh nghiệp Nó có thể đem đến một cơ hội hoặc tạo ra một rủi ro cho doanh nghiệp
- Máy móc thiết bị cho thiết kế, thi công : Các doanh nghiệp cần nắm bắt kịp thời tiến bộ khoa học kỹ thuật, thường xuyên đầu tư nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật tại chính doanh nghiệp vì “ thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của nền kinh tế tri thức Thời đại kinh tế tri thức sẽ thay thế thời đại công nghiệp
- Hàng hóa nội thất, nguyên vật liệu xây dựng mới : sự phát triển của công nghệ, sự ra đời của các nguyên vật liệu mới cần được xem xét Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay các sản phẩm mới có tính năng vượt trội, sản phẩm sử dụng thân thiện với môi trường được khuyến khích sản xuất và phát triển
- Tác động của công nghệ thông tin làm cho quá trình sản xuất được rút ngắn nâng cao năng suất lao động, các hệ thống máy móc tự động được điều khiển qua các phần mềm máy tính được ứng dụng nhanh vào lĩnh vực sản xuất kính xây dựng Hệ thống giám sát kỹ thuật điện tử và điều khiển học được ứng dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất
Trang 22a5 Môi trường điều kiện tự nhiên
- Tài nguyên cho sản xuất kính : việc quy hoạch và có chính sách phù hợp trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên như Cát trắng, péc ma tít, đô lô mít sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí trong quá trình sản xuất kính xây dựng
- Khí hậu thời tiết ảnh hưởng đến việc sử dụng sản phẩm kính, tuy theo từng vùng khí hậu, thời tiết khác nhau để lựa chọn tính năng sản phẩm cho phù hợp như vùng khí hậu bị ảnh hưởng nhiều của gió bão thì lựa chọn kính an toàn, các vách ngăn nhà thì lựa chọn kính cán hoa văn để trang trí…
b Các yếu tố thuộc môi trường vi mô - môi trường ngành
b1 Khách hàng
Khách hàng là lý do tồn tại của doanh nghiệp, nếu lượng khách hàng càng tăng thì mức thành công của doanh nghiệp càng cao Sự tín nhiệm của khách hàng có thể coi là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp Nghiên cứu khách hàng cần tập trung vào các khía cạnh như sở thích, tập quán, khả năng tài chính của khách hàng, quan điểm của khách hàng đối với doanh nghiệp và đối với sản phẩm dịch vụ, khả năng chấp nhận thay đổi sản phẩm và dịch vụ, mức độ chấp nhận rủi ro… Sức mạnh khách hàng là ảnh hưởng của khách hàng đối với một ngành nào đó Khách hàng hoàn toàn có khả năng áp đặt giá; nếu khách hàng mạnh, họ có thể buộc giá hàng hóa, dịch vụ phải giảm xuống và làm cho tỷ lệ lợi nhuận của ngành giảm
b2 Nhà cung ứng
Một ngành sản xuất đòi hỏi phải có các nguyên liệu thô bao gồm lao động, vật
tư, thiết bị… các bộ phận cấu thành, cũng như các đầu vào khác Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện khả năng quyết định các điều kiện giao dịch của họ đối với doanh nghiệp Những nhà cung cấp nhỏ, yếu thế có thể phải chấp nhận các điều kiện mà doanh nghiệp đưa ra, nhờ đó doanh nghiệp giảm được chi phí và tăng lợi nhuận trong sản xuất Ngược lại, những nhà cung cấp lớn có thể gây sức ép đối với ngành sản xuất, có thể bằng cách đặt giá bán nguyên liệu cao hơn để san sẻ phần lợi nhuận của ngành…
b3 Các doanh nghiệp cạnh tranh ngành
Đối thủ cạnh tranh hiện tại là những doanh nghiệp đang hoạt động trong
Trang 23ngành và cạnh tranh trực tiếp tới doanh nghiệp mình (Ví dụ hiện nay các doanh nghiệp SXKD kính xây dựng trong nước như VFG, VIFG, Kala, Việt Hưng… đang
là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Công ty Cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu) Trong mô hình kinh doanh truyền thống, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, đối thủ
sẽ đẩy lợi nhuận tiến dần tới con số 0, nhưng trong cuộc cạnh tranh ngày nay, các doanh nghiệp sẽ không dễ dàng gì chịu chấp nhận giá một cách thụ động Trên thực
tế, các doanh nghiệp đều cố gắng để có được lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh bền vững so với đối thủ của mình Cường độ cạnh tranh thay đổi khác nhau tùy theo từng ngành và các nhà phân tích rất quan tâm đến những điểm khác biệt đó
Cường độ cạnh tranh có thể ở các cấp độ Tàn Khốc, Mạnh Mẽ, Vừa Phải hoặc yếu tùy theo việc các doanh nghiệp nỗ lực giành lợi thế cạnh tranh đến mức nào
Để có được lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh bền vững so với các đối thủ, doanh nghiệp có thể thực hiện một số động thái cạnh tranh bao gồm thay đổi giá, gia tăng sự khác biệt của sản phẩm, dịch vụ, sử dụng các kênh phân phối một cách sáng tạo
Cường độ cạnh tranh chịu ảnh hưởng của các đặc điểm ngành sau đây:
Nhóm sản xuất kính : bao gồm có các công nghệ kính tấm xây dựng (sheet glass), kính nổi (float glass) và kính cán vân hoa xây dựng… Do tính công nghệ đặc thù, chi phí đầu tư ban đầu lớn, điều kiện về nguyên nhiên vật liệu rất khắt khe, thời gian vận hành dây chuyền theo chu kỳ sản xuất (từ khi khởi động đến khi dừng sửa chữa thường kéo dài từ 6 đến 12 năm), khó thay đổi chủng loại sản phẩm do đo có rất ít nhà sản xuất Phẩm cấp chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố công nghệ và chi phí đầu tư ban đầu
