1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên

116 399 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn NGUYỄN THU THỦY MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA NÔNG HỘ BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

NGUYỄN THU THỦY

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA NÔNG HỘ BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

NGUYỄN THU THỦY

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA NÔNG HỘ BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

MẪ NGÀNH : 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN CHÍ THIỆN

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang 5

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đất nước ta đang ở trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa, chuyển nền kinh tế chủ yếu từ nông nghiệp lạc hậu thành một nền kinh tế công - nông nghiệp - dịch vụ hiện đại Để phát triển công nghiệp và dịch vụ, một trong những điều kiện quan trọng nhất là phải chuyển đổi một phần diện tích đất nông nghiệp để có mặt bằng xây dựng cho phát triển sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ, hình thành nên những khu công nghiệp (KCN) Việc phát triển các KCN tạo ra giá trị sản xuất lớn hơn và làm cho bộ mặt kinh tế xã hội thay đổi cả về mặt lượng và chất

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình phát triển các KCN

đã nảy sinh những vấn đề tiêu cực như ổn định cuộc sống, việc làm cho một

bộ phận người lao động mất đất, giải quyết các vấn đề về chất thải và ô nhiễm môi trường, và các hệ luỵ về văn hóa - xã hội…Không nằm ngoài sự phát triển chung của cả nước, trong những năm gần đây huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên cũng đã thúc đẩy quá trình xây dựng KCN hết sức mạnh mẽ và nhanh chóng Vấn đề ổn định và phát triển kinh tế cho các nông hộ bị thu hồi đất để xây dựng KCN luôn được các cấp chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm sâu sắc Không thu hồi được đất thì không có đất để phát triển các KCN Thu hồi đất thì người dân, đặc biệt là nông dân sẽ mất đi kế sinh nhai, cần có các chính sách cụ thể để tạo công ăn việc làm, ổn định cho cuộc sống của họ

Đó là vấn đề quan trọng vừa mang tính chiến lược lâu dài để có thể phát triển bền vững, vừa là một vấn đề nổi cộm, bức xúc và nóng hổi cần phải được giải

quyết thoả đáng để an dân Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Một

số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của những nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên”

Trang 6

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu cuộc sống của các hộ nông dân bị thu hồi phát triển KCN trên địa bàn huyện Phổ Yên để thấy được những thuận lợi cũng như khó khăn của họ Từ đó tìm ra những giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của các nông hộ này

- Đề xuất các giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ

bị thu hồi đất cho phát triển KCN

1.3 Giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cuộc sống của các nông hộ bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp và các giải pháp giúp họ tiếp tục ổn định

và phát triển kinh tế của hộ gia đình

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Phạm vi thời gian

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 10/2010 đến tháng 10/2011

Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2001-2010

Số liệu sơ cấp được khảo sát trong năm 2010

Trang 7

- Sự điều chỉnh cuộc sống của nông hộ bị thu hồi đất

- Những giải pháp phát triển kinh tế cho từng nhóm hộ chịu ảnh hưởng

1.4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Góp phần hệ thống hóa lý luận về tác động của quá trình phát triển KCN đến đời sống nông hộ, sự thích ứng của các hộ và các giải pháp ổn định, phát triển

- Cung cấp hệ thống số liệu cho địa phương về thực trạng ảnh hưởng của các hộ bị mất đất sản xuất trên địa bàn Các ứng xử của nông hộ, cách sử dụng tiền đền bù của các nhóm hộ Giúp địa phương nhận dạng được các vấn đề hiện đang nảy sinh trong các nông hộ bị ảnh hưởng của quá trình phát triển KCN

- Giúp địa phương có các chính sách và giải pháp ổn định kinh tế cho nông hộ, đặc biệt là các hộ nghèo thiếu kinh nghiệm và khả năng xoay sở kém, các hộ bị mất nhiều đất sản xuất và đang gặp các vấn đề khó khăn

1.5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng của các khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên

Chương 3: Một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của những nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên

Trang 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1.1 Một số lý luận chung về phát triển khu công nghiệp

a Khái niệm về khu công nghiệp

Hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hóa theo lãnh thổ có xu hướng phát triển ngày càng rộng rãi trên thế giới

và ở nước ta là cụm công nghiệp, khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp

kỹ thuật cao và khu chế xuất Các hình thức tổ chức doanh nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hóa đó có nét đặc trưng tổng quát chung là mật độ tập trung khá cao một số doanh nghiệp và các hoạt động phục vụ trên một khu vực có không gian giới hạn Song, giữa chúng có những nét đặc thù riêng về quy mô và ranh giới địa lý, về tính chất sản xuất của các doanh nghiệp, về tổ chức quản lý

+ Theo Nghị định số 192/CP ngày 25.12.1994 của Chính phủ, các KCN được định nghĩa là các khu vực công nghiệp tập trung, không có dân cư, được thành lập với các ranh giới được xác định nhằm cung ứng các dịch vụ để hỗ trợ sản xuất

+ Như vậy, khu công nghiệp là một khu vực sản xuất công nghiệp tập trung trên một phạm vi lãnh thổ nhất định Một khu công nghiệp có thể gồm các cụm công nghiệp hoặc nhiều cụm công nghiệp

+ Cụm công nghiệp được phân bổ trên phạm vi lãnh thổ không lớn Các

cơ sở thuộc cụm công nghiệp có thể là đơn vị cùng nganh hoặc khác ngành nhưng có mối liên hệ sản xuất với nhau hoặc sử dụng chung một kết cấu hạ tầng

+ Khu công nghiệp kỹ thuật cao tập trung những doanh nghiệp công nghiệp thuộc những ngành sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao và những cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ nhờ đó quan hệ giữa nghiên cứu

và ứng dụng triển khai tổ chức có hiệu quả, loại hình khu công nghiệp này cũng

Trang 9

được coi là hạt nhân cho sự phát triển khoa học và công nghệ của đất nước

b Vai trò của khu công nghiệp

Trong thời kỳ CNH-HĐH việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp là cần thiết và được nhà nước khuyến khích

Từ năm 1994 các KCN được xây dựng để cung ứng cơ sở hạ tầng thuận lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho đầu tư nước ngoài và đặc biệt khuyến khích các

DN nhỏ và vừa gia nhập các khu vực công nghiệp Lợi ích của việc sản xuất tập trung tại các cụm CN so với phát triển công nghiệp tản mạn là đảm bảo tiết kiệm về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính và quản lý môi trường mặt khác cung cấp các dịch vụ thuận lợi

Các KCN, KCX được hình thành cũng nhằm tránh sự phân tán các cơ

sở sản xuất trong khu dân cư sinh sống vừa không thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa gây ô nhiễm môi trường xung quanh khu dân cư làm ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng dân cư trong vùng, nhất là ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân

Trên góc độ hiệu quả kinh tế thì khu công nghiệp trở thành động lực của vùng kinh tế Không có khu công nghiệp thì không có vùng kinh tế trọng điểm theo ý nghĩa kinh tế thị trường Sự tách rời khu công nghiệp với vùng kinh tế theo địa phương là không phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế thị trường, là sai lầm về thể chế quản lý Nhà nước Trong khi ở nước ta hơn 60% diện tích đất trong khu công nghiệp còn bỏ hoang thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không có mặt bằng đủ cho sản xuất kinh doanh Báo chí cho biết ngay

ở các địa phương giá đất rẻ mà tiền thuê đất trong khu công nghiệp đã chiếm 30% tổng vốn của doanh nghiệp, do hoạt động của đơn vị chuyên trách xây dựng cơ sở hạ tầng kém hiệu quả, chi phí cao Đó là một trong những nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp lảng tránh khu công nghiệp

Khu công nghiệp là nơi kết hợp sức cạnh tranh của doanh nghiệp với sức cạnh tranh kinh tế vĩ mô Ngày nay, vị thế của doanh nghiệp và của cả

Trang 10

nền kinh tế cũng như của đất nước đều được quyết định bởi sức cạnh tranh trên thị trường Đối với các nước đang phát triển như nước ta, tiến hành CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường thế giới đã phát triển cao thì thách thức lớn nhất trước mắt và lâu dài là vấn đề sức cạnh tranh Thách thức ấy ngày càng trở nên lớn hơn theo tiến trình hội nhập, nhất là ở giai đoạn kinh tế tri thức và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới như hiện nay Để giải bài toán sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập chỉ có con đường kết hợp nâng cao sức cạnh tranh của kinh tế vĩ mô đồng thời với nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Khu công nghiệp là mô hình kết hợp như thế một cách có hiệu quả Chính ở các khu công nghiệp chứ không phải ở đâu khác, lợi thế so sánh của đất nước có thể trực tiếp chuyển thành lợi thế cạnh tranh và nâng cao uy tín chính trị của Nhà nước

