1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên

147 354 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song hiện nay, đời sống của đồng bào các dân tộc Định Hoá và Võ Nhai còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất phát triển chậm, số hộ nghèo đói còn khá cao so với toàn tỉnh, xuất phát từ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN ANH TÚ

GIẢI PHÁP KINH TẾ XÃ HỘI NHẰM GIẢM NGHÈO VÀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG CHO NGƯỜI DÂN NGHÈO KHU VỰC MIỀN NÚI

TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ GẤM

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi

trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên” được

thực hiện từ tháng 6/2008 đến tháng 6/2010 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc , đa số thông tin thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương, số liệu đã được tổng hợp và

xử lý trên phần mềm thống kê SPSS 15

Tôi xin cam đoan rằng , số liệu và kết quả nghiên cứu trong lu ận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, năm 2010

Nguyễn Anh Tú

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học, Phòng Đào tạo cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Đại học Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Thị Gấm đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Thái Nguyên, Sở Công thương, Cục Thống kê, Sở Lao động - Thương binh - Xã hội,

Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Khoa học - Công nghệ, Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên, Phòng Thống kê, Phòng Lao động - Thương binh xã hội các huyện Định Hoá và Võ Nhai và các hộ gia đình trong mẫu điều tra đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ khi điều tra tài liệu, số liệu để thực hiện luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2010

Tác giả luận văn

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng, biểu, biểu đồ, sơ đồ vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 4

5 Bố cục của đề tài 4

CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 16

1.2 Phương pháp nghiên cứu 37

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 37

1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 37

1.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 41

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG CHO NGƯỜI NGHÈO KHU VỰC MIỀN NÚI TỈNH THÁI NGUYÊN 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 42

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 42

2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 48

2.1.3 Đánh giá tình hình chung 57

2.2 Kết quả thực hiện xoá đói giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên 58

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.2.1 Đối với tỉnh Thái Nguyên 58

2.2.2 Thực trạng nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu 59

2.3 Đánh giá thực trạng đói nghèo ở khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên 61

2.3.1 Nguồn lực của hộ gia đình trong mẫu điều tra 61

2.3.2 Một số chỉ tiêu về điều kiện sinh hoạt của nhóm hộ điều tra 69

2.3.3 Nguồn lực đất đai 70

2.3.4 Thu nhập bình quân từ của hai nhóm hộ 71

2.3.5 Cơ cấu các nguồn thu nhập 74

2.3.6 Đầu tư cho trồng trọt 76

2.3.7 Đầu tư cho chăn nuôi 78

2.3.8 Các chi phí trong năm của nhóm hộ nghiên cứu 79

2.3.9 Khả năng tiếp cận và sử dụng vốn vay của hai nhóm hộ 82

2.4 Các khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế hộ 84

2.4.1 Đối với tiêu chí đất trồng lúa 86

2.4.2 Đối với tiêu chí về lao động 87

2.4.3 Đối với tiêu chí về nguồn vốn 88

2.4.4 Đối với tiêu chí về thông tin khoa học kỹ thuật 90

2.4.5 Đối với tiêu chí nguồn nước tưới cho cây trồng 91

2.5 Thực trạng bảo vệ và cải thiện môi trường sống 94

2.5.1 Hiện trạng xử lý rác thải 95

2.5.2 Xử lý vỏ các loại thuốc bảo vệ thực vật 95

2.5.3 Xử lý phân gia súc, gia cầm 97

2.5.4 Điều kiện nhà vệ sinh nông thôn 98

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO CÁC HỘ NGHÈO Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 3.1 Phương hướng phát triển kinh tế xã hội cho hộ nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên 100

3.2 Nhóm giải pháp đối với các cơ quan chức năng 102

3.3 Nhóm giải pháp đối với các hộ gia đình 105

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận 109

2 Một số kiến nghị 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 1 2

PHỤ LỤC 2 18

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6 ILO Tổ chức lao động quốc tế

7 ISO Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế

8 TC 207 Ủy ban kỹ thuật 207

9 UBND Ủy ban nhân dân

10 UNDP Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc

11 UNEP Chương trình môi trường

12 WB Ngân hàng thế giới

13 WCED Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1.1: Tình hình nghèo đói theo vùng ở Việt Nam, giai đoạn 2007-2009 24

Bảng 1.2: Số lượng và địa điểm điều tra kinh tế hộ năm 2009 37

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 45

Bảng 2.2: Dân số và lao động của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 48

Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế của tỉnh Thái Nguyên 50

Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục tỉnh Thái Nguyên năm 2009 52

Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế của tỉnh Thái Nguyên 53

Bảng 2.6: Thực trạng nghèo đói của tỉnh Thái Nguyên 58

Bảng 2.7: Tỷ lệ số hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu 60

Bảng 2.8: Thông tin chung về chủ hộ 62

Bảng 2.9: Khả năng về vốn bằng tiền của chủ hộ 64

Bảng 2.10: Thống kê về số lượng vật nuôi của hai nhóm hộ nghiên cứu 68

Bảng 2.11: Thông tin chung về chủ hộ 69

Bảng 2.12: Nguồn lực đất đai của hộ 70

Bảng 2.13: Thu nhập bình quân của hai nhóm hộ 71

Bảng 2.14: Chi phí cho hoạt động trồng lúa của hai nhóm hộ 77

Bảng 2.15: Các khó khăn trong phát triển kinh tế hộ 85

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu 2.1: Bảng thống kê các tài sản thiết yếu 67

Biểu 2.2 Cơ cấu các nguồn thu nhập 75

Biểu 2 3: Chi phí bình quân về chăn nuôi 78

Biểu 2.4: Các khoản chi phí cho cuộc sống 80

Biểu 2.5: Các khoản chi phí cho các hoạt động xã hội 81

Biểu 2.6: Số lượng và quy mô các khoản vay 82

Biểu 2.7: Phân bổ vốn vay trong sản xuất kinh doanh 83

Biểu 2 8: Giải quyết khi hộ không có đủ đất trồng lúa 86

Biểu 2.9 : Phương án xử lý khi hộ thiếu lao động 88

Biểu 2.10: Phương án xử lý khi hộ thiếu vốn 89

Biểu 2.11: Phương án xử lý khi hộ thiếu thông tin khoa học kỹ thuật 90

Biểu 2.12: Phương án xử lý khi hộ thiếu nguồn nước 92

Biểu 2.13: Sử lý rác thải sinh hoạt hàng ngày 95

Biểu 2.14: Xử lý vỏ chai, lọ thuốc trừ sâu 96

Biểu 2 15: Các hình thức xử lý phân gia súc, gia cầm 97

Biểu 2.16: Điều kiện nhà vệ sinh của hai nhóm hộ 98

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử của xã hội loài người, đặc biệt từ khi có giai cấp đến nay, vấn

đề phân biệt giàu nghèo đã xuất hiện và đang tồn tại như một thách thức lớn đối với phát triển bền vững của từng quốc gia, từng khu vực và toàn bộ nền văn minh hiện đại Đói nghèo và tấn công chống đói nghèo luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, bởi vì giàu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của một quốc gia Đói nghèo thường gây ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn định về xã hội, bất ổn về chính trị Mọi dân tộc tuy có thể khác nhau về khuynh hướng chính trị, nhưng đều có một mục tiêu là làm thế nào để quốc gia mình, dân tộc mình giàu có Trong thực tế ở một số nước cho thấy khi kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao bao nhiêu thì tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư lại càng bức xúc và

có nguy cơ dẫn đến xung đột

Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển không đồng đều, làm sâu sắc thêm sự phân hoá giữa các tầng lớp dân cư trong quốc gia Khoảng cách về mức thu nhập của người nghèo so với người giàu càng ngày càng có xu hướng rộng ra đang là một vấn đề có tính toàn cầu, nó thể hiện qua tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, về nạn đói, nạn suy dinh dưỡng vẫn đang đeo đẳng gần 1/3 dân số thế giới