Nhóm sản xuất các sản phẩm sau kính lại có đặc điểm khác biệt với nhóm đầu
là số lượng doanh nghiệp lớn, quy mô nhỏ, mức độ thay đổi sản phẩm nhanh, tăng trưởng trong ngành nhanh, đặc biệt mức đầu tư thường thấp, chất lượng sản phẩm phụ thuộc khá nhiều vào mức đầu tư tuy nhiên phân biệt sự khác biệt phẩm cấp về chất lượng khá khó khăn Trên thực tế sự khác biệt này được phân biệt dựa vào thương hiệu của hãng cung cấp thiết bị, công nghệ
Trang 24b4 Các đối thủ tiềm ẩn
Xét về mặt lý thuyết, bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường, nếu như việc gia nhập hoặc rút lui không bị hạn chế Khi đó lợi nhuận của ngành sẽ là không đáng kể Tuy nhiên, thực tế cho thấy mỗi ngành đều có biện pháp riêng để bảo vệ mức lợi nhuận cao của các đơn vị đã có mặt trên thị trường đồng thời cũng để ngăn cản các đối thủ tiềm năng gia nhập thị trường đó Những biện pháp này được coi là các rào cản gia nhập
Các rào cản gia nhập là những quy định đặc trưng của một ngành Các rào cản này làm giảm tốc độ tham gia của các doanh nghiệp mới, nhờ đó duy trì mức lợi nhuận ổn định cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành Các doanh nghiệp
có thể tạo ra hoặc khai thác rào cản này để tăng lợi thế cạnh tranh của mình Các rào cản gia nhập có thể bắt nguồn từ một số nguyên nhân chủ yếu như chính phủ tạo nên các hàng rào, bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ
b5 Sản phẩm thay thế
Trong mô hình của Michael E.Porter, thuật ngữ “sản phẩm thay thế” đề cập đến sản phẩm thuộc các ngành sản xuất khác Theo các chuyên gia kinh tế, nguy cơ thay thế xuất hiện khi nhu cầu về một sản phẩm bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi giá cả của một hàng hóa thay thế Sự tồn tại của các hàng hóa thay thế sẽ làm hạn chế khả năng tăng giá của các doanh nghiệp trong một ngành nhất định, làm hạn chế khả năng lợi nhuận của doanh nghiệp Sự cạnh tranh gây ra bởi nguy cơ thay thế này thường đến từ các sản phẩm bên ngoài ngành
Sản phẩm thay thế trong lĩnh vực kinh doanh kính xây dựng phải kể đến các sản phẩm tấm nhựa, composite, đây là những vật liệu mới, hoặc tấm kim loại có tính năng mới
c Các yếu tố môi trường nội bộ doanh nghiệp
c1 Nghiên cứu và phát triển
Doanh nghiệp phải biết luôn tự làm mới mình bằng cách tự vận động và đổi mới, du nhập những tiến bộ khoa học kỹ thuật thời đại liên quan đến lĩnh vực sản xuất của doanh nghiệp mình Vấn đề này đóng một vai trò hết sức quan trọng với hiệu quả hoạt động SXKD vì nó ảnh hưởng lớn đến vấn đề năng suất lao động và
Trang 25chất lượng sản phẩm Sản phẩm dịch vụ có hàm lượng kỹ thuật lớn mới có chỗ đứng trong thị trường và được mọi người tin dùng so với những sản phẩm dịch vụ cùng loại khác
Kiến thức khoa học kỹ thuật phải áp dụng đúng thời điểm, đúng quy trình để tận dụng hết những lợi thế vốn có của nó nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ hay tăng năng suất lao động đưa sản phẩm dịch vụ chiếm ưu thế trwn thị trường nâng cao hiệu quả kinh doanh
c2 Nhân lực
Con người điều hành và thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp, kết hợp các yếu tố sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội, để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì vấn đề quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp là vấn đề lao động Công tác tuyển dụng được tiến hành nhằm đảm bảo trình độ và tay nghề của người lao động Có như vậy thì kế hoạch sản xuất và nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD mới thực hiện được Có thể nói chất lượng lao động là điều kiện cần để tiến hành hoạt động SXKD và công tác tổ chức lao động hợp lý là điều kiện đủ để doanh nghiệp tiến hành hoạt động SXKD có hiệu quả cao
Trong quá trình SXKD lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể có những sáng tạo khoa học và có thể áp dụng vào hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả SXKD Lực lượng lao động tạo ra những sản phẩm (dịch vụ) có kiểu dáng và tính năng mới đáp ứng thị hiếu thị trường làm tăng lượng hàng hoá dịch vụ tiêu thụ được của doanh nghiệp, tăng doanh thu làm cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh
c3 Tài chính
Là tất cả các khoản tiền cho hoạt động của doanh nghiệp Những tiền của này
có thể là vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp, các cổ đông, của các thành viên, là tiền vay ngân hàng hay lợi nhuận kinh doanh được giữ lại Chúng được sử dụng để mua nguyên liệu, trả lương công nhân, mua sắm lắp đặt máy móc, thiết bị mới hay xây dựng nhà xưởng, mở rộng nhà máy Doanh nghiệp có khả năng tài chính không những chỉ đảm bảo cho doanh nghiệp duy trì hoạt động SXKD ổn định
mà còn giúp cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị tiếp thu công nghệ sản xuất hiện đại hơn nhằm làm giảm chi phí, nâng cao những mặt có lợi, khả
Trang 26năng tài chính còn nâng cao uy tín của doanh nghiệp, nâng cao tính chủ động khai thác và sử dụng tối ưu đầu vào
c4 Tiềm năng vật chất, kỹ thuật