Khu công nghiệp còn là nơi đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình hiện đại hóa đất nước Chính việc các lao động trong nước được thu hút vào làm việc trong các KCN sẽ có được năng lực và tác phong làm việc chuyên nghiệp, thậm chí có cả các cấp quản lý bậc cao cũng được hình thành từ đây Tuy vậy, số lượng lao động trực tiếp và quản lý trong các khu công nghiệp chưa đạt được chất lượng và cơ cấu phù hợp Thực tế này, một mặt do các KCN chưa tạo được các điều kiện cần thiết cho người lao động chỗ ăn ở đi lại và nhất là tiền lương còn quá thấp (mức thu nhập bình quân của người lao động ở đây khoảng 1,2-1,5 triệu đồng/tháng, kéo dài trong nhiều năm và tính cả tiền tăng ca) Mặt khác, công tác đào tạo của nước ta còn kém về tay nghề và cơ cấu chưa phù hợp với KCN

c Đặc điểm của khu công nghiệp

Khu công nghiệp thể hiện những đặc trưng chung nhất của tổ chức sản xuất công nghiệp trên vùng lãnh thổ Khu công nghiệp là khái niệm phổ biến nhất ở nhiều nước Trên góc độ khác nhau của sự phân bố, khu công nghiệp được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:

Trang 11

+ Xét về quy mô: Do điều kiện thuận lợi về tài nguyên, lao động, vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng kỹ thuật nên có những khu công nghiệp phát triển gắn với những thành phố hàng triệu dân hoặc hàng chục vạn dân Bên cạnh đó có khu công nghiệp chỉ bao gồm một số doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ gắn với các thị trấn, thị xã vài vạn dân

+ Xét về vị trí địa lý: Khu công nghiệp được phân bố trong một tỉnh, một vùng, trên lãnh thổ liên tỉnh, liên vùng

+ Xét về trình độ phát triển: Nếu xét trong mỗi thời điểm nhất định nào

đó có thể thấy khu công nghiệp đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, có khu công nghiệp cần đầu tư xây dựng bổ xung, có khu công nghiệp đang xây dựng Trong tiến trình phát triển, việc phân loại khu công nghiệp theo cách này chỉ mang ý nghĩa tương đối

Về mặt pháp lý:

+ Đầu tư vào KCN bao gồm các thành phần kinh tế Việt Nam và các nhà đầu tư nước ngoài Những bộ phận tham gia trong khu công nghiệp sẽ phải hoạt động theo luật tương ứng, người nước ngoài theo luật đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước theo luật doanh nghiệp nhà nước,…

+ Việc xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp có thể gồm nhiều đối tượng tham gia: công ty, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, xí nghiệp liên doanh với nước ngoài, công ty 100% vốn nước ngoài Vấn đề tổ chức điều hành hoạt động của khu công nghiệp là ban quản lý các KCN

Mục tiêu phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam là tranh thủ tiếp nhận công nghệ kỹ thuật cao, tiên tiến của thế giới, giải quyết việc làm cho người lao động trên cơ sở đảm bảo thu nhập tương xứng với mức hao phí lao động trong tương quan với giá cả sức lao động của thị trường thế giới

d Tính tất yếu khách quan của việc phát triển KCN

Thực chất của việc thu hồi một phần diện tích đất để chuyển sang phát triển công nghiệp là phân bố lại nguồn lực đất đai của xã hội theo hướng hiệu

Trang 12

quả Do là nguồn lực tự nhiên, nên diện tích đất sử dụng cho sản xuất và đời sống của một quốc gia có tính cố định Nhưng nhu cầu về đất lại ngày một tăng, nên tình trạng khan hiếm về đất là không thể tránh khỏi Khan hiếm nguồn đất càng trở thành vấn đề lớn đối với nước ta khi bình quân đất tự nhiên vào loại thấp so với nhiều nước trên thế giới, chỉ khoảng 0,4 ha/người

còn đất nông nghiệp chỉ có 0,1 ha/người

Muốn tăng thêm phần diện tích đất cho phát triển công nghiệp thì phải giảm nguồn đất sử dụng vào các mục đích khác, về mặt kinh tế tức là không thể hy sinh sản xuất một lượng hàng hóa ở các ngành khác để đánh đổi lấy sự tăng trưởng cao hơn của ngành sản xuất công nghiệp Đó chính là lựa chọn

mà xã hội phải đặt ra Một nền kinh tế có hiệu quả tức là không bị lãng phí, là cách thức phân bổ nguồn lực sao cho đạt được kết quả tối ưu Thế nhưng một trong những điều kiện quan trọng nhất để xây dựng KCN là phải chuyển đổi đất từ sản xuất nông nghiệp sang Đối với những nước đất đai được thừa nhận

là của dân, việc chuyển mục đích sử dụng đất giữa các chủ sở hữu thuộc các ngành kinh tế chủ yếu được thực hiện thông qua quan hệ mua bán do cơ chế thị trường và quan hệ cung-cầu điều tiết, nhà nước chỉ hỗ trợ việc chuyển đổi đạt được mục tiêu nhà nước đã lựa chọn

Đối với nước ta, do đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, nên nhà nước có quyền giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng và có quyền thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng Về thực chất, đất nông nghiệp là đất Nhà nước giao cho nông dân nhằm đưa vào phát triển sản xuất nông nghiệp Theo pháp luật, người nông dân không chỉ có quyền có đất sản xuất, mà còn có các quyền trong sử dụng đất, được hưởng thành quả lao động và kết quả đầu tư trên đất khi được Nhà nước giao Việc Nhà nước thu hồi một phần diện tích đất nông nghiệp chuyển sang phát triển công nghiệp và xây dựng các kết cấu hạ tầng khác trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH là cần thiết và đây là lẽ đương nhiên của người đại diện

Trang 13

CN mà người nông dân có điều kiện tham gia thị trường tiêu thụ sản phẩm và mua sắm hàng hóa, cung cấp các nguyên vật liệu cho CN và lương thực, thực phẩm cho những người làm CN

Theo tính toán, năm 2004, 1 ha đất nông nghiệp chỉ sử dụng khoảng

3-5 lao động, làm ra giá trị khoảng 22,3-5 triệu đồng/năm Nhưng, nếu chuyển 1

ha đất ấy sang xây dựng khu công nghiệp có thể thu hút 50-100 lao động và hơn nữa (tùy quy mô doanh nghiệp) và làm ra giá trị từ 500 triệu đến hàng tỷ đồng/năm, thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp cao gấp nhiều lần làm nông nghiệp Tuy nhiên, việc thu hồi đất nông nghiệp cũng đang xuất hiện những vấn đề phức tạp, dẫn đến những gay cấn, “điểm nóng” về mặt xã hội phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề đảm bảo điều kiện sống và làm việc của người lao động, trước hết là cho nông dân nông thôn vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp cho CNH-HĐH

e Cơ sở để xây dựng khu công nghiệp

Để xây dựng khu công nghiệp hợp lý cho từng vùng, từng lãnh thổ phải dựa trên các nguyên tắc sau đây:

- Có khả năng tạo ra kết cấu hạ tầng thuận lợi về giao thông vận tải, cung cấp điện nước và thải nước Xử lý môi trường đảm bảo có hiệu quả và

Trang 14

phát triển bền vững lâu dài, có đủ dư địa để mở rộng và phù hợp với những tiến bộ khoa học và công nghệ của nền văn minh CN và hậu công nghiệp

- Có khả năng cung cấp nguyên liệu tương đối thuận lợi, hoặc tốt hơn là trực tiếp với nguồn nguyên liệu Đôi khi do cự ly và yêu cầu bảo quản nguyên liệu, quy mô xí nghiệp công nghiệp phải thích hợp để đảm bảo hiệu quả

- Có nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng đáp ứng được yêu cầu sản xuất với chi phí tiền lương thích hợp

- Có khả năng giải quyết thị trường tiêu thụ sản phẩm cả nội tiêu và ngoại tiêu

- Tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp đặc biệt là trồng trọt trong việc sử dụng đất để xây dựng khu công nghiệp

- Chú ý kết hợp với yêu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng trong những điều kiện cụ thể ở từng khu vực và từng giai đoạn

