Mục tiêu chung Từ việc đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai của tỉnh Thái Nguyên, những thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn tại và những nguyên nhân trong cô
Trang 3Luận văn Thạc sỹ kinh tế "Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" đã
được triển khai nghiên cứu tại tỉnh Thái Nguyên Đề tài đã khai thác, sử dụng nhiều nguồn thông tin liên quan khác nhau để phục vụ cho việc viết Luận văn, các nguồn thông tin đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng cho bất cứ một học vị nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2010
Người thực hiện
Trịnh Việt Hùng
Trang 4chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân trong và ngoài trường, các Sở, Ban, ngành thuộc tỉnh Thái Nguyên
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn TS Đoàn Quang Thiệu – nguyên Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu Luận văn
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND tỉnh Thái Nguyên, các Sở, Ban, ngành trong tỉnh và UBND các huyện đã nhiệt tình tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập số liệu giúp tôi triển khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã quan tâm, động viên, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thiện đề tài
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2009
Người thực hiện
Trịnh Việt Hùng
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Bố cục của luận văn 4
Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh thái nguyên 5
1.1 Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh thái nguyên và phương pháp nghiên cứu 5
1.1.1 Vai trò của đất trong sản xuất và đời sống 5
1.1.1.1 Vai trò của đất đai và phân loại đất đai 5
1.1.1.2 Quản lý Nhà nước về đất đai 15
1.1.2 Kinh nghiệm quản lý và sử dụng đất đai của một số nước trên thế giới và Việt Nam 22
1.1.2.1 Kinh nghiệm quản lý và sử dụng đất đai của một số nước trên thế giới 22
1.1.2.2 Quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam 28
1.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài 33
1.2.1 Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu 33
1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 33
1.2.2.1 Phương pháp tiếp cận 33
1.2.2.2 Phương pháp kế thừa 33
1.2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 34
Trang 61.2.2.6 Phương pháp tính toán so sánh 34
1.2.2.7 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 34
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh thái nguyên 35
2.1 Đặc điểm tỉnh thái nguyên 35
2.1.1 Điều kiện tự nhiên: 35
2.1.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi hành chính 35
2.1.1.2 Tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên 37
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 42
2.1.2.1 Dân số, nguồn nhân lực, truyền thống văn hoá và ngành nghề của dân cư 42
2.1.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 42
2.1.2.3 Kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 44
2.1.2.4 Triển vọng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 45
2.1.2.5 Nhận định chung 48
2.1.2.6 Công nghiệp 49
2.1.2.7 Nông, lâm, ngư nghiệp 53
2.1.2.8 Dịch vụ 56
2.1.2.9 Các tiểu vùng kinh tế của tỉnh 62
2.1.3 Điều kiện xã hội 63
2.1.4 Ảnh hưởng của các điều kiện trên đến công tác quản lý nhà nước về đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 63
2.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh thái nguyên 65
Trang 72.2.2 Tình hình quản lý Nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên 71
2.2.2.1 Quá trình đổi mới bộ máy quản lý Nhà nước về tài nguyên đất tỉnh Thái Nguyên 71
2.2.2.2 Thực trạng của công tác quản lý đất 72
2.3 Đánh giá chung 98
2.3.1 Những kết quả cụ thể đạt được 98
2.3.2 Những tồn tại 99
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại đó là 101
Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh thái nguyên 103
3.1 Quan điểm của việc quản lý nhà nước về tài nguyên đất 103
3.1.1 Quan điểm kết hợp giữa quyền sở hữu với quyền sử dụng và đảm bảo sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước 103
3.1.2 Quan điểm kết hợp quản lý đất với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái và các vấn đề phát triển kinh tế xã hội 105
3.1.3 Quan điểm quản lý đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ 106
3.1.4 Chủ động xây dựng và quản lý tốt thị trường bất động sản 107
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh thái nguyên 108
3.2.1 Đào tạo đội ngũ cán bộ địa chính 108
3.2.2 Đẩy mạnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 109
3.2.3 Nâng cao ý thức pháp luật về đất đai của các đối tượng sử dụng đất 112
Trang 83.2.5 Tăng cường công tác quy hoạch sử dụng đất 114
3.2.6 Đẩy mạnh công tác giải quyết khiếu kiện về đất đai 115
3.2.7 Đẩy mạnh công tác đô thị hoá nông thôn và xây dựng nông thôn mới 116
3.2.8 Đổi mới cách thức quản lý đô thị 117
3.2.9 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế 117
Kết luận và kiến nghị 118
1 Kết luận 118
2 Kiến nghị 120
2.1 Đối với trung ương 120
2.2 Đối với tỉnh 121
Danh mục tài liệu tham khảo 123
Trang 9MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong lịch sử phát triển của loài người, đất đai luôn được coi là tài nguyên
vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, là nguồn nội lực to lớn của đất nước, trong nền kinh tế thị trường nó còn được gọi là bất động sản
Từ xưa đến nay, đất đai vẫn là vấn đề quan tâm hàng đầu, vấn đề sống còn của mỗi quốc gia Đất đai gắn liền với đời sống con người và những lợi ích về kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng Vì thế bất kỳ quốc gia, xã hội nào muốn phát triển kinh tế và ổn định trật tự xã hội đều phải quản lý chặt chẽ, sử dụng thật tốt nguồn tài nguyên đất đai của mình, đặc biệt là những nước mà dân số sống chủ yếu bằng nghề nông - lâm nghiệp
Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ, phát triển trên quan điểm nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, nên đất đai lại càng trở nên
vô cùng quý giá Với đặc tính là tài nguyên vừa tự tái tạo và không tự tái tạo,
bị hạn chế về số lượng, nước ta với tổng diện tích tự nhiên là 331.212 km², là một đất nước có quy mô diện tích trung bình, xếp thứ 59/200 trên thế giới Dân số nước ta gần 86 triệu người, đứng thứ 13 trên thế giới, với gần 70% dân số sống chủ yếu bằng nghề nông; bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người là 0,41ha (1/7 bình quân trên thế giới là 3,0ha) Cùng với sự phát triển của thế giới, sự gia tăng dân số và quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh
tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, đa dạng hóa thành phần kinh tế… đã gây áp lực rất lớn đối với đất đai
Vấn đề quản lý và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai hiện nay đang là một vấn đề cấp bách cần được sự quan tâm của các cấp, các ngành từ Trung ương đến các địa phương
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành những chính sách đúng đắn kịp thời trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa quản lý và sử dụng đất
Trang 10cho phù hợp với từng thời kỳ Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 về tăng cường thống nhất quản lý ruộng đất, Luật Đất đai năm 1988, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001 và gần đây nhất tại Chương I, Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 vẫn khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” và cũng Chương này Điều 6 nêu rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai” Luật Đất đai năm 2003 đã cụ thể hóa thành 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai nhằm xây dựng hệ thống pháp luật về đất đai ngày càng hoàn thiện hơn
Thái Nguyên là một tỉnh Trung du miền núi, nằm trong vùng Đông Bắc
