Một trong những vấn đề đó là việc nghiên cứu, xác lập, miêu tả các đặc điểm ý nghĩa và hoạt động ngữ pháp của các tiểu loại, các nhóm động từ cụ thể.. Các tác giả này cho rằng trong tiến
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, em đã
được sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo
Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc – người đã hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn vừa qua
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy,
cô giáo trong Viện ngôn ngữ, Viện từ điển, các thầy cô trong Khoa Ngữ Văn và Khoa sau Đại học –Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái
Nguyên
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã đọc và chỉ
ra những thành công và hạn chế của luận văn tốt nghiệp này
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2010 Học viên: Gia Thị Đậm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng bảo vệ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
N1: Danh từ chủ ngữ N2, N3: Danh từ bổ ngữ V1: Động từ vị ngữ V2: Động từ bổ ngữ SP: Cụm chủ vị
p : Quan hệ từ
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC VIẾT TẮT 3
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 6
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 6
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 7
III MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 9
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9
VI NGỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
VI CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 10
CHƯƠNG I 12
CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1 Động từ trong hệ thống từ loại 12
1.1 Vị trí của động từ trong hệ thống từ loại 12
1.2 Khái niệm động từ: 19
1.2.2 Về hình thức: 20
2.1 Các cách phân loại động từ 23
2.1.1 Cách phân loại dựa vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp 23
2.1.2 Phân loại động từ dựa vào đặc điểm chi phối 24
2.1.3 Phân loại động từ theo kết trị 25
2.2 Khái niệm động từ chủ động 26
2.3 Ranh giới của động từ chủ động và động từ không chủ động 27
2.4 Một số khái niệm liên quan khác trong nghiên cứu động từ chủ động trong tiếng Việt 28
2.4.2 Hình thức ngữ pháp 30
2.4.3 Câu và thành phần câu 33
CHƯƠNG II 37
ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỘNG TỪ CHỦ ĐỘNG 37
TRONG TIẾNG VIỆT 37
1 Đặc điểm về ý nghĩa 37
Trang 61.1 Động từ chủ động chỉ hoạt động xuất phát từ chủ thể 37
1.2 Động từ chủ động chỉ hoạt động mà chủ thể có thể làm chủ được, điều khiển được 38
1.3 Động từ chủ động chỉ hành động 39
1.4 Động từ chủ động chỉ hành động có chủ đích của chủ thể: 39
2 Đặc điểm hoạt động ngữ pháp 41
2.1 Khả năng kết hợp với các phó từ: 41
2.2 Khả năng kết hợp của động từ chủ động với các động từ tình thái 46
2.2.1 Nhận xét chung 46
2.2.2 Khả năng kết hợp của động từ chủ động với các nhóm động từ tình thái 47 2.3 Khả năng kết hợp của động từ chủ động với bổ ngữ mục đích 54
2.5 Khả năng kết hợp với bổ ngữ chỉ kẻ hưởng lợi 68
2.4 Đặc điểm của chủ ngữ bên động từ chủ động 70
2.4.1 Đặc điểm ý nghĩa của chủ ngữ bên các động từ chủ động 70
3.2 Động từ chủ động ngoại hướng 79
3.3 Đặc điểm đối lập giữa động từ chủ động nội hướng và động từ chủ động ngoại hướng 80
CHƯƠNG III: 82
CÁC NHÓM ĐỘNG TỪ CHỦ ĐỘNG 82
1 Động từ chủ động nội hướng 82
1.1.Các tiểu loại của động từ chủ động nội hướng 82
2 Động từ chủ động ngoại hướng 83
2.1 Các tiểu loại của động từ chủ động ngoại hướng 83
2.1.1 Động từ đòi hỏi một chủ ngữ bắt buộc 83
2.1.2 Động từ đòi hỏi hai bổ ngữ bắt buộc 94
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
NGUỒN DỮ LIỆU TRÍCH DẪN 105
Trang 7Qua một số công trình nghiên cứu như: Cụm động từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong, Các động từ chỉ hướng trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản, Kết trị của động từ Tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc ta thấy
diện mạo của động từ ngày càng trở nên rõ ràng hơn Tuy nhiên, qua đây,
có thể thấy rằng, ở động từ, một từ loại lớn có đặc điểm hết sức phức tạp, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu rộng hơn Một trong những vấn đề đó là việc nghiên cứu, xác lập, miêu tả các đặc điểm ý nghĩa và hoạt động ngữ pháp của các tiểu loại, các nhóm động từ cụ thể Trong tiếng Việt, cùng với một số diện đối lập quan trọng khác, sự đối lập chủ động/không chủ động có những đặc điểm rất đáng chú ý Việc nghiên cứu động từ chủ động có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn
Về lý luận, việc nghiên cứu nhóm động từ này sẽ góp phần soi sáng một số vấn đề lý thuyết về động từ nói chung, đặc điểm của động từ chủ động, đối lập giữa động từ chủ động và động từ không chủ động cũng như đối lập trong nội bộ động từ chủ động nói riêng
Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu động từ chủ động có thể được sử dụng để biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường
Trang 8II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Về sự tồn tại của động từ tiếng Việt, từ trước đến nay luôn có rất nhiều ý kiến nhưng có hai ý kiến trái ngược nhau Ý kiến thứ nhất phủ nhận
sự tồn tại của động từ và ý kiến thứ hai thừa nhận sự tồn tại của động từ
Những người có ý kiến thứ nhất như M Grammong (M Grammont)
và Lê Quang Trinh phủ nhận khả năng phân định các loại từ trong tiếng Việt Do đó, các tác giả cũng phủ nhận sự tồn tại của động từ Các tác giả này cho rằng trong tiếng Việt, không có mạo từ, danh từ, đại từ, động từ, cũng không có giống, số mà chỉ có những từ không thôi; những từ này đều
là đơn âm tiết, nói chung không biến đổi, ý nghĩa của chúng thay đổi hay được xác định nhờ những từ đặt trước hay theo sau, nghĩa là nhờ chức năng, vị trí của chúng ở trong câu
Ý kiến thứ hai thừa nhận sự tồn tại của động từ, nhưng những người theo ý kiến này lại khác nhau về điểm xuất phát cũng như về kết quả đạt được