Nhân loại đã bước sang thế kỷ 21 và đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, phát triển kinh tế, nhưng vẫn phải đối mặt với một thực trạng nhức nhối Đó là nạn đói nghèo vẫn còn chiếm một

tỷ lệ đáng kể ở nhiều nước mà nổi bật là ở những quốc gia đang phát triển Ở Việt Nam từ khi có đường lối đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ thị trường có sự điều tiết của nhà nước, tuy nền kinh tế có phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng hàng năm là khá cao, nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vấn đề phân hoá giàu nghèo, hố ngăn cách giữa bộ phận dân cư giàu và nghèo đang có chiều hướng mở rộng nhất là giữa các vùng có điều kiện thuận lợi so với những vùng khó khăn, trình độ dân trí thấp như vùng sâu vùng xa Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ đối với những vùng gặp khó khăn, những hộ gặp rủi ro vươn lên xoá đói giảm nghèo nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc Trong những năm qua tình hình kinh tế - xã hội đã có nhiều tiến bộ đáng kể Tuy nhiên, ở khu vực miền núi cao của tỉnh, đời sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp Do vậy, xoá đói giảm nghèo vẫn là một công tác đòi hỏi Tỉnh Thái Nguyên phải tiến hành thường xuyên, liên tục, trong đó Định Hoá và Võ Nhai là hai huyện miền núi của Tỉnh Thái Nguyên, có 8 dân tộc cùng sinh sống Định Hoá là trung tâm của An toàn khu (ATK) Trung Ương trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Nhân dân các dân tộc huyện Định Hoá đã phát huy truyền thống cách mạng góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, đưa đến thắng lợi của kháng chiến chống Pháp Ngày nay, ATK Định Hoá là một trong những khu di tích lịch sử có tầm quan trọng của dân tộc Việt Nam Song hiện nay, đời sống của đồng bào các dân tộc Định Hoá và Võ Nhai còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất phát triển chậm, số hộ nghèo đói còn khá cao

so với toàn tỉnh, xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài “Giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống

cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi trường sống, nâng cao đời sống cho các hộ gia đình dân tộc miền núi Tỉnh Thái Nguyên

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghèo đói

- Đánh giá được thực trạng nghèo đói của hộ gia đình các dân tộc miền núi tỉnh Thái Nguyên

- Chỉ ra được những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói của hộ gia đình các dân tộc miền núi tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất được một số giải pháp kinh tế xã hội nhằm xoá đói giảm nghèo

và cải thiện môi trường sống cho đồng bào dân tộc miền núi tỉnh Thái Nguyên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình sản xuất, tình trạng đói nghèo

và môi trường sống của các hộ gia đình khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.2.1 Không gian nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu tại Huyện Định Hoá và Võ Nhai - Tỉnh Thái Nguyên

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những số liệu sơ cấp được điều tra vào tháng

12 năm 2009 và số liệu thứ cấp thời kỳ 2007 – 2009

3.2.3 Nội dung nghiên cứu

Đề tài được giới hạn trong phân tích nguyên nhân kinh dẫn đến nghèo đói

và cải thiện môi trường sống của các hộ gia đình khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên, qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản Giới hạn nghiên cứu của đề tài

nghiên cứu: Thứ nhất, đối với vấn đề đói nghèo bao gồm: Các nguồn lực chủ

yếu trong phát triển kinh tế hộ: Đất đai, lao động, tài chính, khuyến nông, nguồn

nước Thức hai, đối với vấn đề cải thiện môi trường sống gồm có: Xử lý rác thải

trong sinh hoạt hàng ngày, vỏ chai thuốc trừ sâu, phân gia súc gia cầm, điều kiện nhà vệ sinh Trong phạm vi của đề tài: Môi trường sống của người dân được

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nghiên cứu là môi trường tự nhiên chỉ bao gồm nguồn nước và đất đai Môi trường này được đánh giá trong mối liên hệ mật thiết với đời sống của người dân khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu giúp cho UBND huyện Định Hoá và Võ Nhai nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung xây dựng và thực hiện các giải pháp xoá đói, giảm nghèo và bảo vệ môi trường sống cho người dân khu vực miền núi

5 Bố cục của đề tài

Bố cục của đề tài: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham

khảo, luận văn được chia thành 3 chương cụ thể như sau:

Chương I: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Chương II: Thực trạng xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên

Chương III: Một số giải pháp nhằm xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

CHƯƠNG I

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1.1 Khái niệm về nghèo đói

Nghèo đói là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi tuỳ thuộc vào không gian, thời gian và xuất phát điểm của mỗi địa phương, mỗi quốc gia Tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng như quan điểm nghiên cứu khác nhau mà nghèo đói được phát biểu khác nhau Sau đây là các quan điểm tiếp cận vấn đề nghèo đói;

Theo cách tiếp cận hẹp [16]

Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư khác Theo cách tiếp cận này về vấn đề nghèo đói chưa bao quát được tính chất tuyệt đối của nghèo đói, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo đói tương đối, mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại nghèo đói kể cả ở những quốc gia giàu nhất Nếu đứng trên phương diện so sánh mức sống, mức thu nhập của các nhóm dân cư thì lúc nào cũng có một nhóm dân cư đứng thấp nhất, nhóm đứng cao nhất và các nhóm trung bình Đó là nghèo đói tương đối Nhưng thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất cũng đã xuất hiện nhóm nghèo đói tuyệt đối, nghĩa là họ sống một cuộc sống cùng cực, ở tạm bợ và lo lắng về từng bữa ăn

Cách tiếp cận này là cách tiếp cận phổ biến hiện nay Những người theo quan điểm này có xu hướng tìm kiếm một chuẩn nghèo chung để đánh giá mức độ nghèo đói của từng nhóm dân cư, mà không đi sâu vào giải quyết những nguyên nhân sâu xa, những căn nguyên sâu xa, bản chất bên trong của vấn đề, tức là cơ chế nội tại của nền kinh tế đang hàng ngày hàng giờ đẩy một nhóm dân

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cư đi vào tình trạng nghèo đói như một xu thế tất yếu xẩy ra Do đó, các biện pháp tấn công nghèo đói đưa ra trên theo quan điểm này thường thiếu triệt để, họ chỉ dừng lại ở các biện pháp hỗ trợ tài chính, kinh tế, và các biện pháp kỹ thuật cho nhóm dân cư nghèo đói đó, nó sẽ không tạo được động lực để bản thân những người nghèo tự mình vươn lên trong cuộc sống

Theo cách tiếp cận rộng [16]

Vấn đề nghèo đói theo quan điểm này được tiếp cận từ phương pháp luận cho rằng căn nguyên sâu xa của nghèo đói là do trong xã hội có sự phân hoá giàu nghèo, mà chính sự phân hoá đó là hệ quả của chế độ kinh tế xã hội Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, khi mà năng suất lao động còn thấp, chưa có tích luỹ thì giữa con người chưa có sự phân hoá giàu nghèo Nhưng khi xã hội càng phát triển, có sự phân công lao động trong lực lượng sản suất, xã hội đã bắt đầu

có tích luỹ thì cấu trúc xã hội trên quan hệ thị tộc cũng đã bắt đầu biến đổi, xuất hiện chiếm hữu tư nhân và trao đổi hàng hoá Xã hội đã phân chia thành nhiều giai cấp, trong xã hội đã có người giàu người nghèo đây là mầm mống của những xung đột giữa các giai cấp Cách tiếp cận rộng cho phép tiếp cận nghèo đói một cách toàn diện, đặt hiện tượng nghèo đói trong sự so sánh với giàu có và trong hoàn cảnh nhất định Khi nói đến người nghèo chúng ta không thể không đặt họ vào sự so sánh toàn diện với người giàu, bằng cách đó chúng ta mới có thể nhìn thấu đáo hộ nghèo và đói như thế nào, từ đó lý giải một cách khoa học thực chất của quá trình dẫn tới đói nghèo

Từ những cách tiếp cận vấn đề nghèo đói chúng ta có thể rút ra được những kết luận sau:

- Phân hoá giàu nghèo không những là hệ quả của các xã hội có giai cấp và phân chia giai cấp, mà còn thể hiện bản chất sâu xa của các xung đột xã hội giữa lớp người giàu lớp người nghèo Giải quyết căn bản vấn đề này chỉ có thể trên

cơ sở giải quyết căn bản vấn đề bất bình đẳng trong xã hội

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Phân hoá giàu nghèo là hiện tượng phát sinh trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Bởi vậy, nếu không xử lý kịp thời, hoặc không có cơ chế duy trì

sự công bằng nhất định hay hạn chế quá trình làm trầm trọng thêm hố ngăn cách giữa lớp người giàu và lớp người nghèo, thì nguy cơ phân tầng xã hội, phân hoá giai cấp cũng sẽ diễn ra

- Chủ thể có đầy đủ khả năng điều hòa thu nhập giữa các nhóm dân cư là Nhà nước, tuy nhiên do bản chất nhà nước ở các chế độ, cũng như định hướng chính trị khác nhau là rất khác nhau nên năng lực cũng như tính triệt để của các giải pháp xử lý hố ngăn cách giàu nghèo có thể dựa trên cách tiếp cận rộng hay hẹp tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, trong từng thời điểm lịch sử nhất định