Theo các chuyên gia đến từ Nhật Bản, chìa khóa cho sự thành công của các khu công nghiệp là vị trí, dịch vụ hạ tầng và năng lực quản lý

f Ảnh hưởng của quá trình phát triển KCN đến sự phát triển kinh tế -

xã hội và môi trường

Phát triển các KCN là một quá trình đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra một cách phổ biến trên thế giới Nó từng bước đưa con người tiếp cận cuộc sống văn minh, đồng thời cũng đặt ra không ít vấn đề tiêu cực, khó khăn - những vấn đề ảnh hưởng xấu đối với quá trình phát triển một cách bền vững

* Mặt tích cực:

Một là, phát triển KCN thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sản xuất hàng hóa

và dịch vụ thường đạt hiệu quả cao tại những đô thị lớn - nơi có quy mô mật

độ dân số tương đối lớn với nguồn lao động dồi dào, có quy mô hoạt động kinh tế đủ lớn do các doanh nghiệp tập trung đông, có hệ thống phân phối rộng khắp trên một không gian đô thị nhất định Đồng thời khi kinh tế của các

Trang 15

đô thị lớn đạt tới độ tăng trưởng cao thì nó sẽ gây ra hiệu ứng lan toả kích thích mạnh tới tăng trưởng kinh tế của cả nước

Hai là, phát triển KCN đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

hướng CNH, HĐH Trong quá trình phát triển, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, các KCN góp phần làm thay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất Các loại cây có giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang

có xu hướng giảm dần diện tích Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá trị kinh tế cao hơn đang được tăng dần diện tích canh tác Trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp thì xu hướng chung là giảm dần tỷ trọng của ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi

Ba là, cải tạo kết cấu hạ tầng Xu hướng phát triển KCN tạo ra sự tập

trung sản xuất công nghiệp và thương mại, đòi hỏi phải tập trung dân cư, khoa học, văn hóa và thông tin Những điều kiện đáp ứng nhu cầu đó là sự phát triển kết cấu hạ tầng, nhà ở, các dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống dân

cư Do đó mà hệ thống giao thông vận tải, năng lượng, bưu chính viễn thông

và cấp thoát nước cũng sẽ được cải tiến về quy mô và chất lượng

Ở nông thôn, việc cải tạo kết cấu hạ tầng đang được thực hiện với chủ trương “điện, đường, trường, trạm” tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của người nông dân

Bốn là, phát triển KCN nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công

nghệ Các đô thị ngày càng áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và kỹ năng quản lý

tổ chức SX hiện đại, làm tăng năng suất LĐ và nâng cao chất lượng sản phẩm

Trong sản xuất nông nghiệp, quá trình phát triển này cung cấp những

cơ sở kỹ thuật cần thiết cho người nông dân như thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa để làm tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm

Trang 16

hàng hoá có chất lượng tốt, đảm bảo an toàn lương thực, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường trong ngoài nước

Năm là, phát triển KCN góp phần cải thiện đời sống của dân cư đô thị và

các vùng lân cận Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà các đô thị có thể tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người dân, góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho họ Khi mức thu nhập bình quân/ người/tháng tăng lên thì nhu cầu chi tiêu đời sống của dân cư cũng tăng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng cá nhân Điều đó cho thấy phát triển KCN làm mức sống của dân cư được cải thiện đáng kể, góp phần vào việc thực hiện xóa đói giảm nghèo

Sáu là, phát triển KCN cũng đem lại một số tiến bộ về mặt xã hội đó là:

nâng tuổi thọ trung bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tăng tỷ lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa,

* Mặt tiêu cực:

Bên cạnh những mặt mạnh của việc phát triển KCN thì cũng tồn tại không ít những vấn đề tiêu cực đang xảy ra, đó là:

Thứ nhất, thu hẹp diện tích đất nông nghiệp Quá trình phát triển KCN

nhanh đã làm cho nhu cầu về sử dụng đất chuyên dùng xây dựng hệ thống cơ

sở hạ tầng và đất đô thị tăng lên rất nhanh Điều này dẫn đến tình trạng nuốt chửng những diện tích đất nông nghiệp vốn rất cần thiết cho một đô thị như: sản xuất lương thực thực phẩm, tạo mảng không gian xanh có vai trò “giải độc” cho môi trường sống, tạo khu nghỉ ngơi cho thị dân Đồng thời sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc cải thiện mức sống của nhiều người dân ở khu vực ngoại ô vì họ trở nên thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống

Thứ hai, khoét sâu hố phân cách giàu nghèo Quá trình phát triển nhanh

đã làm cho hố phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong đô thị, giữa nông thôn và thành thị trở nên trầm trọng hơn

Trang 17

Thứ ba, gia tăng tình trạng di dân Chính sự chênh lệch về mức sống,

điều kiện sống, khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội tăng thu nhập đã và đang được coi là những nguyên nhân kinh tế quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phận lớn người dân rời khỏi khu vực nông thôn để di dân tới thành thị Lực lượng lao động ở nông thôn chỉ còn lại những người già yếu và trẻ nhỏ, không đáp ứng được những công việc nhà nông vất vả Cơ cấu lao động ở nông thôn hoàn toàn bị thay đổi theo hướng suy kiệt nguồn lực lao động Đồng thời thị trường lao động ở thành thị lại bị ứ đọng

Thứ tư, môi trường bị ô nhiễm Chất lượng môi trường đô thị bị suy

thoái khá nặng nề do mật độ dân số tập trung cao, sản xuất CN phát triển mạnh làm phát sinh một lượng chất thải, trong đó chất thải gây hại ngày càng gia tăng; bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn

Thứ năm, phát sinh các tệ nạn xã hội Đây chính là mặt trái của đời sống

đô thị hay của cả quá trình phát triển KCN Trong khi nhiều khía cạnh tốt đẹp của văn hóa truyền thống bị mai một, thì lối sống lai căng, không lành mạnh lại đang ngự trị trong lối sống đô thị hiện nay Những tệ nạn xã hội phổ biến nhất hiện nay đều được phát sinh và phát triển tại các trung tâm đô thị lớn

Tóm lại, trong công cuộc CNH - HĐH đất nước thì phát triển KCN là một điều tất yếu Vậy chúng ta phải làm thế nào để việc phát triển KCN diễn

ra lành mạnh và bền vững?

1.1.1.2 Khái niệm, đặc trưng của kinh tế hộ

a Khái niệm nông hộ

Khi tiến hành nghiên cứu mô hình kinh tế nông hộ nhiều học giả trên thế giới đã đưa ra quan điểm riêng của mình về nông hộ và kinh tế nông hộ để làm cơ sở cho việc nghiên cứu Từ đó xây dựng các đề án để nghiên cứu, phát triển kinh tế nông hộ Theo Elis (1988) nông hộ được định nghĩa như sau:

Hộ nông dân là các hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ

Trang 18

thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh chưa cao

Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ bản, tiến hành sản xuất kinh doanh đựa trên các nguồn lực sẵn có của gia đình nhằm tạo ra thu nhập theo nhiều hình thức khác nhau, chịu sự tác động của quy luật khách quan trong quá trình tồn tại và phát triển

b Đặc trưng của kinh tế nông hộ

Kinh tế nông hộ có một số đặc trưng chủ yếu sau:

+ Nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng

+ Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng được biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường

+ Ngoài hoạt động nông nghiệp các nông hộ còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau làm khó giới hạn thế nào là một nông hộ

+ Phương thức tổ chức sản xuất của nông hộ mang tính kế thừa truyền thống gia đình và không đồng đều giữa các hộ với nhau

+ Nông hộ ngoài việc tham gia vào quá trình tái sản xuất vật chất còn tham gia vào quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành sản xuất

+ Sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu quản lý và sử dụng các yếu

tố sản xuất Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất cả mọi thành viên trong hộ đều có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như những tài sản khác của hộ Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có ngân quỹ nên các thành viên trong hộ đều ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt và hợp lý cho từng người, từng việc tạo nên việc thống nhất cao trong tổ chức sản xuất của hộ

+ Sự gắn bó giữa lao động quản lý và lao động sản xuất Trong nông

Trang 19

hộ, mọi thành viên thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống Hơn nữa kinh tế hộ lại tổ chức ở quy mô nhỏ, người quản lý điều hành sản xuất đồng thời cũng là người tham gia lao động sản xuất Cho nên tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất rất cao

+ Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao Do kinh

tế hộ có quy mô nhỏ nên bao giờ cũng thích nghi nhanh hơn so với các hình thức sản xuất khác có quy mô lớn hơn, thí dụ như các xí nghiệp sản xuất… nên có thể mở rộng sản xuất khi có điều kiện thuận lợi và thu hẹp sản xuất khi gặp các điều kiện bất lợi

+ Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao động Trong quan hệ kinh tế hộ mọi người gắn bó với nhau không chỉ trên cơ

sở cùng huyết thống mà còn trên cơ sở kinh tế nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực xây dựng và phát triển kinh tế hộ, tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa kết quả sản xuất và lợi ích của người lao động Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất kinh tế của hộ

Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả Sản xuất với quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng suất thấp Kinh tế nông hộ vẫn có khả năng cho năng suất lao động cao hơn các xí nghiệp nông nghiệp có quy mô lớn Đặc biệt, kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế hợp nhất với đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng và vật nuôi Thực tế phát triển SX nông nghiệp trên thế giới đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ: Kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ chủ yếu sử dụng

LĐ gia đình gắn bó với vật nuôi và cây trồng là đơn vị sản xuất có hiệu quả

“Trong lịch sử phát triển kinh tế quốc dân, thời kỳ nào vai trò của hộ

gia đình cũng rất quan trọng, vì nó không những là “tế bào” của xã hội, là đơn vị sản xuất và đảm bảo cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia đình, mà còn là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế Nhưng trước

xu thế quốc tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, phải nhận

Trang 20

rõ những khó khăn để có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển”

1.1.2 Ảnh hưởng của việc phát triển khu công nghiệp đến nông hộ

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường trong giai đoạn

2000-2010, số diện tích đất nông nghiệp cả nước đã được chuyển đổi mục đích sử dụng là gần 157 nghìn ha, trong đó xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất là gần 22 nghìn ha, xây dựng cụm công nghiệp vừa và nhỏ gần 35 nghìn

ha, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị gần 100 nghìn ha

Bảng 1.1: Diện tích đất bị thu hồi của một số tỉnh, thành phố

(Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường)

Bảng 1.1 cho ta thấy số diện tích đất bị thu hồi và số người bị mất việc làm của 14 tỉnh, thành phố có tốc độ phát triển nhanh trên cả nước giai đoạn

Trang 21

2000 – 2010 Trong đó, giai đoạn 2001-2005, tại 14 tỉnh, thành phố có tốc độ CNH nhanh tổng diện tích đất nông nghiệp đã chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp là 20.631,4 ha, giai đoạn 2006-2010 tiếp tục chuyển đổi 29.425 ha Những địa phương có diện tích thu hồi lớn là Hà Nội, Hải Phòng,

Hà Tây, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Phúc Yên, Cần Thơ Do vậy, số lao động bị mất việc làm cũng vì thế mà tăng lên Cụ thể là, cứ thu hồi 1 ha đất nông nghiệp thì có 13 lao động trước đây làm nông nghiệp phải chuyển sang làm

việc khác, trong đó có một số người chưa tìm được việc làm mới

Nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH chính là việc chuyển dịch mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ, và xây dựng đô thị tăng nhanh, điều này dẫn đến một bộ phận không nhỏ lao động trong nông nghiệp rơi vào tình trạng không có việc làm trong khi Nhà nước chưa có chính sách đồng bộ để giải quyết việc làm cho số lao động nói trên Do đó thất nghiệp, tăng trưởng kinh

tế, lạm phát là 3 vấn đề quan trọng trong nền kinh tế thị trường đã và đang thể hiện rõ ở nước ta Ba chỉ số này phản ánh một cách khái quát và toàn diện nhất thực trạng nền kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia

Hiện nay thất nghiệp, thiếu việc làm đã và đang là mối quan tâm của Chính phủ các nước, các tổ chức kinh tế và mọi người trên thế giới Giải quyết việc làm cho người lao động đang trở thành vấn đề toàn cầu, là một thách thức lớn của mỗi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Ở Việt Nam, thất nghiệp, thiếu việc làm đang và sẽ là bài toán khó trong quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế trên con đường CNH, HĐH đất nước

Theo số liệu báo cáo của các sở Lao động – Thương binh và Xã hội ở các tỉnh, trong năm 2007 diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng là 4.419 ha Giai đoạn 2006-2010 vùng Đông Bắc sẽ chuyển đổi mục đích sử dụng đất là 24.615 ha

Do tốc độ đô thị hóa nhanh cùng với việc tăng cường đầu tư phát triển

Trang 22

công nghiệp và đô thị ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong những năm gần đây nên một diện tích lớn đất nông nghiệp đã phải chuyển sang để xây dựng các KCN, khu đô thị mới và các công trình kết cấu kỹ thuật Việc chuyển mục đích đối với đất nông nghiệp nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, việc làm của người bị thu hồi đất Theo kết quả điều tra thì trung bình cứ mỗi hộ dân bị thu hồi đất có 1,5 lao động mất việc làm

Tại thành phố Hà Nội, chỉ tính trong giai đoạn 3 năm từ 2003 đến 2006

đã có gần 90.000 lao động mất việc làm Tính đến hết năm 2007, Hà Nội có khoảng 200.000 người thất nghiệp do mất đất sản xuất Thành phố đã có nhiều giải pháp như hỗ trợ đào tạo nghề cho một người trong độ tuổi lao động

là 3,8 triệu đồng, tuy nhiên việc sử dụng khoản hỗ trợ này chưa có hiệu quả

Tại thành phố Hồ Chí Minh thì trong vòng năm năm trở lại đây, Thành phố đã triển khai 412 dự án, diện tích đất đã thu hồi của các hộ dân lên tới 60.203.074m2; tổng số hộ bị ảnh hưởng là 53.853 hộ trong đó có 20.014 hộ bị giải tỏa trắng; tổng dự toán chi phí bồi thường cho các hộ dân khi Nhà nước thu hồi đất lên tới hơn 12.300 tỷ đồng Tuy nhiên, nhiều người sau khi nhận tiền bồi thường, tiền hỗ trợ đã sử dụng vào việc mua sắm phương tiện đi lại, vật dụng sinh hoạt chứ không chú tâm đến việc học nghề, giải quyết việc làm

Có gia đình trở nên giàu có sau khi nhận tiền bồi thường (có cả tỷ đồng) nhưng chỉ sau một vài năm lại rơi vào tình cảnh khó khăn do thất nghiệp

Trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định

vì họ có đất sản xuất có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất, tư liệu sản xuất đó được để thừa kế từ thế hệ này cho các thế hệ sau Sau khi bị thu hồi đất, đặc biệt là những hộ nông dân bị thu hồi hết đất sản xuất, điều kiện sống và sản xuất của hộ bị thay đổi hoàn toàn Mặc dù nông dân được giải quyết bồi thường bằng tiền, song họ vẫn chưa định hướng ngay được những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống

Trong những năm vừa qua cùng với quá trình phát triển KCN, hiện đại

Trang 23

hóa đất nước thì một diện tích lớn đất nông nghiệp ở các vùng nông thôn đã được chuyển sang đất công nghiệp và đô thị Người dân không còn đất canh tác buộc phải chuyển đổi sang các ngành sản xuất khác, trong số đó có ngành chăn nuôi, đặc biệt là nuôi các loại gia súc, gia cầm như: lợn, gà, trâu, bò Mặt khác, do tác động của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nên nên hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình dần bị xóa bỏ và chuyển dần sang hình thức chăn nuôi theo quy mô lớn hơn Chính việc gia tăng số lượng vật nuôi một cách đột ngột cùng với cơ sở hạ tầng chuồng trại không đảm bảo, trình độ quản lý của người dân thấp, cộng với ý thức bảo vệ môi trường của người dân không cao dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải, phân thải ra từ hoạt động chăn nuôi ở nhiều vùng nông thôn nước ta

Ở các tỉnh miền Trung, theo kết quả khảo sát tại 5 tỉnh (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi và Ninh Thuận) cho thấy việc nuôi tôm trên cát phát triển khá nhanh Năm 1999, nuôi tôm trên cát được bắt đầu

từ một hộ gia đình ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận với diện tích 0,5ha Đến năm 2002, diện tích nuôi tôm đã lên tới 300ha/14.000ha bãi có khả năng phát triển Tính trung bình tổng khối lượng nước cung cấp cho 1ha nuôi tôm trong 1 vụ khoảng 54.600m3, trong đó có từ 30-50% là nước ngọt, mà phần lớn là nguồn nước cấp chủ yếu khai thác từ nước ngầm Việc nuôi tôm trên cát không chỉ tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước mặt từ nguồn nước thải của các ao nuôi mà còn có khả năng ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước ngầm Việc khai thác nước ngầm để cung cấp cho các ao nuôi một cách tùy tiện có thể làm hạ mực nước và làm ô nhiễm mặt nước ngầm trong khu vực

