1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên

112 442 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 729,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về kinh tế hợp tác và hợp tác xã * Kinh tế hợp tác: là hình thức liên kết tự nguyện của những người lao động, những người sản xuất nhỏ dưới các hình thức đa dạng, kết hợp sức

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

––––––––––––––––––

PHẠM THỊ ĐÔNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA

CÁC HTX NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

PHẠM THỊ ĐÔNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ QUANG DỰC

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các số liệu, kết quả nêu trong luận án này là trung thực, các tài liệu tham khảo có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Thị Đông

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế, trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh (Đại học Thái Nguyên); Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Tiến sỹ

Lê Quang Dực, người trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này

Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các đồng chí Lãnh đạo, cán bộ các Sở, ngành trong tỉnh Thái Nguyên, đặc biệt là Ông Nguyễn Văn Vỵ, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, Ông Thân Đức Cường, Trưởng phòng Quản lý Khoa học, Ông Nguyễn Ngọc Quỳ, Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, Ông Trần văn Quy - Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên

đã tận tình và tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình sưu tầm tài liệu và viết luận văn này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, tạo điều kiện, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của khoá học

Luận văn tốt nghiệp này có thể chưa hoàn chỉnh, còn nhiều thiếu sót, song đó là sự nghiên cứu của bản thân mình Do đó rất mong có sự đóng góp

ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để Luận văn này thực sự

có ý nghĩa và sử dụng trong công việc sau này

Tôi xin trân trọng cảm ơn./

Phạm Thị Đông

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ

1.1.2 Cơ sở thực tiễn, quá trình phát triển hợp tác xã nông nghiệp

Trang 6

1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 31

Chương II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ

NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 34

2.3.6 Kết quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp

2.4 Phân tích, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản 52

Trang 7

xuất kinh doanh của các hợp tác xã

2.4.2 Hoạt động kinh doanh dịch vụ ở hợp tác xã nông nghiệp 61 2.4.3 Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của các hợp tác

Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU

QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

78

3.1 Định hướng chủ yếu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh các

3.1.2 Định hướng mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 80 3.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 88

3.2.3 Tăng cường sự chỉ đạo của nhà nước đối với hợp tác xã 90

Trang 8

Ký hiÖu ch÷ viÕt t¾t

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Bình quân thu nhập từ HTX của 1 khẩu/tháng giai đoạn

Bảng 2.4 Kết quả chuyển đổi và thành lập mới các HTXNN năm 2008 43

Bảng 2.5 Tình hình sản xuất kinh doanh dịch vụ của các HTXNN

Bảng 2.10 Kết quả sản xuất kinh doanh dịch vụ của các HTXNN

Bảng 2.11 Mức thù lao của chủ nhiệm HTXNN tỉnh Thái nguyên

Bảng 2.12 Tình hình thực hiện các khâu dịch vụ ở các HTX 63

Bảng 2.14 Ý kiến đánh giá chất lượng hoạt động ở các HTX trên địa

Bảng 2.15 Ý kiến đánh giá chung về hoạt động của HTX tại tỉnh

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 1 Thực trạng và hệ thống tổ chức quản lý các HTX trên

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển kinh tế hợp tác nói chung và hợp tác xã nông nghiệp (HTX NN) nói riêng là một trong những vấn đề mang tính thời sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay Nó vừa mang tính khách quan, vừa là yêu cầu bức xúc, thu hút

sự quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành và mọi tầng lớp dân cư trong cả nước, nhất là hiện nay nền nông nghiệp Việt Nam đang bước sang giai đoạn của nền kinh tế thị trường

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng về phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước Giờ đây trong nền kinh tế quốc dân đã xuất hiện nhiều hình thức hợp tác kinh tế phong phú và hiệu quả, từng bước thích ứng với quy luật phát triển của nền kinh tế đất nước

Xác định vai trò to lớn của kinh tế hợp tác và hợp tác xã (HTX), Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý để thúc đẩy kinh tế hợp tác và các hợp tác xã phát triển Năm 1996 lần đầu tiên Luật HTX được Quốc hội khóa IX thông qua tại kỳ họp thứ 9, ngày 20/3/1996, Luật HTX đã được Chủ tịch nước công bố lệnh thi hành Đây là cơ sở pháp lý tạo tiền đề vững chắc để kinh tế hợp tác xã phát triển theo hướng đổi mới, cũng như mở đường cho các hợp tác xã kiểu mới ra đời và phát triển một cách toàn diện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 9 đã khẳng định “Chủ trương của Đảng

và Nhà nước là tăng cường, củng cố và phát triển kinh tế tập thể, trong đó HTX là nòng cốt để kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của kinh tế quốc dân” Ngày 10/12/2003 Chủ tịch nước đã ban hành Lệnh số 23/2003/L-CTN công bố Luật hợp tác xã 2003 thay thế Luật hợp tác xã năm 1996 càng khẳng định tầm quan trọng của nền kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế quốc dân

Trang 12

Trong những năm qua kinh tế hợp tác và các HTX trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đang từng bước chuyển đổi và phát triển, tác động nhiều mặt đến đời sống xã hội của hơn 80% dân cư sống ở khu vực nông thôn miền núi Tuy nhiên, kết quả sản xuất kinh doanh (SXKD) của các hợp tác xã chưa cao, chưa hình thành được nhiều hợp tác xã kiểu mới Mặt khác, trong quá trình chuyển đổi và thành lập mới hợp tác xã còn khá phức tạp và gặp nhiều khó khăn về vấn đề tổ chức quản lý và hoạt động theo luật hợp tác xã Xuất phát

từ thực tiễn đó tôi lựa chọn đề tài “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các HTXNN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Đưa ra những giải pháp có tính khả thi, có căn cứ lý luận và thực tiễn phù hợp với điều kiện cụ thể của các hợp tác xã nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới

Trang 13

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến HTX và nâng cao hiệu quả SXKD của các HTXNN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Vùng giữa: Có địa hình tương đối hình tương đối ổn định hơn thuộc vùng đồi núi thấp, dân cư đông đúc, trình độ dân trí cao đó là thành phố Thái Nguyên

Vùng thấp: Có địa hình tương đối bằng phẳng, giao thông thuận tiện, mật độ dân số đông, trình độ dân trí tương đối cao như huyện Phú Bình, Phổ Yên

và thị xã Sông Công

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các HTX như bộ máy quản lý, trình độ cán bộ, tình hình vốn quỹ của HTX và tình hình công nợ,… của các HTX NN

- Về thời gian: Đánh giá thực trạng hoạt động của các HTXNN từ năm 2006-2008 Từ đó đề ra định hướng và các giải pháp tổ chức thực hiện để áp dụng đến năm 2015

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực; là tài liệu tham khảo giúp tỉnh Thái Nguyên xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế hợp tác và HTX trong nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh từ nay đến năm 2015 một cách có cơ sở khoa học

Trang 14

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 03 chương

Chương I: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương II: Thực trạng phát triển các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các HTX NN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Luận văn có 97 trang (không kể tài liệu tham khảo và phụ lục) với 15 bảng số liệu, 01 biểu đồ, 02 Sơ đồ, tham khảo 26 tài liệu

Trang 15

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của kinh tế hợp tác và hợp tác xã

1.1.1 Cơ sở lý luận về kinh tế hợp tác và hợp tác xã

1.1.1.1 Khái niệm về kinh tế hợp tác và hợp tác xã

* Kinh tế hợp tác: là hình thức liên kết tự nguyện của những người lao

động, những người sản xuất nhỏ dưới các hình thức đa dạng, kết hợp sức mạnh tập thể với sức mạnh của từng thành viên để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề sản xuất, kinh doanh và đời sống Sức mạnh của kinh tế hợp tác chính là sự liên kết, hợp sức, hợp vốn của các thành viên cùng nhau tạo điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả, ổn định và bền vững [5]

Hộ nông nghiệp ở nông thôn nước ta là hộ tiểu nông nhỏ bé, sản xuất tự cung tự cấp, cơ sở vật chất lạc hậu, thu nhập và đời sống của hộ nông dân thấp, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai Trong thực tế, hộ nông dân thiếu vốn, đất đai, tri thức khoa học kỹ thuật, trình độ kinh doanh,… Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh phức tạp, kinh tế hộ nông dân chỉ có thể đứng vững trên cơ sở hợp tác của đông đảo các hộ sản xuất với nhiều hình thức kinh tế hợp tác đa dạng nhằm giúp đỡ nhau cùng phát triển Sự phát triển kinh tế hợp tác còn có ý nghĩa quan trọng về mặt xã hội như giải quyết việc làm, tăng thu nhập và góp phần xóa đói giảm nghèo

Có thể nói: Kinh tế hợp tác là phương thức hoạt động kinh tế của người lao động, tồn tại khách quan và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

ở mọi thời kỳ phát triển

Khi đất nước chuyển sang giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì vai trò của kinh tế hợp tác càng có ý nghĩa to lớn, phát triển kinh tế hợp tác