Trong loại ý kiến thừa nhận sự tồn tại của động từ tiếng Việt, Nguyễn Kim Thản có phân ra làm bốn loại: loại thứ nhất có sự lẫn lộn giữa động từ và vị ngữ bắt nguồn từ thời cổ Hi Lạp; loại thứ hai xuất phát từ ý nghĩa; loại thứ ba xuất phát từ hình thức ngữ pháp (hiểu theo nghĩa rộng), chủ yếu là khả năng kết hợp của từ, loại thứ tư chú ý tới cả đặc điểm ý nghĩa và đặc điểm hình thức của từ
Những tác giả chủ trương xuất phát từ ý nghĩa để xác định loại từ là Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân,…
Người chủ trương dựa vào hình thức ngữ pháp (khả năng kết hợp) để xác định từ loại là Lê Văn Lý, ông chỉ ra: người chức năng chủ nghĩa tốt nhất là làm việc không dựa vào ý nghĩa của các từ, mà dựa vào chức năng của chúng, sự ứng phó của chúng và kết cấu của chúng… không phải là
Trang 9nhìn vào bản thân từ để tìm ra cái quy định đặc tính của nó, mà phải nhìn vào hoàn cảnh của nó, tức là khả năng kết hợp với các từ khác trong ngôn ngữ
Bằng cách dựa vào khả năng kết hợp và không kết hợp với những từ chứng, Lê Văn Lý chia từ trong tiếng Việt làm ba loại chính A, B, C Trong loại B có hai loại nhỏ hơn: loại B theo tác giả tương đương với động từ và B’ thì tương đương với tính từ Theo ông, loại B gồm tám đặc điểm như sau:
- Có khả năng đặt trước nhiều, lắm, bao nhiêu và không thể đặt sau
- Có thể đặt sau những từ chỉ ngôi và những từ nghi vấn
- Có thể đặt sau những từ hãy, cứ, hẵng, kẻo, chớ, gì, ước gì, vẫn vốn,
đang, đương, sẽ, sắp, đã, chỉ, bị, chịu, đều, thà, đành
- Có thể đặt sau những hình vị phủ định : không, chưa, chẳng, đừng,
Trang 10khả năng kết hợp của hai từ loại, nhƣ khả năng kết hợp với những từ chỉ
định( này, kia…), với từ chỉ sở thuộc, với đại từ (có là và không có là), với định ngữ tính từ (danh từ thì kết hợp trực tiếp, động từ thì có thể có từ cho),
với những từ phủ định
Gần đây, qua một số công trình nghiên cứu nhƣ của Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Văn Lộc việc nghiên cứu động từ nói chung cũng nhƣ động từ chủ động nói riêng đã có phần rõ nét hơn.Tuy nhiên, về động từ chủ động đến nay hầu nhƣ chƣa có công trình nào nghiên cứu có
hệ thống và chuyên sâu
III MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích của luận văn là: Làm rõ đặc điểm ý nghĩa và hoạt động ngữ pháp, ranh giới giữa động từ chủ động và động từ không chủ động, các diện đối lập trong động từ chủ động, cung cấp một tƣ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và dạy học về động từ chủ động nói riêng, về động từ trong tiếng Việt nói chung
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về động về động từ và kết quả nghiên cứu về động từ chủ động trong tiếng Việt của các tác giả khác nhau
2 Phân tích, miêu tả đặc điểm chung của động từ chủ động
3 Phân loại động từ chủ động và miêu tả đặc điểm ý nghĩa, hoạt động ngữ pháp của từng tiểu loại động từ chủ động
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là động từ chủ động trong tiếng Việt
Trang 11Phạm vi nghiên cứu của luận văn là đặc điểm ý nghĩa và đặc điểm hoạt động của ngữ pháp, các tiểu loại của động từ chủ động trong tiếng Việt hiện đại
Những cứ liệu dựa vào khảo sát động từ chủ động là các tác phẩm văn học, báo chí, một số loại văn bản khác cuả các tác giả có uy tín về sử dụng tiếng Việt
VI NGỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã thu thập gần một nghìn phiếu ngữ cảnh sử dụng động từ chủ động được lấy từ các diễn ngôn thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ báo chí - công luận
Phương pháp nghiên cứu chính của luận văn là phương pháp miêu
tả Chúng tôi đi sâu miêu tả đặc điểm ý nghĩa và đặc điểm hoạt động ngữ
phát của động từ chủ động nhằm phát hiện ra các đặc trưng của nhóm động
từ này trong tiếng Việt trong tương quan với động từ không chủ động Bên
cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra ngôn ngữ nhằm thu thập các tư liệu cần thiết Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp
so sánh, phân tích ngữ pháp để triển khai thực hiện đề tài.Về thủ pháp
nghiên cứu, luận văn kết hợp sử dụng các thủ pháp lược bỏ, bổ sung, thay
thế, cải biến Các thủ pháp nói trên giúp cho việc miêu tả và phân tích ngữ
pháp hạn chế được sự chủ quan, cảm tính nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra của luận văn
VI CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có ba chương:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương này gồm ba nội dung:
1 Động từ trong hệ thống từ loại
Trang 122 Phân loại động từ - Khái niệm động từ chủ động
3 Một số khái niệm liên quan khác trong nghiên cứu động từ chủ động trong tiếng Việt
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỘNG TỪ CHỦ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT
Chương này gồm ba nội dung:
Trang 13CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Động từ trong hệ thống từ loại
1.1 Vị trí của động từ trong hệ thống từ loại
Số lượng từ trong mỗi ngôn ngữ là rất lớn Nhưng chúng hình thành những hệ thống lớn nhỏ trên cơ sở những đặc điểm giống nhau nào đó
Vậy từ loại là gì?
Theo Đinh Văn Đức thì “đó là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ khác trong ngữ lưu và thực hiện các chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu Hệ thống từ loại có tính chất là cơ sở của cơ cấu ngữ pháp một ngôn ngữ nhất định” (13 tr.23)
Như vậy ta có thể hiểu từ loại chính là các lớp từ được phân định trên cơ sở những đặc điểm về ngữ pháp của từ Những đặc điểm ngữ pháp của từ thể hiện ở cả mặt ý nghĩa và cả mặt hình thức ngữ pháp
Hệ thống từ loại của tiếng Việt trước hết bao gồm hai phạm trù lớn: thực từ và hư từ
Thực từ:
Về ý nghĩa: Thực từ thường gắn với chức năng tri nhận và định danh các đối tượng của hiện thực, nghĩa là nó thường mang ý nghĩa từ vựng, biểu thị các sự vật, hành động, trạng thái, tính chất số lượng có trong thực
Trang 14sách), làm thành tố phụ cho một thực từ khác hoặc có thể làm thành phần
câu