bộ Phía bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía nam giáp thành phố Hà Nội, phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Vĩnh Phúc Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.562,82km², dân số Thái Nguyên khoảng 1,2 triệu người Thái Nguyên là tỉnh có diện tích không lớn, chiếm 1,13% diện tích và 1,41% dân số cả nước
Thái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của Việt Nam nói riêng, của vùng Trung du miền Đông Bắc nói chung Đây là một trong những vùng chè nổi tiếng, một trung tâm công nghiệp gang thép của miền bắc, cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa trung du miền núi với đồng bằng Bắc Bộ Sự giao lưu được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ đường sắt, đường sông hình dẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút
Đường Quốc lộ số 3 từ Thái Nguyên lên Bắc Kạn, Cao Bằng chạy qua thành phố Thái Nguyên; nối Thái Nguyên với thủ đô Hà Nội, các tỉnh đồng bằng sông Hồng, các tỉnh khác trong cả nước và với quốc tế
Các quốc lộ 37, 1B, 279 cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh
Trang 11Tuyến đường sắt Thái Nguyên - Quán Triều là đường giao lưu quan trọng nối vùng đồng bằng với khu công nghiệp Sông Công và thành phố Thái Nguyên
Xác định được tầm quan trọng của đất đai, vấn đề quản lý và sử dụng đất đai là một trong những vấn đề quan trọng, cấp bách hiện nay, nếu quản lý và
sử dụng một cách có hiệu quả sẽ góp phần vào mục tiêu chung là xây dựng và phát triển đất nước
Xuất phát từ thực tế khách quan đó, tôi lựa chọn đề tài: "Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" làm đề tài Luận văn Thạc sĩ
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Từ việc đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai của tỉnh Thái Nguyên, những thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn tại và những nguyên nhân trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai trong thời gian tiếp theo, góp phần sử dụng nguồn tài nguyên đất có hiệu quả để phát triển kinh tế, xã hội
Trang 12Về nội dung nghiên cứu:
- Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề chính, những chỉ tiêu chủ yếu về nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo Luật Đất đai năm 2003
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh
4 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm có 3 Chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN
ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1.1 Vai trò của đất trong sản xuất, đời sống
1.1.1.1 Vai trò của đất đai và phân loại đất đai
* Vai trò của đất đai:
Đất đai do tự nhiên tạo ra, có trước con người và là cơ sở để tồn tại và phát triển của xã hội loài người Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người cho thấy đất đai là một tài nguyên vô giá và chứa đựng sẵn trong đó các tiềm năng của sự sống, tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con người trên trái đất Chính vì vậy,đất đai có vai trò ngày càng quan trọng Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, tham gia vào hoạt động của đời sống Kinh tế
xã hội, có vị trí cố định, không di chuyển được cũng không thể tạo ra thêm tuy nhiên đất đai lại có khả năng tái tạo thông qua độ phì của đất Con người không thể tạo ra đất đai nhưng bằng lao động của mình con người tác động vào đất, cải tạo đất để tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ cho cuộc sống của con người Vì thế đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên lại vừa là sản phẩm của lao động Luật Đất đai năm 1993 đã khẳng định vai trò to lớn của đất đai như sau: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng các cơ sở hạ tầng xã hội, an ninh quốc phòng…” Đối với mỗi lĩnh vực, đất đai lại có vai trò quan trọng khác nhau Trong ngành nông nghiệp, đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng, nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Con người khai phá đất hoang để
Trang 14chăn nuôi trồng trọt, cũng nhờ có đất mà cây trồng mới có thể sinh trưởng và phát triển được, cung cấp lương thực thực phẩm để nuôi sống con người Cho nên nếu không có đất, các hoạt động sản xuất nông nghiệp sẽ không thể tiến hành được Trong công nghiệp và các ngành khai khoáng, đất được khai thác
để làm gạch ngói, đồ gốm phục vụ cho ngành xây dựng Đất còn làm nền móng, là địa điểm để tiến hành các hoạt động thao tác, là chỗ đứng cho công nhân trong sản xuất công nghiệp Trong cuộc sống, đất đai còn là địa bàn phân bố khu dân cư, là nơi để con người xây dựng nhà ở, hệ thống đường sá giao thông, các tòa nhà cao tầng, các công trình văn hóa kiến trúc tạo nên bộ mặt tổng thể của một quốc gia Ngoài ra, đất đai còn là nơi để xây dựng các tụ điểm vui chơi giải trí, thể dục thể thao, xây dựng các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống hàng ngày của con người
Mặt khác, đất đai còn là bộ phận lãnh thổ quốc gia Nói đến chủ quyền của một quốc gia là phải nói đến sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia đó Để bảo
vệ toàn vẹn lãnh thổ, Nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để bảo vệ đất đai, ngăn chặn sự xâm lấn của các thế lực bên ngoài Trải qua các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, đất đai của nước ta ngày nay là thành quả của bao thế hệ đã hi sinh xương máu, dày công vun đắp mới có được Từ đó đất đai trở thành giá trị thiêng liêng và vô cùng quý giá, đòi hỏi chúng ta phải giữ gìn, sử dụng hợp lý đất đai
Vai trò to lớn của đất đai chỉ có thể phát huy một cách đầy đủ khi mà
có sự tác động tích cực của con người một cách thường xuyên Nếu như con người sử dụng, khai thác kiệt quệ độ phì nhiêu của đất mà không bồi dưỡng cải tạo đất thì vai trò to lớn của đất đai sẽ không thể được phát huy Sự hạn chế về mặt diện tích đất cùng với sự hạn chế trong việc khai thác tiềm năng đất do tiến bộ khoa học kỹ thuật đòi hỏi con người phải biết tính toán đánh giá đầy đủ về đất đai để có thể khai thác hiệu quả nhất
Trang 15* Phân loại đất
a Đất nông nghiệp:
Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Đất nông nghiệp vừa là đối tượng lao động vừa là
tư liệu lao động cho nên nó có vai trò hết sức quan trọng để tạo ra lương thực thực phẩm nuôi sống con người Đất nông nghiệp cũng hình thành một loại quỹ đất và có sự biến động theo hướng sau:
- Do quá trình đô thị hóa, do sự phát triển cả hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, sự hình thành các trung tâm công nghiệp mới làm cho quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp lại Đây là xu hướng diễn ra phổ biến hiện nay, không chỉ ở trên địa bàn thành phố Thái Nguyên mà còn diễn ra trên phạm vi toàn quốc Nhưng vấn đề đặt ra là cần phải bố trí sắp xếp địa điểm xây dựng đô thị và các khu công nghiệp như thế nào để không ảnh hưởng đến việc sản xuất nông nghiệp Mặt khác, do sức ép về lao động và việc làm, do dân số ngày càng tăng nên phải cung cấp một lượng nông sản đủ lớn trong khi đó quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm Chính vì vậy việc khai khẩn đất hoang, đất chưa sử dụng là mọt việc làm tích cực để mở rộng diện tích đất nông nghiệp
Quỹ đất nông nghiệp được cấu thành từ các loại đất khác nhau tùy theo mục đích sử dụng Khi mục đích sử dụng đất nông nghiệp thay đổi làm cho số lượng loại đất này tăng lên, loại đất kia giảm đi Vì vậy quỹ đất nông nghiệp cũng có sự biến động trong nội bộ của nó theo hướng: Giảm dần diện tích trồng cây lương thực để chuyển sang trồng các loại cây trồng khác Diện tích đất nông nghiệp sẽ được tăng cường cho ngành sản xuất nào đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã tác động đến vấn đề này Trước đây do trình độ sản xuất thấp cho nên người ta đã phải trồng cây lương thực trên hầu hết quỹ đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu lương thực cho mọi
