Công nghiệp giết mổ, chế biến nhằm cung cấp các sản phẩm sạch, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và nâng cáo giá trị sản phẩm chăn nuôi đến nay gần như chưa có gì đáng kể.. Đến 01/03/200
Trang 1VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN MÔN HỌC: XỬ LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP VÀ ĐÔ THỊ
BÁO CÁO CHUYỀN ĐỀ:
ĐỀ XUẤT CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI GIẾT MỔ GIA CẦM CÔNG XUẤT
TRỌNG HIẾU LỚP: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG – K2010
Trang 2NỘI DUNG TRÌNH BÀY
1 HIỆN TRẠNG VÀ HỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIA CẦM BỀN VỮNG Ở VIỆT
NAM ĐẾN 2020
2 TỔNG QUAN VỀ CÁC CƠ SỞ (TRUNG TÂM) GIẾT MỔ GIA CẦM
3 TỔNG QUAN CÁC CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI
4 ĐỀ XUẤT CÔNG NGHỆ XỬ LÝ
Trang 31 HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIA CẦM BỀN VỮNG
Ở VIỆT NAM TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
Ngày 16 tháng 01 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 10/2008/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020” Đây là hành lang pháp lý rất quan trọng và cần thiết, định hướng cho sự phát triển của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Theo đó cần “đẩy nhanh việc đổi mới và phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng trang trại, công nghiệp và nuôi chăn thả có kiểm soát” để đến năm 2020, ngành chăn nuôi gia cầm phải trở thành ngành sản xuất hàng hóa hiệu quả và bền vững
1.1 Thực trạng tình hình chăn nuôi gia cầm:
Chăn nuôi gia cầm là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ 2 (sau chăn nuôi lợn) trong toàn ngành chăn nuôi của Việt Nam Hằng năm, cung cấp khoảng 350-450 tấn thịt và hơn 2.5-3.5 tỷ quả trứng Tuy nhiên, chăn nuôi gia cầm của nước ta vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu, năng suất thấp, dịch bệnh nhiều, sản phẩm hàng hóa còn nhỏ bé Sản xuất chưa ứng với tiềm năng, sản phẩm chưa đủ đáp ứng nhu cầu
xã hội Một lượng sản phẩm chăn nuôi nhập khẩu từ nước ngoài về rất lớn dù thuế suất cao nhưng các sản phẩm nhập khẩu vẫn từng bước chiếm lĩnh một phần của thị trường Như vậy chăn nuôi gia cầm còn thị trường rộng lớn ở trong nước nhiều năm tới mà chúng ta cần chủ động chiếm lĩnh
Công nghiệp giết mổ, chế biến nhằm cung cấp các sản phẩm sạch, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và nâng cáo giá trị sản phẩm chăn nuôi đến nay gần như chưa có gì đáng kể Đến 01/03/2006, toàn quốc có 136 cơ sở giết mổ, chế biến nhưng phần lớn là các cơ sở nhỏ, dây chuyền thủ công là chính, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, chưa đảm bảo vệ sinh môi trường, sản phẩm chưa thực sự đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Bên cạnh đó, công tác kiểm soát, quản lý thị trường còn nhiều bất cập, chưa kiểm soát được việc buôn bán, giết mổ trong các nội thành, nội thị nên người đầu tư chưa yên tâm; sản xuất kinh doanh nhiều khi bị thua lỗ nên đến nay công nghiệp chế biến, giết mổ và thị trường sản phẩm chăn nuôi qua chế biến còn gặp rất nhiều khó khăn Buôn bán, giết mổ thủ công tràn lan làm ô nhiễm môi trường, lây lan phát tán dịch bệnh Sản phẩm sàn xuất không được chế biến không những làm giảm giá trị ngành chăn nuôi mà còn giảm lòng tin của người tiêu dùng, thị trường phát triển không thể bền vững