Thực từ có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn (ai, gì, làm gì, làm
sao, mấy, bao nhiêu…)
Hƣ từ:
Về ý nghĩa: Hƣ từ là những từ cũng có ý nghĩa nhƣng nghĩa của hƣ
từ không thể liên hệ tới một đối tƣợng nào trong thực tế Do đó hƣ từ không thể hiện đƣợc chức năng định danh Hƣ từ chỉ bổ sung ý nghĩa ngữ pháp nào đó cho thực từ
Trang 15động từ, tính từ, số từ, đại từ) và 5 từ loại hư từ (phó từ, trợ từ, quan hệ từ, tiểu từ và thán từ)
Trong tập hợp các thực từ tiếng Việt gồm ba loại chủ yếu: danh từ, động
từ, tính từ Số từ và đại từ kỳ thực có những điểm không thuần nhất trong
tập hợp các thực từ tiếng Việt nhưng chúng lại không phải là hư từ
Trong ba từ loại cơ bản này (danh từ, động từ, tính từ) có nhiều sự khác
biệt nhau về ý nghĩa ngữ pháp, về khả năng kết hợp với từ chứng và khả năng giữ chức năng vị ngữ trong câu
Trong các ngôn ngữ thuộc họ Ấn – Âu, mức độ khác biệt giữa động từ
và tính từ rất rõ, đặc biệt là ở mặt hoạt động ngữ pháp của chúng Do đó, tính từ biểu lộ nhiều đặc điểm gần gũi với danh từ hơn mà khác biệt với động từ Chẳng hạn ở tiếng Nga, tính từ có quan hệ chặt chẽ với danh từ và luôn luôn tương hợp với danh từ về các phạm trù giống, số, cách Hơn nữa, tính từ hạn chế vai trò làm vị ngữ độc lập (khi làm vị ngữ, tính từ cần biến đổi thành hình thức ngắn đuôi hoặc cần có sự trự giúp của động từ)
Ở tiếng Việt, tính từ và động từ gần gũi với nhau ở nhiều phương diện:
Về ý nghĩa: có thể quan niệm cả hai từ loại này đều biểu hiện ý nghĩa đặc trưng của thực thể, đối lập với danh từ là từ loại biểu hiện thực thể
Về khả năng kết hợp trong cụm từ: cả động từ và tính từ đều có thể kết
hợp với các nhóm phó từ như: không, chưa, chẳng, đã, cũng, đều
Trang 16Đều + +
Về khả năng đảm nhiệm các thành phần câu: cả động từ và tính từ đều có thể đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu, đặc biệt là các chức năng vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ Hơn nữa, cả hai đều có thể làm vị ngữ trực tiếp Điều này không xảy ra ở từ loại danh từ (danh từ không thể làm
vị ngữ trực tiếp)
Chính vì sự gần gũi này nên đã từng có ý kiến cho rằng trong tiếng Việt hai từ loại này nằm trong một phạm trù từ loại chung là vị từ (hoặc thuật từ) Còn trong ngôn ngữ Ấn - Âu thì tính từ với danh từ hợp thành
một từ loại lớn là tĩnh từ đối lập với động từ Trong giáo trình ngữ pháp
tiếng Việt, Bùi Minh Toán có đưa ra sơ đồ biểu hiện các quan hệ ấy như
sau:
Từ loại
Trong công trình nghiên cứu Vị từ hành động tiếng Việt và các tham
tố của nó, Nguyễn Thị Quy đã đi xa hơn trong xu hướng “Từ chối phân
biệt động từ và tính từ để đi tìm những sự phân biệt có thật ” Sự phân biệt
có thật đó, theo tác giả, được thể hiện trong cách phân loại sự thể của Dik:
Trang 17các phạm trù trong nội bộ vị từ Có lẽ những tiêu chí phân biệt động /tĩnh
mà Nguyễn Thị Quy kể ra chƣa đầy đủ và hợp lý nên việc vận dụng các tiêu chí này vào phân loại vị từ tiếng Việt cho ta những kết quả có chỗ cần
nghiên cứu lại Ví dụ, theo kết quả phân loại thì phạm trù động (biến cố) bao gồm hành động (đánh, chạy) và quá trình (rơi, phai); còn phạm trù tĩnh bao gồm tƣ thế (nằm, ở) và trạng thái (to, sợ) Những thắc mắc, nghi ngờ
mà kết quả phân loại trên đây gây ra là:
a Nếu việc xếp nằm vào vị từ chỉ tƣ thế, sợ vào vị từ chỉ trạng thái
có thể chấp nhận đƣợc thì việc xếp ở vào vị từ chỉ tƣ thế và to vào vị từ chỉ
trạng thái thật khó hình dung
b Nhƣ đã biết, một trong những đặc điểm của quá trình là có sự khởi
đầu, sự tiếp diễn và kết thúc Xét theo đặc điểm này thì ở, sợ rõ ràng có nhiều đặc tính của quá trình (có thể nói: bắt đầu ở, bắt đầu sợ,tiếp tục ở,
tiếp tục sợ, không ở nữa, không sợ nữa )
c Theo Nguyễn Thị Quy, “ một đặc trƣng khiến cho một số sự thể [+động] khu biệt với các sự thể [- động] là sự có mặt của âm thanh: chỉ một biến cố, một sự kiện động mới gây ra tiếng động”(31 trang 50) Nếu nhận
xét trên là đúng thì việc tác giả xếp ngủ vào loại vị từ tĩnh là việc làm tự
Trang 18mâu thuẫn (với người có tật ngủ ngáy hay ngủ mơ thì ngủ có thể gây ra tiếng động) Cũng như vị từ sợ mà tác giả xếp vào loại vị từ tĩnh không phải hoàn toàn không gắn với tính chất động: trạng thái sợ có thể biểu hiện tính chất động của mình qua run (Anh ta sợ run lên)
d Một trong những đặc điểm của hành động là gắn liền với phương
thức (cách thức, công cụ) Xét theo tiêu chí này thì đứng phải được coi là vị
từ hành động (hoặc có mang tính chất của vị từ hành động) vì đứng đòi hỏi công cụ (Ví dụ: Lúc ngủ, vịt chỉ đứng bằng một chân) Nếu thừa nhận
đứng là vị từ hành động thì cần phải xem xét lại các vị từ ngồi, nằm có
nhiều nét tương đồng với đứng
Như vậy, có thể nói rằng so với cách phân loại vị từ thành động từ và tính từ cách phân loại vị từ thành vị từ động và vị từ tĩnh (xét ở mặt tiêu chí
và cách vạch ranh giới cụ thể mà Nguyễn Thị Quy trình bày ở trên) chưa hẳn đã ít khiếm khuyết hơn Chúng tôi cho rằng trong việc phân loại vị từ, điều quan trọng không phải chỉ là tên gọi, là hướng đi mà còn là hiệu lực của tiêu chí được xác định Về thực chất, cách phân loại vị từ thành vị từ động, vị từ tĩnh không đối lập, cũng không khác quá xa mà rất gần với cách phân loại vị từ thành động từ, tính từ Đối với hai cách phân loại này, vấn
đề quan trọng cần giải quyết là vượt qua những khó khăn để xác định rõ ràng, đúng đắn nội hàm và ngoại diên của các khái niệm được biểu thị
Không giống với tiếng Anh, Pháp…, tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình (do trong thành phần cấu tạo của từ không có bộ phận biến tố) nên giữa các từ loại không có sự đối lập về hình thái Chẳng hạn, trong
tiếng Anh “số nhiều” được biểu thị bằng phụ tố s và “số ít” bằng phụ tố
zêrô.So sánh:
Student ( sinh viên ) - students ( những sinh viên)
Table ( cái bàn ) - tables ( những cái bàn)
Trang 19Dog ( con chó) - dogs ( những con chó)
Hệ quả của điều này là trong tiếng Việt, những từ đồng âm cùng gốc