Kết luận: quá trình phát triển KCN tạo ra nhiều cơ hội để phát triển

kinh tế cho các nông hộ nhưng bên cạnh đó nó cũng là một thách thức lớn mà người nông dân phải đối mặt từ góc độ kinh tế đến tình cảm, nếu như biết tận dụng và sử dụng tốt các nguồn lực đó thì sẽ tạo đà bứt phá cho kinh tế nông

Trang 24

hộ nhưng nếu không nó lại là rào cản cho quá trình phát triển và tích lũy kinh

tế của hộ Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về các tác động của quá trình phát triển KCN đến nông hộ qua khung sinh kế phát triển bền vững tại bảng 1.2

Bảng 1.2: Khung khái niệm sinh kế phát triển bền vững

1.1.3 Thực tiễn quá trình phát triển KCN trên thế giới và Việt Nam

Tiến trình phát triển KCN gắn bó chặt chẽ với sự trường tồn phát triển

của lịch sử nhân loại Quá trình này mới là sản phẩm của nền văn minh, vừa

là động lực của những bước tiến kỳ diệu mà nhân loại đã đạt được trong mấy thiên nhiên kỷ qua Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp truyền thống với nền đô thị hoá thấp và chậm trong lịch sử đang bước vào thời kỳ mới của nền kinh tế thị trường, thời kì CNH - HĐH, việc nghiên cứu tìm hiểu diễn biến của quá trình đô thị hoá thế giới càng có ý nghĩa to lớn cả về mặt nhận thức, lý luận cũng như giá trị thực tiễn

Khả năng phục hồi sau sốc Thiết lập trạng thái cân bằng mới

- Xây dựng năng lực

- Các lựa chọn khác được xem như quá trình điều chỉnh và thích ứng sau sốc

Các tài sản (N, H,P,F,S)

Cơ hội

Kết quả đầu ra

- Cuộc sống của hộ ra sao?

- Năng lực của

hộ có được cải thiện?

Các chính sách và xu hướng

cản khác

Trang 25

1.1.3.1 Tình hình phát triển KCN trên thế giới

Phát triển KCN là hiện tượng mang tính toàn cầu và diễn ra với tốc độ ngày một tăng, đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển Theo các chuyên gia nghiên cứu về đô thị hoá thì trong tiến trình đô thị hoá nửa sau thế kỉ 20, các quốc gia kém phát triển có chung một đặc điểm là: ở giai đoạn đầu, tỉ trọng dân số đô thị trên tổng dân số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị nhanh, nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển

Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỉ lệ dân số

đô thị toàn thế giới là từ 29,7% lên đến 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17.8% lên 40,5% trong khi khu vực phát triển là từ 54,99% lên 76,1%

Hiện tại tỉ lệ đô thị hoá châu Á là 35%, châu Âu là 75%, châu Phi là 45%, Bắc Mỹ trên 90% và 80% ở Mỹ La tinh Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong 1/4 thế kỷ tới, việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố mà phần lớn thuộc các nước kém phát triển Đến năm 2030, hơn 60% dân

(Nguồn: World urbanization prospect: 2000, New York ,2001)

Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp HĐH Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc sống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm

Trang 26

CNH-ven đô tiêu hao nhiên liệu, năng lượng Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm 2025 Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:

1 Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra đô thị trong đó yêu cầu nhất thiết phảI nâng cao mức sống nông thôn

2 Khi tập trung quá tải, cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hoà dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và nhỏ, tăng cường đầu tư hệ thống dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, có cơ sở xã hội thoả đáng

1.1.3.2 Kinh nghiệm đô thị hoá ở một số nước trên thế giới

a Hà Lan

Hà Lan là một quốc gia phát triển Theo Joanna Wilbers, để khắc phục những tác động tiêu cực của quá trình đô thị hoá, năm 1994, các nhà hoạch định cuộc sống thuộc bộ tài nguyên môi trường đã đưa ra “Chính sách hiệp ước” Theo chính sách này, các khu vực nông thôn vẫn giữ nguyên là nông thôn đồng thời cũng quy hoạch phát triển đô thị làm các khu dân cư, trung tâm tài chính và thương mại Chính sách này cũng đưa ra những nguy hại đối với việc đô thị hoá các khu vườn ven thành phố

Ngay từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Amsterdam đã bắt đầu tiến trình đô thị hoá và nhanh chóng trở thành một thành phố có tầm ảnh hưởng lớn đến kinh tế, chính trị của Hà Lan Tuy mật độ dân số hiện nay ở thành phố

có những nơi đạt trên 20.000 người/km2

nhưng xung quanh thành phố vẫn tồn tại khoảng 600 khu vườn Diện tích vườn ở Amsterdam chiếm đến 300 ha trong tông số diện tích 21.907 ha của thành phố

Những người nông dân ở thành phố Amsterdam đã thành lập các tổ chức gọi là “Hội những người nông dân đô thị” và “Hiệp hội những người làm vườn ở Amsterdam” (BVV) Các hiệp hội đại diện cho tầng lớp nông dân thương lượng với Chính phủ trong việc duy trì sự tồn tại của các khu vườn

Trang 27

trong quá trình ĐTH Hiệp hội những người làm vườn đã đưa ra lí luận về sự

đa chức ngành của các khu vườn Các khu vườn được sử dụng để sản xuất lương thực, thực phẩm cung cấp cho nhu cầu của thành phố, đồng thời còn thực hiện nhiều chức năng khác nhau để bình đẳng hoá các nhóm lợi ích như: cung cấp cho thị dân một không gian mới, giáo dục cho trẻ em về thiên nhiên

và môi trường; làm gia tăng số lượng loài động vật, côn trùng và cây cỏ; duy trì “không gian xanh” cho thành phố, làm trong sạch khí hậu thành phố

Vào năm 1995, khoảng 170 nông dân đã tổ chức “Diễn đàn đối thoại của nông dân vùng đất xám” Họ đã đưa ra những phân tích cuả mình về triển vọng kinh tế dài hạn của vùng đất này nếu tiếp tục sản xuất nông nghiệp và thay đổi phương pháp sử dụng đất Họ đã đối thoại trực tiếp với chính phủ và các tổ chức môi trường nhằm giữ vững và phát triển sản xuất nông nghiệp Bản thân những người nông dân đã trở thành người quản lý, giáo dục và hoạt động kinh tế ở địa phương mình

Một số nông trang quanh các khu đô thị đã thấy rõ tầm quan trọng của nông nghiệp đối với thành phố trong quá trình phát triển KCN Họ nhận thức được tính đa chức năng của một nền nông nghiệp đô thị Do đó trong quá trình phát triển KCN, sản xuất nông nghiệp vẫn không mất đi mà tiếp tục tồn tại hài hoà, kết hợp với sự phát triển bền vững của kinh tế đô thị

b Nhật Bản

Ở Nhật Bản vấn đề cung cầu lao động được giải quyết rất hài hòa, năm

1995 cứ một chỗ làm việc trong ngành công nghiệp thì có 3,6 người xin vào làm thì đến năm 2000 cứ một người xin vào làm việc thì có 3 nơi cần tuyển Tình trạng thất nghiệp ở một nước có tới 100 triệu dân cơ bản đã được giải quyết từ những năm 60

Xét trên góc độ kinh tế nhiều tài liệu phương tây cho biết: Nhật Bản đã duy trì được cơ cấu kinh tế “nhiều tầng” tầng trên là các công ty lớn, các xí

Trang 28

nghiệp lớn, các tập đoàn tài chính… có từ 300 đến 1000 công nhân Còn tầng dưới 300 công nhân thậm chí có xí nghiệp khoảng 10 công nhân có tính chất gia đình Như vậy bằng “cơ cấu kinh tế hai khu vực kinh doanh sản xuất cùng tồn tại” Nhật Bản đã giải quyết được mâu thuẫn bằng lao động ít vốn mà mọi người dân đều có việc làm, trong đó nhà nước là người đề ra chính sách và tổ chức thực hiện Ngoài ra họ còn khuyến khích người lao động làm việc tại nhà, tạo ra tính linh hoạt của thị trường lao động Hơn nữa Nhật Bản còn chú trọng đến các chính sách, chương trình hỗ trợ nông thôn phát triển như chương trình tưới tiêu, cung cấp tín dụng, trợ giá nông nghiệp, đưa giáo dục nông học vào trường phổ thông, tạo thành các trung tâm nghiên cứu và trạm ứng dụng thử nghiệm phục vụ nông dân Những chương trình này đã tạo nên việc làm cho hộ nông dân Một nguyên nhân thành công của Nhật Bản trong việc duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở tỷ lệ thấp là mở rộng các dịch vụ ngành nông nghiệp, bán lẻ và phân phối các lĩnh vực, nền kinh tế thoát khỏi áp lực di dân

và cạnh tranh quốc tế

1.1.3.3 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam

Việt Nam vốn là một quốc gia nông nghiệp, phát triển KCN ở Việt Nam qua mỗi giai đoạn lại có những biến đổi nhất định