Trang 16tầng lớp nhân dân Nhưng khi áp dụng khoa học kỹ thuật, người ta có thể tạo
ra những cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, thay thế cho những cây trồng có giá trị thấp Đất nông nghiệp được phân thành các loại sau:
- Theo thời hạn canh tác của từng loại cây trồng:
+ Đất trồng cây hàng năm
+ Đất trồng cây lâu năm
- Theo công dụng của đất:
+ Đất trồng cây lương thực
+ Đất trồng cây thực phẩm
+ Đất trồng cây công nghiệp
+ Đất trồng cây dược liệu, cây cảnh
+ Đất đồng cỏ
+ Đất trồng cây ăn quả
+ Đất chăn nuôi
- Theo tiêu chuẩn phân hạng đất:
+ Đất trồng cây hàng năm được phân ra làm 6 hạng
+ Đất trồng cây lâu năm được phân ra làm 5 hạng
- Căn cứ phân hạng đất theo nghị định 73/NĐ-CP là:
+ Chất đất
+ Vị trí
+ Địa hình
+ Điều kiện tưới tiêu
Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Chính vì thế quản lý đất nông nghiệp phải được chú trọng và quan tâm chặt chẽ để nhằm phát triển một nền nông nghiệp bền vững Thực hiện đa canh,
đa dạng hóa sản phẩm, kết hợp nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đạt hiệu quả cao
Trang 17b Đất lâm nghiệp:
Đất lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp, gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng để phục hồi tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp
Rừng không những tạo môi trường sinh thái cân bằng, điều hòa khí hậu dòng chảy mà còn cung cấp cho con người những loại gỗ quý, những cây dược liệu có giá trị cao, các loài động vật quý hiếm và hệ thực vật đa dạng phong phú
Ở Thái Nguyên, đất lâm nghiệp còn chiếm một tỉ lệ lớn trong diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh và chủ yếu phân bố ở một số huyện miền núi như Võ Nhai, Đại
Từ, Định Hóa Ở khu vực thành phố còn có hệ thống công viên cây xanh, cây xanh sinh thái ở các đường phố có tác dụng làm giảm bớt sự ô nhiễm của thành phố
Trong những năm gần đây, việc khai thác sử dụng đất lâm nghiệp trên toàn địa bàn tỉnh đã có nhiều tiến bộ theo trào lưu chung của công cuộc đổi mới Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã có tác dụng tích cực đến việc khai thác đất lâm nghiệp, việc nhân giống cây trồng, lựa chọn cây trồng phù hợp với từng vùng đã đem lại những hiệu quả to lớn trong việc trồng rừng Nhưng diện tích rừng vẫn có
xu hướng giảm xuống nhất là ở khu vực có đất lâm nghiệp Xu hướng biến đổi tích cực như chuyển một bộ phận đất lâm nghiệp sang trồng rừng, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả, thúc đẩy việc hình thành những vùng nông thôn mới, hình thành quan hệ chặt chẽ giữa nông nghiệp với lâm nghiệp Sự biến đổi tiêu cực của đất lâm nghiệp như diện tích đất trống đồi trọc ngày càng tăng, khai thác rừng bừa bãi làm trữ lượng các cây gỗ quý và các loài động vật quý hiếm ngày càng giảm, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái
Quỹ đất lâm nghiệp có đặc điểm:
- Phân bố ở vùng trung du miền núi, dân cư thưa thớt, cơ sở hạ tầng kém phát triển gây khó khăn cho việc khai thác đất lâm nghiệp
Trang 18- Địa hình phức tạp, độ dốc lớn, chất đất không đồng đều
- Nhiều vùng vẫn còn đất trống đồi trọc trơ sỏi đá chưa được phủ xanh
- Bình quân diện tích đất lâm nghiệp trên đầu người cao
c Đất ở nông thôn:
Đất khu dân cư nông thôn là đất thuộc vùng nông thôn được sử dụng
để xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ cho sinh hoạt ở nông thôn Ngoài ra một bộ phận đáng kể đất khu dân cư nông thôn dùng cho chăn nuôi gia súc, gia cầm như gà, lợn, trâu bò… Đất ở của hộ gia đình nông dân là đất
để làm nhà ở, chuồng trại chăn nuôi, kho tàng nhà xưởng
- Đất khu dân cư nông thôn có vai trò quan trọng trong sản xuất và đời sống của người dân
+ Đối với sản xuất: Đất khu dân cư nông thôn là địa điểm để chăn nuôi
và trồng trọt trong phạm vi diện tích của mỗi gia đình nông thôn Đất khu dân
cư nông thôn còn là nơi để xây dựng nhà ở đảm bảo các yêu cầu cuộc sống của người nông dân, để có thể tái sản xuất sức lao động phục vụ cho các quá trình sản xuất tiếp theo
+ Đối với đời sống: Đất khu dân cư nông thôn là địa điểm để xây dựng các công trình văn hóa vui chơi giải trí, thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt của người dân Quá trình đô thị hóa cùng với những tác động của cơ chế thị trường cũng làm cho đất khu dân cư nông thôn có nhiều biến động Một bộ phận diện tích đất khu dân
cư nông thôn chuyển sang đất đô thị để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như đường sá giao thông, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các khu nhà cao tầng Điều đó làm cho bộ mặt khu dân cư nông thôn có nhiều thay đổi tích cực, làm rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị Nhưng nó cũng mang lại những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường Đó là do quá trình đô thị hóa làm cho giá đất ngày càng tăng dẫn đến người dân ở khu vực nông thôn bán nhà bán đất, làm xáo trộn cuộc sống của họ, làm nảy sinh các cuộc tranh chấp đất đai ở nông thôn
Trang 19Đất khu dân cư nông thôn phải được quy hoạch để sử dụng một cách hợp lý, sắp xếp địa điểm không gian cho phù hợp với từng mục đích sử dụng
Hệ thống đường sá, trường học, bệnh viện … phải được bố trí gần nơi ở của người dân Để sử dụng một cách hợp lý đất khu dân cư nông thôn, công tác quản lý nhà nước về đất khu dân cư nông thôn phải được tăng cường từ cấp
xã để ổn định đời sống xã hội nông thôn Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho những người ở nông thôn có chỗ ở trên cơ sở tận dụng những khu dân cư sẵn có Mỗi hộ gia đình ở nông thôn được sử dụng không quá 400m2 theo quy định của chính phủ tùy theo từng vùng
d Đất đô thị:
Đất đô thị là đất nội thành, nội thị xã, thị trấn được quy hoạch sử dụng
để xây dựng nhà ở, trụ sở cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở
hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, an ninh quốc phòng và các mục đích khác Ngoài ra theo quy định tại Nghị định số 88/NĐ-CP ngày 17/8/1994 của chính phủ về quản lý đất đô thị và đất ngoại thành, ngoại thị xã, những loại đất này nếu đã có quy hoạch của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để phát triển đô thị cũng được tính vào đất đô thị
Quá trình đô thị hóa làm tăng thêm các đô thị, sự phát triển của các đô thị là do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng để phù hợp với sự phát triển chung của cả nước Sự phát triển tất yếu này làm cho đất đô thị tăng lên và đất nông, lâm nghiệp giảm đi
Đất đô thị có những đặc điểm sau:
- Nguồn gốc đất đô thị là do hình thành tự nhiên hoặc do đất nông, lâm nghiệp và đất chưa sử dụng được chuyển đổi mục đích sử dụng sau khi có quy hoạch và các dự án đầu tư, được xây dựng cơ sở hạ tầng khi sử dụng
- Muốn chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép
Trang 20- Từng lô đất, từng khu đất trong đô thị có vị trí cố định, mỗi vị trí có đặc thù riêng, không giống với bất cứ một vị trí nào
- Đất đô thị là tài sản đặc biệt có giá trị cao, giá trị từng lô đất phụ thuộc vào vị trí và mục đích sử dụng của chúng
- Đất đô thị đan xen nhiều hình thức sử dụng Giá trị sử dụng và mục đích
sử dụng của từng lô đất có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá đất đô thị
Theo mục đích sử dụng, đất đô thị được phân thành các loại sau:
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng như: đường giao thông, bến xe, công viên, các công trình giao thông tĩnh, cấp thoát nước, đường dây tải điện
- Đất sử dụng cho quốc phòng, an ninh, các cơ quan ngoại giao và các khu hành chính đặc biệt
- Căn cứ vào quy hoạch xây dựng đô thị, đất đô thị gồm:
+ Đất dân dụng: bao gồm đất để xây dựng các khu ở, các trung tâm phục vụ công cộng, cây xanh, giao thông, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
+ Đất ngoài khu dân dụng: bao gồm đất xây dựng công nghiệp, kho tàng bến bãi, các trung tâm đối ngoại, an ninh quốc phòng, các cơ quan ngoài
đô thị và các loại đất khác
Trang 21- Căn cứ vào nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất:
+ Đất cho thuê, chủ yếu để xây dựng các công trình sản xuất kinh doanh dịch vụ và giao đất sử dụng có thời hạn
+ Đất giao có thu tiền sử dụng đất
+ Đất giao không thu tiền sử dụng
e Đất chuyên dùng:
Đất chuyên dùng là đất được xác định sử dụng vào mục đích không phải
là nông nghiệp, lâm nghiệp, làm nhà ở bao gồm: Đất xây dựng các công trình công nghiệp khoa học kỹ thuật, hệ thống giao thông, hệ thống thủy lợi, đê điều, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, y tế, thể dục thể thao, đất dùng cho thăm
dò khai thác khoáng sản, đá, cát, đất làm muối, gạch ngói, vật liệu xây dựng khác, đất di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất có mặt nước sử dụng vào các mục đích không phải là sản xuất nông nghiệp
Đất chuyên dùng có thể phân thành các loại sau:
- Đất tham gia trực tiếp của các ngành ngoài nông - lâm nghiệp: Đất xây dựng công trình, viện nghiên cứu khoa học, trạm trại thí nghiệm, đất xây dựng các cơ sở dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, cửa hàng, siêu thị…Đất đai hoạt động trong lĩnh vực này đóng vai trò nền móng địa điểm để xây dựng nên những công trình đó nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất phục vụ cho các nhu cầu của toàn xã hội
- Đất xây dựng cơ sở hạ tầng: Xây dựng các công trình thủy lợi giao thông đê điều…
- Đất cho các hoạt động văn hóa xã hội: Xây dựng các công trình văn hóa như nhà hát, viện bảo tàng, trường học các cấp, thư viện Các cơ sở y tế như phòng khám, bệnh viện, các cơ sở thể thao như sân vận động, nhà thi đấu, bể bơi…
- Đất khai thác nguyên liệu: Làm gạch ngói đồ gốm đá cát, phục vụ cho xây dựng Việc khai thác đất cho mục đích này làm ảnh hưởng nghiêm trọng
Trang 22đến đất cũng như môi trường sinh thái, bởi vậy cần gắn việc khai thác đất với bảo vệ môi trường
- Đất sử dụng cho quốc phòng an ninh: bao gồm đất xây dựng các trụ
sở công an, cảnh sát, đất sử dụng làm căn cứ an ninh quốc phòng, xây dựng các công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và các tuyến phòng thủ đặc biệt, đất sử dụng làm ga, cảng quân sự, đất sử dụng làm các công trình công nghiệp, khoa học kỹ thuật phục vụ an ninh quốc phòng, đất sử dụng làm trường bắn thao trường thử vũ khí
- Các loại đất chuyên dùng khác: gồm đất làm nghĩa địa nghĩa trang, đất có mật nước không sử dụng vào các mục đích sản xuất nông - lâm nghiệp Đất sử dụng làm nghĩa trang, nghĩa địa là nơi chôn cất những người đã mất, nhu cầu sử dụng các loại đất này ngày càng cao Việc sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa phải theo quy hoạch, bảo vệ môi trường sinh thái để không ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân
Đất chưa sử dụng:
Đất chưa sử dụng là đất chưa được sử dụng vào mục đích nào cả Nó đồng nghĩa với đất hoang theo nghĩa chưa có chủ cụ thể và chưa được đưa vào khai thác
sử dụng, nó bao hàm đất có khả năng nông nghiệp - lâm nghiệp thủy sản hoặc đất
có thể đưa hoặc đã đưa vào hoạt động nhưng còn đang trong quá trình chuyển giao hoặc xác lập quyền sử dụng hợp pháp, tạm thời còn chưa sử dụng
Đất chưa sử dụng dùng để bổ sung cho các loại đất khác, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Tuy vậy hiện nay đất chưa sử dụng vẫn còn nhiều Chính sách giao đất cho các nông - lâm trường trước đây không cân đối giữa điều kiện khai thác với đất đai làm cho đất đai bị bỏ hoang hóa Ngay tại các trung tâm công nghiệp, các thành phố cũng để đất đai không sử dụng do chính sách cho không đất cho các xí nghiệp, do chưa có sự đầu tư một cách hợp lý
Trang 23Ở tỉnh Thái Nguyên, đất chưa sử dụng chủ yếu phân bố ở một số huyện, những vùng khó khăn dân cư thưa thớt Việc khai thác đất chưa sử dụng đòi hỏi phải tập trung nhân lực vật lực một cách đầy đủ và hợp lý đảm bảo các mục tiêu đề ra, tiến hành điều tra khảo sát, đánh giá đúng thực trạng của đất chưa sử dụng để có phương hướng khai thác đất một cách hợp lý
1.1.1.2 Quản lý Nhà nước về đất đai
* Khái niệm
Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản
lý Nhà nước đại diện cho nhân dân để quản lý toàn bộ quỹ đất đai trong phạm vi lãnh thổ của Nhà nước Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền định đoạt số phận của đất đai thông qua việc Nhà nước giao đất, cho thuê, thu hồi đất khi cần thiết Các đối tượng sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Quản lý đất đai là một biện pháp cách thức quan trọng mà nhà nước sử dụng quản lý đất đai nhằm hạn chế hoặc ngăn chặn những hành vi xâm phạm chế độ công hữu đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chủ sở hữu đất đai và người sử dụng đất, ổn định phương thức sử dụng đất đai xã hội chủ nghĩa Nói tóm lại đó là toàn bộ các quy phạm pháp luật mà Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước đối với đất đai Các quan hệ xã hội đối với đất đai bao gồm quan hệ về
sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản phẩm tạo ra do sử dụng đất
Trên cơ sở sở hữu toàn dân đối với đất đai thì quyền năng thống nhất quản lý đối với đất đai được thực hiện trực tiếp bằng việc xác lập các quy phạm pháp luật về quản lý đất đai của các cơ quan quyền lực, được thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do nhà nước lập ra Các quy phạm
Trang 24pháp luật về đất đai được thực hiện thông qua tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất theo những quy định giám sát của cơ quan Nhà nước
Nước ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng chế
độ sở hữu cho phù hợp với cơ chế mới Theo đó đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân, ruộng đất được giao cho người dân để sử dụng ổn định lâu dài Rừng biển, hầm mỏ, nguồn nước, nguồn tài nguyên trong lòng đất đều thuộc
sở hữu toàn dân
Vấn đề sử dụng đất đai được thực hiện thông qua hình thức Nhà nước giao đất cho thuê đất cho các đối tượng sử dụng đất Nhà nước luôn có chính sách đảm bảo cho mọi đối tượng đều có đất để đầu tư sản xuất kinh doanh, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản… Vấn đề tổ chức hợp lý việc sử dụng đất đai là cốt lõi của công tác quản lý và được xác định theo cơ cấu, vị trí không gian của diện tích đất sử dụng Nó đòi hỏi phải nghiên cứu các yêu cầu khách quan của sản xuất
xã hội đối với việc sử dụng đất đai, nghiên cứu vai trò chi phối của phương thức sản xuất xã hội đối với đất đai mà còn nghiên cứu các đặc trưng tính chất của đất Chỉ có nhận thức đúng đắn, nắm vững các quy luật khách quan của tự nhiên và kinh tế mới có thể đạt mục đích sử dụng triệt để và hợp lý đất đai
Việc bố trí sử dụng đất đai còn liên quan tới quy hoạch hợp lý các công trình kiến trúc, cụm dân cư, hệ thống giao thông, kênh rạch thủy lợi nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Vì vậy mục tiêu cơ bản của công tác quản lý đất đai là sự kết hợp hữu cơ giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội trong việc sử dụng đất một cách triệt để nhất
Việc phân phối các sản phẩm làm ra từ đất liên quan đến nghĩa vụ tài chính cả người sử dụng đất Trong sản xuất nông nghiệp, sản phẩm làm ra được phân phối đến tay người tiêu dùng.Trong sản xuất công nghiệp, kinh doanh… thì người sử dụng đất sẽ cung cấp các sản phẩm vật chất được tạo ra từ đất đến
Trang 25người tiêu dùng và phải nộp thuế sử dụng đất Người nào sử dụng nhiều đất đai,
ở vị trí thuận lợi thì phải nộp thuế nhiều hơn và ngược lại
* Sự cần thiết phải quản lý Nhà nước về đất đai