rất phổ biến, trong đó phải kể đến sự đồng âm của khá nhiều động từ và
danh từ Chẳng hạn:
Danh từ Động từ cƣa cƣa
Sự đối lập không rõ ràng về hình thức giữa các từ loại trong tiếng
Việt đã khiến một số nhà nghiên cứu tỏ ý nghi ngờ, thậm chí phủ nhận sự
tồn tại của phạm trù từ loại trong tiếng Việt Thực ra, dù không có sự đối
lập về hình thái, giữa các từ loại tiếng Việt vẫn có sự đối lập về ý nghĩa ngữ
pháp và về hình thức ngữ pháp theo nghĩa rộng, tức là đối lập thể hiện ra ở
khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp Chính nhờ những dấu hiệu khu
biệt về cú pháp mà ta phân biệt đƣợc động từ và danh từ Nhƣ ở động từ, ta
có thể dựa vào quan hệ thời - thể Tất cả các động từ ở cột bên phải dễ dàng
tiếp nhận các tiêu chí ngữ pháp thời- thể (đã, sẽ, đang, từng), còn các danh
từ ở cột bên trái thì không có khả năng ấy Ta có thể nói: tôi đã cày được
Trang 20một thửa ruộng, chị ấy đã cuốc xong khu vườn, họ đã suy nghĩ thấu đáo mọi chuyện…
1.2 Khái niệm động từ:
Khi nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, các nhà nghiên cứu dành nhiều tâm huyết của mình cho việc nghiên cứu động từ Điều đó cho thấy tầm quan trọng cũng như sự phức tạp của từ loại này.Vai trò của động từ đã được Nguyễn Kim Thản khẳng định: “ Trong câu, động từ gần như là trung tâm của các mối quan hệ của các từ, nó không những có quan hệ tường thuật với từ chỉ chủ thể mà còn có quan hệ chính phụ với những từ chỉ đối tượng, chỉ hoàn cảnh, trạng thái…” [34 tr.97] Động từ chủ động là một tiểu loại của động từ tiếng Việt nên trước khi tìm hiểu về nó, ta cần có một cách hiểu khái quát về động từ Từ loại động từ có những đặc điểm sau:
1.2.1 Về ý nghĩa:
Theo Từ điển tiếng Việt, động từ là “từ chuyên biểu thị hành động,
trạng thái hay quá trình, thường làm vị ngữ trong câu”.[30 tr.346]
Trong cuốn Việt Nam văn phạm Trần trọng Kim có nêu ra định nghĩa
về động từ như sau: “Động từ là tiếng biểu diễn cái dụng của chủ từ” [dẫn theo 36.tr.14]
Trong cuốn Ngữ pháp Việt Nam, Nguyễn Lân cho rằng: “ Động từ là
thứ tự dùng để biểu diễn một tác động, một hành vi,một ý nghĩ hoặc một cảm xúc, một trạng thái hoặc sự phát triển, sự biến hóa của một trạng thái”.[ dẫn theo 36.tr.15]
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, tác giả Diệp Quang Ban cho rằng:
“ Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình - ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể Đó là ý nghĩa hành động, ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và không gian”.[ 1.tr.90]
Trang 21Như vậy, căn cứ vào các định nghĩa về động từ của các tác giả nêu trên, ta có thể đưa ra cách hiểu khái quát về động từ như sau: Động từ là một từ loại thực từ dùng để chỉ hoạt động (hành động và trạng thái) của sự vật, hiện tượng
1.2.2 Về hình thức:
a Về khả năng kết hợp:
* Động từ có khả năng kết hợp với các phó từ để biểu thị các ý nghĩa quan hệ có tính tình thái giữa quá trình với cách thức và quá trình với các đặc trưng vận động của quá trình trong không gian, thời gian và trong hiện thực Cụ thể là:
- Động từ có khả năng kết hợp về phía trước với các phó từ thời thể
như: đã, sẽ, đang hãy, đừng, chớ…
Ví dụ: đã ăn, đang học,hãy chờ, đừng đi,…
- Động từ có khả năng kết hợp về phía sau với các thành tố phụ khác
để tạo thành nhóm động từ
+ Các thành tố phụ chỉ phương hướng: ra, vào,lên, xuống…
Ví dụ: đi lên, trèo xuống…
+ Các thành tố phụ chỉ kết quả: xong, rồi…
Ví dụ : ăn rồi, làm xong
* Động từ kết hợp với các thực từ để phản ánh các quan hệ trong nội dung vận động của quá trình
b Về chức năng cú pháp:
Động từ có khả năng giữ nhiều chức năng ngữ pháp khác nhau nhưng chức năng ngữ pháp quan trọng nhất của động từ là làm vị ngữ của câu Theo thống kê của Nguyễn Kim Thản, những câu có vị ngữ làm động
Trang 22từ chiếm khoảng 88% Ngoài ra, động từ còn tham gia đảm nhiệm nhiều chức năng khác trong câu như: bổ ngữ, chủ ngữ, định ngữ, trạng ngữ
- Động từ làm bổ ngữ: Tôi muốn đi thành phố
- Động từ làm chủ ngữ: Lao động là vinh quang
- Động từ làm định ngữ: Bút này là bút kí
- Động từ làm trạng ngữ: Nói xong, nó bỏ đi ngay
Tóm lại, động từ là một từ loại thực từ cơ bản trong kho từ vựng của bất kỳ một ngôn ngữ nào.Ý nghĩa khái quát của động từ là chỉ hoạt động của
sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan cũng như trong đồi sống tinh thần của con người Động từ có khả năng kết hợp về phía trước với các phó từ thời thể, về phía sau với các phó từ chỉ sự hoàn thành, kết thúc, chỉ hướng tạo thành nhóm Chức năng cơ bản của động từ là làm vị ngữ trong câu
Khi xếp loại các từ, có thể gặp khá phổ biến hiện tượng thường gọi là
“chuyển loại”, nghĩa là hiện tượng một từ vốn thuộc từ này lại phát triển thêm
ý nghĩa và có thêm những dấu hiệu hình thức đặc trưng cho từ loại khác
Đối với trường hợp trên đây, mỗi trường hợp dùng của từ sẽ được xếp
vào một từ loại: Chẳng hạn, trong các ví dụ dẫn ra ở trên, “về1” là động từ, còn
“về 2” là quan hệ từ, “cưa 1” là danh từ, còn “cưa 2” là động từ
Khi phân định động từ, trước hết ta xác định được một nhóm lớn bao gồm những từ có đầy đủ các đặc điểm nêu trên đây của động từ Thuộc nhóm
Trang 23này là những từ kiểu như: đi, chạy, ăn, đọc, viết, trao…có thể gọi những từ
thuộc nhóm này là những động từ điển hình hay những động từ - thực từ tạo nên khu vực trung tâm của từ loại động từ
Bên cạnh các động từ - thực từ còn có một nhóm không lớn bao gồm những từ có không đầy đủ các đặc điểm nêu trên đây của động từ Thuộc
nhóm này là những từ kiểu như: trở thành, trở nên, phải, bị, được,
khiến…Khác với các động từ - thực từ, những tư thuộc nhóm này rất trống
nghĩa từ vựng Chúng chỉ các hoạt động trừu tượng, khái quát (hoạt động theo kiểu nghĩa ngữ pháp) Chính do sự trống vắng, nghèo nàn về ý nghĩa từ vựng
mà về hình thức, các từ thuộc nhóm này chỉ có khả năng thay thế bằng từ nghi
vấn một cách hạn chế, có điều kiện Khi trả lời các câu hỏi “làm gì”,”làm
