1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn

164 576 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính: nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập s

Trang 1

đại học thái nguyên TRƯỜNG ĐH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

- -

NGUYỄN TUẤN KHANH

GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM XÂY DỰNG NễNG THễN MỚI Ở THỊ XÃ BẮC KẠN,

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Ðảng nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm

vị thế cao trên thị trường thế giới Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; bộ mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi Ðời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện Xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả to lớn Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường Dân chủ cơ

sở được phát huy An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hóa Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy

Trang 3

hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế Ðời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc

Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính: nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn; chưa hình thành một cách có hệ thống các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; cơ chế, chính sách phát triển các lĩnh vực này thiếu đồng bộ, thiếu tính đột phá; một số chủ trương, chính sách không hợp lý, thiếu tính khả thi nhưng chậm được điều chỉnh, bổ sung kịp thời; đầu tư từ ngân sách nhà nước và các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; tổ chức chỉ đạo thực hiện và công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, yếu kém; vai trò của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng trong việc triển khai các chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở nhiều nơi còn hạn chế

Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được và những tồn tại, yếu kém cần khắc phục, nhằm xây dựng nông nghiệp, nông thôn theo đúng mục tiêu, định hướng của Đảng đã đề ra Tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm

2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Để thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng, Chính phủ xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28

Trang 4

tháng 10 năm 2008) Thực hiện Nghị quyết trên, ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc ban hàn bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới làm căn cứ để xây dựng mội dung chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 của Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt chương trình mực tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới 2010 – 2020

tỉnh từ năm 1997, đến nay tỉnh có 8 đơn vị hành chính gồm 7 huyện và 1 thị

xã với tổng số 122 xã, phường, thị trấn Dân số trên 295.000 người, với 7 dân tộc anh em gồm Tày, Nùng, Dao, Kinh, Mông, Hoa, Sán Chay, trong

đó dân tộc thiểu số chiếm trên 80% Diện tích đất tự nhiên là 486.842 ha, trong đó đất nông nghiệp là 371.767 ha chiếm 76,36% Bắc Kạn là một tỉnh còn nghèo so với cả nước, Sản xuất Nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh trong những năm gần đây đã đạt được những thành tựu quan trọng, với tốc độ phát triển nông nghiệp nhanh và bền vững: Sản xuất lương thực có bước phát triển vượt bậc, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn tỉnh; bước đầu đã hình thành một số vùng sản xuất chuyên canh tập trung để làm tiền đề cho phát triển công nghiệp chế biến Nông thôn từng bước phát triển vượt bậc, cơ sở hạ tầng nông nghiệp có chuyển biến tích cực

Thực hiện định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn mới, tỉnh Bắc Kạn đang tiến hành xây dựng nông thôn mới trên toàn tỉnh Để xây dựng nông thôn mới cần phải đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp mang tính khoa học, điều đó có ý nghĩa thực tế khách quan và có tính cấp thiết Xuất phát từ thực tế khách quan trên, tôi chọn

đề tài: "Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã Bắc

Kạn, tỉnh Bắc Kạn", là yêu cầu đặt ra mang tính cấp thiết

Trang 5

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu cơ sở khoa học và đánh giá thực trang tình hình nông thôn ở thị xã Bắc Kạn, từ đó đề xuất những giải pháp khoa học nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã Bắc Kạn góp phần thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu mà tỉnh

đề ra về xây dựng nông thôn mới đến năm 2020

2.2 Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới Đánh giá thực trạng tình hình nông thôn so với hệ thống tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ở thị xã Bắc Kạn Phân tích những điểm mạnh, những khó khăn trở ngại và những tiềm năng trong xây dựng nông thôn mới ở thị xã Bắc Kạn

Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới thành công, phù hợp với điều kiện thực tiễn của thị xã Bắc Kạn

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các giải pháp về xây dựng nông thôn mới ở các xã thuộc khu vực nông thôn ở thị xã Bắc Kạn

Số liệu đánh giá thực trạng được điều tra trong năm 2010 và năm 2011

* Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung vào những giải pháp chủ yếu mang tính đột phá, có ý nghĩa thực tiễn nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã Bắc Kạn

Trang 6

4 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về xây dựng nông thôn mới và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng nông thôn của thị xã Bắc Kạn và so sánh với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1.1 Nông thôn và vai trò của nông thôn

* Khái niệm về nông thôn:

Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nông thôn Có quan điểm cho rằng nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Cũng có quan điểm cho rằng dựa vào trình

độ phát triển cơ sở hạ tầng hoặc dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường

Khái niệm về nông thôn trong văn bản chính thức của Bộ Nông nghiệp

và PTNT tại thông tư Số: 54/2009/TT-BNNPTNT thì: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã

Như vậy, Nông thôn là phần lãnh thổ sinh sống chủ yếu làm nghề nông của tập hợp dân cư, tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là uỷ ban nhân dân xã

Trang 8

* Phát triển nông thôn

Phát triển nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững

về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của dân cư nông thôn

Phát triển nông thôn là những thay đổi cần thiết ở vùng nông thôn Tuy nhiên, những gì coi là cần thì lại khác nhau ở từng nước, từng vùng, từng địa phương; theo quan điểm thông thường, bản chất của phát triển là tăng trưởng

và hiện đại hoá mang lại cho người nghèo chút lợi nho nhỏ

Phát triển nông thôn là một chiến lược đời sống kinh tế và xã hội của một nhóm người riêng biệt, người nghèo ở nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong những người nghèo nhất trong những người đang tìm kế sinh nhai ở các vùng nông thôn Nhóm này gồm những tiểu nông, tá điền và những người không có đất Phát triển nông thôn bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn Sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo đảm giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn Phát triển nông thôn đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, không để lại hậu quả cho thế hệ tương lai

Như vậy, Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế xã hội, văn hoá và môi trường; quá trình này, trước hết là do nỗ lực từ chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác

* Vai trò của nông thôn và phát triển nông thôn

Nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của người dân; cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu; cung cấp

Trang 9

hàng hóa cho xuất khẩu; cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị; thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ Phát triển nông thôn sẽ góp phần tạo ra những tiền đề quan trọng không thể thiếu bảo đảm thắng lợi cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phát triển nông thôn sẽ góp phần thực hiện có hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại chỗ Các hoạt động ở nông thôn trở nên sôi động hơn Cơ cấu kinh tế, phân công lao động chuyển dịch đúng hướng có hiệu quả Vấn đề việc làm cho người lao động sẽ được gia tăng ngày càng nhiều trên địa bàn nông thôn Trên cơ sở đó, tăng thu nhập, cải thiện từng bước đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; giảm sức ép của sự chênh lệch kinh tế và đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng phát triển và vùng kém phát triển

Phát triển nông thôn sẽ góp phần to lớn trong việc bảo vệ và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái; Sẽ tạo

cơ sở vật chất cho sự phát triển văn hóa ở nông thôn

Phát triển nông thôn sẽ góp phần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa

xã hội ở nông thôn nói riêng và đất nước nói chung; Là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Phát triển nông thôn gắn liền với phát triển xã hội, văn hóa, chính trị và kiến trúc thượng tầng theo định hướng xã hội chủ nghĩa Một nông thôn có kinh tế và văn hóa phát triển, đời sống ấm no, đầy đủ

về vật chất, yên vui về tinh thần sẽ là một nhân tố quyết định củng cố vững chắc trận địa lòng dân, thắt chặt mối liên minh công - nông, bảo đảm cho nhân dân ta có đủ sức mạnh, đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn của mọi kẻ thù, dưới bất cứ hình thức nào Đó cũng là cơ sở thắng lợi của việc giữ vững

và bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền lợi ích quốc gia và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta

Trang 10

1.1.1.2 Xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hoá và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn phù hợp quy hoạch không gian xây dựng làng (ấp, thôn, bản), xã và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương; kết hợp giữa hỗ trợ của Nhà nước với phát huy nội lực của cộng đồng dân cư nông thôn Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và

tổ chức tốt đời sống văn hoá cơ sở Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hoá gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp, thực hiện "mỗi làng một nghề" Tóm lại: Xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế -

xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng tại khu vực nông thôn

* Sự ra đời của chương trình xây dựng nông thôn mới

Hội nghị BCH Trung ương Ðảng lần thứ 7 khóa X đã thảo luận và thông qua Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn" Đánh giá kiểm điểm sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân và đưa ra quan điểm mục tiêu thực hiện trong những năm tiếp theo như sau:

Thứ nhất: Về quan điểm

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước

Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng

bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công

Trang 11

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ

sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt

Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc

tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân

Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả

hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước,

tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân

Thứ hai: Về mục tiêu

Mục tiêu tổng quát

Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ

Trang 12

nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả

và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia

cả trước mắt và lâu dài Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;

xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Mục tiêu đến năm 2020

Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thủy sản đạt 3,5 - 4%/năm; sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất lúa đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay

Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%

Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết

là hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa 2

vụ, mở rộng diện tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp, cấp thóat nước chủ động cho diện tích nuôi trồng thủy sản, làm muối; đảm bảo giao thông thông suốt 4 mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô-tô tới các thôn, bản; xây

Trang 13

dựng cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và hạ tầng nghề cá; cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư, các cơ sở công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; đảm bảo

cơ bản điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao ở hầu hết các vùng nông thôn tiến gần tới mức các đô thị trung bình

Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả, bền vững công cuộc xoá đói, giảm nghèo; nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính trị của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, hòan chỉnh hệ thống đê sông, đê biển và rừng phòng hộ ven biển, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, cụm dân cư đáp ứng yêu cầu phòng chống bão, lũ, ngăn mặn và chống nước biển dâng; tạo điều kiện sống an toàn cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và các vùng thường xuyên bị bão, lũ, thiên tai; chủ động triển khai một bước các biện pháp thích ứng và đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu Ngăn chặn, xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường, từng bước nâng cao chất lượng môi trường nông thôn

* Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới

Nông thôn hiện nay phát triển thiếu quy hoạch, mang tính tự phát: Quy hoạch dân cư nông thôn đến nay mới có khoảng 23% trên tổng số xã có quy hoạch Thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết sử dụng đất cho từng lĩnh vực như: sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế xã hội Không có quy định, quy chế quản lý phát triển theo quy hoạch Nông thôn xây dựng phát, kiến trức, cảnh quan làng quêa tạp, lôn xộn, môi trường ô nhiễm, nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống bị hủy hoại hoặc mai một

Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hôi còn lạc hậu, không đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài: Đường trục xã được cứng hóa đạt chuẩn chiếm 30%; Tỷ lệ thôn

Trang 14

Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống người dân còn ở mức thấp: Kinh tế hộ đóng vai trò chủ yếu nhưng ở quy mô nhỏ; kinh tế trang trại hình thức sản xuất hiệu quả nhất trong nông nghiệp hiện nay chiếm xấp xỉ 1% tổng

số hộ; Trên 54% số hợp tác xã hoạt động ở mức trung bình và yếu; Doanh nghiệp trong nông nghiệp không đáng kể; liên kết tổ chức sản xuất hàng hóa yếu; đời sống người dân nông thôn còn ở mức thấp, tỷ lệp hộ nghèo còn cao, chênh lệch giàu nghèo cao ( 13,5 lần)

Các vấn đề về văn hóa, xã hội, y tế, môi trường: Tỷ lệ thôn không có lớp mẫu giáo chiếm 45,5%, tỷ lệ thôn không có nhà trẻ chiếm 84%; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 12,8%, chất lượng rất thấp, nhất là vùng sâu vùng xa; tệ nạn xã hội tăng, hủ tục lạc hậu còn dai dẳng; Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển; môi trường sống ô nhiễm

Hệ thống chính trị cơ sở còn yếu, nhất là trình độ và năng lực điều hành: Trong xấp xỉ 81 nghìn công chức xã có 0,1% công chức xã không biết chữ; 2,4% công chức xã đạt trình độ tiểu học; 22,5% công chức xã đạt trình độ trung học cơ sở; 75% công chức xã đạt trình độ trung học phổ thông Trình độ chuyên môn có 9,1% công chức xã đạt trình độ đại học và cao đẳng, trung cấp chiểm 32,4%; sơ cấp chiểm 9,8%; chưa qua đào tạo chiếm 48,7%

1.1.1.3 Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới

* Ý nghĩa của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới:

Cụ thể hóa đặc tính của xã Nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước

Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mực tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới

Là căn cứ để chỉ đạo, đánh giá kết quả thực hiện xây dựng Nông thôn mới của các địa phương trong từng thời kỳ; Đánh giá công nhận xã, huyện,

Trang 15

tỉnh đạt NTM; Đánh giá trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền xã trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới

* Nội dung của Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới

Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng

4 năm 2009 về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Theo

bộ tiêu chí chỉ tiêu quốc gia bộ tiêu chí có 3 cấp độ: xã nông thôn mới, huyện nông thôn mới và tỉnh nông thôn mới, trong đó xã nông thôn mới có

19 tiêu chí cụ thể, còn đối với huyện nông thôn mới căn cứ vào tỷ lệ số xã thuộc huyện đạt nông thôn mới (75% số xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới)

và tỉnh nông thôn mới căn cứ vào tỷ lệ số huyện thuộc tỉnh đạt nông thôn mới (80% số huyện đạt tiêu chí nông thôn mới) 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới bao gồm:

Nhóm tiêu chí về quy hoạch có 01 tiêu chí:

Tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh

tế - xã hội – môi trường theo chuẩn mới; Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp

Nhóm tiêu chí về hạ tầng Kinh tế - Xã hội có 08 tiêu chí:

Tiêu chí Giao thông bao gồm: Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT; tỷ lệ

km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT; tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa; tỷ lệ

km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện Tiêu chí Thủy lợi bao gồm: Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; tỷ lệ km trên mương do xã quản lý được kiên cố hóa

Trang 16

Tiêu chí Điện bao gồm: Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn

Tiêu chí Trường học bao gồm: Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia

Tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa bao gồm: Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT-DL; tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH-TT-DL

Tiêu chí Chợ nông thôn: Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng

Tiêu chí Bưu điện bao gồm: Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông; có Internet đến thôn

Tiêu chí nhà ở dân cư bao gồm: Nhà tạm, dột nát; Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn Bộ Xây dựng

Nhóm tiêu chí về Kinh tế và tổ chức sản xuất có 04 tiêu chí:

Tiêu chí thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân chung của tỉnh

Tiêu chí hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo

Tiêu chí cơ cấu lao động: Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp

Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất: Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả

Nhóm tiêu chí về Văn hóa – Xã hội – Môi trường có 04 tiêu chí:

Tiêu chí về giáo dục bao gồm: Phổ cập giáo dục trung học; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề); Tỷ lệ lao động qua đào tạo

Tiêu chí về y tế bao gồm: Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế; Y tế xã đạt chuẩn quốc gia

Tiêu chí về văn hóa: Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của Bộ VH-TT-DL

Trang 17

Tiêu chí về môi trường bao gồm: Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp

vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia; Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi trường; không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp; Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch; Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định

Nhóm tiêu chí hệ thống chính trị gồm 02 tiêu chí:

Tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh bao gồm: Cán bộ

xã đạt chuẩn; Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định; Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên

Tiêu chí an ninh, trật tự xã hội: An ninh, trật tự xã hội được giữ vững

(Chi tiết theo phụ lục số 01)

1.1.2 Kinh nghiệm phát triển nông thôn trên thế giới và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

1.1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở một số nước trên thế giới

Trang 18

nông nghiệp Việc phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc đã vào một

thời kỳ mới

Có 5 lý do để đặt vấn đề xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa mới:

Một là: Nông nghiệp chưa đạt mức có thể làm cơ sở cho việc phát triển

kinh tế xã hội và nâng cao sinh kế của nhân dân

Hai là: Sản lượng lương thực đạt 484 triệu tấn năm 2005, chưa đủ thoả

mãn yêu cầu, so với năm cao nhất thấp hơn 30 triệu tấn

Ba là: Thiếu đất trồng trọt và nước là cản trở cho việc phát triển nông nghiệp Bốn là: Cần đầu tư nhiều hơn nữa vào nông nghiệp để tăng việc áp

dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất

Năm là: Khoảng cách giữa đô thị và nông thôn đang tăng thêm

Thu nhập thuần đầu người của nông thôn Trung Quốc năm 2005 là 3.255 nguyên (402 USD), trong lúc của dân đô thị là 10.493 nguyên, cao hơn 322%, nếu lấy sự khác nhau về cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa thì còn cao hơn nhiều Một nông thôn xã hội chủ nghĩa mới cần cho sự tăng nhu cầu trong nước Thu nhập và sức mua thấp của nông dân làm cho nhu cầu của nông thôn không mở rộng, năm 2005 chỉ chiếm 32,9% của giá trị bán lẻ trong nước Xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa mới sẽ tạo ra một xã hội hài hòa, công bằng và có lợi cho toàn dân