1.1.1.2 Các quan điểm về chỉ tiêu đánh giá về mức nghèo đói hiện nay

Cho đến nay dường như đã đi đến một cách tiếp cận tương đối thống nhất

về đánh giá mức độ nghèo đói, đó là định ra một tiêu chuẩn hay một điều kiện chung nào đó, mà hễ ai có thu nhập hay chi tiêu dưới mức thu nhập chuẩn thì sẽ không thể có một cuộc sống tối thiểu hay đạt được những nhu cầu thiết yếu cho

sự tồn tại trong xã hội Trên cơ sở mức chung đó để xác định người nghèo hay không nghèo Tuy nhiên, khi đi sâu vào kỹ thuật tính chuẩn nghèo thì có nhiều cách xác định khác nhau theo cả thời gian và không gian

Ở đây cần phân biệt rõ mức sống tối thiểu và mức thu nhập tối thiểu Mức thu nhập tối thiểu hoàn toàn không có nghĩa là có khả năng nhận được những thứ cần thiết tối thiểu cho cuộc sống Trong khi đó mức sống tối thiểu lại bao hàm tất cả những chi phí để tái sản xuất sức lao động gồm năng lượng cần thiết cho cơ thể, giáo dục, nghỉ ngơi giải trí và các hoạt động văn hoá khác Do vậy, khái niệm về mức sống tối thiểu không phải là một khái niệm tĩnh mà là động, một khái niệm tương đối và rất phong phú về nội dung và hình thức, không chỉ

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tuỳ theo sự khác nhau về môi trường văn hoá, mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi

về đời sống vật chất cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế

Quan điểm của ngân hàng thế giới (WB) năm 1998

- Trong việc lựa chọn tiêu thức đánh giá WB đã lựa chọn tiêu thức phúc lợi với những chỉ tiêu về bình quân đầu người bao gồm cả ăn uống, học hành, mặc, thuốc men, dịch vụ y tế, nhà ở và giá trị hàng hoá lâu bền Tuy nhiên, báo cáo về những số liệu này về thu nhập ở Việt Nam sẽ thiếu chính xác bởi phần lớn người lao động tự hành nghề

- WB đưa ra hai ngưỡng nghèo:

+ Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một số lương thực gọi là ngưỡng nghèo lương thực

Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm mà WB đưa ra theo cuộc điều tra mức sống 1998 là lượng lương thực, thực phẩm tiêu thụ phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với năng lượng 2000-2200 kcal mỗi người mỗi ngày Người dưới ngưỡng đó thì là nghèo về lương thực Dựa trên giá cả thị trường để tính chi phí cho rổ lương thực đó Và theo tính toán của WB chi phí để mua rổ lương thực là 1.286.833 đồng/người/năm

+ Ngưỡng nghèo thứ hai là bao gồm cả chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung

Cách xác định ngưỡng nghèo chung:

Ngưỡng nghèo chung =(ngưỡng nghèo lương thực)+(ngưỡng nghèo phi lương thực)

Ngưỡng nghèo được tính toán về phần phi lương thực năm 1998 là 503038 đồng/người/năm từ đó ta có ngưỡng nghèo chung là 1.789.871 đồng/người/năm

- Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization viết tắt là ILO) về chuẩn nghèo đói:

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Về chuẩn nghèo đói ILO cho rằng để xây dựng “rổ” hàng hoá cho người nghèo cơ sở xác định là lương thực thực phẩm Rổ lương thực phải phù hợp với chế độ ăn uống sở tại và cơ cấu bữa ăn thích hợp nhất cho những nhóm người nghèo Theo ILO thì có thể thu được nhiều kcalo từ bất kỳ một sự kết hợp thực phẩm mà xét về chi phí thì có sự khác nhau rất lớn Với người nghèo thì phải thoả mãn nhu cầu thực phẩm từ các nguồn kcalo rẻ nhất

+ ILO cũng thống nhất với ngân hàng thế giới về mức ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm 2100 kcalo, tuy nhiên ở đây ILO tính toán tỷ lệ lương thực trong

rổ lương thực cho người nghèo với 75% kcalo từ gạo và 25% kcalo có được từ các hàng hoá khác được gọi là các gia vị Từ đó mức chuẩn nghèo hợp lý là 511.000 đồng/người/năm

- Quan điểm của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 1998

Tiêu chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê Việt Nam được xác định bằng mức thu nhập tính theo thời giá vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lương thực thực phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lượng 2100 kcalo/ngày/người Những người có mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng trên được xếp vào diện nghèo

- Quan điểm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 1998

Quan điểm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho rằng nghèo là bộ tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng khu vực

+ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo đói dựa những số liệu thu thập về hộ gia đình như sau :

+ Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong một tháng quy

ra gạo được 13 kg

+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập tuỳ theo vùng

Vùng nông thôn, miền núi hải đảo là những hộ có thu nhập dưới 15 kg gạo

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Vùng nông thôn đồng bằng trung du dưới 20 kg gạo

Vùng thành thị dưới 25 kg gạo

Bên cạnh những khái niệm về đói nghèo đã trình bày ở trên, tuỳ thuộc vào những giai đoạn, những hoàn cảnh khác nhau cũng như những mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà người ta có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo đói Hiện nay, có thể tiếp cận nghèo đói theo các hướng sau:

- Người nghèo là những người dễ bị tổn thương Người nghèo bị tổn thương bởi những rủi ro trong sản xuất và đời sống Khả năng hồi phục sau những rủi ro của người nghèo là hạn chế hơn rất nhiều so với những người khá giả

Mức chuẩn nghèo được Việt Nam áp dụng trong giai đoạn 2001-2005 là 80.000 đồng/người/tháng tại vùng nông thôn miền núi và hải đảo, 100.000 đồng/người/tháng tại vùng nông thôn đồng bằng và 150.000 đồng/người/tháng tại vùng thành thị

Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-

2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Ước tính đến đầu năm

2006 cả nước còn khoảng 4,6 triệu hộ nghèo (chiếm 26-27% tổng số hộ trong cả nước), trong đó ở thành thị có 500.000 hộ (chiếm 12% số hộ ở thành thị) và ở nông thôn có 4,1 triệu hộ (chiếm 31% số hộ)

Mức chuẩn nghèo mới cao hơn mức cũ 2 lần, kéo theo số hộ được xếp vào diện nghèo cũng tăng lên 3 lần

Trên đây là một số khái niệm về nghèo đói cũng như một số hướng tiếp cận nghèo đói Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nghiên cứu cũng như phương hướng nghiên cứu khác nhau mà có cách tiếp cận cho phù hợp Trong đề tài này, tác giả công nhận khái niệm nghèo đói của Việt Nam, đồng thời hướng tiếp cận nghèo

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

đói đối với người dân là tiếp cận về khía cạnh kinh tế, có nghĩa là tiếp cận về thu nhập của người dân

1.1.1.3 Khái niệm về môi trường sống

Môi trường sống của con người là một phạm trù rất rộng lớn: Môi trường sống gắn liền với điều kiện tự nhiên (đất, nước, thời tiết, khí hậu ), về phong tục tập quán, về mối quan hệ xã hội giữa người với người

Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: Môi trường sống tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường sống tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

Môi trường sống còn là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường sống định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

Tóm lại, môi trường sống theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và

xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

Môi trường sống theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cuộc sống con người Ví dụ: môi trường sống của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định

1.1.1.4 Tiêu chí đánh giá môi trường sống

Theo đánh giá của UNDP: Trong những năm 60 và đầu những năm 70,

người ta nhận thấy rằng thế giới sẽ gặp phải các vấn đề nghiêm trọng nếu hệ sinh thái của hành tinh không được quan tâm đúng mức Chất lượng không khí ở những khu vực đông dân trên toàn cầu đã bị phá huỷ đến mức báo động Rất nhiều dòng sông trên thế giới đã bị ô nhiễm gây ảnh hưởng đến đời sống ở biển

Do đó, nguồn nước trở nên không an toàn để con người có thể sử dụng với các mục đích khác nhau nữa Thậm chí nước mưa, nguồn nước thường được coi là trong sạch nhất đã trở thành nguồn gây độc cho các loại thực vật, ô nhiễm các dòng sông và phá huỷ các thiết bị ô tô do nước mưa có tính a xít Một bức tranh toàn cảnh truyền từ vệ tinh cho thấy rằng ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở khắp mọi nơi trên trái đất Sự ô nhiễm hành tinh do hoạt động của con người đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với mọi người