Doanh nghiệp phải biết luôn tự làm mới mình bằng cách tự vận động và đổi mới, du nhập những tiến bộ khoa học kỹ thuật thời đại liên quan đến lĩnh vực sản xuất của doanh nghiệp mình Vấn đề này đóng một vai trò hết sức quan trọng với hiệu quả hoạt động SXKD vì nó ảnh hưởng lớn đến vấn đề năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Sản phẩm dịch vụ có hàm lượng kỹ thuật lớn mới có chỗ đứng trong thị trường và được mọi người tin dùng so với những sản phẩm dịch vụ cùng loại khác
Kiến thức khoa học kỹ thuật phải áp dụng đúng thời điểm, đúng quy trình để tận dụng hết những lợi thế vốn có của nó nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ hay tăng năng suất lao động đưa sản phẩm dịch vụ chiếm ưu thế trên thị trường nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
c5 Quản trị, marketing
Là những người chấp nhận rủi ro tham gia vào hoạt động kinh doanh Nhà kinh doanh có thể tự quản lý doanh nghiệp của họ hoặc đối với các tổ chức kinh doanh lớn giới chủ có thể thuê mướn một đội ngũ các nhà quản trị chuyên nghiệp thay mặt
họ điều hành doanh nghiệp Nhà kinh doanh là những người tạo lập doanh nghiệp, làm chủ sở hữu và quản lý doanh nghiệp Đó là những người có óc sáng tạo, có kiến thức quản trị kinh doanh, linh hoạt, dám chấp nhận những mạo hiểm rủi ro trong kinh doanh, chính họ là những người tạo nên sức sống của doanh nghiệp, tạo nên sự sôi động của cuộc sống cạnh tranh trên thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò kinh doanh biểu hiện trước hết trong việc chuyển dịch các yếu tố kinh doanh: đất đai, lao động, vốn, kỹ thuật, thông tin thành hàng hóa, đưa vào thị trường qua đó thu được lợi nhuận Nhà kinh doanh phải là những người có khả năng hoạt động theo nhiều chức năng khác nhau Khi bước vào lĩnh vực kinh doanh họ có quyết tâm để theo đuổi những mục tiêu đã xác định: tìm kiếm lợi nhuận, được tự chủ trong hành động, được thỏa mãn trong cuộc sống v.v
Trang 271.2 Cơ sở thực tiễn của ngành sản xuất kính xây dựng
1.2.1 Sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp sản xuất kính xây dựng
1.2.1.1 Lịch sử ra đời ngành công nghiệp kính
Chất liệu tạo ra sản phẩm kính tấm xây dựng được nhiều người biết đến đó là thuỷ tinh Thuỷ tinh nhân tạo được làm ra khoảng 1.500 năm trước Công nguyên ở
Ai Cập và Mesopotamia Những nền văn hoá cổ xưa này đã làm ra những đồ vật bằng thuỷ tinh với phương pháp đúc thô sơ Công nghiệp thuỷ tinh chứng kiến cuộc cách mạng đầu tiên khoảng 300 năm trước công nguyên, khi những người thợ thuỷ tinh Siri phát minh ra chiếc ống thổi, giúp cho việc tạo ra vô số sản phẩm khác nhau
về hình dáng và độ dày Tiếp đến những người Rôma đã làm một cuộc cách mạng trong chế tạo thuỷ tinh bằng việc sử dụng một loạt phương pháp như thổi thuỷ tinh vào khuôn và ép ra hàng loạt các sản phẩm thuỷ tinh có hình dạng khác nhau dùng trong trang trí, kính cửa sổ đã thay đổi diện mạo của nền kiến trúc Đế chế La mã cũng sản xuất kính tấm bằng cách thổi những quả bóng hay mặt trụ thuỷ tinh lớn, sau
đó tách ra và làm phẳng Họ cũng bắt đầu chế tạo gương soi bằng cách phủ hỗn hợp bạc lên kính tấm
Đến thế kỷ 13, những người Venecia đã hoàn thiện công nghệ sản xuất kính tấm theo phương pháp đúc thuỷ tinh không màu trên chiếc bàn thép, sau đó đánh bóng tấm kính cho đến khi không còn gợn sóng Người Venecia cũng phát triển phương pháp tráng thuỷ ngân để làm những chiếc gương nổi tiếng khắp châu Âu Trong khi rất nhiều người đã chết vì nhiễm độc thuỷ ngân Vào những năm 1670, những người thợ Pháp sản xuất kính tấm bằng cách thổi những mặt trụ thuỷ tinh dài, tách nó ra và cán phẳng bằng những khối gỗ để tạo ra hình chữ nhật
Đến năm 1773, Với sự ra đời của công ty kính tấm của Anh, nước Anh đã trở thành trung tâm kính cửa sổ chất lượng cao của cả thế giới Đây là mốc đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử ngành công nghiệp thuỷ tinh, cửa sổ kính trở nên vừa với túi tiền của đa số những chủ sở hữu nhà
Cách mạng Công nghiệp đã đem lại một loạt sáng tạo trong nghề sản xuất thuỷ tinh, bắt đầu với sự ra đời của chiếc bơm khí nén ở Anh năm 1859 Chiếc bơm này đã tự động hoá công đoạn thổi thuỷ tinh, giảm bớt được số thợ thủ công lành
Trang 28nghề Những tiến bộ về hoá học cũng tác động mạnh đến sản xuất kính, cho phép những nhà sản xuất thay đổi thành phần nguyên liệu để tạo ra sản phẩm bền vững hơn và chịu nhiệt tốt hơn Năm 1871, William Pilkington đã phát minh ra chiếc máy
tự động sản xuất kính tấm sử dụng phương pháp thổi mặt trụ Quá trình cơ giới hoá này đã được J.H Lubber cải tiến ở Mỹ vào năm 1903
Bước sang thế kỷ sau, những nhà sản xuất kính nhận thấy rằng kính tấm có thể được tôi bằng cách nung lại một lần nữa và làm nguội đi một cách nhanh chóng Nhờ xuất hiện những ứng suất đặc biệt của vật liệu thuỷ tinh mà độ bền của kính tăng khoảng 400% Điều này đặc biệt quan trọng đối với ngành sản xuất ôtô lúc này đang còn sơ khai
Công nghệ mặt trụ trở nên lỗi thời khi Irving Colburn (Mỹ) và Emile Fourcault (Bỉ) cùng nhau phát triển công nghệ mới để kéo kính nóng chảy từ trong lò theo dòng nhỏ tạo thành tấm kính và làm nguội bằng cách kéo băng kính giữa hai con lăn amiăng Mặc dù kính sản xuất theo phương pháp "kéo" vẫn còn bị gợn sóng nhưng đó là kính tấm chất lượng nhất từ trước và nó làm giảm giá thành sản phẩm Thực tế những năm 1920 - 1930, do kính "kéo" thống trị thị trường nên giá kính tấm