sao” đặc trưng cho động từ, chúng thường phải kết hợp vào mình một thực từ
khác Với những đặc điểm chỉ ra trên đây, các từ thuộc nhóm thứ hai rõ ràng mang tính trung gian giữa động từ và hư từ Ở đây, chúng tôi xếp chúng vào động từ - ngữ pháp Động từ ngữ pháp chính là nhóm động từ không điển hình tạo thành khu vực biên của từ loại động từ
Cũng cần lưu ý rằng những đặc điểm nêu trên đây của động từ là thuộc tính chung của động từ với tư cách là đơn vị trừu tượng của ngôn ngữ được khái quát từ những biến thể của nó trong lời nói Khi hoạt động trong lời nói, động từ luôn tồn tại dưới những biến thể cụ thể Trong số các biến thể của động từ có biến thể là cơ bản (điển hình) và có những biến thể không cơ bản (không điển hình) Biến thể cơ bản là biến thể phổ biến nhất và có đầy đủ các đặc điểm của động từ Trong tiếng Nga biến thể cơ bản của động từ thường được coi là hình thức được chia của động từ, còn biến thể không cơ bản là các hình thức nguyên dạng, tính động từ, trạng động từ Trong tiếng Việt “ hình thức cơ bản của động từ có thể coi là hình thức thời thể (tức là hình thức có khả năng kèm thêm các yếu tố chỉ thời thể)” (Kết trị của ĐTTV – tr
25).Chẳng hạn, trong các cấu trúc: “Tôi đang đọc sách” và “Tôi bước vào
Trang 24đã được nhiều chuyên khảo đề cập đến Dưới đây là một số cách phân loại thường gặp:
2.1 Các cách phân loại động từ
2.1.1 Cách phân loại dựa vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp
Theo cách phân loại này, có thể xác định trong nội bộ động từ những diện đối lập chính sau đây:
2.1.1.1 Trước hết, đó là sự đối lập giữa động từ - thực từ và động từ ngữ pháp (động từ hư)
Trang 25muốn của mình (ví dụ:đi, ăn, chạy ) Động từ không chủ động chỉ hoạt
động không xuất phát từ của chủ thể và chủ thể không điều khiển được
hành động theo ý muốn của mình (ví dụ: tan, cháy, đổ, vỡ ) Tiếp tục phân
chia các động từ chủ động ta có hai nhóm động từ: động từ tác động (biểu thị những hoạt động mà kết quả những hoạt động đó làm cho đối tượng bị
thay đổi về phương diện nào đó (nảy sinh hoặc tiêu biến): ăn, đập, phá và
động từ không tác động (không có những đặc điểm như động từ tác động):
đi, bơi, chạy Trong động từ tác động có hai diện đối lập: động từ tạo tác
(chỉ những hoạt động tạo ra đối tượng: đào, nặn ) và động từ chuyển tác (chỉ những hoạt động làm chuyển biến đối tượng về mặt nào đó: đánh, đốt
,phá ) Còn động từ không tác động cũng được chia tiếp thành: động từ
chỉ hoạt động chuyển động (đi, chạy ) và động từ chỉ hoạt động không chuyển động (ngủ, nghĩ ) Như vậy căn cứ vào ý nghĩa và hình thức ngữ
pháp, ta có thể chia động từ thành nhiều tiểu loại với những dấu hiệu hình thức đặc trưng của từng tiểu loại
2.1.2 Phân loại động từ dựa vào đặc điểm chi phối
Sự chi phối của động từ, theo cách hiểu chung, (áp dụng cho cả ngôn ngữ biến hình và ngôn ngữ không biến hình) là khả năng của động từ đòi hỏi sự có mặt và quy định đặc tính (ý nghĩa và hình thức) của các bổ ngữ
Theo cách phân loại này,động từ được chia thành hai loại chính: động từ nội hướng (nội động) và động từ ngoại hướng( ngoại động) Động
từ nội hướng là động từ không chi phối bổ ngữ bắt buộc (ví dụ: nằm, đứng,
ngủ, thức ) còn động từ ngoại hướng là động từ có khả năng chi phối bổ
ngữ bắt buộc (ví dụ: ăn, viết, đánh, đọc ) Tuy nhiên, cũng như sự đối lập
giữa các nhóm động từ phân loại theo ý nghĩa và hình thức ngữ pháp, sự đối lập giữa động từ nội hướng và động từ ngoại hướng trong cách phân loại này không hẳn rõ ràng và dứt khoát Bằng chứng là giữa hai nhóm
Trang 26động từ này vẫn tồn tại nhóm động từ trung tính (ví dụ: tan, cháy, lắc,
gật )
2.1.3 Phân loại động từ theo kết trị
Ra đời muộn hơn nhưng có tính khái quát cao hơn là cách phân loại động từ theo kết trị Nội dung của cách phân loại này là dựa vào số lượng
và đặc tính của các kết tố bắt buộc (diễn tố) có thể có bên động từ để chia động từ thành những tiểu loại, những nhóm nhất định.Theo cách phân loại này, động từ được chia thành: động từ không đòi hỏi kết tố bắt buộc hay
động từ vô trị (ví dụ: mưa, nắng, sáng, tối ), động từ đòi hỏi một kết tố bắt buộc hay động từ đơn trị (ví dụ: thức, ngủ ), động từ hai kết tố bắt buộc hay động từ song trị(ví dụ: ăn, đọc, đánh ), động từ đòi hỏi ba kết tố bắt buộc hay động từ tam trị( ví dụ: trao, tặng,biếu )
Cách phân loại động từ theo kết trị rất gần với cách phân loại động từ theo đặc điểm chi phối nhưng có tính khái quát cao hơn Trong cách phân loại theo đặc điểm chi phối, thuộc tính cú pháp được chú ý chỉ là khả năng kết hợp về phía sau của động từ (khả năng kết hợp với bổ ngữ) Trong cách phân loại theo kết trị, thuộc tính cú pháp được chú ý gồm cả khả năng kết hợp về phía trước của động từ (khả năng kết hợp với chủ ngữ)
Theo chúng tôi, ba cách phân loại trên đây đều có cơ sở khoa học và đều có giá trị thực tiễn Việc chọn cách phân loại nào là phụ thuộc vào quan điểm, mục đích của người nghiên cứu, giảng dạy, học tập ngữ pháp Phù hợp với mục đích nghiên cứu, trong luận văn này, chúng tôi tạm dựa vào cách phân loại thứ hai, nhưng vẫn ủng hộ và sử dụng kết quả của cách phân loại thứ nhất và thứ ba
Trang 272.2 Khái niệm động từ chủ động
Như đã trình bày ở trên, theo cách phân loại động từ dựa vào ý nghĩa
và hình thức ngữ pháp ta có thể thấy động từ được chia thành động từ - thực từ và động từ ngữ pháp
Các động từ - thực từ được chia tiếp động từ chủ động và động từ không chủ động
Theo Nguyễn Văn Lộc thì “ động từ chủ động là những động từ hoạt động có chủ ý, tức là hoạt động xuất phát từ chủ thể và chủ thể có thể điều khiển được theo ý muốn của mình” [21.tr.11]
Theo như định nghĩa trên thì những động từ chủ động là những động
từ kiểu như: đi, chạy, ăn, đánh, viết
Những dấu hiệu hình thức dựa vào để xác định động từ chủ động là:
a Có khả năng kết hợp với các phó từ chỉ yêu cầu, mệnh lệnh: hãy, chớ,
đừng, đi
Ví dụ:
- Hãy đứng dậy!