Trang 16

không chỉ là mục tiêu kinh tế mà còn đạt tới mục tiêu xã hội Người lao động nghèo chỉ có hợp tác với nhau mới có thể giúp đỡ nhau, hỗ trợ nhau để tạo ra sức mạnh trong sản xuất kinh doanh, từ đó mới có thể xóa đói, giảm nghèo

* Hợp tác xã: là loại hình kinh tế hợp tác, là tổ chức kinh tế tự chủ, có

vốn, quỹ chung, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tư cách pháp nhân Các HTX đều được thành lập trên tinh thần tự trợ giúp, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công bằng, tự nguyện và đoàn kết Mặc dù HTX cũng là đơn vị kinh doanh, song mục tiêu cơ bản của những xã viên khi thành lập hoặc liên kết thành một HTX là để thực hiện những hoạt động mà từng cá nhân riêng lẻ không thể thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả nhằm nâng cao điều kiện kinh tế và

xã hội của họ thông qua việc cùng hành động vì quyền lợi của tất cả các xã viên chứ không chỉ đơn thuần vì lợi ích của từng cá nhân xã viên [25]

* Hợp tác xã nông nghiệp: là tổ chức kinh tế do những người nông dân tự

nguyện thành lập nên nhằm mục đích trợ giúp các hoạt động sản xuất nông nghiệp của họ thông qua việc cung cấp các dịch vụ giá rẻ do lợi thế về quy mô

và chuyên môn hóa hoạt động Hợp tác xã nông nghiệp ra đời dựa trên nền tảng kinh tế hộ nông dân [25]

Các hợp tác xã, dù là kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp hay thương nghiệp, đều có chung một số đặc điểm sau:

- Các xã viên liên kết với nhau vì ít nhất một lợi ích chung

- Các xã viên luôn cố gắng theo đuổi mục tiêu cải thiện điều kiện kinh tế -

xã hội của mình bằng cách phối, kết hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh

- Các xã viên có cùng sở hữu và vận hành một đơn vị cung cấp hàng hóa

và dịch vụ cho họ

- Mục đích của HTX là nhằm sử dụng tối đa hóa các nguồn lực chung để phát triển sản xuất và có đủ hàng hóa, dịch vụ cung ứng cho xã viên

Trang 17

Ngoài ra, các HTXNN còn có những đặc điểm sau:

- Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tập hợp đông đảo nông dân ở nông thôn - lực lượng lao động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong xã hội ở các nước đang phát triển Do đó có ưu thế về số lượng lao động Lực lượng lao động

ở HTXNN nếu được bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo về khoa học, kỹ thuật và công nghệ sẽ là yếu tố cơ bản cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội nông thôn

- HTXNN là một tổ chức kinh tế của những người yếu thế nhất về trình độ dân trí, vốn, cơ sở vật chất - kỹ thuật so với các loại hình doanh nghiệp khác Do

đó nhà nước có vai trò rất quan trọng trong viêc quản lý nhà nước, giúp đỡ, hỗ trợ và tham gia quản lý HTX Mặt khác HTXNN cũng cần phải liên kết, liên doanh với các tổ chức kinh tế xã hội khác trong quá trình phát triển

- Đối tượng sản xuất của nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi, nên trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, HTXNN vừa bị chi phối bởi các quy luật kinh tế, vừa bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên Đặc điểm này thường làm cho các HTXNN phải chịu rủi ro lớn, hiệu quả kinh tế thấp, tích lũy ít và chậm Sự kiện bùng nổ dịch cúm gia cầm trên cả nước và châu Á, lũ lụt và hạn hán ở miền Trung là những ví dụ rõ nét Tuy nhiên, nếu được đầu tư tốt và bản thân HTXNN nào năng động, sáng tạo thì sẽ có nhiều lợi thế trong việc tung ra thị trường những loại hàng hóa đặc sản có chất lượng cao và sức cạnh tranh lớn cũng như đối với việc thực hiện chuyên môn hóa, đa dạng hóa sản phẩm [25]

1.1.1.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã

* Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

- Thứ nhất: Tự nguyện, người lao động, người sản xuất có quyền tự quyết định ra nhập HTX hay xin ra khỏi HTX, nguyên tắc này được C.Mác, Ph.Ăng - ghen và V.I.Lênin đặc biệt lưu ý, đều được nhấn mạnh rằng: Tuyệt đối không được cưỡng ép nông dân mà phải để cho người nông dân tự suy

Trang 18

nghĩ, thấy rõ lợi ích thiết thực của mình và tự nguyện hợp tác với nhau [6] Để thực hiện nguyên tắc tự nguyện, cần phải dân chủ trong quản lý và phân chia lợi ích

- Thứ hai: Sự giúp đỡ của nhà nước chuyên chính vô sản đối với HTX,

ở đây có nghĩa là đảm bảo chính trị pháp lý bằng quyền lực nhà nước cho sự

ra đời của kinh tế HTX Cần có sự giúp đỡ của nhà nước về tài chính, về khoa học kỹ thuật… đặc biệt là nâng cao trình độ tri thức văn hóa, đào tạo những cán bộ, xã viên HTX văn minh

-Thứ ba: Hợp tác phải tiến hành từng bước, có tính đến sự chờ đợi, đoàn kết, lôi cuốn nông dân, người bạn chiến lược của giai cấp công nhân và cùng giai cấp công nhân đi lên chủ nghĩa xã hội

-Thứ tư: Hình thức và biện pháp thực hiện hợp tác phải thiết thực, cụ thể, hết sức tránh những biện pháp và hình thức thiếu thực tế, mơ hồ Hợp tác thực hiện trong nhiều lĩnh vực, hình thức và biện pháp trong mỗi lĩnh vực lại khác nhau Trong lĩnh vực nông nghiệp, loại hình đất đai khác nhau, cây trồng và vật nuôi khác nhau, quan hệ thị trường khác nhau… ngoài ra còn phải tính đến nhiều yếu tố khác như phong tục, tập quán của mỗi vùng Vì vây, biện pháp và hình thức hợp tác phải thiết thực cụ thể, phù hợp với những điều kiện cụ thể

- Thứ năm: Hợp tác hóa là quá trình thực hiện liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo C.Mác và Ph.Ăng - ghen đặt ra vấn đề HTX, con đường hợp tác với mục đích lôi cuốn, đoàn kết nông dân - Người bạn đồng minh chiến lược của giai cấp công nhân và cùng với giai cấp công nhân đi lên chủ nghĩa xã hội Đồng thời chỉ rõ: Cần để cho người nông dân tự suy nghĩ trên mảnh ruộng của mình, con đường hợp tác phải là con đường đơn giản nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông dân [6]

* Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Quan điểm toàn diện về HTX của Bác Hồ được thể hiện trên các mặt sau:

Trang 19

Về quản lý HTX: Bác rất quan tâm đến vấn đề dân chủ trong quản lý HTX: “Các HTX phải làm như thế nào để các xã viên đều thấy rằng mình là người làm chủ tập thể HTX Có quyền bàn bạc và quyết định những công việc của HTX Có như thế thì xã viên sẽ đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi sản xuất và HTX sẽ tiến bộ không ngừng”[9] “Mỗi xã viên phải làm chủ, HTX là nhà, xã viên làm chủ Mình có quyền làm chủ và tự nguyện vào HTX, Đảng và Chính phủ không bắt buộc Phải xây dựng HTX cho tốt Ban quản trị phải do xã viên

cử ra một cách dân chủ Ban quản trị nếu không làm tròn trách nhiệm thì xã viên có quyền bãi miễn hoặc cách chức Những công việc trong HTX thì ban quản trị và xã viên nhất trí mới được làm Phải công bằng cùng làm, không được chọn việc, kết quả thu hoạch phải chia đều, không nên chia phần tốt cho

vợ con mình, còn xấu chia cho xã viên Phải minh bạch tất cả các khoản chi, thu trong HTX… Ban quản trị không được quan liêu tư túi, tiêu sài không báo cáo xã viên biết” [9]

“Mỗi HTX cần có một phương hướng hoạt động đúng đắn, phù hợp với tình hình kinh tế trong HTX và phù hợp với tình hình, yêu cầu chung của nền kinh tế quốc dân” [9]

“Kế hoạch sản xuất của HTX phải đưa ra bàn bạc một cách dân chủ với

xã viên Phải tuyên truyền, giáo dục cho xã viên hiểu, xã viên tự nguyện làm, tuyệt đối không được dùng cách gò ép mệnh lệnh, quan liêu” [9]

Đó chính là những nguyên lý rất cơ bản trong quản lý các tổ chức kinh

tế hợp tác nói chung và hợp tác xã nói riêng mà lúc sinh thời Bác Hồ thường xuyên căn dặn

Về phân phối trong các HTX: Tư tưởng xuyên suốt của Bác là phải đảm bảo cho sự bình đẳng và công bằng “Sản xuất được nhiều, đồng thời phải chú