đã giảm khoảng hơn 60%
Công nghệ kéo cũng cho phép sản xuất kính hoa bằng cách kéo băng kính giữa những con lăn amiăng được in hình Những kiến trúc sư và những nhà xây dựng nhanh chóng đưa kính hoa vào hàng loạt các ứng dụng đòi hỏi sự thẩm mỹ
Những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ I, công nghiệp kính tấm đã chứng kiến sự tăng trưởng kỳ lạ nhờ sự bùng nổ về nhà ở và của ngành công nghiệp ôtô Đến năm 1929, 70% kính tấm sản xuất tại Mỹ đã được bán cho ngành chế tạo ôtô Rất nhiều trong số đó là kính an toàn sản xuất bằng cách dán 2 tấm kính vào một lớp trung gian bằng a-xê-tát sel-lu-lô
Ngành sản xuất kính chỉ hoàn toàn thay đổi khi Alastair Pilkington phát minh
ra công nghệ kính nổi hiện đại vào những năm 1960, giảm thiểu sự khác biệt so với tấm kính đã qua đánh bóng kéo theo ngành sản xuất sau kính phát triển Trong công nghệ của Pilkington, thuỷ tinh lỏng theo một dòng hẹp chảy liên tục được rót vào một bể nông chứa kim loại nóng chảy, thông thường là thiếc Thuỷ tinh lỏng lan ra
Trang 29trên bề mặt kim loại nóng chảy và tạo ra băng kính chất lượng cao với độ dày ổn định và được làm bóng bằng nhiệt Công nghệ của Pilkington đã cách mạng nền công nghiệp kính toàn thế giới về nhiều mặt Nó làm giảm đáng kể giá thành kính tấm, tạo ra những ứng dụng mới cho những sản phẩm kính tấm như trang trí nội thất hay xây nên những toà nhà văn phòng cao chọc trời Với giá thành thấp, kính chất lượng cao đã bắt đầu thống trị các ngành xây dựng, chế tạo ôtô, công nghiệp gương Ngày nay hơn 90% sản lượng kính tấm của thế giới được sản xuất theo công nghệ của Pilkington
Với nhiều công nghệ mới, ngành công nghiệp kính đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng liên quan đến hiệu quả năng lượng và những đặc tính mới Kính hàm lượng sắt thấp dùng cho pin mặt trời đã ra đời Những tấm kính này tăng cường sự truyền ánh sáng mặt trời giúp cho sự biến đổi nhiệt năng thành điện năng Kính phủ phản quang tác dụng về độ truyền ánh sáng, phản xạ ánh nắng hay hiệu quả bóng râm, kính màu các loại, kính an toàn, kính cách âm cách nhiệt những toà nhà quyến rũ hơn với hiệu quả năng lượng mà ngày nay chúng ta thấy ở xung quanh
1.2.1.2 Lịch sử phát triển ngành sản xuất kính xây dựng ở Việt Nam
Ðầu những năm 1960, Cộng hoà Dân chủ Ðức đã giúp Việt Nam xây dựng nhà máy thủy tinh tại Hải Phòng có quy mô nhỏ nhưng hoạt động lay lắt chẳng được bao lâu rồi lại bị xóa bỏ Tại Miền Nam, trước năm 1975 có nhà máy kính cán thủ công Vinaglass do Mỹ xây dựng nhưng cũng không hoạt động được lâu rồi ngừng sản xuất do thiếu chuyên gia vận hành, nguyên liệu, hoá chất
Đến năm 1977, với sự giúp đỡ của Liên Xô (nay là Cộng hòa liên bang Nga)
dự án nhà máy sản xuất kính đầu tiên được triển khai xây dựng theo chương trình hỗ trợ Việt Nam xây dựng lại đất nước sau chiến tranh Trong khi dự án còn trong giai đoạn thiết kế, khảo sát địa điểm xây dựng, thăm dò địa chất thì chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra nên dự án tạm ngừng triển khai cho đến năm 1984 công trình mới chính thức được khởi công Sau một thời gian dài xây dựng với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô, ngày 17/4/1990 sản phẩm kính đầu tiên ra đời đánh dấu mốc lịch sử quan trọng của ngành công nghiệp kính của Việt Nam
Trang 30Đến năm 1993, các chuyên gia của Triều Tiên đã trợ giúp Nhà máy kính Đáp Cầu thực hiện việc cải tạo và mở rộng sản xuất nâng công suất từ 2.380.000m2/năm lên thành 3.800.000m2/năm (quy tiêu chuẩn độ dày là 2mm, viết tắt là qtc) Ngày 30/7/1994 theo quyết định 4851/BXD/TCLĐ của Bộ xây dựng đã ký quyết định đổi tên Nhà Máy kính Đáp Cầu thành Công ty Kính Đáp Cầu trực thuộc Bộ Xây dựng Cho đến năm 1998, trong nước chỉ có duy nhất Công ty kính Đáp Cầu thực hiện sản xuất sản phẩm kính Năm 2005 công ty kính Đáp Cầu thực hiện cổ phần hóa và chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần Đến đầu năm 2007 công ty đổi tên thành Công ty Cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu theo chính sách xây dựng thương hiệu chung của Tổng công ty Viglacera
Năm 1999, liên doanh kính nổi Việt Nam ra đời giữa Tổng công ty Viglacera (công ty mẹ của Công ty cổ phần Kính Viglacera Đáp Cầu) với tập đoàn Nippont của Nhật Bản thực hiện đầu tư dây chuyền sản xuất kính với công suất thiết kế là 28 triệu m2 quy chuẩn /năm (quy chuẩn theo độ dày 2mm) Các năm tiếp theo nhiều công ty sản xuất kính được thành lập như: công ty kính nổi Viglacera tại tỉnh Bình Dương (năm 2002), công ty kính Kỳ Anh tại thành phố Hải phòng (năm 2002), Công ty Kính Việt Hưng tại Hưng Yên (năm 2005), công ty cổ phần Phú Phong tại thành phố
Hồ Chí Minh (năm 2005), công ty kính nổi Tràng An - Ninh Bình (năm 2010) , công
ty kính nổi Chu Lai - Quảng Nam (năm 2010)…