Ô nhiễm môi trường không phải là một vấn đề mới Ô nhiễm môi trường

do hoạt động của con người đã tồn tại từ khi con người mới xuất hiện trên trái đất Tuy nhiên, có thể thấy sự liên hệ giữa việc ô nhiễm rộng rãi trên toàn thế giới và cuộc cách mạng về công nghiệp Trong thế kỷ 19 và 2/3 của thế kỷ 20, các nhà máy mọc lên trên khắp các thành phố Việc sử dụng điện của các khu dịch vụ, các cửa hàng và các căn hộ hàng ngày đã thải ra hàng loạt các chất thải vào không khí, vào các dòng sông, dòng suối và đất Khi dân số không nhiều, thì vấn đề dân số đối với môi trường chỉ là vấn đề nhỏ, không cần quan tâm tới Tuy

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhiên, trong những năm gần đây, cùng với việc nhân lên của các nhà máy tại các thành phố; việc tăng số lượng của việc sử dụng các chất độc hại như thuốc trừ côn trùng, thuốc trừ cỏ và phân bón hoá học; với ảnh hưởng của mỗi cá nhân trong việc tạo ra ô nhiễm môi trường từ việc mưu sinh của mình (chủ yếu thông qua việc sử dụng các nguyên liệu hoá thạch và với việc các nguồn gây nguy hại cho hệ sinh thái ngày càng nhiều, sự lờ đi các vấn đề tồn tại không phải là một giải pháp nữa Dân số thế giới đã tăng từ 2.5 tỷ năm 1950 lên gần 6,5 tỷ vào thời điểm hiện nay Việc tăng dân số có nghĩa là dẫn đến ô nhiễm môi trường và đồng thời với việc khai thác tài nguyên nhiều hơn Ô nhiễm môi trường và tăng

sự chịu đựng của thiên nhiên diễn ra cùng một lúc Chúng ta chỉ có thể có những

nỗ lực theo một cách nào đó để kiểm soát dân số nhưng chúng ta không thể giảm việc tăng dân số theo ý định của chúng ta Chỉ một thông số chúng ta có thể giảm được trong vòng kiểm soát của chúng ta - đó là vấn đề ô nhiễm

Vào giữa những năm 80, việc quan tâm đến môi trường đã trở lên quan trọng Tầng ozon bảo vệ môi trường đang giảm dần, và đồng thời tầng khí quyển cũng bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng nhà kính từ đó dẫn đến việc nóng lên toàn cầu Những vệt cỏ dài bị huỷ hoại được quan sát thấy tại vùng mưa nhiệt đới và các nhà khoa học đã cảnh báo rằng toàn bộ hành tinh có thể bị nguy hiểm nếu việc phá rừng để làm nương vẫn tiếp tục Quan điểm của các nhà khoa học khác nhau

về việc suy giảm tầng ozon Một số nhà khoa học nhấn mạnh rằng việc tiếp tục sử dụng chlorofluorocarbons sẽ phá huỷ tầng ozon Chlorofluorocarbons hay CFC được thấy phổ biến trong ngành công nghiệp dung môi, hệ thống điều hoà và gần đây thấy trong các thùng chứa sơn, thuốc xịt tóc và các sản phẩm khác Việc suy giảm tầng ozon có thể gây ung thư da Tương tự như vậy, nếu chúng ta tiếp tục đốt các sản phẩm từ các nguyên liệu hoá thạch (than, các sản phẩm dầu mỏ) với mức độ như hiện nay hoặc cao hơn, mỏm cực băng có thể tan chảy và dẫn đến ngập lụt trên toàn thế giới

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Các nhà khoa học không thể nhất trí với quan điểm việc nóng lên toàn cầu

do con người gây ra Trong khi một nhóm cho rằng nhiệt độ trái đất là tuần hoàn theo các chu kỳ ngắn và dài và chu kỳ này rất rõ rệt Một nhóm khác, khi đã thu thập ý kiến từ các phương tiện thông tin đại chúng và các chính phủ khác nhau cho rằng sự thay đổi khí hậu rất rõ rệt và điều đó do con người gây nên Có thể thấy rất rõ ràng rằng môi trường đã và đang bị con người phá huỷ và các hệ thống sinh thái của trái đất cần được quan tâm hơn

Vấn đề môi trường đang ngày càng được các quốc gia quan tâm Luật bảo vệ môi trường của Mỹ đã được Quốc hội thông qua vào năm 1969, cơ quan bảo vệ môi trường Hoa kỳ đã được thiết lập Mỹ đã triệu tập hội nghị về môi trường tại Stockhom năm 1971 Hai kết quả quan trọng có được từ hội nghị này: Thứ nhất, Chương trình Môi trường (UNEP) của Mỹ đã được thiết lập UNEP sẽ phụ trách vấn đề thúc đẩy trách nhiệm và nhận thức môi trường trên toàn thế giới Nhiệm vụ của UNEP là thông tin đến toàn thế giới về vấn đề môi trường Thứ hai, Hội đồng Thế giới về môi trường và Phát triển (WCED) đã được thiết lập Năm 1987, WCED đã xuất bản một báo cáo kêu gọi các ngành công nghiệp xây dựng hệ thống quản lý môi trường hiệu quả Cũng vào năm 1987, một cuộc họp toàn thế giới đã được tổ chức tại Montreal để xây dựng thoả thuận cần thiết cho việc cấm sản xuất các hoá chất phá huỷ tầng ozôn Kết quả của báo cáo của WCED là hội nghị về môi trường và phát triển của Mỹ năm 1992 (còn gọi là Hội nghị thượng đỉnh về trái đất) ở Rio de Janeiro Để chuẩn bị cho hội nghị này và để ghi nhận sự thành công của việc phát triển tiêu chuẩn ISO 9000 - hệ thống quản lý chất lượng, Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) được đề nghị tham dự Trong suốt năm 1991, ISO cùng với Hội đồng quốc tế về kỹ thuật đã thiết lập nên nhóm tư vấn chiến lược về môi trường (SAGE) với sự tham dự của 25 nước SAGE cho rằng việc nhóm ISO xây dựng tiêu chuẩn quản lý môi trường quốc tế và các công cụ thực hiện và đánh giá là rất thích hợp ISO đã cam kết thiết lập

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tiêu chuẩn quản lý môi trường quốc tế tại hội nghị thượng đỉnh tại Rio de Janeiro năm 1992

Tuy nhiên, một số vấn đề nảy sinh trong giai đoạn đầu Một số quốc gia thành viên đã ngạc nhiên khi thấy SAGE đã vượt qua thẩm quyền của mình để đưa ra quy định về sự cần thiết của các tiêu chuẩn về môi trường và sự cần thiết xây dựng các tiêu chuẩn này Một loạt các công việc liên quan đến các tiêu chuẩn môi trường đã được bắt đầu vào năm 1992 khi ISO thành lập Uỷ ban kỹ thuật 207 (TC 207) là cơ quan sẽ chịu trách nhiệm xây dựng hệ thống quản lý môi trường quốc tế và các công cụ cần thiết để thực hiện hệ thống này Phạm vi cụ thể của TC 207 là xây dựng một hệ thống quản lý môi trường đồng nhất và đưa ra các công cụ để thực hiện hệ thống này Công việc của TC 207 được chia

ra trong 6 tiểu ban và 1 nhóm làm việc đặc biệt Canada là ban thư ký của Uỷ ban kỹ thuật TC 207 và 6 quốc gia khác đứng đầu 6 tiểu ban Những công việc không thuộc phạm vi của TC 207 là các công việc liên quan đến các phương pháp kiểm tra ô nhiễm, đưa ra các giới hạn ô nhiễm và thiết lập các mức đánh giá hiệu quả hoạt động Việc này tránh cho TC 207 liên quan đến các công việc chủ yếu thuộc thẩm quyền của các cơ quan luật pháp [8]

Theo đánh giá của Việt Nam

Đánh giá tác động môi trường sống là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường sống của các dự án quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học kỹ thuật, y

tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường

Hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ở đây có loại mang tính kinh tế - xã hội của quốc gia, của một địa phương lớn, hoặc một ngành kinh tế văn hóa quan trọng (luật lệ, chính sách quốc gia, những chương trình quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch quốc gia dài hạn), có loại mang tính kinh tế - xã hội vi

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

mô như đề án xây dựng công trình xây dựng cơ bản, quy hoạch phát triển, sơ đồ sử dụng một dạng hoặc nhiều dạng tài nguyên thiên nhiên tại một địa phương nhỏ Tuy nhiên, một hoạt động có ý nghĩa vi mô đối với cấp quốc gia, nhưng có thể có ý nghĩa vĩ mô đối với xí nghiệp Hoạt động vi mô nhưng được tổ chức một cách phổ biến trên địa bàn rộng có khi lại mang ý nghĩa vĩ mô