Trang 4Trước dịch cúm H5N1 cả nước có khoảng 28 cơ sở chế biến thịt, nhưng nguyên liệu chế biến chủ yếu là thịt lợn và trâu bò, sản lượng gà, vịt không đáng kể Vì vậy, hơn 95% sản phẩm gia cầm được tiêu thụ ở dạng tươi sống Việc buôn bán tràn lan, giết mổ thủ công, phân tán là nguyên nhân phát tán dịch bệnh, trong đó có bệnh cúm gia cầm Trước diễn biến phức tạp của dịch cúm, do yêu cầu của thị trường sử dụng sản phẩm bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhiều địa phương, doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng các dây chuyền cơ sở, dây chuyền giết mổ, chế biến Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long có 45 cơ sở; Đông Nam Bộ 26; Đồng bằng sông Hồng 26; Trung Nam Bộ 11; Tây Nguyên 11; Đông Bắc 9; Bắc Trung Bộ 7
và Tây Bắc có 1 cơ sở Phẩn lớn các dây chuyền giết mổ tại địa phương hiện nay vẫn là thủ công, bán công nghiệp, mức đầu tư thấp
1.2 Định hướng, mục tiêu phát triển chăn nuôi gia cầm đến năm 2020
A Định hướng:
a Chuyển đổi mạnh từ chăn nuôi truyền thống, phân tán, quy mô nhỏ sang sản xuất hàng hóa tập trung, công nghiệp và bán công nghiệp trên cơ sở quy hoạch các khu, vùng chăn nuôi tại từng địa phương
b Coi trọng công tác phòng chống dịch bệnh, ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật về giống, thức ăn, thú y, chuồng trại, quy trình nuôi dưỡng, các công nghệ tiên tiến trong khu vực
c Ưu tiên phát triển chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp tại các tỉnh trung du miền núi và các tỉnh khác có quỹ đất lớn đảm bảo điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm
B Mục tiêu:
a Chuyển đổi mạnh mẽ sang chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp, sản xuất hàng hóa, phát triển chủ yếu các vùng trung du, vùng còn nhiều quỹ đất, chưa ô nhiễm môi trường
b Chủ động kiểm soát và khống chế được dịch cúm gia cầm trong năm
2008-2010, thanh toán bệnh cúm gia cầm trong năm 2015
c Xây dựng ngành công nghiệp chế biến, giết mổ nhằm tăng giá trị sản phẩm, cung cấp các sản phẩm vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng
2 TỔNG QUAN VỀ CÁC CƠ SỞ (TRUNG TÂM) GIẾT MỔ GIA CẦM
Trang 52.1 Về các cơ sở giết mổ:
Trong nền kinh tế bao cấp (1975-1987), giết mổ gia súc chủ yếu tập trung tại “Vissan” và Trạm 4, lúc đó, dịch vụ khám thịt hoạt động tốt Đến lúc kinh tế mở (1987-1995), việc giết mổ thực hiện tràn lan, với 400 cơ sở, rải rác khắp nơi trong thành phố Có 2 nhóm cơ sở giết mổ:
Cơ sở giết mổ trực thuộc của hàng thực phẩm tươi sống:
Quận huyện nào cũng có ít nhất 1-2 cơ sở giết mổ này Nơi giết mổ là một địa điểm riêng, ánh sáng tương đối đầy đủ nhưng không có hệ thống xử lý nước thải Dịch vụ khám thịt do cơ quan thú y đảm trách