Như vậy, so với đầu năm 1990 Việt Nam mới chỉ có Công ty kính Đáp Cầu với công suất 2,3 triệu m2/năm thì đến nay đã có nhiều nhà máy sản xuất kính đang vận hành với sản lượng trên 128,8 triệu m2/năm (năm 2011) Trên thị trường kính ở nước ta hiện nay, ngoài lượng kính do các nhà sản xuất trong nước cung cấp thì lượng kính nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước ASEAN chiếm tỷ trọng khá lớn Tuy nhiên, các doanh nghiệp kính trong nước đang nỗ lực phấn đấu tăng sản lượng để đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước và đẩy lùi kính nhập khẩu và hướng tới xuất khẩu
Trang 31Bảng 1.1 Các nhà máy sản xuất kính xây dựng đến năm 2011
T
T Nhà sản xuất vào vận Năm đi
hành
Số dây chuyền
Công nghệ
Công suất
lò nấu (tấn/ngày)
Công suất thiết kế (triệu m 2 QTC)
1 Công ty kính nổi Việt Nam
80
100
3,8 5,6 (**)
4 Công ty cổ phần kính Hà
Quảng - Cẩm Phả 2004 01
Kéo ngang 150 6 ()
5 Công ty Kính Việt Hưng 2005 01 Kéo
10
Công ty TNHH công nghiệp
kính Việt Nam (VGI) –
Vũng Tàu
2009 01 Float 500 28 (**)
11 Công ty kính nổi Tràng An –
Ninh Bình 2010 02 Float 350 19
12 Công ty cổ phần kính nổi Chu
Lai - Quảng Nam 2010 01 Float 900 46
Nguồn: Báo cáo thị trường của Công ty Viglacera Đáp Cầu
() là các nhà máy đã ngừng sản xuất và chuyển đổi sang lĩnh vực gia công các sản phẩm sau kính và vật liệu xây dựng khác với 05 nhà máy có tổng công suất là 15 triệu m 2
quy tiêu chuẩn
() là các dây chuyền đang tạm ngừng sản xuất để đại tu bảo dưỡng kỹ thuật với công suất là 33,6 triệu m 2 quy tiêu chuẩn
Trang 32Trong một thời gian ngắn, số nhà máy sản xuất kính xây dựng ra đời quá nhiều, mặc dù mức cung hiện nay chưa vượt mức cầu nhưng cũng gây ra sức ép giảm giá mạnh Mặt khác do một số nhà sản xuất mới hạ thấp giá bán để giành thị phần làm cho sự cạnh tranh trên thị trường kính xây dựng trở nên khốc liệt Với nhu cầu của thị trường tăng trưởng như hiện nay, việc xây dựng các nhà máy sản xuất kính không tính toán cân đối cung cầu sẽ dẫn đến mức cung vượt quá mức cầu sẽ ảnh hưởng lớn đến nền sản xuất kính xây dựng Nhiên liệu sử dụng cho sản xuất kính xây dựng là dầu FO, chiếm tỷ lệ lớn trong giá thành sản xuất Do giá xăng dầu tăng, làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động SXKD kính xây dựng
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển kinh doanh kính xây dựng trên thế giới và trong nước, bài học và kinh nghiệm cho Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu 1.2.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh doanh kính xây dựng trên thế giới
Ngành công nghiệp sản xuất kính xây dựng được phát triển rất nhanh tại các nước công nghiệp phát triển như Anh, Đức, Nhật Bản, Pháp…với bề dày kinh nghiệm có trên 100 năm hình thành và phát triển, với nhiều hãng sản xuất, viện nghiên cứu với quy mô lớn có nhiều phát minh quan trọng trong lĩnh vực sản xuất, ứng dụng các sản phẩm kính xây dựng trong đời sống xã hội
Kính xây dựng được sử dụng phổ biến trong các công trình xây dựng với độ dày mỏng khác nhau từ 3-19mm với nhiều màu sắc, ưu điểm cắt gọt dễ nên có thể lắp đặt cho mọi công trình xây dựng, từ làm kính cửa sổ, cửa ra vào, cửa chớp, bình phong ngăn cách giữa các không gian nội thất khác nhau đến lắp làm tường trang trí cho nhà cao tầng Trên thế giới hiện có nhiều chủng loại kính được sửa dụng như: Kính trang trí có thể là kính màu với các họa tiết đa dạng, Kính phản quang đang là loại kính được ưa chuộng hiện nay nhờ tác dụng hạn chế sự hấp thu ánh sáng từ bên ngoài và có khả năng chống nóng Kính an toàn cường lực có ưu điểm chịu được xung lực, động đất ở cấp độ thấp, rất khó bị vỡ hay trầy xước khi va đập, Kính bảo
ôn có khả năng cách âm, cách nhiệt, Kính dán có tính bám dính cao trong một liên kết bền vững và bền màu với thời gian Hiện nay kính là một trong những vật liệu xây dựng được ưa chuộng không chỉ nhờ kết cấu gọn nhẹ, dễ lắp đặt, tiện dụng phù hợp với không gian kiến trúc mà còn đem lại giá trị thẩm mỹ trong trang trí nội thất,
có thể sử dụng được ánh sáng tự nhiên
Trang 33Các dây chuyền sản xuất hiện đại tính tự động hoá cao, tiết kiệm được các chi phí sản xuất nhất là các loại chi phí nhiên liệu (Dầu mazút, gas chiếm đến hơn 40% tổng chi phí trong giá thành sản xuất), chất lượng sản phẩm ngày được nâng cao rất khác biệt so với các thế hệ công nghệ đời đầu Công nghệ kính Float hiện đang được coi là hiện đại nhất trong lĩnh vực sản xuất kính, công nghệ kính Sheet và kính kéo ngang hiện được các nước tiên tiến loại bỏ Đối với lĩnh vực sản xuất sản phẩm sau kính do nhu cầu xã hội phát triển các sản phẩm sau kính ngoài các tính năng vốn có như màu sắc đa dạng, tính năng thẩm mỹ, thuận lợi cho thi công thì còn phải chú trọng đến vấn đề an toàn trong khi sử dụng ở các điều kiện khắc nghiệt, chống va đập gió bão, thân thiện với môi trường và có tác dụng bảo vệ sức khoẻ con người Các tập đoàn kính danh tiếng trên thế giới như: Saint Gobain, Lafarge (Pháp), Ashahi, NSG (Nhật Bản), Pilkington (Anh), HORN Glass (Đức), Dupont Glass (Mỹ)… là những tập đoàn mạnh với doanh thu hàng năm hàng chục tỷ USD có rất nhiều các nhà máy, công ty tại các nước trên toàn thế giới