Trong nền kinh tế nói chung, nhu cầu bản thân các doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước Quá trình sản xuất kinh doanh làm nảy sinh mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau Các doanh nghiệp đều có lợi ích riêng của mình và họ luôn tìm mọi cách để tối đa hóa lợi ích đó Họ có thể thấy rõ hoặc không thấy rõ để đạt được mục đích của mình thì họ đã vi phạm đến lợi ích của người khác Từ đó tất yếu nảy sinh ra hiện tượng: lợi ích của cá nhân hay bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc dân Biểu hiện về mặt xã hội của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo cản trở nhau, sự phân
bố nguồn lực không hợp lý, các vấn đề chính trị xã hội phát sinh Bởi vậy phải có một người đứng ra làm trung gian giải quyết, cân bằng mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đóng vai trò quyết định nền kinh tế, góp phần tạo ra tích lũy, sự phát triển của doanh nghiệp thể hiện sự phát triển của quan hệ sản xuất Doanh nghiệp đầu tư nguồn vốn, lao động, áp dụng công nghệ khoa học để tạo ra năng suất chất lượng sản phẩm ngày càng cao, giá thành hạ đáp ứng cho nhu cầu của xã hội Các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh tham gia vào môi trường cạnh tranh, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả sản xuất Nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường không thể tách rời môi trường Chính trị - xã hội Nếu môi trường không ổn định thường xuyên có các xung đột chính trị giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội, các quan hệ buôn bán trên thị trường không lành mạnh mang tính chất lừa đảo thì cơ chế thị trường sẽ không phát huy tác dụng Từ đó dẫn đến các sai lệnh và những khuyết tật của cơ chế thị
Trang 26trường khó có thể khắc phục được làm cho xã hội rối ren trở nên khủng khoảng Bởi vậy đòi hỏi phải có vai trò quản lý của Nhà nước, một tổ chức, một doanh nghiệp dù có lớn đến đâu cũng không thể thay thế được vai trò đó Trong hoạt động thực tế của doanh nghiệp có rất nhiều vấn đề nảy sinh như cơ
sở hạ tầng, môi trường… mà bản thân doanh nghiệp cũng không thể giải quyết được Mặt khác, các doanh nghiệp luôn tối đa hóa lợi nhuận làm cạn kiệt tài nguyên môi trường bởi vậy cũng cần phải có sự quản lý của Nhà nước
Đối với nước ta, xuất phát từ mục tiêu của cách mạng Việt Nam là xây dựng Việt Nam thành một nước Xã hội chủ nghĩa theo cơ chế thị trường Với mục tiêu như vậy, trong các Đại hội Đảng đã xác định nước ta đi theo con đường Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nhưng xuất phát điểm của nước ta là từ một nước nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu Chúng ta phải xây dựng nhà nước pháp quyền để quản lý mọi lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai Nhà nước giao đất cho các hộ gia đình sử dụng lâu dài ổn định, nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở
Khi tham gia vào nền kinh tế thị trường, đất đai có sự thay đổi căn bản
về bản chất kinh tế - xã hội: Từ là tư liệu sản xuất, điều kiện sống chuyển sang
là tư liệu sản xuất chứa đựng yếu tố sản xuất hàng hóa, phương diện kinh tế của đất trở thành yếu tố chủ đạo quy định sự vận động của đất đai theo hướng ngày càng nâng cao hiệu quả Đặc biệt trong tình hình hiện nay, giá đất cũng như lợi nhuận khi đầu tư vào đất có sự biến động không ngừng đã khiến cho tình trạng tranh chấp lấn chiếm đất đai xảy ra, làm ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Trong sản xuất nông nghiệp, khi tham gia vào cơ chế thị trường đất đai cũng chứa đựng nguy cơ quay về sản xuất tự cấp tự túc nếu người sử dụng đất không đủ năng lực, nếu thị trường bất lợi kéo dài Hơn nữa, đất đai cũng là một nguồn vốn tham gia vào sản xuất hàng hóa, việc sử dụng đất lại rất cần có vốn cho nên hình thành thị trường đất đai là một là một động
Trang 27lực quan trọng để góp phần hoàn thiện hệ thống thị trường quốc gia Chính vì vậy việc quản lý nhà nước về đất đai là hết sức cần thiết nhằm phát huy những
ưu thế của cơ chế thị trường và hạn chế những khuyết tật của thị trường khi sử dụng đất đai, ngoài ra còn làm tăng tính pháp lý của đất đai
Tóm lại, việc khai thác những ưu điểm và hạn chế những khuyết tật của
cơ chế thị trường đặc biệt là các quan hệ đất đai vận động theo cơ chế thị trường thì không thể thiếu được sự quản lý của nhà nước với tư cách là chủ thể của nền kinh tế quốc dân Như vậy, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý là một đòi hỏi khách quan, là nhu cầu tất yếu trong việc sử dụng đất đai Nhà nước không chỉ quản lý bằng công cụ pháp luật, các công cụ tài chính mà Nhà nước còn kích thích khuyến khích mọi đối tượng sử dụng đất đai hiệu quả, tiết kiệm bằng các biện pháp kinh tế Biện pháp kinh tế tác động trực tiếp đến lợi ích của người sử dụng đất và đây là một biện pháp hữu hiệu trong cơ chế thị trường, nó làm cho các đối tượng sử dụng đất có hiệu quả hơn, làm tốt công việc của mình, vừa bảo đảm được lợi ích cá nhân cũng như lợi ích của toàn xã hội
* Vai trò của quản lý nhà nước về đất đai
Cơ chế quản lý kinh tế mới hiện nay ở nước ta là cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước bằng các công cụ kế hoạch, pháp luật, chính sách…Nhà nước đóng vai trò điều tiết vĩ mô nhằm phát huy những mặt tích cực hạn chế những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường Cơ chế thị trường không làm giảm nhẹ vai trò quản lý của nhà nước đối với đất đai mà đòi hỏi
sự tăng cường quản lý chặt chẽ hơn nữa Bên cạnh đó, chúng ta đang thực hiện quá trình đổi mới, mở rộng quan hệ quốc tế trong xu thế gia nhập AFTA như hiện nay và đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) thì càng đòi hỏi phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với mọi lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai vì những vai trò to lớn và ý nghĩa quan trọng của đất đai như đã nêu trên Vấn đề đặt ra là nhà nước phải
Trang 28có phương thức quản lý để phù hợp với sự vận động của lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất, phương thức quản lý như thế nào để có thể vận dụng đầy
đủ các quy luật khách quan của nền kinh tế như quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu
Trong điều kiện kinh tế bao cấp, các mối quan hệ về sử dụng đất thật sự chưa gắn bó với kết quả sản xuất, hiệu quả sử dụng đất Giá trị to lớn của đất đai chưa được phát huy đầy đủ, sản phẩm làm ra là tự cấp tự túc, chưa có sự trao đổi hàng hóa Sau khi đổi mới cơ chế kinh tế, do chú trọng gắn lợi ích với trách nhiệm của người sử dụng đất cho nên đất đai được sử dụng ngày càng hiệu quả hơn
Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là phương tiện để phát triển sản xuất liên quan mật thiết đến các hoạt động kinh tế - xã hội và liên quan đến quy hoạch tổng thể chung của cả nền kinh tế
Vai trò của Nhà nước trong quản lý đất đai là một yêu cầu cần thiết để điều hòa các mối quan hệ giữa chủ thể quản lý là Nhà nước và người sử dụng đất
Vai trò quản lý của Nhà nước về đất đai được cụ thể như sau:
- Thông qua hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phân bổ, sử dụng đất đai có cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho các mục đích kinh tế - xã hội của đất nước Bằng các công cụ đó, Nhà nước sẽ đảm bảo cho việc sử dụng đất đúng mục đích, đạt hiệu quả cao, giúp cho nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai, giúp cho người sử dụng đất có biện pháp hữu hiệu để khai thác đất Nhờ có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, từng miếng đất, lô đất sẽ được giao cho các đối tượng cụ thể để thực hiện các mục tiêu quan trọng của Nhà nước Đó là mục đích được hoạch định từ trước, thông qua quy hoạch, đất đai
sẽ không bị bỏ hoang, xóa bỏ được các tụ điểm tệ nạn xã hội để xây dựng thành khu vui chơi giải trí