ý phân phối cho công bằng, muốn phân phối cho công bằng, cán bộ phải chí công vô tư, thậm chí có khi cán bộ vì lợi ích chung mà phải chịu thiệt một phần nào Chớ nên cái gì tốt thì giành về cho mình, xấu để người khác” [9]

Trang 20

Bác dạy trong phân phối phải hợp lý: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” [9], “Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên” [9]

Bác nhìn nhận HTX là bước phát triển cao hơn của kinh tế hợp tác Trong HTX các nguyên tắc cơ bản của kinh tế hợp tác được kết tinh ở trình

độ cao và thể hiện tính chặt chẽ của các mối quan hệ trong nội bộ và với bên ngoài Bác nói: “Mỗi hợp tác xã phải như một gia đình, phải thương yêu giúp

đỡ lẫn nhau” [9]

* Theo Luật hợp tác xã năm 2003

Tại Điều 5, chương 1 của Luật hợp tác xã năm 2003 quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã cụ thể như sau:

Thứ nhất, Tự nguyện: Mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều

kiện theo quy định của Luật, tán thành điều lệ HTX đều có quyền ra nhập HTX; xã viên có quyền ra HTX theo quy định của điều lệ HTX

Thứ hai, Dân chủ, bình đẳng và công khai: Xã viên có quyền tham gia

quản lý, kiểm tra, giám sát HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết; thực hiện công khai phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối

và những vấn đề khác quy định trong điều lệ HTX

Thứ ba, Tự chủ, chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chủ và tự

chịu trách nhiệm về kết quả họat động sản xuất, kinh doanh; tự quyết định về phân phối thu nhập

Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của HTX, lãi được trích một phần vào các quỹ của HTX, một phần chia theo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX

Thứ tư, Hợp tác và phát triển cộng đồng: Xã viên phải có ý thức phát

huy tinh thần xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong HTX, trong cộng đồng xã hội; hợp tác giữa các HTX trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật

Trang 21

1.1.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của hợp tác xã nông nghiệp

Có rất nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của HTXNN trong giai đoạn hiện nay ở nước ta nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng Sau đây là một số yếu tố cơ bản:

Một là, yếu tố pháp lý Đó là luật HTX, các chính sách, các văn bản

liên quan và điều lệ HTX Luật HTX là văn kiện có tính chất cơ bản và quan trọng của nhà nước nhằm tạo điều kiện pháp lý để HTX hình thành, hoạt động

và phát triển Nội dung của luật bao gồm: Khái niệm về HTX; các nguyên tắc của HTX; các loại hình HTX; việc thành lập HTX; xã viên HTX, tổ chức, quản

lý trong HTX; vốn, tài sản, phân phối thu nhập của HTX; tổ chức đại diện của HTX Các chính sách và văn bản liên quan đến HTX đều hướng vào mục đích

hỗ trợ, hướng dẫn và quản lý HTX hoạt động có hiệu quả theo luật định

Về Điều lệ HTX có điều lệ mẫu và điều lệ riêng của từng HTX nhằm quy định cụ thể các điều khoản đối với việc thành lập, hoạt động kinh tế, xã hội, tổ chức, quản lý… phù hợp với đặc thù của cơ sở

Có thể khẳng định pháp lý là điều kiện tiên quyết đối với sự hình thành

và phát triển HTX Luật, các chính sách, văn bản liên quan và điều lệ HTX luôn được bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với điều kiện phát triển chung của nền kinh tế xã hội đất nước và riêng của HTX Và đương nhiên sẽ xuất hiện những HTX mới phù hợp hơn

Hai là, yếu tố kinh tế Yếu tố kinh tế bao gồm: Trình độ phát triển,

năng lực… của kinh tế hộ, trình độ phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, cơ chế vận hành của nền kinh tế, trình độ phát triển kinh tế của quốc gia và thế giới, khủng hoảng kinh tế, cơ hội kinh tế, thuế, giá cả, tỷ giá, cạnh tranh trong kinh tế, lợi thế kinh doanh, đối thủ và đối tác trong kinh doanh… Tất cả những nhân tố cụ thể đó đều tác động rõ rệt đến hoạt động của HTX

Trang 22

Điều quan trọng là từng HTXNN cần kịp thời nắm bắt thông tin, dự báo tình hình cung cầu nông sản, lựa chọn sản phẩm thị trường cần, kinh doanh các ngành hàng được ưu đãi về thuế, linh hoạt tránh né những nhân tố bất lợi để kinh doanh có hiệu quả và nâng cao thu nhập cho xã viên

Thông thường những nhân tố kinh tế nằm ngoài tầm tay quản lý của HTX nên đòi hỏi phải có sự giúp đỡ, hỗ trợ và điều tiết kịp thời ở tầm vĩ mô của Chính phủ

Ba là, yếu tố Khoa học công nghệ Đây là nhân tố và cũng là điều

kiện quyết định trình độ về năng lực quản lý và sản xuất, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Bản thân HTXNN cần chú trọng đầu tư về khoa học kỹ thuật nông nghiệp, quản lý kinh doanh và công nghệ sinh học Đồng thời nhà nước luôn có vai trò rất lớn trong việc hướng dẫn đào tạo cán bộ, bồi dưỡng tay nghề xã viên, áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến thông qua các hoạt động của cơ quan chức năng với nhiều hình thức phù hợp

Bốn là, yếu tố văn hóa Trình độ văn hóa thấp kém của xã viên

HTXNN luôn là vật cản lớn đối với mọi yêu cầu hoạt động của nông hộ và tập thể Nhân tố văn hóa không dừng lại ở cách hiểu thông thường mà còn là hiểu biết về bản chất và yêu cầu đối với người thành lập, tham gia loại hình tổ chức HTX, nghĩa là khả năng của những xã viên trong việc hợp tác cùng nhau

để phát triển HTX của họ, có thể coi đó là văn hóa HTX, thiếu nhân tố này thì

cho dù trình độ văn hoá thông thường có cao bao nhiêu đi nữa cũng khó mà phát triển được hợp tác xã, văn hóa HTX là văn hóa cộng đồng, văn hóa cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm một cách tự nguyện, bình đẳng, là văn hóa không thủ tiêu lẫn nhau… Để có được văn hóa này cần có một quá trình giáo dục công phu, thường xuyên và lâu dài

Năm là, yếu tố tâm lý - xã hội Nhân tố tâm lý xã hội thể hiện ở các

khía cạnh: tâm tư, tình cảm, nguyện vọng…; dân tộc; giai cấp; tầng lớp; thế

Trang 23

hệ; họ hàng, quan hệ đồng nghiêp, bạn bè, làng bản, cộng đồng; an ninh xã hội; nghèo đói, việc làm… Các nhân tố về mặt tâm lý xã hội luôn ảnh hưởng đến thái độ, cách làm, kết quả, chất lượng hiệu quả sản xuất kinh doanh của HTXNN [25]

Sáu là, yếu tố chính trị Chính trị ở đây thường thể hiện rõ 2 yếu tố:

chế độ chính trị và thái độ nhà cầm quyền Đổi mới hay bảo thủ; quan tâm hay thờ ơ; thực sự đầu tư, hỗ trợ hay chỉ nói mà không làm; năng động, sáng tạo, sâu sát thực tế hay trì trệ, quan liêu… Mọi thái cực và hiện tượng đó đều tùy thuộc vào hai yếu tố chính trị trên hoặc tác động tích cực hay tiêu cực đến HTXNN cũng như đối với đối tượng khác trong xã hội

Bẩy là, yếu tố năng lực nội tại của các HTXNN Năng lực nội tại

thường bao gồm các điều kiện về lao động, vốn, đất đai và tài nguyên, cơ sở vật chất - kỹ thuật từ sự đóng góp và tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của xã viên [25]

+ Lao động (sức lao động) của xã viên vừa là chủ thể, vừa là yếu tố đầu vào quyết định đến mọi hoạt động và sự phát triển của HTX Trình độ của người lao động ở HTXNN vốn có điểm xuất phát rất thấp, nên phải bằng mọi cách nâng cao chất lượng lao động về học thức, kỹ năng và sức khỏe

+ Vốn của HTX quyết định đến đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất và tái sản xuất, nhất là đối với thâm canh, áp dụng kỹ thuật tiên tiến và ứng dụng công nghệ mới

Để đảm bảo việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, một mặt HTX phải có chiến lược kinh doanh phù hợp với thị trường, mặt khác phải chú ý nâng cao chất lượng đội ngũ nghiệp vụ kế toán của mình

+ Đất đai và tài nguyên của HTX là của xã viên, ngoài ra cũng có những trường hợp HTX phải đi thuê của người khác Đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản và đặc trưng của HTXNN Đất đai và tài nguyên thể hiện lợi thế

Trang 24

so sánh trong sản xuất của HTXNN Năng suất đất đai và giá trị sản xuất/ha phụ thuộc vào nhiều điều kiện tự nhiên, kỹ thuật, quản lý, KHCN