Cơ sở giết mổ tư nhân:
Tập trung cao ở Gò Vấp, quận 8, Bình Chánh, Tân Bình, Thủ Đức và Củ Chi Đó là một phần của nhà ở có nơi giết heo, thường là thương lái, vừa mua thú sống, vừa là chủ cơ sở hạ thịt Hầu như giá heo hơi và giá thịt heo trên thị trường thành phố do họ định đoạt; giết mổ là 2-4 công nhân thạo việc, đảm trách luôn cả việc chuyên chở thịt đến các chủ hàng nào không có phương tiện vận chuyển Việc điều hành giản đơn, thường là các nhóm bạn hàng tin tưởng lẫn nhau về mọi mặt (nhận hàng, tài chính, linh hoạt về giá cả và chất lượng) Các địa điểm này gần các kênh rạch, trục lộ, giao thông, chợ và các nơi chế biến giò chả Hoạt động của họ không chịu khoản thuế nào, trừ nộp khoán tiền thuế do chính quyền phường (xã) ấn định Dịch vụ khám thịt không triển khai được, vì thiếu sự hỗ trợ của chính quyền địa phương Tình hình vệ sinh rất yếu kém (Ngọc Tuân, Trần Dân
(1998) Giết mổ gia súc & chế biến sản phẩm từ thịt ở tp HCM, Tạp chí chăn nuôi
(4/1998), tr 28-30)
Trang 6Danh sách các cơ sở giết mổ trên địa bàn Tp.HCM
ST
T
Tên cơ sở giết
mổ
QUẬN BÌNH THẠNH
01 VISSAN 400 (+100 trâu bò) 420 Nơ T Long, P13, Bình
Thạnh
Thạnh QUẬN GÒ VẤP
03 Cửa hàng TP Gò
Vấp
150 – 200 Huỳnh Khương An, P5
QUẬN TÂN BÌNH
QUẬN 12
05 Trung tâm Quận
Quận 8
07 213 Bến Bình
Đông
140 - 150 213 Bến Bình Đông
HUYỆN BÌNH CHÁNH
08 TT Bình Chánh 900 – 1.000 Aáp 1, xã Tân Tạo
10 Aáp 3 xã Bình
Chánh
HUYỆN HÓC MÔN
11 Thị trấn Hóc
Môn
280 – 300 Tân Thới Nhất, xã Tân Hiệp
12 Bà Điểm 150 – 160 55/4 ấp Tiền Lân, Bà Điểm
Trang 7QUẬN THỦ ĐỨC
15 Thị trấn Thủ
Đức
16 Hiệp Bình
Chánh
Chánh
18 Linh Đông 10 trâu bò 9/2 KP8, Phường Linh Đông QUẬN 2
19 Bình Trưng
20 Thủ Thiêm
(Quận 2)
QUẬN 9
HUYỆN CỦ CHI
23 Thị trấn Củ Chi 30 (+40 trâu bò) KP1, thị trấn Củ Chi
24 Phú Hòa Đông 25 Aáp Chợ, xã Phú Hòa Đông
25 Tân Thạnh
Đông
QUẬN 7
35 Tân Thuận
Đông
Trang 836 Tân Quy 20 (dê) 86/20 KP2, Phường Tân Quy HUYỆN CẦN GIỜ
39 An Thới Đông 5
2.2 Quy trình giết mổ:
Gà sống Gây mê Cắt tiết Nhúng nước nĩng Đánh lơng Tuốt da chân Mĩc lịng Rửa Sát khuẩn Phân loại Bao gĩi chân khơng Sản phẩm thịt gà tươi
Gà sống: Gà nguyên liệu một số được nuơi tại cơ sở và một số được tiếp nhận từ các hệ
thống gia cơng Gà nhập về cĩ giấy chứng nhận của thú y về nguồn gốc xuất xứ và tình trạng sức khỏe đủ điều kiện giết mổ
Gây mê: Gà từ các lồng chứa được cơng nhân mĩc lên dây chuyền giết mổ Chiều cao của
dàn treo là 1.5m, dây chuyền được làm bằng thép khơng rỉ Gà sau khi được treo lên chạy qua bồn gây mê, ở đây cĩ dịng điện vừa đủ để gây mê gà
Cắt tiết: Gà sau khi được gây mê, cơng nhân tiến hành thực hiện cơng đoạn cắt tiết Mục
đích: cho máu trong gà chảy hết ra ngồi để thịt cĩ màu sáng khơng đọng máu trong thịt
Nhúng nước nĩng: Gà sau khi cắt tiết di chuyển trên dây chuyền cho tiết chảy ra hết sau đĩ
đi vào bồn trụng nước nĩng Nhiệt độ nước trụng ở đây khoảng 67- 68oC , nhiệt độ này khơng quá cao cũng khơng thấp đủ để tuốt lơng được mà khơng bị rách da khi qua máy tuốt lơng