Tác động đến môi trường sống có thể tốt hoặc xấu, có lợi hoặc có hại nhưng việc đánh giá tác động môi trường sống sẽ giúp những nhà ra quyết định chủ động lựa chọn những phương án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ thuật trong bất cứ một kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nào

Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, chúng tôi đánh giá các tác động tiêu cức đến môi trường bằng những tác động có thể nhìn thấy như cách ứng xử đối với rác thải trong sinh hoạt, phân gia súc - gia cầm và điều kiện nhà vệ sinh có thể gây ra ô nhiễm môi trường nước, đất và không khí

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.1.2.1 Tình hình nghèo đói trên thế giới

Theo số liệu của Ngân hàng Thế Giới thì trong năm 2001 trên toàn thế giới

có 1,1 tỷ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo (Năm 1981 là 1,5 tỷ người, vào thời gian đó là 40% dân số thế giới, năm 1987 là 1,227 tỷ người tương ứng 30% và năm 1993 là 1,314 tỷ người tương đương với 29%)

Phần lớn những người này sống tại châu Á, thế nhưng thành phần những người nghèo trong dân cư tại châu Phi lại còn cao hơn nữa Các thành viên của Liên Hiệp Quốc trong cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỷ năm 2000 đã nhất trí với mục tiêu cho đến năm 2015 giảm một nửa số những người có ít hơn 1 đô la

Mỹ (Điểm 1 của những mục đích phát triển thiên niên kỷ) Theo thông tin của Ngân hàng Thế Giới vào tháng 4 năm 2004 thì có thể đạt được mục đích này nhưng không phải ở tất cả các nước Trong khi nhờ vào tăng trưởng kinh tế tại

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhiều vùng của châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt (từ 58% xuống còn 16% tại Đông Á) thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ở châu Phi (gần gấp đôi từ 1981 đến 2001 phía Nam sa mạc Sahara) Tại Đông Âu và Trung Á con số những người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số Nếu như đặt ranh giới nghèo là 2 đô la Mỹ mỗi ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỷ người nghèo, gần một nửa dân số thế giới

Nếu xếp theo thu nhập bình quân đầu người thì

các nước sau có tỷ lệ người nghèo cao nhất: Malawi,

Tanzania, Guiné-Bissau, Burundi và Yemen

Bên cạnh nguyên nhân chính trị, nghèo đói cũng

là một nguyên nhân lớn của hiện tượng dân di cư từ

vùng núi về đồng bằng, từ nông thôn về thành thị, từ

các nước thứ ba về các nước phát triển gây nên hiện

tượng thuyền nhân [17]

Trong giai đoạn vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị

xã hội, công cuộc xoá đói giảm nghèo trên thế giới cũng đã mang lại được rất nhiều thành công Tỷ lệ người dân sống dưới mức nghèo khổ giảm đáng kể, đặc biệt ở các khu vực Châu Á và Châu Phi Thành tựu của xoá đói giảm nghèo đạt được do các nguyên nhân: xung đột vũ trang giảm đáng kể cũng như sự quan tâm của toàn thế giới đối với việc xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới vẫn còn khoảng 1,2 tỷ người sống mức dưới 1USD/ngày hiện đang bị đói kinh niên, tập trung chính vẫn là ở Châu Á và Châu Phi, bên cạnh đó một số nơi do xung đột vũ trang dẫn đến tình trạng nghèo đói như khu vực Aganistan, khu vực Trung đông và một số nơi khác trên thế giới

Một gia đình thuyền nhân năm 1979

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1,2 tỷ người sống ở mức nghèo đói, trong đó chủ yếu dân châu Phi và Nam Á

Ngạc nhiên hơn, trong khi thế giới ngày càng đô thị hoá, số người nghèo đói vẫn chủ yếu nằm ở các vùng nông thôn Trong số 1,2 tỷ người trên thế giới sống với chưa đầy 1 USD/ngày, đại đa số (700 triệu người) là nông dân sản xuất nhỏ, những người lao động trên đồng ruộng và gia đình của họ ở châu Phi hạ Sahara (phần châu Phi nằm phía Nam sa mạc Sahara) và Nam Á, những người không thể nuôi sống bản thân, chưa kể đến số dân thành thị đang tăng lên, do sản lượng nông nghiệp giảm sút trong nhiều thập kỷ qua

Hầu hết những người bị đói là phụ nữ và trẻ em Phụ nữ chiếm 80% nông dân ở châu Phi, nhưng họ chỉ tiếp cận được 5% đất nông nghiệp, tín dụng và các dịch vụ được mở rộng ở châu lục này Châu Phi hạ Sahara chiếm 55% tỷ lệ chênh lệch về dinh dưỡng toàn cầu với những tác động tàn phá đối với sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em ½ trong toàn bộ trẻ em Nam Á, hầu hết

ở nông thôn, bị nhẹ cân so với tuổi

Do đó, sự ủng hộ quốc tế và những khoản đầu tư của các nước đang phát triển vào nông nghiệp bị giảm mạnh trong những năm 1980 - 1990 Giai đoạn

1980 - 2005, viện trợ nước ngoài cho các nước có thu nhập thấp để phát triển nông nghiệp giảm từ 17% trong tổng số viện trợ xuống còn 3% Trong những

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

năm 1990, tỷ lệ tăng trưởng chi phí công cộng toàn cầu về nghiên cứu nông nghiệp đã giảm ½

Nhu cầu lương thực toàn cầu đang tăng lên do dân số tăng và chế độ ăn uống thay đổi, và mức tăng này đã bỏ xa tốc độ gia tăng sản lượng các mùa vụ

Ví dụ, sản lượng ngô tính theo đầu người ở châu Phi đã giảm 14% kể từ năm

1980 Đến năm 2050, để đáp ứng dân số dự kiến tăng lên của châu Phi, sản lượng lương thực của châu lục này cần phải tăng gấp đôi

Ở mức độ nào đó, sự chênh lệch giữa cung và cầu lương thực đã được đáp ứng bằng việc nhập khẩu Nhập khẩu ngũ cốc thương mại của các nước đang phát triển tăng gần gấp 3 lần trong giai đoạn 1990 - 2008 Nhưng sự phụ thuộc ngày càng tăng lên về nhập khẩu lương thực cho thấy các nền kinh tế này, đặc biệt những công nhân nghèo nhất, phụ thuộc nhiều vào giá cả thị trường thế giới Chỉ trong nửa đầu năm 2008, giá ngũ cốc đã tăng gấp đôi, hoặc gấp 3 ở một số nước Kể từ đó, giá lương thực đã giảm xuống 50 - 70% ở nhiều nước, nhưng vẫn cao hơn mức trung bình 10 năm trước đây, khiến cho hàng ngũ những người cực nghèo (những người phải chi 50 - 70% thu nhập cho lương thực) tăng lên ít nhất 100 triệu người

Sản lượng lương thực tăng sẽ trở thành một thách thức trong thập kỷ tới Nguồn cung đất trồng trọt đang dần biến mất ở hầu hết các nước đang phát triển

Sự khan hiếm nước cũng là một nguyên nhân kìm hãm sản lượng lương thực ở các vùng nhiệt đới bán khô cằn ở châu Phi hạ Sahara và Nam Á, nơi sức ép nhu cầu về đất lên cao Theo các dự báo của Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu, tình trạng thiên tai, trong đó có nạn hạn hán nghiêm trọng, có thể trở nên thường xuyên hơn ở các khu vực này Khi thế giới phục hồi từ cuộc suy thoái, tốc độ tăng thu nhập và những thay đổi về chế độ ăn uống một lần nữa sẽ gây sức ép về nhu cầu đối với nguồn cung lương thực của thế giới Trong khi đó tại Châu Á công tác xoá đói giảm nghèo đã gặt hái được nhiều thành công ấn tượng

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trong vòng 10 năm qua Theo thống kê của Liên hợp quốc số người sống dưới 1USD/ ngày ở Châu Á đã giảm từ 900 triệu người năm 1990 xuống còn 650 triệu người năm 2003 Tuy nhiên, Châu Á cũng đứng trước nhiều thách thức dẫn đến tình trạng đói nghèo như chiến tranh, sự bất ổn về mặt chính trị ở một số nước cũng như thảm họa thiên tai Bên cạnh đó, thành tựu xoá đói giảm nghèo của Châu Á phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc, Việt Nam, đây là những quốc gia đã rất thành công trong chương trình xoá đói giảm nghèo của mình Cụ thể Việt Nam năm 1996 tỷ lệ nghèo đói là 56,3% đã giảm xuống còn 22,6% năm