Năm mục tiêu của nông thôn xã hội chủ nghĩa là: năng suất nông thôn,

cơ sở hạ tầng, phát triển xã hội, dân chủ và mức sống

Đây không phải là xây dựng làng xã mới Phải chú ý đến hiệu quả và hệ quả trước mắt hơn là vào bề ngoài Phải sử dụng sự thương lượng dân chủ hơn là dùng chỉ thị Nông thôn phải phát triển tùy theo khả năng và đặc điểm bản thân, Nhà nước chỉ hỗ trợ bằng dự án

Tài liệu này đưa ra 7 nhiệm vụ chính để tăng lợi nhuận cho nông dân, giảm gánh nặng cho họ và cụ thể hóa nhiệm vụ, chiến lược đề ra thành 32

Trang 19

biện pháp có lợi cho nông dân trong đó có phát triển nông nghiệp hiện đại, tăng thu nhập của nông dân và cải tiến cơ sở hạ tầng nông thôn Sau đây là tóm tắt nội dung các biện pháp:

Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp: Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh để cho việc tiêu thụ thuế, đầu tư ngân sách, tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng cho nông nghiệp và nông thôn Hỗ trợ từ vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục Phần lớn trái phiếu, vốn ngân sách sẽ đi về phát triển nông thôn Đặc biệt đầu

tư để cải tiến sản xuất và điều kiện sống sẽ trở thành một luồng ổn định để tăng vốn cho xây dựng

Cơ sở hạ tầng: Thuế vào việc sử dụng đất canh tác sẽ tăng lên và nhiều thứ thuế mới sẽ được áp dụng trong phát triển nông thôn Sẽ có các quy định

để đảm bảo, điều tiết thu nhập thuế đất cho việc phát triển đất nông nghiệp Phí thu từ sử dụng đất sẽ được dùng chủ yếu vào các dự án phát triển đất nông nghiệp nhỏ và bảo vệ nước Chính phủ sẽ ưu tiên xây dựng các cơ sở hạ tầng cần cấp thiết cho đời sống nông dân Chương trình nước sạch sẽ được thực hiện nhanh hơn, trước hết ở các vùng nước bị ô nhiễm Năng lượng sạch sẽ được áp dụng rộng rãi

* Hàn Quốc

Vào những năm 1960, nông thôn Hàn Quốc còn hết sức lạc hậu, đời sống nhân dân còn gặp vô vàn khó khăn Trong cả nước có 34% dân thuộc vào nhóm nghèo đói và chỉ 20% có thể tiếp cận với điện Dù đã đình chiến nhưng tình hình hai miền Bắc - Nam vẫn đang căng thẳng, không có đủ kinh phí để đầu tư phát triển nông thôn Trước hoàn cảnh đó, bước vào những năm

1970, Chính phủ Hàn Quốc bắt đầu thực hiện mô hình “Nông thôn mới” để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp-nông thôn

Trang 20

Chính phủ Hàn Quốc thực hiện mô hình “Nông thôn mới” (Saemaul Undong- SMU) với mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn Mô hình này thực hiện 16 dự án mà mục tiêu chính là cải thiện môi trường sống cho người dân nông thôn: Mở rộng đường giao thông, hoàn thiện hệ thống nước thải sinh hoạt, Xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng, Trồng thêm cây xanh

và xây dựng sân chơi cho trẻ em… Cải thiện môi trường sống cho người dân nông thôn được coi là nền tảng để bắt đầu cho quá trình phát triển nông thôn

Chính phủ đã liên tục điều chỉnh chính sách hỗ trợ phát triển để phù hợp với tình hình thực tiễn Năm 1971 các dự án thực hiện hỗ trợ cho 33 nghìn làng với mỗi làng là 300 bao xi măng Đất đai và công lao động do người dân trong chính các làng đó bỏ ra Nhưng đến năm 1972, chiến lược đầu tư đựơc điều chỉnh Chỉ còn một nửa trong sô 33 nghìn làng của năm

1971 tiếp tục đựơc hỗ trợ Nhưng Nhà nước đã tăng cuờng đầu tư cho các làng này thêm một tấn thép và tăng lên 500 bao xi măng

Để đánh giá kết quả của những chính sách này, dự án thực hiện việc đánh giá và xếp loại các làng theo ba nhóm: Nhóm làng tích cực nhất, nhóm trung bình và nhóm cơ bản Bằng việc trao thưởng cho mỗi làng 2000 $ nếu được thăng nhóm xếp hạng, chương trình đã tạo sư chuyển biến rõ rệt trong việc phân loại các nhóm làng trong vòng 3 năm sau đó

Trang 21

khăn Để khắc phục hạn chế này, dự án chú trọng vào việc phát triển đội ngũ cán bộ cấp làng, cán bộ chính quyền địa phương

Trước khi tiến hành hỗ trợ vào các làng, cán bộ dự án sẽ tiến hành các điều tra xã hội học đối với ba nhóm đối tượng là: Cán bộ địa phương, cán bộ làng và người dân Các điều tra này cho phép cán bộ dự án biết đựơc đích xác nhu cầu hiện tại của các làng, suy nghĩ và trình độ nhận thức của lãnh đạo làng

Dự án tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo cán bộ cấp làng và chính quyền địa phương Tại các lớp tập huấn, sẽ có các buổi thảo luận nhóm với chủ đề:

“Làm thế nào để người dân hiểu và thực hiện các chính sách của nhà nước?” Với chủ đề này, lãnh đạo làng và chính quyền địa phưong tham gia các lớp tập huấn sẽ đưa ra những ý kiến, giải pháp cho hoàn cảnh cụ thể của làng mình

Để sự tham gia của người dân chủ động và hiệu quả, các cán bộ làng sẽ thực hiện quá trình trao đổi ý kiến với dân làng, tiếp thu ý kiến của nhân dân

để điều chỉnh và phát triển chương trình thực hiện

Dự án Nông thôn mới trả lương cho cán bộ làng thay cho nhân dân như trước đây, cho nên đã khuyến khích cả lãnh đạo làng lẫn nhân dân tích cực thực hiện

Nâng cao chất luợng cán bộ, lãnh đạo và tiếp thu ý kiến từ trong nhân dân là hai biện pháp mang lại hiệu quả cao cho các dự án hỗ trợ trong mô hình “Nông thôn mới”

Kết quả của việc thực hiện mô hình nông thôn mới đựơc thể hiện rất nhanh chóng tại các làng mà các dự án đựơc triển khai Sau 7 năm thực hiện, tổng chiều dài đường giao thông nội làng được tăng lên 42.000 km, đường giao thông nối các làng với nhau là 43.000 km Hệ thống cầu cống, các công trình cung cấp nước sạch đã đựơc hoàn thiện đồng bộ

Thay đổi lớn nhất là việc thay đổi vật liệu làm nhà từ rơm rạ sang các vật liệu công nghiệp (xi măng, tôn…) Các nguồn năng lượng phục vụ cho

Trang 22

sinh hoạt của cư dân nông thôn đựoc thay thế theo hướng hiện đại, thay bếp

và gần 100% dân nông thôn đựơc dùng điện Các giống lúa mới có năng suất cao đựơc đưa vào sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế lớn

Một tác động to lớn nhất là làm tăng thu nhập của người dân Năm

1970, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn mới chỉ đạt 824 USD/người/ năm Nhưng năm 1976, thu nhập đã tăng lên 3000 USD/người/ năm Đó là một sự chuyển biến rất nhanh chóng và rõ nét

Đến đầu những năm 1980, bộ mặt của nông thôn Hàn Quốc đã thay đổi

to lớn và toàn diện Quá trình hiện đại hoá nông thôn đã được hoàn thành Chính phủ điều chỉnh chiến lược phát triển sang một giai đoạn mới

* Nhật Bản

Nhật Bản là nước có diện tích đất đai canh tác nông nghiệp hạn chế, số

lượng người đông, đơn vị sản xuất nông nghiệp chính tại Nhật Bản vẫn là các

hộ gia đình Với đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của mình, Nhật Bản đã đề ra một chiến lược hiệu quả là tăng năng suất nông nghiệp quy mô nhỏ (bằng cách thâm canh tăng năng suất trên đơn vị diện tích và trên đơn vị lao động),

vì vậy nông nghiệp Nhật Bản đã cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu của nhân dân; tạo khả năng tích lũy và phát huy nội lực; thâm canh tăng năng suất; xuất khẩu nông, lâm sản, nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hóa, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn, gắn nông thôn với công nghiệp, gắn nông thôn với thành thị Những bước đi thích hợp là những điều kiện quan trọng đã đưa nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản theo hướng hiện đại hóa