Đánh lơng: Cơng đoạn này được thực hiện tự động bằng máy, sau khi gà chạy qua máy đánh
lơng thì gà đã được làm sạch
Tuốt da chân và mĩc diều: Cơng đoạn này được cơng nhân tuốt da chân, gà được cắt dưới
cổ và phía trên phần ức để lấy diều và thực quản Vì đây là nơi chứa thức ăn của gà nên cĩ rất nhiều vi khuẩn, phần này được lấy sạch để vi sinh vật khơng nhiễm vào thịt
Mĩc lịng: Trước khi mĩc lịng cơng nhân rạch dưới bụng gà 1 đường khoảng 6-7cm Lịng
được lấy ra phải đảm bảo cịn nguyên vẹn khơng bị vỡ và sĩt lại tránh sự vấy nhiễm vi sinh vật từ bộ phận tiêu hĩa của gà qua quầy thịt
Rửa: Tại đây gà được rửa sạch hồn tồn (nhất là phần đầu gà)
Trang 9Hạ nhiệt, sát khuẩn: Để làm hạ thấp thân nhiệt và loại bỏ hết vi sinh cịn sĩt Quầy thịt được
đi qua hệ thống nước lạnh, hỗn hợp nước muối và khí Ozone
Làm ráo: Quá trình làm ráo trong chế biến nhằm mục đích giảm hàm lượng nước và hạn chế
hoạt tính của vi sinh vật
Phân loại: Sau khi qua dây chuyền giết mổ gà được kiểm tra trước khi đĩng gĩi thành
phẩm.Cán bộ thú y sẽ kiểm tra trên thân thịt và đĩng dấu kiểm sốt giết mổ trước khi qua khâu đĩng gĩi
Bao gĩi và bảo quản: Được thực hiện nhằm mục đích hạn chế sự phát triển vi sinh vật
Sản phẩm gà được đĩng gĩi trong bao bì (PE+PA) và hút chân khơng Để đảm bảo thực phẩm tươi lâu hơn Sau khi đĩng gĩi sản phẩm được đưa vào kho bảo quản với nhiệt độ
±5oC để chờ xe đơng lạnh chuyên dùng phân phối với khách hàng
Sản phẩm thịt gà tươi: Là sản phẩm tươi sống nên bảo quản trong nhiệt độ ±5oC trong 3 ngày
là tơt nhất, và sử dụng sau khi đã nấu chín
2.3 Ơ nhiễm mơi trường do chất thải giết mổ và sự cần thiết xử lý nước thải:
2.3.1 Ơ nhiễm mơi trường do chất thải giết mổ:
Nguồn thải từ các cơ sở giết mổ
Hoạt
động
Nguồn tạo ra chất thải
Bản chất chất thải
Các nguyên nhân có thể tạo ra chất thải
Chuồng
trại
Trại nhốt gà, vịt
Chất thải rắn, nước thải
Do gia cầm thải ra, thức ăn thừa, vệ sinh các ngăn chuồng
Giết mổ Làm
ngất, cắt tiết
Huyết, nước thải, nước ói
Rửa gia cầm trước khi giết mổ, chất lỏng từ ruột bao tử khi mổ
Nhúng nóng
Nước thải, nhiệt
Bể nhúng nóng
Trang 10Cạo lông
Nước thải, lông
Cạo lông
Làm sạch
phân
Dây chuyền
Chất thải rắn, nước thải
Thải phân, công đoạn rửa trong khi hoặc sau khi xẻ thịt
Tác động môi trường đáng kể nhất từ các cơ sở giết mổ là nước thải Nước thải phát sinh tại các cơ sở giết mổ thường bị nhiễm bẩn nặng bởi huyết, mỡ, Prôtêin, Nitơ, Phospho, các chất tẩy rửa và chất bảo quản Nồng độ các chất gây ô nhiễm cao trong nước thải thường có nguồn gốc từ chất thải là huyết và từ khâu làm lòng Trong huyết chứa nhiều chất hữu cơ và có hàm lượng Nitơ rất cao vì huyết chiếm khoảng 6% trọng lượng của động vật sống nên phương pháp xử lý và loại bỏ huyết có ý nghĩa rất quan trọng đối với lượng chất gây ô nhiễm được tạo ra
Việc sử dụng quá nhiều nước không chỉ là yếu tố về môi trường và kinh tế mà còn là gánh nặng cho các trạm xử lý nước thải Vấn đề ô nhiễm của nước thải có thể được giảm thiểu bằng cách tận thu các sản phẩm phụ và các chất thải càng gần nguồn thải càng tốt và bằng cách ngăn chặn chất thải tiếp xúc với nguồn nước Tuy nhiên, việc loại bỏ hay giảm thiểu lượng nước sử dụng cần phải được xem xét cụ thể ở từng công đoạn của quy trình giết mổ
Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động của các cơ sở giết mổ bao gồm: xác gia cầm, các vật phẩm, đầu mẩu thừa, huyết ứ, mỡ vụn, lông, móng, các chất trong lòng ruột và dạ dày gia súc, phân và các thành phần hữu cơ khác Trong quá trình giết mổ, chất thải rắn hầu như không được gom lại, công nhân thường xịt nước thật nhiều cho chúng trôi vào các hố gas hoặc đường cống, sau đó sẽ được moi lên cùng với cặn và bùn lắng Đây cũng là một trong những công đoạn sử dụng rất nhiều nước vì phải xịt nước với áp lực rất mạnh thì thì các loại lông, phân … mới có thể trôi đi được Chính vì vậy, chất thải rắn không những sẽ gây tắc nghẽn đường cống thoát mà còn làm gia tăng lượng nước thải thải ra môi trường ngoài
Trang 11Vấn đề ô nhiễm không khí: Hầu hết các khí thải trong hoạt động của các cơ sở giết mổ là các chất bay hơi từ lò hơi được dùng để tăng nhiệt độ nước và hơi, khí thải ra từ quá trình làm lạnh tại các xưởng đông lạnh hay khí CO2 phát sinh từ hoạt động của các thiết bị khác Ngoài ra, vấn đề ô nhiễm không khí còn phát sinh từ các nguồn: khu nhốt gia súc (phân và nước giải …); từ các công trình xử lý sơ bộ (chủ yếu là từ các hầm lắng); từ chất thải đọng lại do làm vệ sinh không tốt (huyết tồn đọng, các đầu mẩu thừa, lông …)
Vấn đề ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn chủ yếu phát sinh trong quá trình giao nhận gia súc, phát sinh từ hoạt động của các phương tiện vận chuyển, máy móc thiết bị sử dụng tại các CSGM như máy nén khí, máy lạnh, quạt thông gió …
2.3.2 Sự cần thiết xử lý nước thải cơ sở giết mổ:
Hệ thống sông, hồ ở nước ta có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong phát triển kinh tế xã hội nên việc ngăn ngừa khả năng ô nhiễm về các mặt là vấn đề cần quan tâm sâu sắc
Trong những năm gần đây, thế giới quan tâm và nhấn mạnh việc cần phải giảm lượng chất dinh dưỡng thải ra là Nitơ và Phốt pho, bởi vì chúng có thể kích thích sự phát triển của tảo và những vi sinh vật quang dưỡng khác, dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa, làm giảm Oâxy quá mức và gây ra những thay đổi không muốn có trong các quần thể sinh vật nước
Aûnh hưởng tiềm tàng của chất dinh dưỡng thải ra nguồn nước là ảnh hưởng trước hết đối với lượng Oâxy hòa tan của các nguồn tiếp nhận Có thể so sánh đơn giản giữa chất hữu cơ sinh ra do các chất dinh dưỡng (Nitơ, Phốt pho) và các chất hữu cơ (COD) chứa trong nước thải chứa xử lý Ví dụ, ở các đô thị lớn như nước ta như thành phố Hồ Chí Minh, hàm lượng COD trong nước thải sinh hoạt khoảng 380 mg/l, Phốt pho: 6-10 mg/l và hàm lượng Nitơ: 30-40 mg/l Theo tính toán, nếu 1 kg Phốt pho được tảo đồng hóa và sử dụng để tạo sinh khối mới nhờ quá trình quang hóa sẽ tạo ra 111 kg sinh khối và 138 kg COD tương ứng, giả sử rằng thành phần hóa học của tảo có thể biểu