- Đi đi em!
b Có khả năng kết hợp với các động từ tình thái bao hàm ý chủ động: toan,
định, muốn, cố gắng
Ví dụ:
- Thị đã toan hỏi nhưng lại nín (tuyển tập Nam Cao)
c Chỉ cho phép kết tố chủ thể (chủ ngữ) chiếm vị trí liền trước mình,
không cho phép kết tố chủ thể chiếm vị trí liền sau mình
Ví dụ:
Chỉ nói: Nam chạy, Nam ngủ
Trang 28Không nói: Chạy Nam, ngủ Nam
d Có khả năng kết hợp với các bổ ngữ chỉ mục đích, bổ ngữ chỉ người
2.3 Ranh giới của động từ chủ động và động từ không chủ động
Bên cạnh những trường hợp có thể phân biệt rõ ràng giữa động từ chủ động và động từ không chủ động như ở trên đã phân tích thì trong thực
tế sử dụng cũng có những trường hợp trung gian không rõ ràng So sánh: Mưa rơi (1)
Tiền rơi (2)
Ở hai cấu trúc trên, ta thấy có nhiều điểm giống nhau về nghĩa Mặc
dù vậy, chúng không thuộc một phạm trù Rơi trong mưa rơi mang nhiều nét của động từ chủ động còn rơi trong tiền rơi lại thuộc phạm trù của động
từ không chủ động Vậy điểm khác biệt giữa chúng là gì?
Trong cấu trúc (2), hoạt động rơi không phải do thực thể tiền tạo ra
mà là kết quả của một hoạt động do chủ thể khác thực hiện Do đó tiền không phải là chủ thể tạo ra hoạt động rơi Nói cách khác, động từ rơi trong tiền rơi thuộc động từ không chủ động
Còn ở cấu trúc (1) thì trong tư duy của con người, mưa được coi như một chủ thể hữu sinh (Trong ngôn ngữ của người Anh rain drop (mưa đi))
Về hình thức sự khác nhau giữa rơi trong mưa rơi và rơi trong tiền
rơi là ở chỗ: rơi trong mưa rơi cũng giống như các động từ chủ động khác
Trang 29không thể chiếm vị trí liền sau động từ; còn rơi trong tiền rơi cũng như các
động từ không chủ động khác, có thể chiếm vị trí liền sau động từ
So sánh:
Nam chạy -> Chạy Nam (-) Mưa rơi -> Rơi mưa (-) Tiền rơi -> Rơi tiền (+)
Như vây, rơi trong mưa rơi gần với động từ chủ động Tuy vậy, những động từ rơi, thổi trong mưa rơi, gió thổi vẫn không được coi là động
từ chủ động đích thực (động từ chủ động điển hình) bởi thực chất mưa, gió
không phải là thực thể hữu sinh, nó không thể điều khiển được hoạt động
rơi, thổi của mình theo ý muốn Tóm lại, rơi, thổi tuy mang tính chủ động
nhưng tính chủ động không cao Những động từ như vậy được coi là hiện tượng trung gian giữa động từ chủ động và không chủ động Trong luận văn này, chúng tôi tạm xếp chúng vào động từ chủ động
2.4 Một số khái niệm liên quan khác trong nghiên cứu động từ chủ
động trong tiếng Việt
2.4.1.Ý nghĩa ngữ pháp
Khi nói tới ý nghĩa trong ngôn ngữ, người ta thường nghĩ ngay đến ý nghĩa riêng của từng đơn vị Ví dụ: trong tiếng Anh, ý nghĩa riêng của từ
cat là con mèo, ý nghĩa riêng của từ book là sách, ý nghĩa riêng của từ boy
là trẻ con… những ý nghĩa riêng trên của từng từ được gọi là ý nghĩa từ
vựng Ý nghĩa từ vựng của mỗi từ là một tập hợp nhiều nét nghĩa, trong đó
có cả nét nghĩa phạm trù và những nét nghĩa chuyên biệt, làm nên ý nghĩa
từ vựng riêng cho mỗi từ Ví dụ từ đi trong tiếng Việt có nghĩa gốc gồm
một tập hợp các nét nghĩa sau:
Đi:[người, động vật] tự di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác bằng
những bước chân nhấc lên, đặt xuống liên tiếp
Trang 30Ý nghĩa từ vựng này làm cho từ đi chẳng những khác nghĩa với những từ nhƣ nhà, bát, bàn, xinh, ngọt… mà còn khác nghĩa với những từ nhƣ chạy, bò, bơi, nhảy…
Bên cạnh loại ý nghĩa riêng nói trên, mỗi loại đơn vị còn có ít nhất, một ý nghĩa chung bao trùm lên Ví dụ:
Các từ: hoa, ghế, đèn, chó, mèo, sách…đều có ý nghĩa chung là chỉ
sự vật
Các từ: đi, chạy, bò, bay, học, nghiên cứu, điều tra…đều có ý nghĩa
chung chỉ hoạt động hoặc trạng thái
Các từ: đẹp, xấu, vàng, chăm chỉ, thông minh, ngu dốt…đều có ý
nghĩa chung là chỉ tính chất, đặc điểm
Loại ý nghĩa chung bao trùm lên một loạt đơn vị ngôn ngữ nhƣ vậy gọi là ý nghĩa ngữ pháp
Qua đây ta thấy ý nghĩa ngữ pháp có tính khái quát cao hơn ý nghĩa
từ vựng Sự khái quát từ vựng là khái quát từ những sự vật, hiện tƣợng trong đời sống hằng ngày còn sự khái quát ngữ pháp là khái quát từ chính
các đơn vị ngôn ngữ Ví dụ bò đƣợc xem là mang ý nghĩa hoạt động là vì
nó có đặc điểm ngữ pháp giống nhƣ những từ biểu thị hoạt động khác
Trang 31(4) Anh ấy cày ruộng
Các từ: cỏ, lúa, bóng, ruộng, ngoài ý nghĩa ngữ pháp chỉ phạm trù sự
vật trong các câu trên còn có ý nghĩa chung khác là : tất cả đều chỉ đối
tượng của các hoạt động do các động từ trong câu biểu thị Các từ : trâu,
xe, họ, anh ấy có ý nghĩa chung là chỉ chủ thể của hoạt động Rõ ràng các ý
nghĩa chung này nảy sinh do quan hệ của các từ trong câu Nếu thay đổi quan hệ thì ý nghĩa ngữ pháp cũng thay đổi Ví dụ:
(5) Tôi mua cái xe này
Lúc này xe đã mang một ý nghĩa quan hệ khác là chỉ đối tượng hoạt
động chứ không phải là chủ thể hoạt động như ở ví dụ (2) nữa Như vậy, ý nghĩa quan hệ cũng là ý nghĩa phạm trù chung nhưng những phạm trù này chỉ nảy sinh khi từ dùng trong câu
Không thể nói tới sự tồn tại của một ý nghĩa ngữ pháp nào đó trong một ngôn ngữ nhất định nếu không tìm thấy phương tiện ngữ pháp diễn đạt
nó Chẳng hạn, xét về mặt nhận thức thế giới khách quan, người Việt cũng