* Thời kỳ trước năm 1954:

Nửa đầu thế kỉ XX, người Pháp đã mở đầu cho quá trình phát triển KCN Việt Nam thông qua việc thiết lập một mạng lưới đô thị - trung tâm hành chính thương mại và công nghiệp khai thác ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam Tuy vậy, tốc độ tăng dân số mới đạt 7,5%; năm 1936 là 7,9%; 20 năm sau - năm 1955 mới đạt 11%

Trang 29

1975, cuộc chiến xảy ra ác liệt, diễn biến hai quá trình “giải ĐTH” ở miền Bắc và “ĐTH cưỡng bức” ở miền Nam trong đó quá trình thứ hai chiếm ưu thế và làm tăng giá trị tỷ lệ phát triển KCN của cả nước lên đến 21,5% vào năm 1975

* Thời kỳ năm 1975 - 1989

Trong giai đoạn này quá trình phát triển KCN hầu như không có biến động, phản ánh nền kinh tế còn trì trệ

* Thời kỳ từ năm 1989 đến nay

Dưới tác động của công cụ đổi mới, cải tổ nền kinh tế theo định hướng thị trường thì cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu lao động, nghề nghiệp cũng như những khuôn mẫu của đời sống đô thị đã và đang diễn ra những biến đổi quan trọng

Quá trình phát triển KCN đã có những chuyển biến nhanh hơn, đặc biệt trong những năm gần đây tình hình CNH đang diễn ra mạnh mẽ Tốc độ phát triển KCN ở Việt Nam đang diễn ra khá nhanh: 18,5% (năm 1989), 20,5% (1997), 23,65% (1999) và 25% (năm 2004) Về số lượng đô thị, năm 1990, cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã có 703 đô thị, trong đó: 2 đô thị có quy mô dân số trên 3 triệu người, 15 đô thị quy mô dân số từ

25 vạn đến 3 triệu người, 74 đô thị có quy mô dân số từ 5 vạn đến 25 vạn người và các đô thị còn lại có quy mô dân số dưới 5 vạn người

Tuy vậy phát triển KCN ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới Phát triển KCN cũng làm nảy sinh những mặt tiêu cực sau:

- Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất nông nghiệp Theo Hội nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng, các khu công nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm Việt Nam có gần 200 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ

có khoảng 1,5 lao động mất việc làm

Trang 30

- Dân số đô thị tăng nhanh đã làm hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị bị quá tải, đặc biệt là tình trạng yếu kém của hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất rắn

- Tốc độ phát triển quá nhanh của đô thị đã vượt khả năng điều hành của chính quyền địa phương

- Vấn đề đói nghèo và thất nghiệp đang diễn ra ở các đô thị Sự thiếu hiểu biết của người dân kéo theo sự mất an toàn xã hội

Trước những thách thức trên, quá trình ĐTH đã đựơc Chính phủ quan tâm kịp thời Ngày 23 tháng 1 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt

“Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020” trong quyết định số 10/1998/ QG-TTG, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển các đồ thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng:

Mức tăng trưởng dân số dự báo:

- Năm 2020, dân số đô thị là 46 triệu người; chiếm 45% dân số cả nước

Nhu cầu sử dụng đất đô thị:

- Năm 2020, diện tích đất đô thị là 460.000 ha, chiếm 1,4% diện tích đất tự nhiên cả nước

Tổ chức không gian hệ thống đô thị:

- Mạng lưới đồ thị cả nước được hình thành và phát triển trên cơ sở các

đô thị trung tâm, gồm các thành phố trung tâm cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh Các đô thị trung tâm lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh phải được tổ chức thành các chùm đô thị, có vành đai xanh bảo vệ để hạn chế tối

đa sự tập trung dân số, cơ sở kinh tế và phá vỡ cân bằng sinh thái, tránh sự hình thành các siêu đô thị

- Quy hoạch sử dụng đất đô thị đảm bảo các khu chức năng và cơ sở hạ tầng có quan hệ gắn bó

Trang 31

- Hình thành bộ mặt kiến trúc hiện đại nhưng vẫn kế thừa, bảo vệ, tôn tạo và giữ gìn các di sản lịch sử văn hoá, phát triển nền kiến trúc đậm đà bản sắc dân tộc

Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật:

- Xây dựng và duy trì bộ khung bảo vệ thiên nhiên trên địa bàn cả nước

- Khai thác và sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên vào mục đích cải tạo đô thị

- Có biện pháp xử lý, tái sử dụng các chất thải sinh hoạt và sản xuất

bằng công nghệ thích hợp

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu

1 Các hộ nông dân được hưởng lợi gì sau khi bị thu hồi đất?

2 Các hộ nông dân bị thu hồi đất đã thay đổi kế sinh nhai của mình như thế nào?

3 Đời sống của các hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất thay đổi thế nào?

- Xu hướng thay đổi của kinh tế hộ theo tỷ lệ đất bị đất? (nhóm mất nhiều đất liệu có khá hơn do chuyển đổi sinh kế sang phi NN ở tỷ lệ lớn hơn?)

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự mức độ thay đổi thu nhập của hộ: mức độ giàu nghèo? Trình độ văn hoá của chủ hộ? Trình độ nghề nghiệp phi

NN của chủ hộ? Giới tính của chủ hộ? Hỗ trợ của nhà nước?

4 Các giải pháp nào có thể áp dụng để ổn định đời sống cho hộ nông dân bị thu hồi đất?

1.2.2 Thu thập số liệu

1.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Sử dụng các nguồn thông tin khác khác nhau để thu thập như: Báo cáo kinh tế - xã hội qua các năm từ 2001 đến 2010 của huyện Phổ Yên; Các báo cáo về tình hình sử dụng đất, về dân số của địa phương; Báo cáo phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên của Ban quản lý các KCN tỉnh Thái

Trang 32

Nguyên; trang thông tin điện tử Thái Nguyên

1.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

- Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA)

- Điều tra các hộ bị thu hồi đất cho xây dựng khu công nghiệp tại địa bàn Bằng phương pháp phỏng vấn với Bảng hỏi xây dựng sẵn

Nội dung phỏng vấn gồm các vấn đề:

- Thông tin chung về hộ và về chủ hộ,

- Số diện tích hộ bị thu hồi, số tiền đền bù hộ nhận được, và các quyền lợi khác được hưởng (nếu có) như: được tuyển dụng vào làm công nhân KCN, được học nghề,…

- Các thuận lợi và khó khăn hộ gặp phải khi bị thu hồi đất

- Cách sử dụng tiền đền bù của hộ

- Thu nhập và chi tiêu của hộ theo các hoạt động kinh tế trước và sau bị thu hồi đất

- Những gì hộ thấy Nhà nước và doanh nghiệp ở khu CN cần phải làm để

hộ vui lòng cho thu hồi đất nếu giả sử quá trình thu hồi đất được làm lại từ đầu

1.2.3 Phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả

Được sử dụng để thu thập, mô tả số liệu về các nông hộ, các ứng xử của nông hộ trong thời gian nghiên cứu Các chỉ tiêu tuyệt đối, tương đối, hoặc bình quân

- Phương pháp so sánh

Được sử dụng để so sánh các chỉ tiêu, các yếu tố định lượng và định tính So sánh giữa được và mất khi bị thu hồi đất cho từng nhóm hộ So sánh giữa các nhóm hộ theo tỷ lệ đất bị thu hồi Các yếu tố được so sánh với nhau qua các chỉ tiêu tuyệt đối, tương đối, hoặc bình quân

* Được:

- số tiền được đền bù,

Trang 33

- được tập huấn miễn phí

- được tuyển vào KCN

- được cơ hội làm nghề phi NN khác: làm gì? thời gian tham gia lao động? thu nhập từ mỗi nghề phi NN, dựa trên thời gian lao động được giải phóng do đất bị thu hồi?