2006, như vậy trong vòng 10 năm Việt Nam đã giảm gần 50% số hộ nghèo

1.1.2.2 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Trung Quốc

Trung Quốc là một nước láng giềng với Việt Nam, có những điều kiện kinh

tế - xã hội tương đồng với Việt Nam Trong những năm vừa qua, Trung Quốc đã thu được những thành công vượt bậc trong phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo, đặc biệt trong chương trình xoá đói giảm nghèo đã đạt được những thành tựu to lớn Là quốc gia có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất, từ 240 triệu hộ nghèo năm 1980 đến năm 2005 còn 25 triệu hộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung và của đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện rõ nét

Giải pháp xoá đói, giảm nghèo mà Trung Quốc đưa ra rất thiết thực, cụ thể:

- Thực hiện theo hình thức cuốn chiếu, chẳng hạn giai đoạn đầu chọn 500 thôn nghèo nhất Nhà nước tập trung đầu tư cho hai năm với nguồn lực đủ mạnh để giải quyết những công trình bức xúc liên quan đến sản xuất, đời sống dân sinh Sau hai năm lại chuyển đầu tư cho các thôn tiếp theo

- Đối với gia đình nghèo, trước hết giúp cho họ cách thức làm ăn, đi vào phát triển sản xuất để đảm bảo cuộc sống, sức khoẻ, sau đó mới hỗ trợ đầu tư, cho vay vốn để phát triển mạnh sản xuất để thoát nghèo bền vững, nhiều vùng hướng mạnh vào chăn nuôi bò sữa

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đối với gia đình nghèo, địa phương nghèo, có cơ chế động viên toàn xã hội tham gia vào chương trình giảm nghèo, động viên các tổ chức phi chính phủ, các nhà máy, xí nghiệp tham gia đầu tư vào các vùng nghèo, đẩy mạnh hợp tác quốc tế với nhiều hình thức thích hợp như liên doanh đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất sữa quy mô lớn ở các khu tự trị, tỉnh nghèo để thúc đẩy chăn nuôi bò sữa, tạo nhiều việc làm tăng thu nhập cho nông dân để thoát nghèo bền vững

- Coi trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ về kỹ năng sản xuất, tạo việc làm cho nông dân, quan tâm đào tạo nghề cho con em nông dân để hướng tới mỗi gia đình có một người vào làm việc ở thành phố góp phần giảm nghèo nhanh

- Thực hiện cho gia đình nghèo vay vốn ưu đãi, phân công trách nhiệm giúp đỡ các địa phương nghèo cho các cơ quan, ban ngành, tổ chức đoàn thể, các địa phương giàu giúp đỡ địa phương nghèo cả về kinh nghiệm, vốn đầu tư, cán bộ

1.1.2.3 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Malaysia

Chính sách xoá đói giảm nghèo của Malaysia chính thức được hình thành

từ năm 1971 gắn liền với việc ban hành chính sách kinh tế mới của Chính phủ Kể từ đó, nó luôn được bổ sung, sửa đổi để phù hợp với nội dung của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước, như chính sách kinh tế mới (1970 - 1990), chính sách phát triển mới (1990 - 2000) và tầm nhìn 2020

Mục tiêu tổng thể của Chính sách xoá đói giảm nghèo của Malaysia là xoá

bỏ hoàn toàn nghèo đói trên toàn quốc Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói được đặt ra theo từng thời kỳ nhất định, từ 49,3% năm 1970 xuống còn 16,7% năm 1990 và 7,2% năm 2000

Để đạt được những mục tiêu trên, Chính phủ Malaysia đã lựa chọn các chiến lược nhằm tạo cơ hội cho người nghèo tham gia tự tạo việc làm và các

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hoạt động có thu nhập cao hơn Do đa số người nghèo sinh sống ở vùng nông thôn, nên Chính phủ dành nhiều ưu tiên thực hiện các chương trình và dự án nhằm tạo điều kiện cho người dân nông thôn hiện đại hoá phương thức canh tác, chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu sản phẩm để nâng cao thu nhập

- Chương trình tái định cư nhằm đưa những người không có ruộng đất hoặc những người có ruộng đất nhưng sản xuất không có hiệu quả đến những vùng đất mới, ở đó họ có thể làm việc trong các đồn điền cao su hoặc sản xuất dầu cọ Tại nơi ở mới, những người định cư được cung cấp nhà ở với kết cấu hạ tầng tốt

về điện, nước

- Chương trình cải tạo đất nông nghiệp thông qua việc dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và áp dụng các kỹ thuật canh tác hiện đại Ở một số nơi, chương trình này cũng được thực hiện theo mô hình hợp tác xã để đạt được những lợi ích sản xuất trên quy mô lớn

- Chương trình kết hợp phát triển nông nghiệp và nông thôn với những hoạt động chế biến nông sản, khuyến khích phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ở nông thôn để tạo thêm nguồn thu nhập

- Chương trình sản xuất tăng vụ, liên canh và xen canh cây trồng trên cùng một thửa đất để nâng cao hiệu quả và năng suất canh tác

- Dự án thành lập các chợ của nông thôn ở các trung tâm đô thị để họ bán trực tiếp sản phẩm của mình thay vì qua các trung gian

- Chương trình hỗ trợ về đào tạo, tín dụng, khoa học kỹ thuật, tiếp thị cho người dân nông thôn để họ có thể tìm được những việc làm phi nông nghiệp hoặc thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh của riêng mình ở các vùng nông thôn hoặc các thành thị

Bên cạnh các chương trình và dự án nhằm nâng cao thu nhập, Chính phủ cũng thực hiện nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghèo, chẳng hạn như thông qua việc cung cấp kết cấu hạ tầng và các dịch vụ xã

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hội Đối với các vùng nông thôn, Chính phủ đã xây dựng đường điện, điện thoại, ống nước, đường giao thông, cung cấp các dịch vụ y tế, xây dựng trường học, bao gồm cả nhà ở nội trú cho học sinh

Ngoài ra các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cũng tự nguyện tham gia tích cực vào công tác xoá đói giảm nghèo Những hoạt động chính của các chủ thể này bao gồm: hỗ trợ về tín dụng, đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm cho người nghèo, ngoài ra họ còn có các biện pháp hỗ trợ về điều kiện nhà ở và việc học tập của con cái những người nghèo

Thành tựu xoá đói của Malaysia: nhờ những nỗ lực nêu trên, trong vài thập

kỷ qua tỷ lệ người nghèo của Malaysia đã giảm từ mức gần 50% năm 1970 xuống còn 15% năm 1990 và trên 4% năm 2002, vượt mục tiêu đề ra Cụ thể hơn, năm 1990, tỷ lệ người nghèo ở các vùng nông thôn và các vùng thành thị đã giảm xuống tương ứng còn 19,3% và 7,3% (từ các mức tương ứng 58,7% và 21,9% của năm 1970); các con số tương ứng của năm 2002 là 7% và gần 2% Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, với tốc độ như trong thời gian vừa qua, chỉ trong một vài năm nữa ở Malaysia sẽ không còn ai phải sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập dưới 2 USD mỗi ngày

1.1.2.4 Tình hình nghèo đói ở Việt Nam

Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển Kết quả đợt tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy: Dân số Việt Nam đạt 85,8 triệu người, đứng thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á và thứ 14 trong số những nước đông dân nhất thế giới [6] Trong những năm vừa qua cùng với sự nỗ lực của Đảng, Chính phủ, các cấp chính quyền và toàn thể nhân dân, công cuộc xoá đói giảm nghèo đã thu được những thành công to lớn

Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều đạt tỷ lệ cao, đời sống của người dân không ngừng được tăng lên, số hộ nghèo đói đã giảm xuống Tình hình

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nghèo đói của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2008 được thể hiện thông qua bảng số 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1: Tình hình nghèo đói theo vùng ở Việt Nam, giai đoạn 2007 - 2009

Nguồn: Số liệu chuẩn nghèo quốc gia 2007 - 2009

Qua số liệu trên ta thấy năm 2004 khi Việt Nam áp dụng chuẩn nghèo mới,

tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đi đáng kể từ 15,16% (đầu năm 2004) xuống còn 13,5% năm 2008 Tuy đạt được nhiều thành công, song Việt Nam vẫn còn một số tồn tại trong xoá đói giảm nghèo như: thứ nhất, chuẩn nghèo của Việt Nam còn cách quá xa so với chuẩn nghèo của Thế giới (1USD/người/ngày); thứ hai, kết quả xoá đói giảm nghèo không mang tính bền vững, tỷ lệ hộ dân có thu nhập xấp xỉ mức chuẩn nghèo còn cao do đó khi có sự biến động về chuẩn nghèo hoặc những tác động của các yếu tố ngoại cảnh rất dễ dẫn đến tình trạng tái nghèo; thứ ba, hầu hết số người nghèo đói của Việt Nam đều tập trung ở khu vực nông thôn, nơi có khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Chính điều này lại gây những cản trở cho công tác xoá đói giảm nghèo Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rất nhiều đại biểu cho