Trang 29- Thông qua công tác đánh giá phân hạng đất, Nhà nước nắm chắc toàn bộ quỹ đất đai cả về số lượng và chất lượng làm căn cứ cho các biện pháp kinh tế xã hội có hệ thống, có căn cứ khoa học nhằm sử dụng đất đai hiệu quả và hợp lý
- Thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai, Nhà nước tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân trong quan hệ về đất đai Bằng hệ thống pháp luật và các văn bản pháp qui, Nhà nước xác định địa vị pháp lý cho các đối tượng sử dụng Trên cơ sở đó Nhà nước điều chỉnh hành vi của các đối tượng
sử dụng đất, hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là không hợp pháp
- Thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống chính sách về đất đai như chính sách giá cả, chính sách thuế, đầu tư, chính sách tiền tệ, tín dụng… nhà nước kích thích các chủ thể kinh tế, các cá nhân sử dụng đầy đủ hợp lý đất đai, tiết kiệm đất nhằm nâng cao khả năng sinh lời của đất, để góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của cả nước và để bảo vệ môi trường Các chính sách đất đai là những công cụ để nhà nước thực hiện vai trò quản lý trong từng giai đoạn nhất định Nhà nước tạo môi trường thông thoáng, cải cách các thủ tục đầu tư, điều chỉnh các công cụ quản lý đó để thu hút các nguồn lực đầu tư vào đất
- Thông qua việc kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất, nhà nước nắm chắc tình hình diễn biến về sử dụng đất đai, phát hiện những vi phạm và giải quyết những vi phạm đó Với vai trò này, Nhà nước đảm bảo cho các quan hệ sử dụng đất đai được vận hành theo đúng quy định của Nhà nước Với việc kiểm tra giám sát, Nhà nước có nhiệm vụ phát hiện kịp thời các sai sót ách tắc, các vi phạm trong sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
Vai trò này được Nhà nước tiến hành với nhiều nội dung khác nhau như:
+ Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch của các ngành các cấp
Trang 30+ Kiểm tra giám sát việc chấp hành thực hiện các văn bản pháp lý, chủ trương chính sách của Nhà nước
+ Kiểm tra kiểm soát việc sử dụng đất của cả nước cũng như của từng
hộ gia đình cá nhân
+ Kiểm tra các công cụ và chính sách quản lý
+ Kiểm tra việc thực hiện các vai trò, chức năng quản lý của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai
1.1.2 Kinh nghiệm quản lý và sử dụng đất đai của một số nước trên thế giới và Việt Nam
1.1.2.1 Kinh nghiệm quản lý và sử dụng đất đai của một số nước trên thế giới
* Kinh nghiệm của Mỹ
Nước Mỹ có diện tích tự nhiên khoảng 9,4 triệu km2, dân số hơn 300 triệu, đất đô thị chuyên dùng chiếm 11,9% diện tích tự nhiên Là một quốc gia phát triển, Mỹ có hệ thống pháp luật về đất đai rất phát triển có khả năng điều chỉnh được các quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp nhất Luật đất đai của Mỹ quy định công nhận và khuyến khích quyền sở hữu tư nhân về đất đai; các quyền này được pháp luật bảo hộ rất chặt chẽ như là một quyền cơ bản của công dân Cho đến nay có thể thấy, các quy định này đang phát huy rất có hiệu quả trong việc phát triển kinh tế đất nước, vì nó phát huy được hiệu quả đầu tư để nâng cao giá trị của đất đai và làm tăng đáng kể hiệu quả sử dụng đất trong phạm vi toàn xã hội Mặc dù công nhận quyền sở hữu tư nhân, nhưng luật đất đai của Mỹ vẫn khẳng định vai trò ngày càng lớn và có vị trí quyết định của Nhà nước trong quản lý đất đai Các quyền định đoạt của Nhà nước bao gồm: Quyền quyết định về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quyền quy định về quy hoạch kiến trúc đô thị và công trình xây dựng; quyền quy định về mục đích sử dụng đất; quyền xử lý các tranh chấp về quyền sử dụng đất và quyền ban hành các quy định về tài chính đất; quyền thu hồi đất
Trang 31thuộc sở hữu tư nhân để phục vụ các lợi ích công cộng trên cơ sở đền bù công bằng cho người bị thu hồi Về bản chất quyền sở hữu tư nhân về đất đai ở
Mỹ cũng chỉ tương đương quyền sử dụng đất ở Việt Nam
* Kinh nghiệm của Trung Quốc
Theo Trung Quốc, quốc gia này đang xây dựng mô hình phát triển theo hình thái xã hội XHCN mang đặc sắc Trung Quốc Với dân số đông nhất thế giới (1,3 tỷ người năm 2005), trong đó dân số nông nghiệp chiếm gần 80% Tổng diện tích đất đai toàn quốc là 9.682.796 km2, trong đó diện tích đất canh tác là trên 100 triệu ha, chiếm 7% diện tích đất canh tác toàn thế giới Trung Quốc bắt đầu công cuộc công nghiệp hóa từ năm 1978, cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và cách mạng công nghiệp, tốc độ đô thị hóa ở Trung Quốc cũng diễn ra rất mạnh mẽ Vì vậy, việc giải quyết quan hệ xã hội về đất đai ở Trung Quốc là rất đáng quan tâm Quản lý đất đai ở Trung Quốc có một số đặc điểm nổi bật:
Một là, về quan hệ sở hữu đất đai, Trung Quốc tiến hành cải cách ruộng
đất, chia ruộng đất cho nông dân từ năm 1949, tuy nhiên, hình thức sở hữu tư nhân về đất đai cũng chỉ tồn tại một thời gian ngắn Sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước về đất đai đã được thiết lập ở Trung Quốc từ thập kỷ 50 của thế kỷ
XX Năm 1978, Trung Quốc đã khôi phục kinh tế tư nhân, thừa nhận hộ nông dân là một thành phần kinh tế, Nhà nước tiến hành giao đất cho hộ nông dân
để tổ chức sản xuất, thay cho mô hình nông trang tập thể Điều 10 Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc và Luật quản lý đất quy định: đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, trong
đó toàn bộ đất đai thành thị thuộc về sở hữu nhà nước Đất nông thôn và ngoại ô thành phố, ngoài đất do pháp luật quy định thuộc về sở hữu nhà nước, còn lại là sở hữu tập thể
Trang 32Hiến pháp năm 1988 (Điều 2) quy định việc Nhà nước giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng dưới dạng giao quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất đã được phép chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp… tức là đã cho phép người sử dụng đất được quyền định đoạt về đất đai, Nhà nước chỉ khống chế bằng quy định mục đích sử dụng đất và thời gian sử dụng đất (quy định là từ 40 -
70 năm) "Đạo luật tạm thời về bán và chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhà nước tại các thành phố và thị trấn”, ban hành năm 1990 quy định cụ thể điều kiện để chủ sử dụng đất được phép chuyển nhượng sau khi được giao đất là: nộp
đủ tiền sử dụng đất cho Nhà nước; đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đã đầu tư vào sử dụng đất theo đúng mục đích được giao (thông thường là từ 25% trở lên theo dự toán xây dựng công trình khi lập hồ sơ xin giáo đất) Chủ sử dụng đất nếu không thực hiện đúng các quy định sẽ bị thu hồi đất
Hai là, về quy hoạch sử dụng đất Luật pháp Trung Quốc quy định,
Nhà nước có quyền và có trách nhiệm xây dựng quy hoạch sử dụng đất trong phạm vi cả nước và trong từng cấp chính quyền theo đơn vị hành chính lãnh thổ Đối với đất đai thành thị, Nhà nước tiến hành quản lý bằng quy hoạch Quy hoạch tổng thể thành phố là kế hoạch có tính tổng thể, lâu dài, chiến lược
và chỉ đạo về phát triển kinh tế và xã hội với các công trình xây dựng của thành phố, bao gồm các nội dung chính:
Tính chất của thành phố, mục tiêu và quy mô phát triển
Tiêu chuẩn xây dựng chủ yếu và chỉ tiêu định mức của thành phố
Bố cục chức năng, phân bố phân khu và bố trí tổng thể các công trình của đất dùng xây dựng thành phố
Hệ thống giao thông tổng hợp và hệ thống sông hồ, hệ thống cây xanh thành phố
Trang 33Các quy hoạch chuyên ngành và quy hoạch xây dựng trước mắt…Luật cũng quy định cụ thể quy hoạch của cấp dưới phải tuân thủ quy hoạch của cấp trên và phải được cấp có thẩm quyền phê chuẩn mới được thi hành
Ba là, về công tác thống kê, phân loại đất đai Luật quản lý đất đai của
Trung Quốc quy định, đất đai được chia làm 8 loại chính:
Đất dùng cho nông nghiệp: là đất đai trực tiếp sử dụng cho sản xuất nông nghiệp bao gồm đất canh tác, đồng cỏ, đất nuôi trồng thủy sản
Đất xây dựng: là đất được sử dụng để xây dựng công trình kiến trúc, nhà cửa đô thị, dùng cho mục đích công cộng, khai thác khoáng sản, đất sử dụng trong các công trình an ninh quốc phòng
Đất chưa sử dụng: là loại đất còn lại không thuộc 2 loại đất nêu trên Nhà nước quy định tổng kiểm kê đất đai 5 năm 1 lần và có thống kê đất đai hàng năm, việc thống kê đất đai hàng năm được tiến hành ở các cấp quản lý theo đơn vị hành chính từ trung ương đến địa phương; Hồ sơ đất đai được thiết lập đến từng chủ sử dụng đất và cập nhật biến động liên quan đến từng chủ sử dụng đất, đến từng mảnh đất
Bốn là, về tài chính đất Ở Trung Quốc không có hình thức giao đất ổn
định lâu dài không thời hạn, do đó, Luật quy định Nhà nước thu tiền khi giao đất, người sử dụng đất phải nộp đủ tiền sử dụng đất cho Nhà nước mới được thực hiện các quyền; Nhà nước coi việc giao đất thu tiền là biện pháp quan trọng để tạo ra nguồn thu ngân sách đáp ứng nhu cầu về vốn để phát triển
Do đất nông thôn, ngoại thành là thuộc sở hữu tập thể, vì vậy để phát triển đô thị, Nhà nước Trung Quốc phải tiến hành trưng dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp thành đất đô thị Ngoài việc luôn đảm bảo diện tích đất canh tác để ổn định an ninh lương thực bằng biện pháp yêu cầu bên được giao đất phải tiến hành khai thác đất chưa sử dụng, bù vào đúng với diện tích canh tác bị mất đi Nhà nước Trung Quốc còn ban hành quy định về phí
Trang 34trưng dụng đất Đó là các loại chi phí mà đơn vị sử dụng đất phải trả gồm: Chi phí đền bù đất, do đơn vị phải trả cho nông dân bị trưng dụng đất; chi phí đền
bù đầu tư đất: là phí đền bù cho đầu tư bị tiêu hao trên đất, tương tự phí đền bù tài sản trên đất ở Việt Nam; chi phí đền bù sắp xếp lao động, và phí đền bù sinh hoạt phải trả cho đơn vị bị thu hồi đất; chi phí quản lý đất Công tác giải phóng mặt bằng ở Trung Quốc tiến hành thuận lợi là do Nhà nước chủ động được vấn
đề tái định cư cho người bị thu hồi đất và nhờ có biện pháp chuyên chính mạnh Đặc biệt với sự sửa đổi bổ sung Hiến pháp năm 2002, Nhà nước Trung Quốc đã công nhận quyền sở hữu tư nhân về bất động sản, công nhận và có chính sách để thị trường giao dịch bất động sản hoạt động hợp pháp Với những quy định mang tính cải cách lớn như vậy, Trung Quốc đã tạo ra được một thị trường bất động sản khổng lồ Trung Quốc cũng quy định mỗi hộ gia đình ở nông thôn chỉ được phép sử dụng một nơi làm đất ở và không vượt quá hạn mức quy định của cấp tỉnh, thành Người dân ở nông thôn sau khi đã bán nhà hoặc cho thuê nhà sẽ không được Nhà nước cấp thêm Quyền sử dụng đất thuộc sở hữu tập thể không được phép chuyển nhượng hoặc cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp Tuy nhiên, do đặc thù của quan hệ sở hữu nhà nước về đất đai, ở Trung Quốc nạn tham nhũng tiêu cực trong quản lý sử dụng đất cũng khá phức tạp và nặng nề như ở Việt Nam, vì cơ chế xin cho, cấp, phát, đặc biệt
là trong việc khai thác đất đai thành thị Mặc dù Trung Quốc cũng đã quy định
để khai thác đất đai thành thị buộc phải thông qua các công ty dưới dạng đấu thầu hoặc đấu giá
* Kinh nghiệm của Pháp
Pháp là quốc gia phát triển, tuy thể chế chính trị khác nhau, nhưng ảnh hưởng của phương pháp tổ chức quản lý trong lĩnh vực đất đai của Pháp còn khá rõ đối với nước ta Vấn đề này có thể lý giải vì Nhà nước Việt Nam hiện đang khai thác khá hiệu quả những tài liệu quản lý đất đai do chế độ thực dân
Trang 35để lại, đồng thời ảnh hưởng của hệ thống quản lý đất đai thực dân còn khá rõ nét trong ý thức của một bộ phận công dân Việt Nam hiện nay Quản lý đất đai của Pháp có một số đặc trưng là:
Về chế độ sở hữu trong quan hệ đất đai, Luật pháp quy định quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Ở Pháp hiện còn tồn tại song hành hai hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu tư nhân về đất đai và sở hữu nhà nước đối với đất đai và công trình xây dựng công cộng Tài sản công cộng bao gồm cả đất đai công cộng có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất cho các mục đích công cộng, Nhà nước có quyền yêu cầu chủ sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng
Về công tác quy hoạch đô thị, do đa số đất đai thuộc sở hữu tư nhân, vì vậy để phát triển đô thị, ở Pháp công tác quy hoạch đô thị được quan tâm chú
ý từ rất sớm và được thực hiện rất nghiêm ngặt Ngay từ năm 1919, Pháp đã ban hành Đạo luật về kế hoạch đô thị hóa cho các thành phố có từ 10.000 dân trở lên Năm 1973 và năm 1977, Nhà nước Pháp đã ban hành các Nghị định quy định các quy tắc về phát triển đô thị, là cơ sở để ra đời Bộ Luật về chính sách đô thị Đặc biệt, vào năm 1992, ở Pháp đã có Luật về phân cấp quản lý, trong đó có sự xuất hiện của một tác nhân mới rất quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước về quy hoạch đó là cấp xã Cho đến nay, Luật Đô thị ở Pháp vẫn không ngừng phát triển, nó liên quan đến cả quyền sở hữu tư nhân
và sự can thiệp ngày càng sâu sắc hơn của Nhà nước, cũng như của các cộng đồng địa phương vào công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch đô thị Nó mang ý nghĩa kinh tế rất lớn thông qua việc điều chỉnh mối quan hệ giữa các ngành khác nhau như bất động sản, xây dựng và quy hoạch lãnh thổ
Trang 36Về công tác quản lý nhà nước đối với đất đai, mặc dù là quốc gia duy
trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai, nhưng công tác quản lý về đất đai của Pháp được thực hiện rất chặt chẽ Điều đó được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính Hệ thống hồ sơ địa chính rất phát triển, quy củ và khoa học, mang tính thời sự để quản lý tài nguyên đất đai và thông tin lãnh thổ, trong
đó thông tin về từng thửa đất được mô tả đầy đủ về kích thước, vị trí địa lý, thông tin về tài nguyên và lợi ích liên quan đến thửa đất, thực trạng pháp lý của thửa đất Hệ thống này cung cấp đẩy đủ thông tin về hiện trạng sử dụng đất, phục vụ nhiệm vụ quy hoạch, quản lý và sử dụng đất có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, đảm bảo cung cấp thông tin cho hoạt động của ngân hàng
và tạo cơ sở xây dựng hệ thống thuế đất và bất động sản công bằng
Như vậy, có thể nói, hầu hết các quốc gia trên thế giới, dù quy định chế
độ sở hữu đối với đất đai khác nhau, đều có xu hướng ngày càng tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai Xu thế này phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ kinh tế, chính trị theo xu thế toàn cầu hóa hiện nay Mục tiêu của mỗi quốc gia là nhằm quản lý chặt chẽ, hiệu quả tài nguyên trong nước, tăng cường khả năng cạnh tranh để phục vụ cao nhất cho quyền lợi của quốc gia, đồng thời có những quy định phù hợp với xu thế
mở cửa, phát triển, tạo điều kiện để phát triển hợp tác đầu tư giữa các quốc gia thông qua các chế định pháp luật thông thường, cởi mở nhưng vẫn giữ được ổn định về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia
1.1.2.2 Quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam
Sau khi Luật Đất đai năm 2003 được ban hành, hoạt động quản lý nhà nước về đất đai ở Việt Nam ngày càng được cụ thể hoá, nhất là việc phân cấp quản lý đất đai giữa Trung ương và địa phương; giữa các cơ quan quản lý đất đai trong hệ thống chính quyền địa phương các cấp đã làm thay đổi nhận thức