Để tạo cơ sở thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng và phát huy tác dụng máy móc, thiết bị và hóa chất trong quá trình cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp, tạo năng suất lao động cao, Nhật Bản đã chú trọng phát triển, xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng và thông tin liên lạc hoàn chỉnh, phân bổ các ngành công nghiệp chế biến dùng nguyên liệu nông

Trang 23

nghiệp (như tơ tằm, dệt may ), các ngành cơ khí, hóa chất trên địa bàn nông thôn toàn quốc đã tạo việc làm cho lao động nông thôn, ngăn chặn làn sóng lao động rời bỏ nông thôn ra thành thị Chính phủ Nhật Bản thường xuyên có chính sách trợ giá nông sản cho các vùng nông nghiệp mũi nhọn

Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững và hiện đại hóa, Nhật Bản thực hiện chính sách lấy nông nghiệp làm nền tảng ổn định xã hội

và tích lũy cho công nghiệp, thu hút vốn đầu tư, phát triển công nghiệp hướng vào xuất khẩu làm tăng nhanh tiềm lực kinh tế đất nước Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền vững của Nhật Bản là bài học kinh nghiệm để chúng ta tham khảo và học tập

Từ năm 1979, Nhật Bản đã khởi xướng và phát triển phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" với mục tiêu phát triển vùng nông thôn Phong trào "mỗi làng một sản phẩm" dựa trên 3 nguyên tắc chính là: địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực Trong

đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh Sau 20 năm áp dụng phong trào trên Nhật Bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá trị thương mại cao như như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam Kabosu, giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương

Đi theo hướng nông nghiệp xanh, sạch và công nghệ cao để tạo giá trị sản phẩm cao hơn nhiều sản phẩm thông thường Để đầu tư cho công nghệ cao, Nhật Bản có chính sách cho nông dân được vay vốn với lãi suất ưu đãi, phát triển đồng đều giữa đô thị, nông thôn; đồng bằng và miền núi

1.1.2.2 Tình hình phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

* Những thành tựu đạt đƣợc trong quá trình phát triển nông thôn:

Kế thừa thành tựu xây dựng nông thôn trong những giai đoạn trước, trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, phát triển nông thôn nước ta đã đạt được

Trang 24

Một là: Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch

vụ, ngành nghề đã góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân cư nông thôn

Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn tăng từ 17,34% năm

2000 lên 19,3% năm 2007 Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản tăng trưởng bình quân 14,8%/năm, chiếm 28% cơ cấu giá trị sản xuất và 14% giá trị xuất khẩu của toàn ngành công nghiệp cả nước Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển với 2.017 làng nghề; số hộ chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh: năm 2007 là 3,46 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000

Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới Kinh

tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, góp phần chủ yếu tạo tăng trưởng nông nghiệp, thu nhập cho nông dân Xuất hiện ngày càng nhiều gia trại, trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và kinh doanh tổng hợp đạt hiệu quả kinh tế cao Tổ hợp tác phát triển nhanh, hoạt động đa dạng, phù hợp với trình độ của nông dân ở nhiều vùng; các HTX nông nghiệp chuyển đổi và thành lập mới theo Luật, thực hiện tốt hơn vai trò hỗ trợ kinh tế hộ Doanh nghiệp nông thôn được phát triển với nhiều thành phần kinh tế tham gia

Hai là: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tăng cường, nhất là thuỷ lợi, giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn:

Thuỷ lợi tiếp tục được quan tâm đầu tư, phát triển theo hướng đa mục tiêu Từ năm 2000 đến nay, năng lực tưới tăng thêm 575 ngàn ha, tiêu 235 ngàn ha, đảm bảo tưới tiêu chủ động cho 83% diện tích gieo trồng lúa, một số cây trồng khác và cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ Hệ thống

đê sông, đê biển được củng cố, nâng cấp một bước, nhiều công trình tiêu thoát lũ và trên 1.100 cụm tuyến dân cư ở ĐBSCL được xây dựng và phát huy tác dụng

Trang 25

Hệ thống giao thông, điện, kết cấu hạ tầng xã hội ở nông thôn có bước phát triển nhanh về số lượng Đến nay, 96,9% số xã có đường ô tô đến khu trung tâm; 96,8% số xã và 93,3% số hộ có điện lưới quốc gia; 100% xã có điện thoại cố định; hầu hết các xã đều có trường học, trạm y tế, trong đó hơn 40% số trường học được kiên cố hoá, 45% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 70% cư dân nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% số huyện có Trung tâm văn hoá, thể thao; 38,6% số xã, 36% số thôn có nhà văn hoá

Ba là: Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới, phát triển đa dạng, đã huy động và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực ở nông thôn, cư dân ở nông thôn có thêm việc làm, thu nhập được nâng cao

Kinh tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, góp

phần chủ yếu tạo tăng trưởng nông nghiệp, thu nhập cho nông dân Xuất hiện

ngày càng nhiều gia trại, trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và kinh doanh tổng hợp đạt hiệu quả kinh tế cao Tổ hợp tác phát triển nhanh, hoạt động đa dạng, phù hợp với trình độ của nông dân ở nhiều vùng; các HTX nông nghiệp chuyển đổi và thành lập mới theo Luật, thực hiện tốt hơn vai trò hỗ trợ kinh tế

hộ Doanh nghiệp nông thôn được phát triển với nhiều thành phần kinh tế tham gia Từ năm 2000 đến nay số lượng công ty TNHH trong nông nghiệp tăng 2,1 lần, công ty cổ phần 2,7 lần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,5 lần; các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được sắp xếp, cổ phần hoá

Bốn là: Đời sống vật chất, tinh thần của cư dân các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện; xoá đói giảm nghèo đạt thành tựu to lớn

Năm 2007 thu nhập bình quân đầu người đạt 6,1 triệu đồng/người/năm, tăng 2,7 lần so với năm 2000 Nhờ thu nhập tăng, nông dân ở nhiều vùng có thêm tích luỹ, đã xây cất nhà ở kiên cố, khang trang, mua sắm phương tiện đi lại và các vật dụng lâu bền, điều kiện sinh hoạt được cải thiện Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu có nhiều tiến bộ, hầu hết các xã có sổ

Trang 26

khám bệnh cho người nghèo, nhiều bệnh dịch nguy hiểm được phát hiện và khống chế kịp thời Công tác phổ cập giáo dục được đẩy mạnh, con em các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ chính sách được miễn, giảm học phí và vay vốn để học tập Hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao được quan tâm và có bước phát triển hơn

Xóa đói giảm nghèo đạt thành tựu to lớn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Nhà nước đã có nhiều chương trình, chính sách, hình thức hỗ trợ thiết thực cho các hộ nghèo, gia đình chính sách, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Đến 2007, về cơ bản đã xóa được đói, tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn 18%

Năm là: Hệ thống chính trị ở nông thôn do Đảng lãnh đạo được tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; vị thế của giai cấp nông dân được nâng cao; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững

Tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở được tăng cường và kiện toàn Đến nay, 89% số thôn, bản có tổ chức đảng, 56% cán bộ công chức xã được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ và quản lý Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với các đoàn thể quần chúng đóng góp tích cực giải quyết nhiều vấn đề ở nông thôn Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ngày càng đi vào nề nếp, góp phần quan trọng tạo nên sự đồng thuận ở nông thôn Nông dân là lực lượng lớn, chiếm 54% tổng số lao động cả nước, là chủ thể trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, trình độ giác ngộ chính trị, kiến thức về sản xuất hàng hoá của nông dân được nâng lên, dần thích nghi với cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế Mặc dù tình hình chính trị trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, đời sống còn khó khăn, nhưng nông dân vẫn luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, xã hội nông thôn ổn định

* Những yếu kém trong quá trình phát triển nông thôn

Bên cạnh những thành tựu đạt được, phát triển nông thôn nước ta đang bộc lộ một số mặt yếu kém sau:

Trang 27

- Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai thấp

Quy hoạch đô thị, xây dựng nông thôn còn rất thiếu Tới nay mới chỉ có khoảng 20% khu dân cư nông thôn có quy hoạch xây dựng nhưng chất lượng quy hoạch lại thấp Đa số nông thôn phát triển tự phát, cảnh quan bị phá vỡ và nhiều nét văn hóa bị pha tạp, mai một

Thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu của sản xuất nông nghiệp (hiện còn 0,7 triệu ha đất lúa, 50% diện tích cà phê, 80% diện tích rau màu chưa được tưới); chất lượng nhiều công trình xuống cấp, trung bình mới phát huy khoảng 50-70% công suất thiết kế