- được đầu tư thâm canh hơn vào diện tích còn lại: NS tăng thêm do đầu tư thêm từ nguồn lực dôi ra do còn ít đất

* Mất:

- Mất cơ hội việc làm do mất đất

+ số lao động mất việc làm hoàn toàn do đất NN bị thu hồi + số lao động mất một phần việc làm từ đất NN bị thu hồi và thời gian lao động bị nhàn rỗi do mất đất

- Mất thu nhập: sản lượng cây trồng vật nuôi bị mất đi, thu nhập bị mất

đi trên phần đất bị thu hồi

- Phương pháp phân tổ

- Phương pháp biểu đồ

- Phương pháp kiểm định các giả thiết thống kê: để đánh giá độ tin cậy

của việc so sánh các số bình quân hoặc tỷ lệ, giữa các nhóm hộ hoặc trước và sau khi mất đất của từng nhóm hộ

- Phương pháp hồi quy: sử dụng hàm sản xuất để đánh giá ảnh hưởng

của các yếu tố trước và sau khi mất đất đến thu nhập của hộ hoặc đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến sự thay đổi thu nhập

Trang 34

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng mô hình kinh tế lượng và phân tích

sự ảnh hưởng của ĐTH đến đời sống của các hộ nông dân trong khu vực ĐTH Đối với hộ nông dân thì thu nhập là một tiêu chí quan trọng, do đó chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hoá tới thu nhập của các hộ nông dân trong quá trình ĐTH Và hàm hồi quy được đưa ra là hàm sản xuất CobbDouglas và dạng tổng quát của nó như sau:

Yi=AX1ia1X2ia2….Xkiak

Yi: Thu nhập hỗn hợp của hộ (Biến phụ thuộc)

Xji(j=1 k,i=1 n): Các biến độc lập trong nghiên cứu này, dựa vào những nghiên cứu tiền nghiệm và ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển nông thôn Trong đó, các biến ảnh hưởng đến thu nhập của hộ bao gồm: Diện tích đất nông nghiệp, số lao động, nhân khẩu ăn theo, vốn lưu động, trình độ văn hoá của chủ hộ, giới tính chủ hộ, ảnh hưởng của các chương trình tập huấn ngành nghề và khoa học kỹ thuật

aj(j=1 k): Các hệ số của biến độc lập

bh(h=1 m): Biến giả định (quá trình đô thị hóa)

Các hệ số của biến phải được kiểm định với mức ý nghĩa đạt ở mức 5%

Trang 35

Tốc độ đô thị hóa = (D 0 - D 1 ) X 100(%)

ΣD 0

Trong đó: S1: Dân số đô thị tại thời điểm nghiên cứu

S0: Dân số đô thị tại thời điểm gốc

ΣS0: Tổng dân số năm gốc

D1: Diện tích đô thị tại thời điểm nghiên cứu

D0: Diện tích đô thị tại thời điểm gốc

- Đời sống tinh thần và sức khoẻ của người dân

6 Các chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sản xuất kinh doanh và đời sống của hộ

- Giá trị sản xuất (GO: Gross Ouput): là toàn bộ của cải vật chất và dịch

vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Đây là tổng thu của hộ

GO = 

n

i i

i Q P

IC = 

n i i C

1 Trong đó: Ci là khoản chi phí thứ i

Trang 36

- Giá trị gia tăng (VA: Value Added): là phần giá trị tăng thêm của người lao động khi sản xuất một đơn vị sản phẩm trong một vụ sản xuất

MI = VA - (A + T)

A: Khấu hao TSCĐ T: Thuế phải nộp

* Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh:

- Năng suất lao động = GO/LĐ

- Năng suất sử dụng chi phí trung gian tính theo VA = VA/IC

- Năng suất sử dụng chi phí trung gian tính theo GO = GO/IC

- Hiệu quả sử dụng đồng vốn, hiệu quả sử dụng đất

Và một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả khác

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ĐẾN ĐỜI SỐNG HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Phổ Yên là huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên có 18 đơn vị hành chính gồm 15 xã và 3 thị trấn Là cửa ngõ phía Nam của tỉnh Thái Nguyên với diện tích tự nhiên là 25667 km2, có vị trí địa lý hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế Trong đó:

- Phía Nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô Hà Nội

55 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 20 km;

- Phía Bắc giáp với thành phố Thái Nguyên và huyện Đại Từ

- Phía Đông giáp huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang và huyện Phú Bình

- Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc

Với vị trí trên, huyện Phổ Yên có nhiều tiềm năng và cơ hội để thu hút các dự án đầu tư - là cơ sở giúp quá trình phát triển KCN diễn ra nhanh hơn

2.1.1.2 Địa hình

Huyện Phổ Yên thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao trung bình so với mặt biển là 13,8m Điểm cao nhất là 153m và thấp nhất là 8m Địa hình được chia thành 2 vùng rõ rệt, phía Đông có 10 xã và 2 thị trấn là vùng ven sông Cầu có đồi núi thấp xen kẽ với các cánh đồng khá rộng, đất đai tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình 8,2m và hệ thống thuỷ văn khá thuận lợi Phía Tây và phía Tây Bắc có 5 xã và 1 thị trấn - đây là vùng núi của huyện, địa hình chủ yếu là đồi núi đất đai nghèo dinh dưỡng Chính điều này

đã gây ra không ít ảnh hưởng đến sản xuất cũng như với cuộc sống của người dân địa phương

Trang 38

2.1.1.3 Điều kiện về khí hậu và thuỷ văn

Huyện Phổ Yên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng và mưa nhiều nhất từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm Mùa lạnh ít mưa độ ẩm thấp nhất từ tháng 11 đến tháng 3 hàng năm Khí hậu mang tính chất đặc thù của khí hậu trung du miền núi nên được chia thành 2 mùa đông hè rõ rệt Nhiệt độ trung bình khoảng 220C trong đó nhiệt độ cao nhất là 380C và nhiệt

độ thấp nhất là 7,50

C Trong năm có khoảng 1628 giờ nắng, lượng bức xạ đạt 115kcal/cm3 Lượng mưa phân bổ không đều, cụ thể mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 92% lượng mưa cả năm

Nhìn chung khí hậu của huyện Phổ Yên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa rất phù hợp cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp

Phổ Yên có 2 con sông chảy qua là sông Cầu và sông Công với trừ lượng nước lớn Sông Cầu bắt nguồn từ phía Bắc của tỉnh Bắc Kạn với chiều dài 1615km còn sông Công bắt nguồn từ phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên với chiều dài 325km rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương đặc biệt là vấn đề tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp.Trong đó sông Công lượng nước chảy là do sự điều tiết của Hồ Núi Cốc nên nó thường được phát huy vào mùa đông - khắc phục được cơ bản tình trạng thiếu nước vào mùa khô

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Trong giai đoạn 2001-2005, tổng giá trị sản xuất (theo giá cố định 1994) trên toàn huyện tăng trưởng nhanh, bình quân đạt 16,85%/năm, trong

đó Công nghiệp và XD tăng nhanh nhất đạt 30,834%/năm; Dịch vụ đạt 17,46%/năm; Nông nghiệp đạt 3,61%/năm Trong giai đoạn 2006 -2010 thì tăng trưởng kinh tế chung của toàn huyện đạt bình quân là 20,4% vượt 0,4%

so với kế hoạch đề ra Ngành Công nghiệp và XD đạt 56,7%, ngành dịch vụ đạt 24,6% và ngành nông nghiệp đạt 18,75% GDP bình quân/người/năm đạt

Trang 39

21,6 triệu đồng Thu ngân sách nhà nước hàng năm tăng bình quân 20,15%

Giải quyết việc làm cho 11450 lao động, so với mục tiêu vượt 3950 lao động

(52,7%) Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 6,22%, so với mục tiêu vượt

3,78% Ngoài ra, 85% đường giao thông nông thôn được cung ứng hóa và

cấp phối vượt 5% so với mục tiêu

Biểu 2.1: Tăng trưởng giá trị sản xuất các ngành giai đoạn 2003 - 2010

(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Phổ Yên)