Trang 37cũng như năng lực vận hành của hệ thống quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về đất đai nói riêng Việc phân cấp quản lý trong lĩnh vực này đã phát huy tác dụng và đã đạt cho thấy hiệu quả của sự đổi mới công tác quản lý nhà nước về đất đai; các quy định pháp luật về phân cấp trong quản lý đất đai đã thể hiện rõ quan điểm, chủ trương của Nhà nước trong việc quản lý các nguồn lực đất đai, điều tiết các quan hệ đất đai và các đối tượng bất động sản khác nhằm xoá bỏ độc quyền của Nhà nước đối với đất đai, đảm bảo chuyển phần lớn quyền sử dụng đất vào tay các pháp nhân, thể nhân, cho phép các chủ thể sử dụng đất sử dụng có hiệu quả theo cơ chế thị trường dựa trên những đặc tính, đặc trưng của đất đai như tính ổn định về số lượng, chất lượng; tính bất động của đất đai Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai ở nức ta đã thể hiện những hạn chế nhất định:
Thứ nhất, việc phân cấp quản lý đất đai trong hoạt động quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước thời gian qua là nhằm kiểm tra tính hợp pháp, tính thống nhất, tính khoa học, tính hợp lý và tính khả thi của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được lập, song trên thực tế việc xác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà Luật Đất đai quy định cho 4 cấp, trong đó có
cả cấp xã không thuộc quy hoạch phát triển đô thị (Điều 25, khoản 3, 4 Luật Đất đai), kể cả cấp huyện là không khả thi Bởi vì, theo quy định, cấp xã chỉ
có từ 1 đến 2 cán bộ địa chính, nhiều người lại chưa được trang bị kiến thức, trình độ của quản lý đất đai, nhất là trong việc tham mưu cho Chủ tịch UBND
xã trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương Đối với cấp huyện, khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhất là quy hoạch sử dụng đất chi tiết 1/2000; 1/500 thì trình độ của cán bộ cấp huyện cũng chưa thể đáp ứng yêu cầu của quá trình phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhất là việc sử dụng đất ở tại các đô thị
Trang 38Vì vậy, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất những năm qua đã làm cho việc sử dụng đất manh mún, không đáp ứng nhu cầu của quản lý và
sử dụng đất của cả nước cũng như yêu cầu của hội nhập kinh tế - quốc tế Nhiều quy hoạch, kế hoạch sử dụng thiếu tính khoa học đã làm phá vỡ cảnh quan thiên nhiên và những công trình kiến trúc mang tính lịch sử, văn hoá dân tộc, không bảo đảm các tiêu chí từ việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến việc điều chỉnh lại quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố giữa các cấp (cấp Trung ương với cấp tỉnh, cấp huyện và xã), các ngành (xây dựng, giao thông, kiến trúc với cơ quan quản lý Tài nguyên - Môi trường) và các địa phương (Hà Tây, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh ) làm cho tình trạng quy hoạch
“treo”, dự án “treo” diễn ra phổ biến, dẫn đến hàng trăm nghìn ha diện tích đất đã được công bố quy hoạch sử dụng nhưng chưa đưa vào sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả Điều này cho thấy, việc xác định thẩm quyền quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất như thế nào là hợp lý, cũng như tính khả thi của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đặt ra cho các cấp, các ngành có những giải pháp mang tính tổng thể, bảo đảm tính đặc thù của quản lý nhà nước trên từng địa phương trong thời gian tới
Thứ hai, pháp luật đất đai (Điều 37, Điều 31, 32 Nghị định 181/CP )
đã phân định rất cụ thể về thẩm quyền trong việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất Nhưng, trong quá trình thực hiện, không
ít các cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền ở nhiều địa phương đã dựa vào những quy định đó để giao đất, cho thuê đất một cách tuỳ tiện, trái pháp luật; thể hiện sự thiếu trách nhiệm trong quản lý, làm cho tình hình quản
lý và sử dụng đất tại nhiều nơi diễn ra hết sức phức tạp Thậm chí cấp xã cũng giao đất tràn lan và giao không đúng đối tượng, không dựa trên nhu cầu sử dụng đất của nhà đầu tư và của người dân làm cho tình trạng đất bị bỏ hoang hoá và tình trạng đầu tư “dàn trải” quá nhiều Bên cạnh đó, pháp luật cũng
Trang 39chưa có những quy định cụ thể trong việc phân định trách nhiệm của tổ chức
và cá nhân khi vi phạm, nhất là trong việc triển khai thực hiện kế hoạch sắp xếp, điều tiết lại quỹ đất sử dụng sai mục đích, hoặc không thu hồi mà để hoang hoá
Thứ ba, trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (GCNQSHN) và quyền sử dụng đất (QSDĐ) pháp luật đất đai (Điều 52 Luật Đất đai, Điều 41 đến Điều 57 Nghị định 181/CP) cũng đã phân định cho UBND cấp tỉnh (uỷ quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường) cấp cho tổ chức, người nước ngoài, còn UBND cấp huyện cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân theo cơ chế "một cửa" Đặc biệt, Nghị định 84/CP dành hẳn Chương II (từ Điều 3 đến Điều 21) quy định chi tiết về thẩm quyền, về trình tự và thủ tục thực hiện Trên thực tế việc cấp GCN là hết sức phức tạp, bởi vì theo quy định chung, việc cấp GCNQSDĐ lại được thực hiện theo Nghị định 181/CP và do
cơ quan quản lý Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện, còn cấp GCNQSHN lại do cơ quan quản lý về xây dựng thực hiện (sở xây dựng, phòng xây dựng)
và được thực hiện theo quy định của Nghị định 95/CP năm 2005 và Luật Nhà
ở năm 2006 Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam nhà và đất được gọi là bất động sản luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau do chưa có nhiều trường hợp thuê đất và xây dựng hạ tầng kiên cố trên đất thuê Vì vậy, việc phân định thẩm quyền cấp giấy chứng nhận như vậy có thể tiện cho việc quản lý về mặt nhà nước, nhưng đối với người dân khi đi làm chủ quyền nhà, đất (sổ hồng), (sổ đỏ) thì gặp nhiều rắc rối Chẳng hạn, người dân phải thực hiện hai qui trình gồm: Xin cấp giấy GCNQSDĐ ở Phòng Tài nguyền và Môi trường, còn quy trình về cấp chủ quyền nhà lại phải đến cơ quan về xây dựng Điều này nhiều khi đã tạo điều kiện cho các cán bộ làm trong lĩnh vực này gây khó khăn, nhũng nhiễu thậm trí nẩy sinh tham ô, tham nhũng,… trong quá trình thực thi nhiệm vụ được giao Lý do trên xuất phát từ chỗ do mối quan hệ “song trùng,
Trang 40trực thuộc” trong hệ thống chính quyền các cấp, nên đã tạo ra sự nể nang, e ngại, sợ “va chạm”, vì thế những tiêu cực nảy sinh trong hoạt động quản lý đất đai khó được xử lý, đã làm cho thị trường quyền sử dụng đất phát triển không theo hướng lành mạnh trên cơ sở yếu tố cung cầu của thị trường, của QLNN và đã tác động, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế và ổn định
xã hội nói chung trong thời gian qua
Thứ tư, trong việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của chính quyền các cấp cũng được quy định tại các Điều 135, 136, 137, 138
và Điều 160, 163, 164 Nghị định 181/2004 - CP Đặc biệt, Điều 63, 64, 65 Nghị định 84/CP của Chính phủ đã quy định cụ thể về quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, còn nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì người khiếu nại có thể kiện ra toà án nhân dân (Khoản 2, khoản 3 Điều 64) Tuy nhiên, nhiều nơi cán bộ có thẩm quyền cố tình hiểu sai để đùn đẩy trách nhiệm khi vụ việc liên quan đến trách nhiệm hành chính khi ra quyết định giải quyết gây thiệt hại tới lợi ích của người đi khiếu nại, khiếu kiện Lí do trên xuất phát từ chỗ: Các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết mới chỉ dừng ở những nguyên tắc, mà chưa có những quy định cụ thể, thống nhất với những quy định của các ngành luật khác như Luật đất đai, Luật Thuế, Luật Lao động, Luật Doanh nghiệp Việc quy định thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước cấp trên đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền của cấp dưới khi để quá thời hạn cũng không có quy chế về chế tài đối với những trường hợp “không giải quyết” để trốn tránh trách nhiệm đã dẫn tới tình trạng giải quyết khiếu kiện chậm lại, quyền lợi của người dân không được đáp ứng Luật Khiếu nại, tố cáo sửa đổi năm 2005 quy định: Người khiếu nại phải gặp gỡ và đối thoại trực tiếp với người bị khiếu nại để làm rõ