có khả năng phân biệt số nhiều, số ít như trong nhận thức của người Anh Nhưng trong tiếng Việt, sự phân biệt ấy được thể hiện bằng các hư từ:
những, các, mọi mỗi hay các số từ: một, một vài còn trong tiếng Anh lại
được thể hiện bằng các phụ tố như: s, zero
Đến đây, ta có thể tóm lược những điểm chính yếu mà chúng ta nhận thức được về ý nghĩa ngữ pháp: Ý nghĩa ngữ pháp là loại ý nghĩa chung của cả một loại từ hoặc của một tiểu loại từ và được thể hiện bằng những phương tiện ngữ pháp nhất định
2.4.2 Hình thức ngữ pháp
Cũng như ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện bằng những hình thức nhất định Ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện bằng các hình thức ngữ pháp Các hình thức ngữ pháp để biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp
Trang 32trong ngôn ngữ thì rất đa dạng, nhưng chúng luôn thuộc về một số phương thức nhất định, có tính hữu hạn Đó là các phương thức ngữ pháp Phương thức ngữ pháp chính là cách thức chung trong việc biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp Có thể kể đến một số phương thức sau:
Phương thức hư từ: Hư từ là những từ không biểu thị ý nghĩa từ
vựng mà chuyên dùng để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp Như vậy, về ý nghĩa
và chức năng, chúng tương đương với loại phụ tố biến đổi từ Tuy nhiên, phụ tố biến đổi từ là một bộ phận của từ, gắn chặt với chính tố, còn hư từ là một từ riêng, tách biệt với từ mà nó bổ sung ý nghĩa ngữ pháp
Ví dụ:
Tôi ăn cơm bằng đũa
Nhìn vào ví dụ, trên ta có thể thấy hư từ bằng dùng để chỉ công cụ (đũa) của hoạt động ăn thuộc về chủ thể tôi
Phương thức trật tự từ: Theo phương thức này, ý nghĩa ngữ pháp
được thể hiện bằng thứ tự sắp xếp các từ trong câu Trong tiếng Việt và một số ngôn ngữ khác, trật tự từ thường biểu thị các ý nghĩa quan hệ của từ
như nghĩa chủ thể hoạt động, đối tượng hoạt động…
Ví dụ: trong câu Mẹ yêu con thì mẹ là chủ ngữ, biểu thị chủ thể của hoạt động yêu; còn con là bổ ngữ, biểu thị đối tượng của hoạt đông yêu Ngược lại, nếu nói Con yêu mẹ thì con lúc này lại là chủ ngữ và là chủ thể của hoạt động yêu; còn mẹ là bổ ngữ, biểu thị đối tượng của hoạt động yêu
Có điều cần lưu ý là không nên đơn giản hóa và tuyệt đối hóa quy tắc
về trật tự từ Không có một ngôn ngữ nào mà ở đó trật tự từ là luôn cố định Ngược lại, cũng không có ngôn ngữ nào mà ở đó trật tự từ là hoàn toàn tự
do Ví dụ trong tiếng Việt, vị trí thuận của chủ ngữ là đứng trước vị ngữ Ở
vị trí đó, chủ ngữ không đòi hỏi một điều kiện gì đặc biệt Nhưng cũng có
Trang 33trường hợp chủ ngữ đứng sau vị ngữ, với một số điều kiện nhất định, chẳng hạn:
- Nếu vị ngữ là động từ nội hướng, trừ một số trường hợp đặc biệt, kiểu câu có chủ ngữ đứng sau vị ngữ cần được mở đầu bằng một trạng ngữ
Phương thức lặp (láy): Đây là phương thức dùng sự lặp lại một từ để
biểu thị ý nghĩa số nhiều.Ví dụ: Người người, nhà nhà, ngành ngành, nói nói…
Phương thức ngữ điệu: Đây là phương thức được coi là phương thức
ngữ pháp mà người ta sử dụng để biểu thị các ý nghĩa tình thái của câu như tường thuật, nghi vấn, khẳng định, phủ định…
Trong ngôn ngữ của Ấn – Âu như Anh, Pháp, Nga … câu tường thuật được phát âm với giọng thấp dần, còn câu nghi vấn được phát âm với giọng cao dần Còn trong ngôn ngữ có thanh điệu như tiếng Việt, tiếng Hán… sự hạ giọng hay lên giọng như trên là không rõ rệt, bù vào đó, người
ta dùng hư từ hay đại từ nghi vấn để cấu tạo câu nghi vấn, đồng thời phát
âm nhấn mạnh vào điểm câu hỏi
Trang 342.4.3 Câu và thành phần câu
2.4.3.1 Khái niệm câu:
Câu là đơn vị có đặc tính rất phức tạp Có nhiều cách định nghĩa câu xuất phát từ những quan niệm khác nhau Từ vô số định nghĩa câu cụ thể,
có thể rút ra hai khuynh hướng chính trong cách định nghĩa về câu sau đây:
* Khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào ý nghĩa và hình thức
Dựa riêng vào mặt ý nghĩa:
“Câu là phán đoán được biểu hiện bằng từ.” hoặc “câu là tổ hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn.” (dẫn theo Ngữ pháp tiếng Việt Câu)
Dựa riêng vào mặt hình thức:
- Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt Câu, Hoàng Trọng Phiến định
nghĩa về câu như sau: “Với tư cách là đơn vị bậc cao của hệ thống các đơn
vị ngôn ngữ, câu là ngữ tuyến được hình thành một cách trọn vẹn về ngữ pháp và ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo các quy luật của ngôn ngữ nhất định, là phương tiện diễn đạt, biểu hiện tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói đối với hiện thực” (Ngữ pháp tiếng Việt Câu, tr.19)
Cũng theo khuynh hướng này, Diệp Quang Ban cho rằng: “Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và kết thúc mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có kèm theo sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm” ( dẫn theo Ngữ pháp tiếng Việt Câu Tr.3)
* Hướng định nghĩa câu dựa vào khối lượng và chức năng
Theo hướng định nghĩa này, câu cũng như các đơn vị ngôn ngữ khác cùng hệ thống luôn được định nghĩa vào hai mặt: mặt so sánh khối lượng
và mặt chức năng Cụ thể, câu được định nghĩa như sau: “Câu là kiểu đơn
Trang 35vị nhỏ nhất mà có thể mang một thông báo hoàn chỉnh” (dẫn theo Ngữ pháp tiếng Việt Câu tr.3)