Để thoát khỏi tình trạng sản xuất thuần nông, tự cung tự cấp, manh mún, hiệu quả thấp, chưa khai thác tốt tiềm năng đất đai, HTXNN nhất thiết phải có giải pháp nâng cao năng lực của kinh tế hộ, năng lực quản lý, kinh doanh của mình, tập trung đất đai và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá với quy mô lớn

+ Cơ sở vật chất kỹ thuật thể hiện trình độ của công cụ sản xuất, dịch

vụ, kết cấu hạ tầng và là điều kiện quan trọng để tăng năng suât, chất lượng sản phẩm, hợp tác, cạnh tranh của HTX Cơ sở vật chất kỹ thuật của HTXNN nói chung vốn lạc hậu, nên cần được gia tăng đầu tư, hợp tác, liên kết và gắn với quy hoạch phát triển nông thôn Hiệu quả của việc sử dụng cơ sở vật chất

kỹ thuật phụ thuộc vào kỹ năng, ý thức của xã viên cũng như quy chế trang bị,

sử dụng, quản lý của tập thể và cộng đồng

Tóm lại năng lực nội tại của HTXNN, nhất là năng lực sản xuất của hộ nông dân một khi đã vượt qua khỏi vạch tự cung, tự cấp để đủ sức sản xuất hàng hóa theo kinh tế thị trường cùng với sự đầu tư hỗ trợ và quản lý có hiệu lực của nhà nước là những điều kiện chủ yếu cho sự phát triển vững chắc và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các HTXNN

1.1.2 Cơ sở thực tiễn, quá trình phát triển hợp tác xã nông nghiệp của một

số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.2.1 Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở một số nước trên thế giới

* Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Mỹ

Ở Mỹ, nhà nước đóng vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và HTX nói riêng Nhà nước tổ chức ra các HTXNN nhằm phổ biến kiến thức nông nghiệp cho nông dân HTXNN được hình thành tự

Trang 25

nguyện, có sự giúp đỡ về mọi mặt của nhà nước, là một trong những tổ chức quan trọng tạo nên một nền nông nghiệp phát triển cao và có hiệu quả ở mỹ HTXNN ở Mỹ phát triển khá tốt với ba loại hình hoạt động có hiệu quả đó là:

- HTX tiếp thị nông nghiệp: Là HTX của những xã viên là hộ nông dân Loại hình HTX này đã phát triển thành các đại lý lớn hoạt động khắp nước, tham gia chế biến và tiêu thụ các loại sản phẩm sữa, ngũ cốc, cá, thịt, hoa quả Nhờ các HTX này nông dân mỹ tránh được sự chèn ép của tư thương và đáp ứng tốt tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm của nhà nước

- HTX cung ứng nông nghiệp: Các HTX này cung cấp đầu vào cho xã viên với giá cả hợp lý do mua với số lượng lớn Các HTX này còn làm đại lý cho các HTX khác hoặc tự tổ chức sản xuất phân bón, lọc dầu…

- HTX dịch vụ nông nghiệp: Là loại hình HTX cung cấp các dịch vụ cho xã viên và HTXNN khác trong lĩnh vực giống, bảo vệ thực vật, bảo quản sau thu hoạch… Đặc biệt HTX này cung cấp cho xã viên tín dụng lãi suất thấp và dịch vụ điện thoại, điện, nhất là nông dân ở các vùng khó khăn [25] Các HTXNN ở Mỹ được liên kết với nhau theo 3 cấp:

+ HTXNN cơ sở với xã viên là hộ nông dân

+ HTX liên kết khu vực do các HTXNN cơ sở liên kết theo lãnh thổ, khu vực (xã viên là HTX)

+ HTX liên kết giữa HTXNN cơ sở và HTX liên kết vùng (xã viên là nông dân và HTX)

Tính đến nay các HTXNN của Mỹ đóng vai trò quan trọng trong phân phối lương thực, tăng khả năng tiếp thị cho nông dân và trợ giúp tín dụng cho

hộ nông dân gặp khó khăn [25]

* Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Cộng hòa Liên bang Đức:

HTXNN đầu tiên xuất hiện ở Đức vào năm 1864 nhằm giúp các nông dân thoát khỏi đói khổ

Trang 26

- Các HTXNN ở Đức hoạt động trong nền kinh tế thị trường, tồn tại đồng thời với các loại hình doanh nghiệp khác trong nước và hoạt động để hỗ trợ xã viên tự phát triển sản xuất, kinh doanh theo các nguyên tắc cơ bản là: tự nguyện, công khai, tự giúp đỡ nhau, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm

- Nhà nước tạo lập môi trường pháp luật, chính sách để các HTX hoạt động bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác HTX thành lập không phải xin phép cơ quan nhà nước, song điều bắt buộc phải là thành viên của liên minh kiểm tra HTX HTX phải đăng ký tại tòa án để được hoạt động hợp pháp

- Hình thức tổ chức HTX đa dạng và phong phú, trong đó chủ yếu là các loại hình dịch vụ Có sự phân biệt rõ giữa xã viên và người lao động trong HTX Việc góp vốn vào HTX cũng rất đa dạng và linh hoạt

- Hệ thống tổ chức HTX là hệ thống song hành giữa liên minh HTX theo ngành và liên minh kiểm tra HTX từ trung ương đến vùng Chức năng của liên minh HTX bao gồm: kiểm tra hoạt động HTX theo luật và điều lệ, tư vấn, đào tạo cho các HTX, đại diện quyền lợi cho HTX Do đó có thể thấy được chức năng kiểm tra của nhà nước đối với HTX đã được giao cho tổ chức này

- Tổ chức quản lý trong HTX có hội đồng giám sát do đại hội xã viên bầu ra Hội đồng này cử chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, kiểm tra hoạt động của ban chủ nhiệm Trong một số trường hợp chủ nhiệm không phải là xã viên (do đi thuê) Thành viên Ban chủ nhiệm đồng thời là thành viên Hội đồng giám sát Chủ tịch Hội đồng giám sát phải chịu trách nhiệm trước HTX bằng toàn bộ tài sản của mình [25]

- Việc phân chia lợi nhuận có nhiều cách khác nhau, song nhìn chung đều theo nguyên tắc hạn chế chia lãi theo vốn góp

* Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp của Nhật bản

Luật HTX lần đầu tiên được ban hành vào năm 1900 Theo luật này các HTX có thể đảm nhận một số trong 4 chức năng: tín dụng, tiêu thụ, chế biến

và thu mua Năm 1930 luật HTX sửa đổi đã thừa nhận tư cách pháp lý của

Trang 27

HTXNN Sau chiến tranh thế giới thứ hai luật HTX lại chia nhỏ theo chức năng chế định các HTX chuyên ngành Hiện tại HTXNN ở Nhật Bản được tổ chức theo ba cấp: Liên đoàn toàn quốc các HTXNN; Liên đoàn HTXNN tỉnh; HTXNN cơ sở

Về chức năng các HTX nông nghiệp đa năng Nhật Bản đảm đương các nhiệm vụ sau:

- Cung cấp cho nông dân dịch vụ khoa học kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi cũng như giúp họ hoàn thiện kỹ năng quản lý hoạt động sản xuất

- Tiến hành kinh doanh giúp nông dân tiêu thụ hàng hóa

- HTX cung ứng hàng hóa cho xã viên theo đơn đặt hàng và theo giá thống nhất và hợp lý

- HTXNN đa chức năng cung cấp tín dụng cho các xã viên của mình và nhận tiền gửi của họ với lãi suất thấp

- HTXNN còn sở hữu các phương tiện sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản để tạo điều kiện giúp nông dân sử dụng các phương tiện này hiệu quả nhất (hết công suất, chi phí rẻ), hạn chế sự chi phối của tư nhân

- Ngoài ra các HTXNN Nhật Bản còn tiến hành các nhiệm vụ giáo dục

xã viên tinh thần HTX thông qua các tờ báo, phát thanh, hội nghị, đào tạo, tham quan cả ở 3 cấp HTXNN cơ sở, tỉnh và trung ương

- Các HTXNN còn là diễn đàn để nông dân kiến nghị với Chính phủ các chính sách hợp lý cũng như tương trợ lẫn nhau giữa các HTX và địa phương Liên hiệp HTXNN Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc để kiến nghị lên Nghị viện và Chính phủ

Hiện nay, Liên hiệp HTXNN toàn quốc Nhật Bản đã có 25.000 đơn vị (chủ yếu là HTXNN cơ sở) với 250.000 nhân viên Như vậy ở Nhật Bản, hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hiệu quả vẫn là hộ gia đình, HTX chỉ thay thế hộ nông dân và tư thương ở khâu nào HTX tỏ ra có ưu thế hơn hẳn trong tương quan với mục tiêu hỗ trợ nông dân [25]

Trang 28

* Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Hàn Quốc:

Ở Hàn Quốc, Liên đoàn quốc gia HTXNN Hàn Quốc (NACF) được thành lập từ năm 1961, là tổ chức cao nhất của HTX, liên hiệp HTXNN Hàn Quốc, được qui định trong Luật HTXNN Hàn Quốc Từ năm 1980, hệ thống HTXNN không ngừng hoàn thiện về tổ chức và hình thức hoạt động và đến nay đã rất hoàn chỉnh Cơ quan đứng đầu của Hệ thống là NACF, trong đó có hai nhánh là HTX cơ sở và HTX ở đô thị Chủ nhiệm HTX do xã viên bầu Chủ tịch và Kiểm toán viên chính của NACF do các chủ nhiệm HTX cơ sở bầu lên Các thành viên khác của ban lãnh đạo NACF được Chủ tịch đề cử và hội nghị đại biểu của chủ nhiệm HTX cơ sở chấp thuận [25]

Hiện nay NACF có 1.387 HTX thành viên, 500 trung tâm kinh doanh khác nhau Khác với các nước khác, NACF của Hàn Quốc có chức năng đa dạng và điều phối khá mạnh các HTX thành viên Một mặt, NACF cung cấp các dịch vụ tiếp thị sản phẩm, chế biến, cung cấp vật tư nông nghiệp, hàng tiêu dùng Mặt khác, NACF còn hoạt động như tổ chức tín dụng, tổ chức bảo hiểm, vận tải, lưu kho,… Hiện tại NACF thực sự là tổ chức có sức mạnh cạnh tranh lớn nhất trên thị trường nông sản Hàn Quốc với 40% thị phần, là ngân hàng có số tiền gửi lớn nhất Hàn Quốc Những hoạt động thành công của HTXNN Hàn Quốc là: Tiếp thị sản phẩm cho nông dân (có 99 trung tâm tiếp thị bán buôn nông sản, 2.206 siêu thị cho người không phải xã viên HTX và

12 cửa hàng giảm giá cho xã viên, 7 trung tâm phân phối); Chế biến lương thực (có 147 nhà máy sản xuất và chế biến nông sản, 168 tổ hợp chế biến gạo); Cung cấp hàng hóa cho xã viên; hoạt động tín dụng (huy động và cho vay, đầu tư trên thị trường tài chính, tín dụng tương hỗ giữa các xã viên, bảo lãnh tín dụng, bảo hiểm, thẻ tín dụng…); Hoạt động văn hóa giáo dục

Nhìn chung, các HTXNN đa năng của Hàn Quốc, cũng giống như của Nhật Bản, hoạt động khá hiệu quả nhờ những nguyên nhân sau:

Trang 29

- Các HTX nông nghiệp hoạt động đúng hướng (tiếp thị, cung ứng, tín dụng

và chế biến)

- Được sự hỗ trợ của chính phủ về tín dụng ưu đãi, về các dự án xây dựng đường xá nông thôn (đường nhựa đến tận chân ruộng, giảm thuế)…

- Cơ cấu hai cấp linh hoạt với vai trò tổ chức rất hiệu quả của NACF

* Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Thái Lan

và Philippin

Cả hai nước đều rất coi trọng vai trò của HTX và xem đây là mô hình

để phát triển kinh tế của cả khu vực đông dân cư nhưng kém thế lực về kinh tế trong xã hội, nhất là đối với các tầng lớp dân nghèo HTX còn là công cụ quan trọng giúp nhà nước thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội cấp quốc gia (nhiều chương trình như điện khí hóa nông thôn, giao thông công cộng, tín dụng cho nông dân, cải cách ruộng đất… cũng đều thông qua HTX

để thực hiện)

Ở các nước này, tổ chức HTX có hệ thống từ cơ sở đến quốc gia theo ngành hoặc vùng Thái Lan có liên hiệp HTX cấp tỉnh và quốc gia Ngoài tổ chức liên hiệp HTX còn có tổ chức đại diện cho phong trào HTX cấp quốc gia với nhiệm vụ:

- Làm cầu nối giữa phong trào HTX trong nước với Chính phủ và Quốc tế

- Thực hiện các chương trình đào tạo về HTX

- Thông tin, tuyên truyền và xuất bản về HTX

Thái Lan và Philippin đang thực hiện đa dạng hóa loại hình HTX sản xuất nông - công nghiệp, dịch vụ, tín dụng, ngân hàng nông nghiệp, tiếp thị và cung tiêu nông - công nghiệp, tiêu dùng [25]

* Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Trung Quốc:

HTX cung cấp (mà lực lượng chính là nông dân) đã ra đời khá sớm ở Trung Quốc (1920) Tuy nhiên, chỉ sau khi nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời các HTX này mới phát triển ở quy mô rộng lớn Năm 1952, Trung

Trang 30

Quốc có 33.000 HTX cung tiêu; năm 1958, 100% các cộng đồng nông dân đã

tổ chức thành HTXNN Sau đó 750.000 HTXNN đã sát nhập thành 26.000 công xã (ăn chung, làm chung)

Từ năm 1979 các HTXNN của Trung Quốc bắt đầu thay đổi, chủ yếu còn lại HTX cung tiêu Hiện nay có khoảng 180 triệu hộ nông dân là xã viên HTX (80% hộ nông dân toàn quốc) với tổng số vốn góp là 24,5 tỷ nhân dân

tệ, tập hợp thành 31 liên đoàn cấp tỉnh và 2.100 liên đoàn cấp thành phố, 29.500 HTX cung tiêu cơ sở, 10.000 HTX chuyên ngành thu hút 4,55 triệu nhân viên, tổng doanh thu 1998 là 983,94 tỷ nhân dân tệ

Các HTX cung tiêu hiện nay của Trung Quốc có chức năng: Khuyến nông; cung ứng dịch vụ kinh doanh gồm: mua, lưu kho, phân phối, cung ứng vật tư, phân bón, dịch vụ phân tích đất, ứng dụng kỹ thuật mới…; Dịch vụ tiêu thụ nông sản; Kinh doanh buôn bán lẻ; Chế biến nông sản và sản xuất: các HTX cung tiêu có trong tay 16.000 xí nghiệp chế biến, trong đó hơn 6.100 nhà máy hoạt động độc lập, 87 nhà máy xuất khẩu hơn 1 triệu USD/năm Ngoài ra, các HTX cung tiêu còn nắm trong tay hơn 100.000 trung tâm thu mua phế liệu, 161 triệu m2 kho và nhiều phương tiện vận chuyển, điểm kinh doanh dịch vụ… Đặc biệt các HTX cón có 60 viện nghiên cứu và hơn 1.000

cơ sở đào tạo khác nhau

Tuy nhiên, cho đến nay, Trung Quốc vẫn chưa có luật HTX do đó vẫn còn nhiều bất cập trong vấn đề quản lý và sản xuất

* Một số nhận xét rút ra từ kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở các nước

Thứ nhất, với bản chất mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, HTX nói

chung và HTXNN nói riêng có ở mọi quốc gia không phụ thuộc vào định hướng chính trị - xã hội của quốc gia đó Tuy nhiên tùy theo mục tiêu sản xuất kinh doanh, phục vụ cho cộng đồng, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, QHSX, điều kiện của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ, từng thời kỳ mà hình

Trang 31

thành từng mô hình HTXNN thích hợp, cái riêng của mỗi mô hình HTXNN là

ở đó, nó là sống động nhưng không phải là vĩnh cửu Cũng như mọi sự vật khác, HTXNN xuất hiện, phát triển, tồn tại và tự đổi mới để được sản sinh một mô hình phù hợp với điều kiện mới [25]

Thứ hai, vai trò, vị trí của HTX nói chung và HTXNN nói riêng đều

được các nước xem trọng nên sớm có Luật HTX và nhiều chính sách phù hợp

để HTX phát triển, thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của xã viên, xác lập vai trò của HTX đối với khu vực dân cư vốn kém thể lực về kinh tế

Thứ ba, nông nghiệp là lĩnh vực gắn với sự sinh trưởng cá biệt của cây,

con trong những không gian nhất định và phụ thuộc vào khí hậu, đòi hỏi sự chăm sóc cá nhân chu đáo từ phía người nuôi trồng Ngay cả ở những nước có trình độ công nghệ cao như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hình thức canh tác, chăn nuôi theo kiểu kinh tế hộ vẫn tồn tại và tỏ ra có ưu thế hơn so với việc tiến hành sản xuất nông nghiệp theo kiểu tập trung những người lao động để cùng sản xuất kinh doanh Chính vì lý do đó, tuy HTX ở các nước rất đa dạng và phong phú, nhưng phổ biến là loại hình tổ chức kinh tế - xã hội làm dịch vụ chung cho các pháp nhân, thể nhân, những người có hoạt động kinh tế - xã hội độc lập Loại hình HTXNN tập trung những người lao động để cùng sản xuất - kinh doanh không nhiều [25]