Phần lớn chất lượng đường giao thông nông thôn còn thấp, chủ yếu mới phục vụ dân sinh, chưa đảm bảo phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá Chưa đáp ứng đủ nhu cầu điện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và dân cư nông thôn về cả chất lượng và sản lượng Chất lượng cơ sở khám chữa bệnh còn hạn chế; nhiều trường lớp, cơ sở văn hoá còn tạm bợ, ít cơ sở hoạt động thể dục thể thao

Môi trường nông thôn ngày càng bị ô nhiễm, chủ yếu do chất thải sinh hoạt, chăn nuôi, nông dược Hầu hết các vùng ven đô thị, khu công nghiệp bị ảnh hưởng ngày càng trầm trọng Nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng Trong khi đó mới chỉ có 33% số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, 74,7% hộ có nhà tắm, 12,2% xã có công trình thoát nước; 28,4% xã có tổ chức thu gom rác thải; năng lực dự báo, cảnh báo cũng như cơ sở hạ tầng còn thấp kém Hệ thống phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và việc phân bố dân cư hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ sản xuất, dân sinh, nhất là để đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong dài hạn

Trang 28

- Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn còn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng ngày càng lớn; tỷ lệ hộ nghèo còn cao; phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc Hiện chưa hình thành một hệ thống an sinh xã hội thống nhất và thông

suốt cho các vùng nông thôn Hệ thống hiện hành mới nhằm bù đắp cho những người có công, cứu trợ nhất thời cho những người khó khăn khi có dịch bệnh, thiên tai Đa số nông dân phải tự lo cho bản thân và gia đình khi gặp khó khăn, rủi ro Hiện tại mới có khoảng 50% dân cư nông thôn có bảo hiểm y tế, những người còn lại phải tự lo khi bị bệnh

Nếp sống văn hoá chậm hình thành (kết quả đạt được trong xây dựng nếp sống văn hoá chưa bền vững); Tệ nạn xã hội vẫn gia tăng; Mức hưởng thụ

về văn hoá của nông dân còn thấp, còn có khoảng cách quá xa giữa các vùng miền; Sinh hoạt văn hoá cộng đồng còn nghèo nàn, thiếu sức hấp dẫn, thu hút Các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao trong cộng đồng có tỷ lệ người tham gia rất ít Tình trạng nghiện ma tuý, tệ nạn mại dâm, cờ bạc có xu hướng phát triển Một số hủ tục vẫn dai dẳng, thậm chí có nơi trỗi dậy mạnh, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội Các mối quan hệ cộng đồng cổ truyền, nhất là quan hệ làng xã là yếu tố quan trọng làm nền tảng xã hội ở nông thôn ở nhiều nơi bị xói mòn nghiêm trọng Nhiều quan hệ cộng đồng làng, xã trước đây được sử dụng rất có hiệu quả thì nay đang bị hành chính hoá làm méo mó các mối quan hệ ở nhiều vùng nông thôn

Sự phân tầng xã hội ở nông thôn đang diễn ra nhanh, sự chênh lệch về điều kiện và mức sống gia tăng trong phạm vi cả nước và mỗi làng, xã Chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 10% giàu nhất với 10% nghèo nhất năm 2006 là 13,5 lần

Tới nay vẫn chưa có chương trình chiến lược về đào tạo, nâng cao kiến thức cho cư dân nông thôn về xây dựng nông thôn mới Sự chuyển dịch cơ

Trang 29

cấu lao động nông nghiệp, nông thôn còn mang tính tự phát và thiếu sự chuẩn

bị Chất lượng lao động nông nghiệp, nông thôn còn thấp so với yêu cầu CNH HĐH, nhất là ở vùng cao, vùng xa” Việc nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của nông dân nhiều nơi chưa được quan tâm thường xuyên đúng mức, khá phổ biến là quyền lợi của nông dân không được đảm bảo (phải đóng góp nhiều, bị thua thiệt khi bị thu hồi đất, việc thực thi dân chủ chưa được đảm bảo) Tình trạng nghèo khó, chênh lệch thu nhập và cuộc sống, những tiêu cực trong cuộc sống, nhất là tình trạng tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, thoái hoá, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm ảnh hưởng, xói mòn niềm tin của một bộ phận nông dân

- Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn đổi mới chậm, chưa đủ sức phát triển mạnh sản xuất hàng hoá Kinh tế hộ đóng vai trò chủ yếu,

nhưng phổ biến là quy mô nhỏ (36% hộ có dưới 0,2 ha) Kinh tế trang trại mới chỉ chiếm hơn 1% tổng số hộ nông, lâm, ngư nghiệp của cả nước Kinh tế tập thể chậm phát triển, nhiều HTX hoạt động hình thức, chưa làm tốt vai trò cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng Đổi mới, sắp xếp nông lâm trường quốc doanh tiến hành chậm, việc rà soát, điều chỉnh quỹ đất đai gặp nhiều vướng mắc Lao động nông thôn thiếu việc làm Chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút các doanh nghiệp đầu tư nhiều vào địa bàn nông thôn

- Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Số doanh

nghiệp công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn còn ít và tăng chậm Rất ít nhà máy trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, phần lớn vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc thú y, bảo vệ thực vật và máy móc nông nghiệp vẫn phải nhập khẩu (năm 2007, nhập khẩu khoảng 5,5 tỷ USD) Tỷ trọng nông nghiệp trong

cơ cấu kinh tế nông thôn còn chiếm hơn 40% so với 20% của cả nước, nhiều vùng chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp

Trang 30

Chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ còn rất chậm, trong giai đoạn 2001-2006, chỉ giảm bình quân gần 2%/năm Năng suất lao động nông nghiệp còn thấp chỉ bằng khoảng ½ của Thái Lan, Inđônêxia và Philipin Sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn từ nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ còn khá chậm Trong giai đoạn 2001-2006, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm mới được 10,4% (bình quân 1 năm mới chuyển được gần 2%), trong đó chuyển sang làm công nghiệp, xây dựng 5,1%, làm dịch vụ 4,4%; lao động trong nông nghiệp đến 2006 vẫn chiếm 55,7% trong tổng số của cả nước (24,1 triệu người) Năng suất lao động nông nghiệp còn thấp, chưa bằng ½ của Thái Lan, Indonêxia và Philipin

Những mặt yếu kém trong phát triển nông thôn giai đoạn qua, đang là những cản trở cho việc thực hiện các mục tiêu của CNH-HĐH, dự báo tới một

sự phát triển không bền vững trong tương lai

Vì vậy, rất cần phải có chương trình phát triển tổng thể, tận dụng được những bài học kinh nghiệm, giải quyết đồng bộ các mặt yếu kém nhằm đẩy mạnh xây dựng và phát triển nông thôn mới có kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng cao, hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, môi trường sinh thái xanh - sạch - đẹp; bản sắc văn hoá được giữ gìn và phát huy; hệ thống chính trị được củng cố góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu cơ bản đưa nước ta thành nước công nghiệp và hiện đại vào năm 2020

* Một số kinh nghiệm phát triển nông thôn trong nước

Những năm qua, Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách và các cuộc vận động nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, trong đó điển hình là một số chương trình, dự án tác động nhiều đến nông thôn như: Chương trình Mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm; Chương trình 135, Chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường

Trang 31

nông thôn, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và một số chương trình, dự án lớn khác như: phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa";

“Thực hiện quy chế dân chủ và cải cách thủ tục hành chính ở cơ sở”; “Phong trào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn”; “Đề án thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp thôn, bản”; Chương trình vay vốn tín dụng ưu đãi để thực hiện kiên cố hoá kênh mương, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản và làng nghề nông thôn; Chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư vuợt lũ ở ĐBSCL; Chương trình khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi; Chương trình 134, 120, 193… Mỗi chương trình đó đã tác động đến một hoặc một số mặt của kinh tế - xã hội nông thôn Tuy nhiên những Chương trình có mục tiêu phát triển đồng bộ nông thôn thì rất ít, từ năm 2001 đến nay, chỉ có 2 Chương trình thí điểm của Ban Kinh tế Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng tới mục tiêu này:

- Đề án thí điểm phát triển nông thôn mới cấp xã

Kể từ năm 2001, Ban Kinh tế Trung ương cùng với Bộ Nông nghiệp và PTNT, các Bộ, ngành và địa phương đã bắt đầu triển khai xây dựng mô hình điểm “Phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá” (gọi chung là mô hình phát triển nông thôn mới cấp xã) tại các vùng sinh thái Chương trình phát triển nông thôn đã được triển khai tại