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì số người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động của lạm phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do là suy giảm kinh tế [1] Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam hiện nay là gồm những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đến 260.000 đồng/người/tháng Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ rớt trở lại vào cảnh nghèo đói

Bên cạnh tỷ lệ nghèo còn 4,67% của vùng Đông Nam Bộ thấp nhất trong

cả nước thì tỷ lệ nghèo thì tỷ lệ nghèo ở các khu vực khác còn khá cao Cụ thể tỷ lệ nghèo còn 6,2% của vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Tây Bắc vẫn còn tới 18,45%, vùng Bắc Trung Bộ và vùng Tây Nguyên tuy có giảm nhưng vẫn còn ở

tỷ lệ cao; vùng Đông Bắc vẫn còn 10,87%; vùng Duyên hải miền Trung Bộ vẫn còn 10,86%; ngay cả vùng ĐBSCL một vựa lúa của cả nước cũng vẫn còn 15,3% [13]

c Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Huyện Na Hang - Tuyên Quang

Năm 2006, Huyện Na Hang (Tuyên Quang) đã đặt ra mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện từ 5,45% xuống còn 5,2% Nhìn lại công tác xoá đói giảm nghèo năm 2005 cho thấy, ngay từ đầu năm cấp uỷ, chính quyền huyện đã chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp cùng với các xã tiến hành điều tra phân loại mức sống và thu nhập của nhân dân Đây cũng là việc làm thường xuyên của các năm trước trong quá trình thực hiện xoá đói giảm nghèo Qua việc xác định còn 1.915 hộ có mức sống thuộc diện nghèo, chiếm 9,10% số hộ trong huyện Nguyên nhân chính dẫn đến nghèo là do thiếu kinh nghiệm và thiếu vốn để đầu

tư cho sản xuất, số còn lại là do nhiều nguyên nhân khác như: thiếu lao động, già yếu, bệnh tật và một số lười lao động, mắc các tệ nạn xã hội [7]

Xác định rõ nguyên nhân và nắm chắc điều kiện hoàn cảnh từng hộ nghèo, các cấp chính quyền từ huyện tới xã đã phối hợp với các đoàn thể tổ chức tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên tích cực tham gia chương trình xoá đói

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

giảm nghèo Phân công cán bộ và thành viên ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo phụ trách xã, thôn và các hộ nghèo để có biện pháp giúp đỡ thiết thực Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng đã vận động xây dựng “Quỹ vì người nghèo” được 156 triệu đồng, bước đầu đã hỗ trợ hơn 40 triệu đồng giúp 40 hộ nghèo có khó khăn về nhà ở sửa chữa và làm nhà mới Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng với hệ thống khuyến nông tổ chức 362 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn xây dựng kế hoạch, cách tổ chức sản xuất, chăn nuôi, kỹ thuật canh tác cho 1.176 lượt hộ nghèo Đảm bảo nhu cầu

về vốn, Ngân hàng phục vụ người nghèo huyện khẩn trương thẩm định, giải ngân vốn vay phục vụ phát triển sản xuất Trong năm có 1.278 hộ được vay 4 tỷ

928 triệu đồng Với tinh thần tương thân, tương ái không chỉ giúp các hộ nghèo

về kinh nghiệm, nhiều hộ gia đình còn giúp công, giống và cả cho vay vốn không tính lãi Mọi nguồn lực được khơi dậy và phát huy đã tạo thành phong trào giúp nhau dần thoát nghèo Trong năm 2005, toàn huyện đã có 565 hộ vươn lên có mức sống trung bình và đặc biệt không có hộ gia đình chính sách nghèo Các chính sách ưu đãi đối với hộ nghèo cũng được thực hiện đầy đủ, 402 em học sinh của các hộ gia đình nghèo được miễn giảm học phí, tiền xây dựng trường;

972 lượt người nghèo được khám chữa bệnh miễn phí Huyện đã hỗ trợ, hướng dẫn và đưa 40 con em các gia đình nghèo đi khám chữa các bệnh về mắt, sứt môi, hở hàm ếch

Từ kinh nghiệm thực hiện xoá đói giảm nghèo những năm qua, nhất là năm

2005, để đạt được mục tiêu giảm hộ nghèo xuống dưới 5,2 vào cuối năm 2006, huyện tập trung củng cố kiện toàn Ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo từ huyện tới

cơ sở và phân công thành viên phụ trách đến từng xã, thị trấn và thôn bản Bổ sung, điều chỉnh chính xác đủ số liệu vào sổ theo dõi xoá đói giảm nghèo, rà soát nguyên nhân của các hộ nghèo để có biện pháp chỉ đạo và tổ chức thực hiện

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Với những hộ thiếu vốn, xác định nguồn vốn cần vay, hướng dẫn để các đoàn thể tín chấp vay vốn, thẩm định và giải ngân kịp thời, đáp ứng nhu cầu vốn của họ

- Những hộ thiếu kinh nghiệm tổ chức sản xuất, để cán bộ khuyến nông tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật sản xuất thâm canh

Kết hợp chặt chẽ với các tổ chức quần chúng làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, đẩy mạnh xã hội hoá công tác xoá đói giảm nghèo, thu hút mọi người, mọi nhà tích cực tham gia giảm đói nghèo Thực hiện có hiệu quả chương trình lồng ghép để huy động nguồn lực tham gia giảm nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vận động xây dựng

“Quỹ vì người nghèo” để có kinh phí hỗ trợ thêm cho các hộ sửa chữa, làm mới nhà cửa; giúp giống, vốn, dụng cụ sản xuất Củng cố, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống khuyến nông Đồng thời sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo để kịp thời đúc rút kinh nghiệm, có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết những vướng mắc phát sinh Kịp thời khen thưởng, động viên những tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp trong phong trào xoá đói giảm nghèo

d Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của tỉnh Lạng Sơn

Xoá đói giảm nghèo là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là một chủ trương hợp lòng dân nhằm thực hiện quan điểm Phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh khoá XIII

về thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh Lạng Sơn đã giảm từ 17,06% năm 2001 xuống còn 7,07% năm 2005 (theo chuẩn cũ), trong đó có 20 xã, phường thị trấn có tỷ lệ hộ nghèo dưới 3% (đạt chuẩn cơ bản xoá xong hộ nghèo); hơn 95% số hộ có công với cách mạng có đời sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình ở cộng đồng dân cư nơi họ cư trú Cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch, chợ, hệ thống thuỷ lợi nhỏ… ở các xã đặc biệt khó khăn được cải thiện đáng kể giúp cho tốc độ giảm nghèo tại đây giảm nhanh hơn toàn tỉnh (bình quân mỗi năm giảm trên 3%) Đời

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sống nhân dân nhất là hộ nghèo đã được cải thiện rõ rệt, người nghèo đã được tiếp cận và hưởng nhiều hơn các dịch vụ xã hội [6]

Tuy nhiên so với yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH và tiềm năng của tỉnh, kết quả xoá đói giảm nghèo chưa bền vững, chưa đồng đều giữa các huyện, một số xã vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao Những khó khăn đang hạn chế đến quá trình giảm nghèo, đó là: trình độ nhận thức, trình độ học vấn, tay nghề của người nghèo còn hạn chế; nguồn lực đầu tư hạn hẹp việc lồng ghép thực hiện giảm nghèo hiệu quả chưa cao, công tác tuyên truyền vận động giáo dục chưa thường xuyên, chưa quyết liệt, hộ nghèo,

xã nghèo còn tư tưởng ỷ lại, công tác chỉ đạo ở một số địa phương chưa cụ thể, sâu sát,… Bước sang giai đoạn 2006-2010, Đảng và Nhà nước tiếp tục xác định xoá đói giảm nghèo là một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Từ bài học kinh nghiệm của chương trình xoá đói giảm nghèo qua các giai đoạn, xuất phát từ hiện trạng nghèo đã xác định, tỉnh Lạng Sơn tiếp tục tập trung huy động mọi nguồn lực, tranh thủ sự đầu tư của Chính phủ thông qua các chương trình mục tiêu, các dự án để xây dựng và thực hiện Chương trình xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 của địa phương Nhiệm vụ được đề ra trong giai đoạn này là tạo môi trường thuận lợi cho người nghèo tiếp cận với dịch vụ sản xuất, tự lực vượt qua nghèo vươn lên khá giả và làm giàu; đẩy nhanh tốc độ tăng thu nhập, mức sống của hộ nghèo; Tạo cơ chế cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội một cách bình đẳng và hưởng thụ các thành quả của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Theo đó, mục tiêu đặt ra cho Lạng Sơn là phải phấn đấu mỗi năm giảm tỷ lệ hộ nghèo 2-3% để đến cuối năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 17%, thu nhập của nhóm hộ nghèo tăng lên 1,6 lần; xóa xong nhà ở tạm, dột nát cho hộ nghèo diện chính sách người có công với cách mạng vào năm 2007; cơ bản xoá xong nhà ở dột nát cho hộ nghèo vào năm 2008 [6]; Đảm bảo 100%