Xu hướng phát triển ngành sản xuất kính xây dựng của các nước trên thế giới đều trải qua 2 giai đoạn như sau:
- Một là: trong giai đoạn kinh tế xã hội chưa phát triển, các nhà sản xuất đều lựa chọn giải pháp sản xuất sản xuất sản phẩm từ nguyên liệu có chất lượng trung bình, công nghệ tầm trung nhằm sản xuất ra những sản phẩm có giá cả thấp phù hợp với túi tiền của người tiêu dùng
- Hai là: Giai đoạn xã hội phát triển, người dân có thu nhập cao hơn người tiêu dùng hướng đến sản phẩm có chất lượng cao, ít quan tâm đến giá cả mà quan tâm nhiều đến giá trị sử dụng Các nhà sản xuất chủ động sản xuất những sản phẩm định hướng cho người tiêu dùng hướng tới với những tiêu chí tích cực, hiện đại Chính phủ một
số nước còn có các chính sách khuyến khích sản xuất những sản phẩm kính xây dựng vì chất lượng cuộc sống, sự tiện lợi tối ưu cho người sử dụng và ngược lại có các chính sách hạn chế thậm chí là cấm sản xuất, sử dụng các sản phẩm kính xây dựng không đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật, an toàn, thẩm mỹ, thân thiện với môi trường
Trang 34Các nước phát triển trên thế giới hiện nay thu phí rất cao đối với các doanh nghiệp sản xuất gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường sống, đề cao tính tiết kiệm năng lượng, tiêu chuẩn về sản phẩm khi đưa ra sử dụng cũng đòi hỏi ngày càng cao, người tiêu dùng quan tâm nhiều đến chất lượng sản phẩm chứ không phải giá cả do
đó các hãng sản xuất buộc phải thay đổi công nghệ để đáp ứng yêu cầu của xã hội Đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm sau kính để đáp ứng cho các chung cư toà nhà cao tầng ngày càng phát triển
Tại các nước như Nhật Bản, Mỹ, Đức, Anh, Pháp… ban hành các tiêu chuẩn
kỹ thuật rất khắt khe đối với từng chủng loại kính xây dựng, Mỗi nước có một đặc điểm khí hậu khác nhau, nên có thể có những tiêu chuẩn khác nhau nhưng nguyên tắc cơ bản về tiêu chuẩn kính lại giống nhau Ở châu Âu, người tiêu dùng đề ra những tiêu chí thật cao
và yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứng những yêu cầu đó, đề cao các tiêu chuẩn an toàn, bảo vệ sức khỏe con người, thân thiện với môi trương sống
Tới đây, khí hậu sẽ ngày càng biến đổi khắc nghiệt, việc xây dựng quy chuẩn sản xuất, sử dụng kính xây dựng sẽ góp phần bảo vệ an toàn cho các công trình, việc tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật về kính xây dựng sẽ hướng tới sự tiện lợi trong quá trình vận hành, khai thác công trình, Nếu kết hợp sản phẩm kính xây dựng có chất lượng cao, tiết kiệm năng lượng với thiết kế hợp lý, có thể dần dần hướng tới những toà nhà mở, đón các nguồn năng lượng tự nhiên khi có thể
1.2.2.2 Kinh nghiệm trong nước
Trước năm 1990 ở nước ta không có đơn vị sản xuất kinh xây dựng mà chỉ có một số lò thuỷ tinh sản xuất đồ gia dụng cốc, chén… nhưng hoạt động lay lắt do thiếu chuyên gia, phụ tùng, hóa chất, cộng với thực tế khi đó trong nước rất thiếu nguyên liệu do đó các nhà máy đóng cửa
Tới năm 1991, nhà máy kính Ðáp Cầu chính thức đi vào hoạt động Kính sản xuất theo phương pháp Fuco, kéo đứng qua thuyền phương pháp sản xuất cổ điển, công suất 2,3 triệu m2 kính/năm, đánh dấu mốc lịch sử mới cho công nghệ kính ở Việt Nam Năm 1999, liên doanh kính nổi Việt Nam ra đời với công suất thiết kế là
28 triệu m2 quy tiêu chuẩn /năm (quy chuẩn theo độ dày 2mm) Các năm tiếp theo bước vào thời kỳ mở cửa, nghành kính Việt Nam có những bước phát triển nhảy vọt
Trang 35nhiều công ty sản xuất kính được thành lập như: Công ty kính nổi Viglacera tại tỉnh Bình Dương (năm 2002), Công ty cổ phần Phú Phong tại thành phố Hồ Chí Minh (năm 2005), Công ty kính nổi Tràng An - Ninh Bình (năm 2010), Công ty kính nổi Chu Lai - Quảng Nam (năm 2010)… Trên thị trường, ngoài lượng kính do các nhà sản xuất trong nước cung cấp thì lượng kính nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước ASEAN chiếm tỷ trọng khá lớn
Do điều kiện nền kinh tế mới phát triển nhu cầu hàng hoá tiêu dùng nói chung còn thiếu, các công trình xây dựng có tốc độ phát triển nhanh cho nên thị trường tiêu thụ sản phẩm kính xây dựng rất tiềm năng Tuy nhiên đại đa số người dân có thu nhập thấp cho nên người tiêu dùng mới chỉ quan tâm đến giá cả nhiều hơn là chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó việc đầu tư các dây chuyền sản xuất hiện đại đòi hỏi nhà đầu tư phải có tiềm lực về tài chính mạnh Để giải quyết vấn đề trên một số doanh nghiệp trong nước lựa chọn công nghệ tầm trung để đầu tư nhằm tiết kiệm chi phí tài chính và nhanh thu hồi vốn đầu tư, tuy nhiên sản phẩm sản xuất ra có chất lượng không cao, chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn về vật liệu xây dựng cho các công trình cao tầng đang có xu hướng phát triển mạnh