14 xã điểm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tăng lên 18 xã trong năm 2004) và khoảng 200 xã điểm của các địa phương Chương trình phát triển nông thôn cấp xã bao gồm 5 nội dung cơ bản: phát triển kinh tế hàng hoá với một cơ chế phù hợp khai thác được lợi thế của địa phương, có thị trường tiêu thụ; phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp với nền nông nghiệp hàng hoá đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá; xây dựng khu dân cư văn minh; tăng cường công tác văn hoá, y tế, giáo dục trong nông thôn và xây dựng đội ngũ cán bộ; tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, phát huy vai trò của cán bộ tổ chức

Trang 32

Chương trình phát triển nông thôn cấp xã đã triển khai được một số hoạt động như đào tạo cho cán bộ các xã điểm, triển khai qui hoạch cho 18 xã điểm của Bộ Nông nghiệp và PTNT, lồng ghép các chương trình, dự án về khuyến nông, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho 18 xã điểm Nhờ vậy, cơ sở hạ tầng và bộ mặt nông thôn của các xã điểm đã có sự thay đổi đáng kể, nhiều hệ thống nước sạch, xử lý nước thải đã hình thành và đi vào hoạt động có hiệu quả Sản xuất nông nghiệp và nhất là ngành nghề có hiệu quả cao hơn, sản phẩm làm ra cạnh tranh được trên địa bàn trong nước cũng như quốc tế

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, mô hình phát triển nông thôn cấp xã đã bộc lộ một số tồn tại:

Kế hoạch xây dựng mô hình đòi hỏi nhu cầu vốn rất lớn lại không có nguồn lực đảm bảo nên hầu hết các mô hình cấp xã đều không có tính khả thi Mặt khác mô hình được xây dựng theo dạng dự án đầu tư phát triển nên cán

bộ và người dân ở "điểm" có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào nhà nước mà chưa huy động được nguồn lực của người dân và cộng đồng nên chưa mang tính xã hội sâu sắc và vì vậy thiếu tính bền vững trong xây dựng nông thôn mới Đội ngũ cán bộ xã tuy có được đào tạo, nhưng nội dung đào tạo chưa đủ tầm, tình trạng phổ biến là chưa nắm vững yêu cầu và phương pháp triển khai dự án

Bộ máy tổ chức chỉ đạo triển khai chương trình không được hình thành thống nhất, đồng bộ từ cấp trung ương xuống các địa phương, không phân định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, các cấp chính quyền trong việc tổ chức chỉ đạo, triển khai, theo dõi và đánh giá chương trình nên rời rạc và hiệu quả thấp

- Đề án thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp thôn, bản

Năm 2007, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thí điểm Đề án Xây dựng Nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận mới “dựa vào nội lực và do

Trang 33

cộng đồng làm chủ” Đề án thì điểm này được triển khai ở 15 thôn tại 14 tỉnh đại diện cho các vùng kinh tế văn hoá khác nhau Nội dung thực hiện chủ yếu gồm: Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng; Nâng cấp điều kiện sống cho người dân nông thôn; Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp, dịch vụ nông thôn để nâng cao thu nhập và Phát triển mỗi làng một nghề

Qua 2 năm thực hiện, Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đạt được 6 nội dung:

Đã hình thành được 15 mô hình thực tiễn về xây dựng nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận mới từ cộng đồng và do cộng đồng làm chủ

Bước đầu thay đổi được nhận thức của cán bộ cơ sở và người dân trong việc xác định nội dung xây dựng nông thôn mới, các bước công việc phải làm và trình

tự tiến hành, cách thức huy động nội lực tại chỗ cho xây dựng nông thôn mới;

Đã hình thành được tổ chức của người dân (Ban phát triển thôn bản), là đại diện của cộng đồng dân cư thôn, bản để tự chủ trong việc bàn bạc, lựa chọn, quyết định các nội dung xây dựng nông thôn mới và cuộc sống trên địa bàn của họ

Đã khơi dậy ý thức tự chủ, sáng tạo của người dân trong phát huy nội lực xây dựng nông thôn mới, không ỷ lại vào trợ giúp bên ngoài

Đã xác định rõ hơn nội dung, phương pháp, cách làm, mối quan hệ phối hợp giữa các cấp trong xây dựng mô hình nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận từ cộng đồng thôn, bản

Tuy mô hình chưa hoàn thiện, nhưng đã thu hút sự quan tâm của nhiều địa phương tổ chức xây dựng thêm mô hình nông thôn mới ở địa phương (ngoài 15 mô hình thí điểm của Bộ)

Tuy vậy, còn một số tồn tại:

Nhận thức của các ngành, các cấp ở một số địa phương về xây dựng nông thôn mới còn chưa đầy đủ, chưa đúng với chủ trương của đề án

Trang 34

Do chưa có tiêu chí thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới nên việc xác định mục tiêu nhằm xác định kế hoạch phát triển dài hạn, ngắn hạn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là khái niệm, nội hàm nông thôn mới còn hiểu theo nhiều cách khác nhau không chỉ với cán bộ các cấp và người dân ở các điểm

mà còn cả trong các đơn vị triển khai

Thiếu lực lượng cán bộ xây dựng nông thôn theo phương pháp tiếp cận mới nên khi thực hiện hầu hết các cán bộ và người dân đều rất lúng túng nảh hưởng đến tiến độ và chất lượng

Do chưa có cơ chế đặc thù, do vậy việc triển khai xây dựng mô hình nông thôn mới rất lúng túng nhất là cơ chế quản lý đầu tư, tài chính

- Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của một số tỉnh trong nước

Xây dựng nông mới ở Thái Bình

Tỉnh Thái Bình đã phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới toàn tỉnh và tiến hành thí điểm ở 8 xã tại 8 huyện theo hướng xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn, hiệu quả cao

Hiện nay ở Thái Bình, nhiều chỉ tiêu (điện, đường, trường, trạm) đã đạt chuẩn Trong hai năm 2009-2010 xây dựng thí điểm tám mô hình sản xuất hàng hóa tập trung gắn với xây dựng nông thôn mới ở tám huyện, thành phố

Đó là các xã hình mẫu Thanh Tân (Kiến Xương), Vũ Phúc (TP Thái Bình), Thụy Trình (Thái Thụy), An Ninh (Tiền Hải), Nguyên Xá (Vũ Thư), Trọng Quan (Đông Hưng), Hồng Minh (Hưng Hà) và Quỳnh Minh (Quỳnh Phụ) Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của tỉnh đã bố trí kinh phí gần 48,5 tỷ đồng, trong đó phần kinh phí cho các nội dung thực hiện ở tám xã điểm là 48

tỷ đồng

Ở cả ba cấp tỉnh, huyện, xã của Thái Bình đều thành lập Ban chỉ đạo xây dựng thí điểm nông thôn mới, do đồng chí bí thư cấp ủy làm trưởng ban Kế hoạch được thực hiện từ đầu năm 2009 và các năm tiếp theo, tùy theo tính

Trang 35

chất, quy mô của từng dự án Nhưng trước hết là tập trung vào các nội dung như: quy hoạch vùng sản xuất, vùng dân cư, quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi trong sinh hoạt, phát triển văn hóa, giữ gìn môi trường và phát triển các làng nghề ở mỗi địa phương

Trước mắt, các khu dân cư ở các điểm nông thôn mới được quy hoạch lại cho phù hợp quy hoạch phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật ở thôn, xã, nâng cao kiến thức nghề nghiệp cho nông dân, thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng chất lượng cao, quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa, trang bị cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, tỉnh có chính sách khuyến khích nông dân mua máy cơ khí bằng cách hỗ trợ 50% giá trị một máy, hỗ trợ 100% giá trị hệ thống làm lạnh của kho lạnh, khuyến khích những người làm nhiều diện tích vụ đông, cứ mỗi ha được tỉnh hỗ trợ

600 nghìn đồng

Trong tám hình mẫu về nông thôn mới của tỉnh thì Thanh Tân là điểm được xây dựng đầu tiên Đến nay xã đã xây xong quy hoạch chi tiết vùng sản xuất hàng hóa và vùng dân cư ở địa phương, đồng thời chuẩn bị tiếp nhận nguồn vốn của Ngân hàng thế giới (WB) xây dựng hệ thống cấp nước sạch Mỗi vùng sản xuất hàng hóa được bố trí từ 30 đến 100 ha trở lên, trên đó đường bờ vùng thiết kế từ 3,5 đến 4 m, bảo đảm cho xe cơ giới đi lại thuận tiện Hệ thống mương máng, sông ngòi, cống đập, trạm bơm đáp ứng đầy đủ nhu cầu phục vụ sản xuất trong vùng, phù hợp sản xuất bằng cơ giới hiện đại