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

người nghèo được hưởng thụ đầy đủ các chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với hộ nghèo, xã nghèo, như chính sách vay vốn tín dụng, giáo dục, y tế, khuyến nông, khuyến lâm… Để đạt được những mục tiêu trên, Chương trình XĐGN tỉnh Lạng Sơn cũng đã đề ra một số quan điểm chỉ đạo bao gồm:

- Tập trung mọi nguồn lực, tranh thủ sự đầu tư của Chính phủ thông qua các chương trình mục tiêu, các dự án, tiếp tục dành ngân sách của tỉnh đầu tư các cơ sở hạ tầng, tăng nguồn vốn cho vay giảm nghèo, tiếp tục thực hiện các chính sách trợ giúp người nghèo về y tế, giáo dục, đào tạo nghề, trợ cước trợ giá

- Trong công tác chỉ đạo điều hành, cần dựa trên cơ sở kết quả điều tra hộ nghèo theo chuẩn mới, lựa chọn điểm, xây dựng mô hình, có biện pháp tập trung nguồn lực cho những xã , thôn, bản nghèo, những xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo cao từ 55% trở lên để giảm nhanh hộ nghèo đồng thời bảo đảm sự công bằng trong việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo

- Tăng cường sự phân công trách nhiệm cụ thể cho các ngành, các cấp, các

tổ chức chính trị xã hội, coi trọng việc huy động nguồn lực tại chỗ, tăng cường đào tạo cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo ở các cấp, nhất là cán bộ thôn, bản, khối phố, xã, phường, thị trấn

- Cần thiết lập hệ thống theo dõi đánh giá công tác xoá đói giảm nghèo cụ thể cho từng cấp; xây dựng Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo các cấp Cụ thể hoá những quan điểm chỉ đạo trên, một số giải pháp cụ thể đã được đề ra như sau: Giải pháp về tuyên truyền, vận động

- Tăng cường phát hiện nêu gương người tốt việc tốt, tổ chức tham quan tại chỗ, giới thiệu các mô hình, cách làm hay để học tập nhân rộng điển hình Kịp thời làm tốt công tác thi đua khen thưởng để động viên khích lệ cá nhân, hộ gia đình, địa phương đi đầu, xuất sắc

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Tuyên truyền về các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, sự hỗ trợ của cộng đồng nhằm làm chuyển biến nhận thức để mỗi người dân trong diện hộ nghèo tự giác suy nghĩ tìm tòi cách làm ăn để thoát nghèo

1.1.2.5 Các đề tài đã nghiên cứu về đói nghèo

- “Thực trạng và giải pháp xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc vùng núi cao tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Thành Công - Trường Đại học Kinh tế & QTKD Thái Nguyên năm 2006

- “Thực trạng và giải pháp phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nhằm tăng thu nhập cho hộ nghèo trên địa bàn huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Đỗ Anh Tài - Trường Đại học Kinh tế & QTKD Thái Nguyên năm 2007

Các kết luận được rút ra từ các đề tài nghiên cứu trên:

+ Tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện Định Hoá hiện nay chưa phát triển đúng với tiềm năng của huyện Các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp chủ yếu được tìm thấy ở những hộ khá, giàu còn những hộ nghèo hầu như không có hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp

+ Sản phẩm tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện rất đơn điệu, chủ yếu

là các sản phẩm truyền thống của địa phương và có giá trị kinh tế thấp như: mành cọ, cót Có một số sản phẩm khác cho chế biến nông sản hàng hoá nhưng mới chỉ dừng lại ở xay sát, sơ chế các nông lâm sản

+ Từ việc nghiên cứu các điều kiện để phát triển tiểu thủ công nghiệp như: Vốn, lao động, nguyên nhiên liệu tại chỗ là mây, tre, nứa, cọ với mức đầu tư ban đầu thấp, công nghệ giản đơn, thị trường tại chỗ,

+ Trong các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện thì vốn đầu tư ban đầu và nguyên vật liệu thể hiện sự tác động rõ rệt nhất Đối với các yếu tố đầu tư ban đầu đòi hỏi các hộ gia đình

mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao khối lượng sản phẩm để sử dụng các trang

Ngày đăng: 20/09/2014, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Viện khoa học xã hội Việt Nam, Báo cáo cập nhật nghèo 2006, nghèo và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993-2004, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo cập nhật nghèo 2006, nghèo và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993-2004
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
3. Biểu tổng hợp hộ nghèo đói theo chuẩn mới giai đoạn 2006-2010. Phòng Lao động -Thương binh & Xã hội huyện Định Hoá, năm 2009 Khác
4. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đói nghèo - Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội, 2008 Khác
5. Nguyễn Thành Công (năm 2006), Thực trạng và giải pháp xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc vùng núi cao tỉnh Thái Nguyên Khác
6. Đỗ Anh Tài (năm 2007) Thực trạng và giải pháp phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nhằm tăng thu nhập cho hộ nghèo trên địa bàn huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên Khác
7. Kế hoạch kinh tế - chính trị - xã hội tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2006-2010 Khác
8. Niên giám thống kê huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang năm 2006 Khác
9. Niên giám thống kê tỉnh Lạng Sơn năm 2005 Khác
10. Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên - Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, năm 2009 Khác
11. Phòng Thống kê huyện Định Hoá, năm 2005. Niên giám thống kê huyện Định Hoá năm 2009 Khác
12. Số liệu chuẩn nghèo quốc gia, GĐ 2007-2009. NXB Thống kê, năm 2009 Khác
13. Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên, báo cáo tổng kết năm 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tình hình nghèo đói theo vùng ở Việt Nam, giai đoạn 2007 - 2009 - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 1.1 Tình hình nghèo đói theo vùng ở Việt Nam, giai đoạn 2007 - 2009 (Trang 34)
Bảng 1.2: Số lƣợng và địa điểm điều tra kinh tế hộ năm 2009 - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 1.2 Số lƣợng và địa điểm điều tra kinh tế hộ năm 2009 (Trang 49)
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 (Trang 55)
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế của tỉnh Thái Nguyên - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế của tỉnh Thái Nguyên (Trang 60)
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục tỉnh Thái Nguyên năm 2009 - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 2.4 Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục tỉnh Thái Nguyên năm 2009 (Trang 62)
Bảng 2.6: Thực trạng nghèo đói của tỉnh Thái Nguyên - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 2.6 Thực trạng nghèo đói của tỉnh Thái Nguyên (Trang 68)
Bảng 2.7: Tỷ lệ số hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 2.7 Tỷ lệ số hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu (Trang 70)
Biểu 2.1: Bảng thống kê các tài sản thiết yếu - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
i ểu 2.1: Bảng thống kê các tài sản thiết yếu (Trang 77)
Bảng 2.10: Thống kê về số lƣợng vật nuôi của hai nhóm hộ nghiên cứu - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 2.10 Thống kê về số lƣợng vật nuôi của hai nhóm hộ nghiên cứu (Trang 78)
Bảng 2.11: Thông tin chung về chủ hộ - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 2.11 Thông tin chung về chủ hộ (Trang 79)
Bảng 2.12: Nguồn lực đất đai của hộ - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 2.12 Nguồn lực đất đai của hộ (Trang 80)
Bảng 2.14: Chi phí cho hoạt động trồng lúa của hai nhóm hộ - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 2.14 Chi phí cho hoạt động trồng lúa của hai nhóm hộ (Trang 87)
Bảng 2.6: Số lƣợng và quy mô các khoản vay   Mục đích vay vốn - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 2.6 Số lƣợng và quy mô các khoản vay Mục đích vay vốn (Trang 92)
Bảng 2.15: Các khó khăn trong phát triển kinh tế hộ - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Bảng 2.15 Các khó khăn trong phát triển kinh tế hộ (Trang 95)
Hình thức - giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh thái nguyên
Hình th ức (Trang 127)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w