Thứ tư, mục tiêu cuối cùng của HTX là trợ giúp các hoạt động sản xuất

- kinh doanh và đời sống của các xã viên thành viên và nỗ lực vì cộng đồng, song trước hết nó phải là một tổ chức kinh tế, hay nói cách khác HTX phải sản xuất - kinh doanh có lãi trên thị trường để lấy đó làm cơ sở thực hiện các mục tiêu hỗ trợ của mình

Thứ năm, nhà nước luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, nuôi

dưỡng và phát triển phong trào HTX nhằm vừa phát triển kinh tế vừa góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội trên cơ sở pháp lý là không bao cấp và không can thiệp vào công việc của HTX, HTX được bình đẳng với mọi loại

Trang 32

hình kinh tế khác Sự hỗ trợ của nhà nước thể hiện trên các phương diện: tạo khuôn khổ luật pháp; hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn; tuyên truyền, giáo dục về HTX; trợ giúp đào tạo cán bộ HTX…

Thứ sáu, HTX, trong đó có HTXNN, phải thực sự là một tổ chức tự nguyện của xã viên, đa dạng và phong phú về hình thức do yêu cầu của xã viên và cộng đồng Mục đích của HTX là gắn bó cùng nhau để tạo ra mọi dịch

vụ đáp ứng nhu cầu xã viên và hoạt động xã hội vì cộng đồng

Qua nghiên cứu kinh nghiệm phát triển kinh tế HTX của các nước kể trên, chúng tôi nhận thấy rằng Một HTX, bất kể nó hoạt động trong lĩnh vực nào, muốn hoạt động một cách có hiệu quả cần hội tụ các yếu tố đó là:

- Sự nhận thức rõ ràng và sự hiểu biết của xã viên về sự cần thiết của HTX đối với họ; và những dịch vụ mà HTX cung cấp là phương tiện để họ cải thiện đời sống kinh tế của mình, hay nói cách khác, sự hình thành và phát triển của HTX phải bắt đầu “từ dưới lên”, dựa vào nhu cầu và tinh thần tự nguyện, không phải là “từ trên xuống”

- Xã viên và lãnh đạo HTX có kiến thức cơ bản về những nguyên tắc HTX và sự hiểu biết cơ bản về việc điều hành một HTX

- Sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư cộng với sự hiểu biết cần thiết về nguyên tắc đối với HTX của các cán bộ lãnh đạo HTX là rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế HTX

- Một đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên kỹ thuật trung thực, giỏi nghiệp vụ chuyên môn, được trả lương một cách xứng đáng cho việc điều hành hoạt động kinh doanh của HTX

- Sự năng động của HTX trong điều kiện kinh tế thị trường nhằm bảo đảm cho các hoạt động của HTX luôn sống động và tạo ra các động cơ kinh tế cho xã viên

- Có cơ sở pháp lý thừa nhận những nguyên tắc HTX do liên minh HTX quốc tế quy định nhằm tạo điều kiện cho các HTX hoạt động độc lập, dân chủ với tư cách là tổ chức kinh doanh do xã viên làm chủ

Trang 33

1.1.2.2 Quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã ở Việt Nam

1.1.2.2.1 Thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta trước khi có luật hợp tác xã 1996

* Giai đoạn trước khi có chỉ thị 100/CT-TW (1955-1980): Là một nước

có 90% dân số sống ở nông thôn, cuộc sống chủ yếu dựa vào nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, lại bị đế quốc và phong kiến thống trị và bóc lột nặng

nề, ngay từ năm 1930 trong Cương lĩnh đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục đích chính trị là lãnh đạo nhân dân làm cách mạng dân tộc dân chủ, thực hiện khẩu hiệu “dân tộc độc lập và người cày có ruộng” rồi tiến lên cách mạng XHCN

Thực hiện chủ trương từng bước đưa nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể để tránh đói nghèo và giúp đỡ nhau trong sản xuất Hội nghị trung ương lần thứ 8 (khóa II-8/1955) đã quyết định thí điểm xây dựng một số HTXNN

Đến cuối năm 1955 có 6 HTX được thành lập Năm 1956 xây dựng thêm 28 HTX và năm 1957 xây dựng thêm 4 HTX nữa Đến tháng 10/1957 ở miền Bắc đã xây dựng 42 HTX, nhưng có 9 HTX bị vỡ còn lại 33 HTX Theo đánh giá Hội nghị tổng kết công tác thí điểm HTX (10/1957) nhìn chung các HTX thí điểm vẫn chưa hơn tổ đổi công, còn kém xa trung nông về sản xuất Thu nhập của phần đông xã viên bị giảm sút Nguyên nhân là do trình độ quản lý HTX yếu kém; chính sách phân phối không hợp lý Do tình hình đó nên xã viên thiếu tin tưởng, có nhiều người, kể cả đảng viên, xin ra HTX [25]

Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều giải pháp để củng cố HTX và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp

Đến năm 1965 đã có tới 18.560 HTX bậc cao, chiếm tỷ lệ 76,7% tổng

số HTX Đảng quyết định mở cuộc vận động “cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật” Nội dung của cải tiến quản lý là: giúp HTX xác định phương hướng, lập kế hoạch sản xuất; quản lý lao động, quản lý tài vụ Cải tiến kỹ thuật với nội dung: đủ nước, nhiều phân, tốt giống…

Trang 34

Tuy vậy, những giải pháp trên đã không đem lại hiệu quả mong muốn, kinh tế HTX vẫn tỏ ra trì trệ và kém phát triển so với tiềm năng và ước nguyện của xã viên Đến năm 1965 toàn miền Bắc có 5.400 HTX kém phát triển (chiếm 18%) Hiện tượng HTX tan vỡ và xã viên xin ra vẫn diễn ra phổ biến và kéo dài Vào những năm 70, sau 10 năm tiến hành hợp tác hóa, kinh tế HTXNN ở nước

ta đã lâm vào khủng hoảng, rất nhiều HTX tan rã, số lượng HTXNN toàn miền Bắc giảm xuống chỉ còn 19.924, tức giảm 50,7% so với 1960 [25]

Đến năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Ở miền Bắc, các HTXNN tiếp tục được mở rộng quy mô và quản lý theo mô hình chuyên môn hóa, tập trung hóa, gắn cơ sở HTX với phạm vi toàn huyện Đến giai đoạn này phong trào hợp tác hóa đã rơi vào khủng hoảng toàn diện Bộ máy quản lý của các HTX cồng kềnh, kém hiệu quả Sản xuất đình trệ, diện tích đất bỏ hoang ngày càng nhiều Thu nhập của xã viên xút kém nghiêm trọng Tình trạng thất thoát, hư hỏng tài sản của HTX diễn ra phổ biến Bình quân thu nhập bằng thóc của xã viên từ HTX 1 khẩu/tháng từ 1976-1980 như sau:

Bảng 1.1: Bình quân thu nhập từ HTX của 1khẩu/tháng giai đoạn 1976 -1980

Trang 35

* Giai đoạn 1981-1988: Vào cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, phong

trào hợp tác hóa nông nghiệp ở nước ta rơi vào bế tắc Trên cơ sở nghiên cứu tổng kết rút kinh nghiệp từng bước, ngày 13/01/1981 Ban bí thư TW Đảng

đã ban hành chỉ thị 100 CT/TW về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp”

Cơ chế khoán theo hộ cho phép các hộ xã viên được bỏ vốn, sức lao động đầu tư thâm canh trên ruộng đất tập thể để được hưởng phần vượt mức khoán Chỉ thị 100 CT/TW đã trở thành một giải pháp tình thế đáp ứng được lợi ích của nông dân, khơi dậy sinh khí mới trong nông nghiệp Đây là bước chuyển có ý nghĩa mở đầu quá trình tìm hướng đổi mới HTX

Sau hơn 4 năm thực hiện Chỉ thị 100 CT/TW (1981-1985), sản xuất nông nghiệp nước ta có bước tiến đáng kể nhờ mặt tích cực cơ chế khoán mới kích thích sự nỗ lực của người lao động nhằm vượt sản lượng khoán của HTX Giai đoạn 1981-1985, sản lượng lương thực quy thóc tăng 27%, năng suất lúa tăng 23,8%, đàn trâu bò tăng 33,2%

Tuy nhiên, cơ chế khoán theo chỉ thị 100 mới chỉ đột phá làm thay đổi bước đầu quan hệ quản lý và quan hệ phân phối của các HTX, còn quan hệ sở hữu là khâu quyết định vẫn chưa đụng chạm tới Tình trạng tham ô, lãng phí diễn ra nghiêm trọng Lợi ích của người lao động bị vi phạm Vì vây, động lực vượt khoán bị triệt tiêu Nông dân xã viên chán nản, nhiều người trả lại ruộng khoán Sản xuất nông nghiệp lại suy giảm Thực trạng đó đòi hỏi phải

có những chủ trương, biện pháp tháo gỡ kịp thời

* Giai đoạn từ khi có nghị quyết 10 của Bộ chính trị ngày 05/4/1988 đến khi Luật HTX ra đời (1988-1996): Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, ngày