Xây dựng nông mới ở Phú Thọ

Sau khi có chủ trương của Ðảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới, tỉnh Phú Thọ đã thành lập Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh và huyện; ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo và Nghị quyết về quy hoạch xây dựng nông thôn mới tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 Tỉnh tổ chức các đoàn đi học tập kinh nghiệm xây dựng nông

Trang 36

thôn mới ở một số địa phương khác, triển khai thí điểm tại ba xã của ba huyện gồm: Xã Sơn Dương (huyện Lâm Thao), Xã Ðồng Luận (huyện Thanh Thủy)

và xã Gia Ðiền (huyện Hạ Hòa)

Sau một thời gian tích cực triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, nhiều vùng quê ở tỉnh Phú Thọ, nhiều mô hình nông thôn mới đã hình thành Xã Sơn Dương đã hoàn thiện hệ thống kênh cứng cấp 3 dài 500 m, tuyến kênh Nhà Cốc dài gần 1 km đang được xây dựng Xã đã hoàn thành lập

dự toán xây dựng đường giao thông nội đồng tuyến Nhà Cốc, chiều dài 2,2

km và giao thông nội đồng chiều dài 1,1 km Ngoài ra, xã còn được đầu tư để xây dựng phòng học chức năng, nhà điều hành của các trường học và trung tâm học tập cộng đồng Chương trình xây dựng nông thôn mới đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của xã, năm 2010 còn 8,8%, không còn nhà dột nát, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 19%; 100% số trẻ trong độ tuổi được đến trường, bình quân lương thực đầu người đạt 680 kg/năm Ðến nay, xã đã đạt 12/19 tiêu chí nông thôn mới, bốn tiêu chí đang triển khai thực hiện Tuy nhiên, việc xây dựng nông thôn mới đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, trong

đó có một số tiêu chí rất khó đạt, như tiêu chí về xây dựng chợ nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động và chuyển đổi cơ cấu sản xuất

Việc triển khai xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua đã đạt kết quả bước đầu, tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân, một số công trình đã được đầu tư xây dựng tại các xã điểm đáp ứng cơ bản tiêu chí xã nông thôn mới Cùng với xã Sơn Dương, chương trình nông thôn mới ở xã Ðồng Luận (Thanh Thủy) được đầu

tư xây dựng thêm phòng học, nhà điều hành, khuôn viên và mua sắm các trang thiết bị, xây dựng trụ sở xã, xây dựng đường giao thông nông thôn; xã Gia Ðiền (Hạ Hòa) đã được đầu tư xây dựng 6,5 km đường giao thông nông thôn, sửa chữa, nâng cấp trường, lớp Hiện xã đang lập dự toán xây dựng

Trang 37

đường giao thông, 15 km kênh mương nội đồng, hai trạm biến áp 320 KVA Theo đánh giá của ngành nông nghiệp tỉnh, đến nay, Sơn Dương có 12/19 tiêu chí hoàn thành, xã Ðồng Luận và xã Gia Ðiền đạt 9/19 tiêu chí

Tuy nhiên, việc triển khai xây dựng nông thôn mới ở Phú Thọ đã bộc lộ nhiều khó khăn Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi, dân cư thưa thớt, địa hình ruộng bậc thang, việc bố trí sản xuất, tăng năng suất cây trồng gặp nhiều khó khăn Một số tiêu chí về tỷ lệ hộ nghèo, thu nhập bình quân, cơ cấu lao động khó đạt như tiêu chí 40% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp Trong khi đó ở các địa phương, số lao động làm nông nghiệp cao hơn rất nhiều, bên cạnh đó, việc thay đổi tư duy, nhận thức, cách nghĩ, cách làm trong xây dựng nông thôn mới của một số cán bộ, người dân còn hạn chế Chương trình xây dựng nông thôn mới liên quan nhiều cấp, nhiều ngành, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp các ngành cùng triển khai thực hiện

Hiện nay tỉnh Phú Thọ đang tiếp tục chỉ đạo ba xã làm điểm tiếp tục triển khai theo quy hoạch, đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm đạt các tiêu chí xã nông thôn mới Trước mắt, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao thu nhập; gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với quy hoạch đô thị, huy động, lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án, các nguồn lực của địa phương, nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp và các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân; mục tiêu phấn đấu của tỉnh: hết năm 2011, mỗi huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh có ít nhất một xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, đến năm 2015 có 95% số

xã và ba huyện đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, đến năm 2020 có 100% huyện trong tỉnh đạt tiêu chuẩn nông thôn mới

Trang 38

Xây dựng nông mới ở Hà Tĩnh

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tỉnh

Hà tĩnh đã thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, Ban Chỉ đạo chương trình nông thôn mới của tỉnh đã ban hành 3 đề cương hướng dẫn về xây dựng quy hoạch, xây dựng đề án nông thôn mới cấp xã và đề án phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn Tỉnh phấn đấu trong quý 1 năm 2011 hoàn thành và phê duyệt quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại 13 xã điểm, 35 xã tiếp theo sẽ được thông qua quy hoạch trước 30/4 năm

2011, sau đó tiến hành quy hoạch cho 187 xã còn lại trong năm 2011

Để thực hiện được mục tiêu trên, tỉnh Hà Tĩnh xây dựng kế hoạch chi tiết, tổ chức thăm quan các mô hình tiêu biểu trong và ngoài nước Tập trung vào việc xây dựng quy hoạch để định hình cơ cấu kinh tế, bố trí lao động những nhóm nghề, cây con chính ở mỗi địa phương Qua đó, tổ chức lại sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân

Tỉnh Hà Tĩnh ưu tiên đầu tư phát triển nhanh, đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn theo quy hoạch; cải thiện hệ thống đường giao thông, lưới điện, hệ thống tưới tiêu, thoát nước thải, cấp nước sinh hoạt hợp

vệ sinh; chú trọng phát triển sản xuất, dịch vụ và các hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế trang trại, gia trại để tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn gắn với các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác Tỉnh Hà Tĩnh có

cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện đưa cơ giới vào sản xuất Tăng cường năng lực dự báo, phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường, xây dựng và triển khai dự án ngăn mặn và giữ ngọt sông Lam, góp phần bảo đảm an toàn, bền vững nguồn nước cho phát triển kinh tế - xã hội lâu dài Tỉnh chỉ đạo các đơn vị đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình

Trang 39

thủy lợi: Hệ thống thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang, hệ thống kênh trục sông Nghèn và cống Đức Xá, Đê La Giang, hệ thống công trình sống chung với lũ tại huyện Đức Thọ ; tiếp tục đầu tư nâng cấp các công trình thủy lợi hiện có Củng cố, nâng cấp hệ thống đê sông, đê biển và rừng phòng hộ ven biển đủ khả năng phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai Xây dựng và thực hiện cơ chế duy

tu, bảo dưỡng hệ thống thủy lợi

Đến nay xã Gia Phố (huyện Hương Khê) là xã điểm đã hoàn thành đạt 10/19 tiêu chí; giải ngân được trên 11,5 tỷ đồng/tổng số vốn trên 52 tỷ đồng Tại 12 xã điểm của tỉnh, có 2 xã đã quy hoạch xây dựng và 1 xã đã tiến hành xây dựng đề án nông thôn mới Ban chỉ đạo tỉnh Hà Tĩnh đã lựa chọn 48 xã đặt mục tiêu hoàn thành 19 tiêu chí trước năm 2015, trong đó có 13 xã phấn đấu về đích trước năm 2013

* Một số vấn đề rút ra qua việc triển khai xây dựng mô hình nông thôn mới

Xây dựng NTM thời gian qua thiếu định hướng do chưa có qui hoạch tổng thể cấp quốc gia và địa phương, chưa có bộ tiêu chí, chuẩn mực thể hiện các đặc trưng của NTM thời kỳ CNH-HĐH; Chưa có được hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật làm chuẩn cho xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn Thiếu đội ngũ cán bộ giỏi về xây dựng NTM làm nòng cốt chỉ đạo thực hiện ở cơ sở Vì vậy mặc dù Đảng và Nhà nước đã đầu tư không nhỏ cho khu vực này song việc xây dựng nông thôn cấp cơ sở vẫn nặng tính tự phát, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và các nguồn lực thấp