Như vậy, cho đến nay các doanh nghiệp SXKD sản phẩm kính xây dựng mới chỉ chú trọng việc phát triển theo chiều rộng, đầu tư các công nghệ tầm trung sản xuất các sản phẩm giá rẻ phù hợp với túi tiền của người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm còn xem nhẹ Trong khi Nhà nước chưa ban hành đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể, các chính sách khuyến khích hoặc hạn chế thông qua các chính sách của Nhà nước như : thuế, chính sách hỗ trợ tiền thuê đất và hạ tầng kỹ thuật cho doanh nghiệp, việc cấp phép cho các doanh nghiệp sản xuất kính xây dựng còn thiếu khoa học dẫn đến có lúc xảy ra tình trạng cung thừa cầu, công tác quy hoạch các vùng nguyên liệu chưa đồng bộ gây ra nhiều lãng phí, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, kinh doanh trốn lậu thuế vẫn còn xảy ra nhiều gây thất thu cho ngân sách nhà nước
1.2.2.3 Bài học, kinh nghiệm cho Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu
Hãy xem xét quan điểm của các nước trên thế giới khi phát triển ngành công nghiệp kính để ngẫm lại những điều ngành kính Việt Nam phải đối mặt trong bước đường phát triển, rút ra các bài học kinh nghiệm đối với việc phát triển kinh doanh tại công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu như sau:
Trang 36Một là: Công ty cần bám sát xu hướng phát triển kính xây dựng là các dòng
sản phẩm cao cấp với các tiêu chuẩn khắt khe về kỹ thuật, sự tiện lợi tối ưu cho người sử dụng Mỗi nước, mỗi khu vực có những đặc điểm khí hậu khác nhau, nên
có thể có những tiêu chuẩn khác nhau nhưng nguyên tắc cơ bản về tiêu chuẩn kính xây dựng lại giống nhau Vì thế công ty không nên duy trì mãi tiến trình phát triển của mình chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển các sản phẩm mang tính dẫn dắt định hướng cho thị trường, càng không nên xem nhẹ những tiêu chuẩn trong sử dụng kính ở các công trình xây dựng quan trọng Cũng không nên quá băn khoăn với lực cản về giá cả, bởi chắc chắn một điều, nếu đầu tư xứng đáng thì 10 đồng hôm nay có thể biến thành hàng trăm đồng trong tương lai Theo xu hướng phát triển chung của thế giới, các loại kính công nghệ cao sẽ tăng nhu cầu vì gọn, nhẹ cho công trình, nhất là các công trình cao tầng, tận dụng được ánh sáng và giúp giảm sử dụng năng lượng
Hai là : Công ty hiện mới chỉ sản xuất những chủng loại mà thị trường đang
phổ biến chứ chưa góp phần định hướng tiêu dùng với những tiêu chí tích cực, hiện đại Trong khi đó ở châu Âu, người tiêu dùng đề ra những tiêu chí thật cao và doanh nghiệp phải đáp ứng những yêu cầu đó, cho nên với không ít người có nhu cầu – giá
cả không bao giờ là lực cản
Ba là : Khí hậu sẽ ngày càng biến đổi khắc nghiệt nên nếu xây dựng quy
chuẩn kỹ thuật cho sản xuất, sử dụng kính xây dựng một cách chặt chẽ thì sẽ góp phần bảo vệ an toàn cho các công trình, chính là bảo vệ giá trị của công trình Chưa
kể, việc tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật về kính xây dựng sẽ hướng tới sự tiện lợi trong quá trình vận hành, khai thác công trình, ví dụ: Kính cách nhiệt tốt sẽ bảo đảm tiêu hao ít điện năng, không ứ đọng hơi nước trên bề mặt kính khi sử dụng máy điều hoà …
Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 11/2009/TT-BXD ngày 18/6/2009 quy định công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa kính xây dựng Tiếp đó, ngày 17/11/2005, Bộ Xây dựng đã có Quyết định số 40/QĐ - BXD ban hành quy chuẩn Xây dựng Việt Nam “Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng có hiệu quả” Năm 2006, Chính phủ đã có Quyết định phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về
Trang 37sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả Bộ Xây dựng cũng đã ban hành Quy chuẩn xây dựng Việt Nam 09: 2005 - Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng có hiệu quả Quy chuẩn XDVN 05: 2008/BXD - Nhà ở và công trình công cộng - an toàn sinh mạng và sức khỏe
Bốn là : Công ty cần hết sức lưu ý khi sử dụng sản phẩm kính chất lượng cao,
đó là các phụ kiện đi kèm, chính sách bán hàng và chăm sóc khách hàng Bạn nghĩ sao nếu bạn rất chịu chơi khi mua sản phẩm kính cao cấp, nhưng không coi trọng keo dán, phim dán, các thanh profile và những phụ kiện đi kèm? Và ngành công nghiệp kính sẽ không bao giờ phát triển nếu các lĩnh vực sản xuất và gia công đi kèm không đồng bộ
Năm là: Trước xu hướng phát triển của xã hội, Công ty Viglacera Đáp Cầu
luôn coi trọng duy trì và phát huy tối ưu các dây chuyền sản xuất hiện có, đồng thời thực hiện từng bước đổi mới công nghệ, đầu tư thêm các dây chuyền sản xuất để đa dạng hoá mặt hàng, đầu tư sản xuất một số loại sản phẩm có tính định hướng dẫn dắt thị trường để phát triển công ty
Sáu là : Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ lành nghề, tổ chức xây dựng bộ
máy hoạt động của công ty gọn nhẹ linh hoạt đảm bảo cho các bộ phận phát huy tối
đa hiệu quả hoạt động, Xây dựng nền văn hóa công ty để hỗ trợ phát cho phát triển kinh doanh, chú trọng công tác tuyển dụng thu hút cán bộ có trình độ
Bảy là : Chủ động tìm kiếm nghiên cứu thị trường để nắm bắt các cơ hội phát
triển, Nghiên cứu thị trường là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng, nếu công tác nghiên cứu thị trường được làm tốt, nó cung cấp đầy đủ thông tin chính xác để giúp người làm marketing đưa ra một chính sách phù hợp và do đó mang lại hiệu quả cao Ngược lại, nếu công tác nghiên cứu thị trường thu thập về những thông tin không chính xác, không phản ảnh đúng tình hình thực tế thị trường, và do không dựa trên