05/04/1988 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 10 (thường gọi tắt là “khoán 10”)

về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” thay thế cho cơ chế khoán theo Chỉ thị 100 Nghị quyết 10 xác định HTX là đơn vị kinh tế tự chủ, tự quản, hộ gia đình xã viên là đơn vị nhận khoán với HTX

Trang 36

Quá trình biến đổi hệ thống HTX kiểu cũ diễn ra theo các xu hướng sau:

Từ năm 1988-1994 đã có 2.958 HTX chiếm 17% tổng số HTXNN và 33.804 tập đoàn sản xuất chiến 93% tập đoàn sản xuất nông nghiệp giải thể,

số hộ xã viên tham gia HTX giảm mạnh từ 86% xuống 10% ở các tỉnh Nam

bộ, từ 91% giảm xuống còn 45% ở các tỉnh miền núi phía Bắc Số HTX còn lại buộc phải tiến hành đổi mới mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý nội bộ theo hướng tinh, gọn và hiệu quả, nhiều chức năng được lồng ghép để giảm bớt chi phí quản lý Nhiều HTX quy mô toàn xã ở các tỉnh miền Bắc lại chia thành nhiều HTX nhỏ Đến cuối năm 1996, cả nước có 13.782 HTX với 60% số hộ nông dân tham gia, trong đó vùng Miền núi Trung du phía Bắc có 6.075 HTX, Đồng bằng sông Hồng có 2.558 HTX, Khu 4 cũ có 3.479 HTX, Duyên hải miền Trung có 917 HTX, Tây nguyên có 295 HTX, Đông Nam bộ

có 398 HTX, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có 60 HTX

Như vậy có thể nói, trong giai đoạn này kinh tế hợp tác và HTX trong nông nghiệp có những biến đổi rõ rệt từ hình thức hợp tác, nội dung đến phương thức hoạt động Tuy nhiên, cùng với những biến đổi đó là sự giảm sút đáng kể về số lượng và sự thay đổi căn bản trong các quan hệ về sản xuất, sở hữu, phân phối và quản lý Điểm then chốt trong đổi mới mô hình HTXNN là việc thừa nhận địa vị tự chủ về kinh tế của hộ nông dân và việc tạo điều kiện cho hộ nông dân từng bước trở thành đơn vị kinh tế tự chủ; HTX chuyển từ chức năng tổ chức sản xuất nông nghiệp sang chức năng cung ứng dịch vụ cho các hộ nông dân

Để đáp ứng yêu cầu trên, ngày 20/03/1996, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 9 đã thông qua Luật HTX Đây là bước tiến lớn trong tổ chức, quản lý

và phát triển kinh tế hợp tác, trong đó có các HTXNN

Sau khi luật HTX ra đời, Chính phủ đã ban hành Nghị định 15/CP ngày 21/01/1997 quy định về chính sách khuyến khích phát triển HTX và Nghị

Trang 37

quyết 16/CP ngày 21/02/1997 về xử lý công nợ với HTX cũ chuyển đổi sang hoạt động theo luật Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành Thông tư số 14/BKH ngày 29/03/1997 hướng dẫn việc chuyển đổi và đăng ký kinh doanh HTX 1.1.2.2.2 Thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta từ khi có luật hợp tác xã 1996 đến nay

* Tình hình phát triển HTXNN theo luật HTX năm 1996 và luật HTX sửa đổi năm 2003

Sau khi luật HTX được ban hành năm 1996 và có hiệu lực từ 01/01/1997, quá trình phát triển HTXNN ở nước ta diễn ra theo hai hình thức chủ yếu: chuyển đổi HTXNN kiểu cũ sang HTXNN kiểu mới và thành lập mới HTXNN với chức năng chủ yếu làm dịch vụ cho kinh tế hộ

- Về chuyển đổi HTXNN kiểu cũ thành HTXNN kiểu mới: Chuyển đổi HTXNN kiểu cũ thành HTXNN kiểu mới theo Luật HTX 1996 là giữ nguyên HTXNN cũ nhưng đổi mới phương thức tổ chức quản lý HTX theo luật Quá trình này được tiến hành như sau:

+ Kiểm kê, đánh giá lại tài sản của HTX cũ, làm rõ các khoản nợ phải thu, các khoản phải trả

+ Tiến hành chuyển giao cho chính quyền quản lý những cơ sở vật chất dùng cho cả cộng đồng, bao gồm nhà trẻ, mẫu giáo, đài truyền thanh…

+ Làm rõ tiêu chuẩn xã viên và đăng ký lại danh sách xã viên

+ Phân bổ giá trị tài sản, quỹ được kế thừa từ HTX cũ thành vốn góp của xã viên trong HTX mới

Trang 38

Đây là cách làm chủ yếu ở một số tỉnh miền Bắc như Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên

Tuy nhiên, cách chuyển đổi này cũng mang nặng tính hình thức Các HTX mới chỉ đổi mới về tên gọi, về bộ mày mà chưa đổi mới về nội dung hoạt động Việc tổ chức đại hội xã viên, bầu chủ nhiệm, ban quản trị, ban kiểm soát vẫn theo cơ chế cũ, do cấp ủy giới thiệu và lãnh đạo Do đó nhiều chủ nhiệm HTX thiếu hăng say, nhiệt tình, làm việc chỉ vì trách nhiệm Đảng giao [25]

- Về thành lập mới HTXNN: Các HTXNN thành lập mới có 2 loại Loại thứ nhất là các HTX được thành lập mới hoàn toàn do một số hộ nông dân có nhu cầu hợp tác tự nguyện thành lập và đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Loại thứ hai là các HTX được thành lập trên

cơ sở đình chỉ, giải thể các HTXNN kiểu cũ

Đây là cách làm của nhiều tỉnh phía nam như Đồng Nai, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp…

Đặc trưng của các HTXNN mới thành lập thể hiện ở chỗ chúng hoàn toàn được thành lập trên cơ sở tự nguyện của các hộ nông dân, khác hẳn với HTXNN chuyển đổi từ các HTXNN kiểu cũ Những ưu điểm của loại hình HTXNN mới thành lập theo luật HTX 1996 là:

- Thành lập đúng luật HTX và các nguyên tắc đã đề cập ở phần trên

- HTX kiểu mới được thành lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện của các

hộ nông dân, thể nhân, pháp nhân sản xuất hàng hóa và xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của sản xuất Đó là những người có tính tự chủ cao, có vốn, có kinh nghiệm sản xuất và có nguyện vọng hợp tác trong việc cung cấp dịch vụ nông nghiệp, do đó họ rất gắn bó và có trách nhiệm với HTX

- Các xã viên tự nguyện góp vốn, tùy theo sức của từng người nhưng nói chung là góp nhiều, có xã viên góp vốn hàng chục triệu đồng, đảm bảo cho HTX có đủ vốn để kinh doanh, đồng thời tìm mọi cách để kinh doanh có hiệu quả

Trang 39

- Việc thành lập HTX ngay từ đầu đã có Ban sáng lập là những người có trình độ kỹ thuật và trình độ kinh doanh Tổ chức bộ máy quản lý của HTX gọn nhẹ, Ban quản lý HTX được đại hội xã viên bầu ra, thực sự là đại diện xứng đáng cho lợi ích của xã viên Hoạt động của HTX không lệ thuộc vào chính quyền xã [25]

- HTX tạo điều kiện cho các hộ xã viên phát huy tối đa khả năng về vốn, lao động và kinh nghiệm trong sự liên kết hợp tác với các thành viên khác của HTX vì lợi ích chung của xã viên cũng như của cộng đồng

- HTX thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động và theo vốn góp, đảm bảo công bằng, bình đẳng giữa các thành viên Lãi của HTX vừa phân phối theo vốn góp vừa căn cứ vào mức độ sử dụng dịch vụ và công sức đóng góp của hộ xã viên cả về của, về công và trí tuệ

Thực hiện Luật HTX 1996, nhiều địa phương đã thí điểm và từng bước

mở rộng phong trào chuyển đổi các HTXNN kiểu cũ hoặc thành lập mới các HTXNN Đến cuối năm 2008, các tỉnh phía Bắc và miền Trung đã căn bản hoàn thành chuyển đổi các HTXNN theo Luật, các tỉnh Nam bộ chủ yếu thành lập các HTXNN kiểu mới Số lượng HTXNN kiểu mới ngày càng tăng trong những năm gần đây: Năm 2000 có 6.411 HTX; năm 2001 có 7.171; năm 2005

có 8.511 HTXNN đang hoạt động và đến cuối năm 2008 số lượng HTXNN trong cả nước là 8.622 HTXNN Như vậy sau 48 năm (1960-2008), phong trào HTX hóa trong nông nghiệp ở nước ta đã trải qua nhiều thăng trầm, biến đổi cả

về vai trò, mô hình tổ chức và hiệu quả kinh tế, song đậm nét nhất là số lượng HTXNN của cả nước giảm mạnh Đến năm 2008, số HTXNN chỉ còn lại 21,33% so với năm 1960, giảm 78,67% Song đây là nhóm các HTX đã và đang đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo mô hình mới Các HTXNN kiểu mới này bước đầu sản xuất kinh doanh đã có lãi, đóng góp tích cực vào việc tăng trưởng trong nông nghiệp, vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây

Trang 40

dựng nông thôn mới Tuy nhiên, thực trạng phát triển các HTX kiểu mới cũng đang còn nhiều mặt cần được xem xét, tổng kết và đánh giá để từ đó có phương hướng, giải pháp phù hợp cho việc phát triển mạnh loại hình này

Biểu đồ 1: Số lượng HTXNN cả nước từ năm 1960 - 2008

0 5000 10000 15000 20000 25000 30000 35000 40000 45000

về thành viên tham gia, thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh Nhờ vậy, các HTXNN đã đảm bảo duy trì được sản xuất kinh doanh, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của các hộ thành viên, giải quyết được công ăn việc làm và làm tăng thu nhập cho người lao động

Ngày đăng: 20/09/2014, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban chỉ đạo đổi mới, phát triển KTHT và HTX tỉnh Thái Nguyên (2002), Báo cáo đánh giá tình hình hoạt động kinh tế hợp tác, HTX tỉnh Thái Nguyên từ khi triển khai thực hiện Luật HTX đến năm 2002, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tình hình hoạt động kinh tế hợp tác, HTX tỉnh Thái Nguyên từ khi triển khai thực hiện Luật HTX đến năm 2002
Tác giả: Ban chỉ đạo đổi mới, phát triển KTHT và HTX tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2002
4. Bộ NN&PTNT (2000), Báo cáo kết quả dự án điều tra hiện trạng và đánh giá hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp chuyển đổi, thành lập mới, đề ra các giải pháp phát triển HTX nông nghiệp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả dự án điều tra hiện trạng và đánh giá hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp chuyển đổi, thành lập mới, đề ra các giải pháp phát triển HTX nông nghiệp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Năm: 2000
5. Nguyễn Văn Bích và tập thể tác giả (2002), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài KHXH 03-03 về lý luận, chính sách và giải pháp đổi mới, phát triển kinh tế hợp tác, nghiệm thu tháng 6/2000 tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài KHXH 03-03 về lý luận, chính sách và giải pháp đổi mới, phát triển kinh tế hợp tác
Tác giả: Nguyễn Văn Bích và tập thể tác giả
Năm: 2002
6. Các Mác (1962), Bản thảo kinh tế triết học 1884, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thảo kinh tế triết học 1884
Tác giả: Các Mác
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1962
7. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết 10 Bộ Chính trị ngày 5/4/1988, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 10 Bộ Chính trị ngày 5/4/1988
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
8. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
Năm: 2001
9. Học viện Nguyễn Ái Quốc (1993), Những hình thức hợp tác trong nông nghiệp - Bước chuyển căn bản từ mô hình cũ sang hình thức mới, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hình thức hợp tác trong nông nghiệp - Bước chuyển căn bản từ mô hình cũ sang hình thức mới
Tác giả: Học viện Nguyễn Ái Quốc
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1993
10. Nguyễn Quang Huân (2003), Thực trạng và giải pháp phát triển các hợp tác xã tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển các hợp tác xã tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Quang Huân
Năm: 2003
11. Liên minh hợp tác xã tỉnh Thái Nguyên (2004), Một số văn bản về tổ chức thực hiện luật Hợp tác xã, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản về tổ chức thực hiện luật Hợp tác xã
Tác giả: Liên minh hợp tác xã tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2004
16. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1996), Luật Hợp tác xã, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hợp tác xã
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
17. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Hợp tác xã (sửa đổi), NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hợp tác xã (sửa đổi)
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
19. Nguyễn Khắc Sơn (2006), Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp củng cố, phát triển các hợp tác xã tỉnh Thái Nguyên, đề tài cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp củng cố, phát triển các hợp tác xã tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Khắc Sơn
Năm: 2006
20. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên (2001), Báo cáo Thực trạng hợp tác xã nông nghiệp và mục tiêu phương hướng thực hiện Luật hợp tác xã của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên từ nay đến năm 2010, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Thực trạng hợp tác xã nông nghiệp và mục tiêu phương hướng thực hiện Luật hợp tác xã của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên từ nay đến năm 2010
Tác giả: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên
Năm: 2001
23. UBND tỉnh Thái Nguyên (2006), Đề án tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006-2010, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006-2010
Tác giả: UBND tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2006
24. UBND tỉnh Thái Nguyên (2005), Báo cáo kết quả thực hiện chương trình đổi mới phát triển kinh tế hợp tác, HTX tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001-2005 và từ thực trạng kinh tế hợp tác, HTX hiện nay ở địa phương, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện chương trình đổi mới phát triển kinh tế hợp tác, HTX tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001-2005 và từ thực trạng kinh tế hợp tác, HTX hiện nay ở địa phương
Tác giả: UBND tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2005
25. GS.TS Hồ Văn Vĩnh (2004), Mô hình phát triển Hợp tác xã nông nghiệp trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hai thập niên đầu thế kỷ XXI, đề tài cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình phát triển Hợp tác xã nông nghiệp trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hai thập niên đầu thế kỷ XXI
Tác giả: GS.TS Hồ Văn Vĩnh
Năm: 2004
1. Ban chấp hành trung ương (2008), Chỉ thị số 20-CT/TW chỉ thị của Ban bí thư về tăng cường lãnh đạo thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Khác
3. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên năm 2008 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009, Thái Nguyên Khác
13. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Khác
14. Nghị quyết số 13-NQ/TW năm 2002 nghị quyết đại hội lần thứ 5 Ban chấp hành trung ương khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Đặc điểm khí hậu tỉnh Thái Nguyên - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.1. Đặc điểm khí hậu tỉnh Thái Nguyên (Trang 46)
Bảng 2.2. Thống kê diện tích đất đai tỉnh Thái Nguyên năm 2008 - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.2. Thống kê diện tích đất đai tỉnh Thái Nguyên năm 2008 (Trang 47)
Bảng 2.3. Tổng sản phẩm của tỉnh qua các năm 2006-2008 - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.3. Tổng sản phẩm của tỉnh qua các năm 2006-2008 (Trang 49)
Bảng 2.4. Kết quả chuyển đổi và thành lập mới các HTXNN năm 2008, - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.4. Kết quả chuyển đổi và thành lập mới các HTXNN năm 2008, (Trang 53)
Bảng 2.5. Tình hình sản xuất kinh doanh dịch vụ của các HTXNN  phân theo vùng sinh thái (tính đến 31/12/2008) - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.5. Tình hình sản xuất kinh doanh dịch vụ của các HTXNN phân theo vùng sinh thái (tính đến 31/12/2008) (Trang 54)
Sơ đồ 01: Thực trạng về hệ thống tổ chức quản lý các HTX trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Sơ đồ 01 Thực trạng về hệ thống tổ chức quản lý các HTX trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Trang 56)
Bảng 2.6. Tổng hợp số lƣợng cán bộ trong các hợp tác xã nông nghiệp - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.6. Tổng hợp số lƣợng cán bộ trong các hợp tác xã nông nghiệp (Trang 57)
Bảng 2.7. Tổng hợp trình độ cán bộ của các HTX NN tỉnh Thái Nguyên - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.7. Tổng hợp trình độ cán bộ của các HTX NN tỉnh Thái Nguyên (Trang 57)
Bảng 2.8. Tình hình tài sản, vốn, quỹ của các HTX NN năm 2008 - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.8. Tình hình tài sản, vốn, quỹ của các HTX NN năm 2008 (Trang 58)
Bảng 2.9. Tình hình công nợ trong các HTX nông nghiệp - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.9. Tình hình công nợ trong các HTX nông nghiệp (Trang 59)
Sơ đồ 2: Tổ chức bộ máy quản lý của các hợp tác xã trên địa bàn - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Sơ đồ 2 Tổ chức bộ máy quản lý của các hợp tác xã trên địa bàn (Trang 63)
Bảng 2.11. Mức thù lao của chủ nhiệm HTXNN trên địa bàn - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.11. Mức thù lao của chủ nhiệm HTXNN trên địa bàn (Trang 67)
Bảng 2.12. Tình hình thực hiện các khâu dịch vụ ở các HTX  Năm - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.12. Tình hình thực hiện các khâu dịch vụ ở các HTX Năm (Trang 73)
Bảng 2.13. Số khâu dịch vụ HTX đảm nhiệm ở Thái Nguyên - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.13. Số khâu dịch vụ HTX đảm nhiệm ở Thái Nguyên (Trang 74)
Bảng 2.14. Ý kiến đánh giá chất lƣợng hoạt động ở các HTX trên địa bàn - một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Bảng 2.14. Ý kiến đánh giá chất lƣợng hoạt động ở các HTX trên địa bàn (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w