Do đặc điểm địa lý, đất nước ta hình thành nên các vùng sinh thái, vùng kinh tế-văn hoá đặc thù, những vùng này có đặc điểm sinh thái, nhóm dân tộc sinh sống khác nhau, hiện đang có văn hoá, trình độ dân trí, trình độ phát triển kinh tế không đồng đều Vì vậy, phát triển nông thôn vừa phải có tiêu chí chung, vừa phải xây dựng các tiêu chí đặc thù phù hợp với trình độ và đặc

Trang 40

điểm phát triển của các vùng cũng như theo từng giai đoạn phát triển kinh tế -

xã hội Chính sách hỗ trợ, đầu tư của nhà nước cũng phải linh hoạt để phù hợp với đặc điểm đó, thể hiện được sự quan tâm nhiều hơn cho các vùng khó khăn, đảm bảo sự phát triển hài hoà của đất nước

Xây dựng Nông thôn mới là công cuộc vì dân, do dân Vì vậy xây dựng NTM phải hướng trước mắt vào giải quyết trước vào những vấn đề thiết thực, mang lại hưởng thụ trực tiếp cho người dân nông thôn (như: cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội trên địa bàn xã, thôn; xây dựng nếp sống văn hoá lành mạnh, an ninh tốt; bảo vệ và phát triển môi trường sinh sống sạch đẹp ), đồng thời cộng đồng dân cư phải được bàn bạc và quyết định, tổ chức thực hiện Nhà nước cần xây dựng và cải cách các chính sách nhằm đẩy nhanh tốc độ xây dựng NTM (trong đó nhất là các cơ chế, chính sách liên quan thủ tục xây dựng

cơ bản, quản lý vốn ngân sách), đảm bảo phát huy nội lực của người dân

Nguồn lực cần có để xây dựng NTM là rất lớn, cần xuất phát từ nội lực

là chính nhằm đảm bảo tính bền vững Tuy nhiên, trong điều kiện mức tích luỹ của người dân nông thôn còn thấp như hiện nay (nhất là tại các vùng thuộc diện đặc biệt khó khăn) thì để đẩy nhanh tốc độ xây dựng, Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ đầu tư lớn từ ngân sách thì mới có nguồn lực tạo bước đột phá trong xây dựng nông thôn mới

* Kinh nghiệm rút ra từ xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam có thể áp dụng vào thị xã Bắc Kạn

- Bài học kinh nghiệm rút ra từ xây dựng nông thôn trên thế giới

Từ xây dựng và phát triển nông thôn thành công ở một số nước trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã Bắc Kạn và ở tỉnh Bắc Kạn như sau:

Phải xác định nông nông thôn là nền tảng kinh tế đất nước, muốn phát triển kinh tế đất nước thì phải phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Xây dựng nông thôn mới phải lấy người dân làm chủ mọi mặt

Ngày đăng: 20/09/2014, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thế Anh (2010), Kinh nghiệm thực hiện chính sách tam nông ở Trung Quốc, Tạp chí kinh tế nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thực hiện chính sách tam nông ở Trung Quốc
Tác giả: Hoàng Thế Anh
Năm: 2010
3. Bộ NN & PTNT, “Chương trình phát triển nông thôn làng xã mới giai đoạn 2006 - 2010”, Hà Nội 9/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phát triển nông thôn làng xã mới giai đoạn 2006 - 2010
4. Bộ Nông nghiệp và PTNN (2009), thông tư Số: 54/2009/TT-BNNPTNT “về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNN
Năm: 2009
8. Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn (2010), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn (2010)
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn
Năm: 2010
10. An Thu Hằng (2008), Tam nông, nhìn từ Trung Quốc, Trang điện tử www. kinhtenongthon.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam nông, nhìn từ Trung Quốc
Tác giả: An Thu Hằng
Năm: 2008
11. Hồ Xuân Hùng (2009), Chúng ta có thể học Nhật Bản và Hàn Quốc trong việc xây dựng nông thôn mới, trang điện tử http://www.caosuvietnam.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng ta có thể học Nhật Bản và Hàn Quốc trong việc xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Hồ Xuân Hùng
Năm: 2009
12. Thanh Huyền, (2011), Kinh nghiệm phát triển nông thôn của Hàn Quốc, báo điện tử của báo kinh tế nông thôn http://www.kinhtenongthon.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển nông thôn của Hàn Quốc
Tác giả: Thanh Huyền
Nhà XB: báo điện tử của báo kinh tế nông thôn
Năm: 2011
13. Sở Nông nghiệp và PTNN tỉnh Bắc Kạn (2009), Báo cáo tổng kết nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2008, phương hướng nhiệm vụ năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở Nông nghiệp và PTNN tỉnh Bắc Kạn (2009)
Tác giả: Sở Nông nghiệp và PTNN tỉnh Bắc Kạn
Năm: 2009
16. Thị ủy Bắc Kạn (2010), Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ thị xã Bắc Kạn lần thứ V Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ thị xã Bắc Kạn lần thứ V
Tác giả: Thị ủy Bắc Kạn
Năm: 2010
17. Thủ tướng Chính phủ (2009), quyết định số: 491/QĐ-TTg về việc phê duyệt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng Chính phủ (2009)
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2009
19. Trung tâm thông tin NN&PTNT - Bộ Nông nghiệp và PTNT (2002), phát triển nông nghiệp bằng phong trào nông thôn mới (Saemaul) ở Hàn Quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phát triển nông nghiệp bằng phong trào nông thôn mới (Saemaul) ở Hàn Quốc
Tác giả: Trung tâm thông tin NN&PTNT - Bộ Nông nghiệp và PTNT
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
20. UBND tỉnh Bắc Kạn (2010), Giới thiệu về tỉnh Bắc Kạn, cổng thông tin điện tử Bắc Kạn http://www.backan.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu về tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: UBND tỉnh Bắc Kạn
Nhà XB: cổng thông tin điện tử Bắc Kạn
Năm: 2010
2. BCH Trung ương Đảng Việt Nam (2008), Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn&#34 Khác
5. Bộ Xây dựng (2009), Thông tư số21 /2009/TT-BXD ngày 30 tháng 6 năm 2009 về việc Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn Khác
6. TS. Mai Thanh Cúc – TS. Quyền Đình Hà – ThS. Nguyễn Thị Tuyết Lan – ThS. Nguyễn Trọng Đắc (2005). Giáo trình phát triển nông thôn. NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
7. Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn (2009), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2008 Khác
9. Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn (2011), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2010 Khác
14. Sở Nông nghiệp và PTNN tỉnh Bắc Kạn (2010), Báo cáo tổng kết nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2009, phương hướng nhiệm vụ năm 2010 Khác
15. Sở Nông nghiệp và PTNN tỉnh Bắc Kạn (2011), Báo cáo tổng kết nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2010, phương hướng nhiệm vụ năm 2011 Khác
18. Thủ tướng Chính phủ (2010), quyết định số: 800/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 2.2: Đơn vị cấp xã, diện tích và dân số thị xã Bắc Kạn - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
Bảng s ố 2.2: Đơn vị cấp xã, diện tích và dân số thị xã Bắc Kạn (Trang 52)
Bảng số 2.3: Tổng hợp số liệu nông thôn theo tiêu chí nông thôn - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
Bảng s ố 2.3: Tổng hợp số liệu nông thôn theo tiêu chí nông thôn (Trang 53)
Bảng số 2.4: Diện tích đất đai xã Dương Quang - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
Bảng s ố 2.4: Diện tích đất đai xã Dương Quang (Trang 57)
Bảng số 2.6: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch so với - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
Bảng s ố 2.6: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch so với (Trang 58)
Bảng số 2.11: Diện tích đất đai - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
Bảng s ố 2.11: Diện tích đất đai (Trang 76)
Bảng  số 2.12: Diện tích rừng - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
ng số 2.12: Diện tích rừng (Trang 76)
Bảng  số 2.13: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch so với - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
ng số 2.13: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch so với (Trang 77)
13  Hình thức tổ - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
13 Hình thức tổ (Trang 87)
Bảng số 2.19: Diện tích rừng - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
Bảng s ố 2.19: Diện tích rừng (Trang 96)
Bảng số 2.22: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất của so với bộ  tiêu chí - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
Bảng s ố 2.22: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất của so với bộ tiêu chí (Trang 105)
Bảng số 2.24: Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
Bảng s ố 2.24: Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí (Trang 111)
Bảng số 2.30: Thực trạng Văn hóa – Xã hội – Môi trường so với bộ  tiêu chí - giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn
Bảng s ố 2.30: Thực trạng Văn hóa – Xã hội – Môi trường so với bộ tiêu chí (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w