Nguyên nhân của sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là do

những năm gần đây Chính quyền tỉnh và địa phương đã có nhiều chính sách

thu hút nguồn vốn để hình thành các KCN (số lượng dự án đầu tư gia tăng cả

về số lượng lẫn giá trị) Tuy các dự án trên mới đang trong giai đoạn được

đền bù và bắt đầu được triển khai nhưng nó đã đánh dấu cho một hướng phát

triển mới của huyện nói chung và trong suy nghĩ của từng người dân nói

riêng Nhờ vậy, đời sống người dân được cải thiện, bộ mặt địa phương có

nhiều thay đổi Hiện nay quá trình phát triển KCN của huyện diễn ra khá

nhanh, điều này được chứng minh bằng hàng loạt các dự án được đầu tư vào

địa bàn huyện với giá trị lớn nhỏ khác nhau và các lĩnh vực khác nhau (KCN

Nam Phổ Yên, KCN cụm cảng Đa Phúc, KCN Yên Bình…) Để chuẩn bị

cho các nhà máy lớn nhỏ đi vào hoạt động trong thời gian không xa thì hàng

Trang 40

loạt các ngành dịch vụ đã phát triển nhanh chóng (tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt 24,6%) Nói tóm lại, đạt được tốc độ tăng trưởng như trên là rất ngoạn mục, đặc biệt là tốc độ tăng của ngành công nghiệp - XD và ngành dịch vụ Với tình hình thực tế hiện nay của huyện thì trong tương lai giá trị sản xuất của huyện sẽ tăng lên đáng kể đặc biệt là giá trị ngành công nghiệp và xây dựng (xem biểu 2.1 và hình 2.1)

Ngày đăng: 20/09/2014, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. An, Như Hải (2008), “Thu hồi đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp và đô thị: Quan điểm và giải pháp”, Tạp chí Lý luận chính trị, số tháng 8- 2008, tr.49-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hồi đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp và đô thị: Quan điểm và giải pháp
Tác giả: An, Như Hải
Nhà XB: Tạp chí Lý luận chính trị
Năm: 2008
2. Chu, Viết Luân 2005, “Thái Nguyên: thế và lực mới trong thế kỷ XXI”, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thái Nguyên: thế và lực mới trong thế kỷ XXI”
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
3. Lê, Du Phong (2006), “Đời sống và việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp”, Tạp chí khu công nghiệp Việt Nam, số tháng 7, tr.33-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đời sống và việc làm của người có đất bị thu hồi để "xây dựng các khu công nghiệp”
Tác giả: Lê, Du Phong
Năm: 2006
4. Nguyễn, Hữu Dũng (2005), “Đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với việc đảm bảo điều kiện sống và làm việc của người lao động”, Tạp chí Lý luận chính trị, số tháng 11-2005, tr.75-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với "việc đảm bảo điều kiện sống và làm việc của người lao động”
Tác giả: Nguyễn, Hữu Dũng
Năm: 2005
5. Nguyễn, Thường Lạng (2007), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 120, tháng 6, tr. 6-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng "kinh tế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập”
Tác giả: Nguyễn, Thường Lạng
Năm: 2007
6. Phạm, Vân Đình; Đỗ, Kim Chung (1997), Kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm, Vân Đình; Đỗ, Kim Chung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
7. Trần, Ngọc Hiên (2005), “Cơ sở lý luận phát triển mô hình khu công nghiệp trong quá trình phát triển KCN, hiện đại hóa ở nước ta”, Tạp chí thông tin Khoa học xã hội, số 02, tr.12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở lý luận phát triển mô hình khu công nghiệp "trong quá trình phát triển KCN, hiện đại hóa ở nước ta”
Tác giả: Trần, Ngọc Hiên
Năm: 2005
9. UBND huyện Phổ Yên: báo cáo, tổng kết, kế hoạch qua các năm và giai đoạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo, tổng kết, kế hoạch qua các năm và giai đoạn
Tác giả: UBND huyện Phổ Yên
10. Bộ Xây dựng (1995), Đô thị Việt Nam tập 1, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị Việt Nam tập 1
Tác giả: Bộ Xây dựng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1995
11. Nguyễn Đình Cự (1997), Giáo trình Dân số và Phát triển, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dân số và Phát triển
Tác giả: Nguyễn Đình Cự
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1997
12. Trịnh Duy Luân (1996), Tìm hiểu môn xã hội học đô thị, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu môn xã hội học đô thị
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
13. PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt, TS Từ Quang Phương, ĐH Kinh tế quốc dân (2004), Giáo trình Kinh tế đầu tư, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế đầu tư
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt, TS Từ Quang Phương, ĐH Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2004
14. PGS. TS Nguyễn Quan Dong, ĐH Kinh tế quốc dân (2003), Giáo trình Kinh tế lượng, Nxb thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế lượng
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Quan Dong
Nhà XB: Nxb thống kê
Năm: 2003
15. Begg David, Fischer Stanley, Dornbusch Rudiger, Kinh tế học, NXB Thống kê (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Nhà XB: NXB Thống kê (2007)
16. PGS. TS Lưu Đức Hải - Viện trưởng Viện quy hoạch đô thị nông thôn, Bộ xây dựng, Chiến lược - kế hoạch - chương trình đầu tư phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đến năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược - kế hoạch - chương trình đầu tư phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: PGS. TS Lưu Đức Hải
Nhà XB: Viện quy hoạch đô thị nông thôn, Bộ xây dựng
19. Bassand, Michel (chủ biên) (2001), Đô thị hóa, khủng hoảng sinh thái và phát triển bền vững, Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa, khủng hoảng sinh thái và phát triển bền vững
Tác giả: Michel Bassand
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2001
20. Một số trang wed như: http://www.vi.wikipedia.org http://www.thainguyen.org.vn Link
8. Trần, Văn Chử 1998, Giáo trình kinh tế học phát triển, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
17. Chương trình Nghị sự 21: Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, 2004 Khác
18. Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên và huyện Phổ Yên: từ năm 2003 đến năm 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Diện tích đất bị thu hồi của một số tỉnh, thành phố - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 1.1 Diện tích đất bị thu hồi của một số tỉnh, thành phố (Trang 20)
Bảng 1.2: Khung khái niệm sinh kế phát triển bền vững - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 1.2 Khung khái niệm sinh kế phát triển bền vững (Trang 24)
Bảng 2.1: Giá trị sản xuất và tăng trưởng GTSX các ngành kinh tế trên địa bàn Huyện - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.1 Giá trị sản xuất và tăng trưởng GTSX các ngành kinh tế trên địa bàn Huyện (Trang 41)
Bảng 2.2: Tăng trưởng giá trị sản xuất Công nghiệp – Xây dựng - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.2 Tăng trưởng giá trị sản xuất Công nghiệp – Xây dựng (Trang 45)
Bảng 2.3:  Giá trị tăng thêm (GDP) của Công nghiệp, TTCN và Xây dựng huyện Phổ Yên - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.3 Giá trị tăng thêm (GDP) của Công nghiệp, TTCN và Xây dựng huyện Phổ Yên (Trang 46)
Bảng 2.5: Biến động đất đai của huyện Phổ Yên qua các năm - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.5 Biến động đất đai của huyện Phổ Yên qua các năm (Trang 50)
Bảng 2.6: Thực trạng dân số - lao động - cơ cấu LĐ của huyện Phổ Yên - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.6 Thực trạng dân số - lao động - cơ cấu LĐ của huyện Phổ Yên (Trang 53)
Bảng 2.12: Sự thay đổi việc làm của người nông dân bị thu hồi đất - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.12 Sự thay đổi việc làm của người nông dân bị thu hồi đất (Trang 71)
Bảng 2.13: Tỷ lệ thời gian làm việc của các thành viên trong hộ trước và - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.13 Tỷ lệ thời gian làm việc của các thành viên trong hộ trước và (Trang 73)
Bảng 2.14: Biến động thu nhập và chi phí sản xuất nông nghiệp bình - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.14 Biến động thu nhập và chi phí sản xuất nông nghiệp bình (Trang 75)
Bảng 2.15: Tác động của phát triển KCN đến hoạt động phi nông nghiệp - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.15 Tác động của phát triển KCN đến hoạt động phi nông nghiệp (Trang 76)
Bảng 2.16: Đánh giá hiệu quả SXKD của hộ trước và sau ĐTH - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.16 Đánh giá hiệu quả SXKD của hộ trước và sau ĐTH (Trang 77)
Bảng 2.17:  Ý kiến của các hộ điều tra đánh giá sự thay đổi của thu - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.17 Ý kiến của các hộ điều tra đánh giá sự thay đổi của thu (Trang 80)
Bảng 2.19: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập hỗn hợp của - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.19 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập hỗn hợp của (Trang 83)
Bảng 2.21. Mô tả biến dùng trong hàm sản xuất Cobb-Douglass (CD) - một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại huyện phổ yên - tỉnh thái nguyên
Bảng 2.21. Mô tả biến dùng trong hàm sản xuất Cobb-Douglass (CD) (Trang 109)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w