cơ sở thông tin vững chắc nên quyết định được đưa ra sẽ không sát với thực tế, dẫn đến hoạt động marketing sẽ không hiệu quả, lãng phí nhân vật lực
Trang 38Chương II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT SẢN PHẨM KÍNH XÂY DỰNG 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào giải quyết các vấn đề sau: Tình hình SXKD của công ty
cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu có những điểm mạnh, điểm yếu nào? Giải pháp để khắc phục các nhược điểm? Mục tiêu phát triển kinh doanh trong dài hạn? đánh giá tổng quan cung cầu ngành sản xuất kính hiện tại và kế hoạch dài hạn đến năm 2020 như thế nào?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Chọn địa điểm nghiên cứu là vấn đề hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng khách quan tới kết quả nghiên cứu Tại Việt Nam có nhiều doanh nghiệp sản xuất kính xây dựng, nhưng tác giả chọn Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu vì:
- Công ty cổ phần kính Viglacera Đáp Cầu là doanh nghiệp có truyền thống sản xuất kính, có khối lượng sản phẩm và thị phần kính xây dựng lớn
- Tác giả hiện đang công tác tại Công ty nên có sự hiểu biết và có điều kiện để thu thập, tiếp cận các nguồn tài liệu, tư liệu đảm bảo tính đầy đủ và chính xác
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Sử dụng các số liệu thống kê có sẵn của các bộ phận có liên quan liên quan: phòng Kế hoạch, phòng kinh tế, phòng Kỹ thuật, phòng Kinh doanh, phòng Tổ chức nhân sự…
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Sử dụng các phiếu điều tra để thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu của
đề tài Đối tượng được điều tra bao gồm : Một là cán bộ chủ chốt, công nhân viên trong công ty là các đối tượng thực hiện các giải pháp nhằm phát triển hoạt động SXKD; Hai là các cán bộ chủ chốt của Tổng công ty, Hiệp hội kính xây dựng Việt Nam là những người quản lý có nhiều thông tin, thường xuyên tiếp cận nhiều đơn vị SXKD theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
Lượng mẫu được chọn theo công thức của Yamane Taro (1967):
Trang 39N
n = -
1 + N*e2 Trong đó: N là tổng thể mẫu, e là tỉ mức ý nghĩa, chính xác (%)
2.2.3 Phương pháp tổng hợp, sử lý thông tin
Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được sẽ được tác giả tổng hợp theo các phương pháp tổng hợp thống kê: sắp xếp, phân tổ, hệ thống các biểu bảng thống
kê và đồ thị với các chỉ tiêu số lượng và chất lượng sau khi đã làm sạch số liệu điều tra, việc sử lý thông tin bằng phần mềm Microsoft Excel để tính toán
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin
2.2.4.1 Phương pháp mô tả thống kê
Thông qua các số liệu thu thập được mô phỏng bằng các biểu đồ số liệu và các chú giải để thuận tiện cho việc so sách đánh giá qua các năm
2.2.4.2 Sử dụng các mô hình phân tích và dự báo môi trường kinh doanh
a Mô hình ma trận SWOT (Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats)
Việc sử dụng mô hình SWOT để tổng hợp những phân tích đánh giá môi trường vĩ mô, môi trường vi mô (môi trường ngành) và nội tại doanh nghiệp, để chỉ
ra các điểm mạnh và điểm yếu, những cơ hội và thách thức đối với một doanh nghiệp, từ đó xây dựng các giải pháp một cách phù hợp nhất cho doanh nghiệp… Ma trận SWOT được mô tả như Hình 2.1 dưới đây
Trang 40Sau khi tập hợp và liệt kê các yếu tố chủ yếu của việc phân tích môi trường bên ngoài và môi trường bên trong lên ma trận SWOT, chúng ta sẽ tiến hành kết hợp các yếu tố đó lại, việc kết hợp này là một nhiệm vụ khó khăn nhất của việc phát triển
ma trận SWOT theo từng cặp sau:
S + O: Xây dựng chiến lược nhằm khai thác các điểm mạnh của doanh nghiệp
để tận dụng cơ hội bên ngoài
S + T: Xây dựng chiến lược nhằm khai thác điểm mạnh của doanh nghiệp để
né tránh các mối đe dọa từ phía bên ngoài
W + O: Xây dựng chiến lược nhằm khắc phục, hạn chế những điểm yếu kém của doanh nghiệp để tận dụng các cơ hội bên ngoài
W + T: Xây dựng các chiến lược nhằm khắc phục, hạn chế những điểm yếu
để né tránh các mối đe dọa từ phía bên ngoài
Cuối cùng sẽ kết hợp tất cả các yếu tố để hình thành các chiến lược, giải pháp
mà qua đó giúp cho doanh nghiệp sử dụng tối đa những mặt mạnh để khai thác tốt các cơ hội và hạn chế những rủi ro cũng như thách thức, đồng thời hạn chế dần những yếu kém của mình
b Mô hình chuỗi giá trị (the Value chain - Phân tích môi trường bên trong)
Việc phân tích môi trường bên trong rất cần thiết để giúp tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu của một doanh nghiệp Quy trình tạo ra giá trị có thể được xác định thông qua khái niệm “Chuỗi giá trị” mà Michael E Porter đã xây dựng Thuật ngữ chuỗi giá trị mang ý nghĩa của sự chuyển đổi các hoạt động đầu vào sang các hoạt động đầu ra được khách hàng chấp nhận và đánh giá cao
Tóm lược về chuỗi giá trị được thể hiện trong Hình dưới đây Chuỗi giá trị được phân thành các hoạt động cơ bản và các hoạt động hỗ trợ, quá trình này bao gồm rất nhiều các hoạt động khác nhau nhằm mục đích cuối cùng là tạo nên giá trị sản phẩm