Theo chúng tôi, so với hướng định nghĩa trên, hướng định nghĩa dựa vào khối lượng và chức năng mang nhiều ưu điểm hơn cả
Thứ nhất, đây là cách định nghĩa mang tính hệ thống rõ rệt nhất.Nó
thống nhất về nguyên tắc với cách định nghĩa các đơn vị ngôn ngữ khác
cùng hệ thống với câu như âm vị, hình vị,từ cho nên rất tiện lợi cho việc đối
chiếu chúng với nhau
Thứ hai, cách định nghĩa này nêu được tiêu chí cần thiết cho phép
xác định câu, phân biệt nó với các đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn thuộc cùng hệ thống Tiêu chí “có chức năng thông báo” được đưa vào định nghĩa có tác dụng phân biệt câu với từ, hình vị, âm vị, vốn không có chức năng này, còn tiêu chí “nhỏ nhất” có tác dụng phân biệt câu với đơn vị lớn hơn (văn bản) cũng có chức năng thông báo)
Thứ ba, so với một số định nghĩa khác, cách định nghĩa này ngắn
gọn hơn nên dễ nhớ hơn
Trong luận văn này chúng tôi chọn cách định nghĩa thứ hai
2.4.3.2 Thành phần câu
Trang 36Thành phần câu được chia làm hai loại: thành phần chính và thành phần phụ Thành phần chính gồm có: chủ ngữ, vị ngữ; thành phần phụ gồm có: bổ ngữ, định ngữ, giải ngữ…
* Thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ
a Chủ ngữ là thành phần chính của câu có quan hệ phụ thuộc qua lại với vị ngữ, chỉ hoạt động hay đặc điểm nêu ở vị ngữ Chủ ngữ được phân biệt với vị ngữ và các thành phần câu khác dựa vào hai tiêu chí: ý nghĩa và hình thức Trong đó, về ý nghĩa, chủ ngữ chỉ chủ thể hoạt động hay đặc điểm nêu ở vị ngữ Còn về hình thức, ở dạng cơ bản, chủ ngữ được biểu hiện bằng danh từ và vị trí liền trước vị ngữ Chủ ngữ có khả năng trả lời
các câu hỏi Ai? Cái gì? Con gì?
b Vị ngữ là thành phần chính của câu, có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ ngữ chỉ hoạt động hay đặc điểm của sự vật nêu ở chủ ngữ Vị ngữ cũng được xác định và phân biệt với chủ ngữ dựa vào hai tiêu chí: ý nghĩa
và hình thức Về mặt ý nghĩa, vị ngữ chỉ hoạt động hay đặc điểm của đối tượng được nêu ở chủ ngữ Về hình thức, ở dạng cơ bản, vị ngữ được biểu hiện bằng vị từ chiếm vị trí liền sau chủ ngữ Nó có khả năng trả lời cho
câu hỏi: Làm gì? Làm sao? Như thế nào?
* Các thành phần phụ: bổ ngữ, định ngữ, giải ngữ
Bổ ngữ là thành phần phụ của câu, đi kèm và bổ sung ý nghĩa cho vị
từ Bổ ngữ thường nêu các đối tượng chịu tác động trực tiếp hay gián tiếp của động từ hoặc nêu đặc trưng của động từ Bổ ngữ được chia thành bổ ngữ bắt buộc và bổ ngữ tự do Bổ ngữ bắt buộc có ý nghĩa cú pháp đối thể
Ở dạng cơ bản, bổ ngữ chiếm vị trí sau động từ và không có khả năng chiếm vị trí liền trước động từ
Bổ ngữ tự do (không bắt buộc) của câu bổ sung cho động từ ý nghĩa
về hoàn cảnh, tình trạng
Trang 37Bổ ngữ tự do có những đặc điểm sau:
- Là thành phần phụ không bắt buộc của câu
- Chỉ hoàn cảnh (vị trí, thời gian, nguyên nhân, mục đích, phương tiện…) tình trạng (trạng thái, tính chất, kết quả…) của hoạt động hay đặc điểm được nêu ở vị từ
- Có thể được biểu hiện bằng danh từ, động từ (thường dẫn nối bởi quan hệ từ), tính từ và có vị trí tương đối tự do
Định ngữ là thành phần phụ của câu chuyên bổ sung cho một thành
phần câu khác được biểu hiện bằng danh từ
Giải ngữ là thành phần phụ của câu biểu thị sự thông báo bổ sung mà
người nói thấy cần thiết để người nghe hiểu đúng, hiểu rõ hơn nội dung của câu Giải ngữ có thể dùng để giải thích cho một từ, một cụm từ hay giải thích cho nội dung của cả câu Về hình thức, nét đặc trưng của giải ngữ là tính biệt lập: giải ngữ thường được phát âm tách biệt với bộ phận được giải thích Trên chữ viết, nó được chia tách bằng dấu phẩy, dấu gạch ngang, dấu ngoặc đơn hoặc dấu hai chấm
Trang 38CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỘNG TỪ CHỦ ĐỘNG
TRONG TIẾNG VIỆT
1 Đặc điểm về ý nghĩa
1.1 Động từ chủ động chỉ hoạt động xuất phát từ chủ thể
Khái niệm hoạt động xuất phát từ chủ thể được hiểu là hoạt động
có nguồn gốc từ chủ thể, do chủ thể tạo ra chứ không phải là kết quả của một hoạt động khác Đặc điểm vừa nêu chính là điểm phân biệt động từ chủ động với động từ không chủ động Có thể chỉ ra sự khác nhau về nghĩa giữa động từ chủ động và động từ không chủ động qua việc so sánh nghĩa của động từ trong những câu sau:
do kết quả của hoạt động khác (ví dụ bẻ - Nó bẻ gãy cành cây) Vì chỉ hoạt
động nảy sinh do kết quả của hoạt động khác nên động từ không chủ động
thường kết hợp với những động từ chỉ hoạt động tác động (ví dụ bẻ trong
bẻ gãy; đốt trong đốt cháy; đập trong đập vỡ…) hoặc động từ làm (làm gãy, làm cháy, làm vỡ, làm rơi…)
Các động từ chủ động (đi, chạy, đứng, ngồi, nằm, ăn, đọc…) không thể kết hợp với động từ làm (không thể nói: làm đi, làm chạy, làm đứng,
làm ngồi, làm nằm, làm ăn, làm đọc…)
Trang 391.2 Động từ chủ động chỉ hoạt động mà chủ thể có thể làm chủ được, điều khiển được
Sự làm chủ hay khả năng điều khiển hoạt động của chủ thể thể hiện
- Chủ thể có thể ấn định, dự kiến, thời điểm bắt đầu và kết thúc hoạt động
Chẳng hạn, có thể nói: Nó định đi từ năm giờ sáng đến bốn giờ
chiều Với động từ không chủ động, không thể nói: Cành cây định gãy từ năm giờ sáng đến bốn giờ chiều
- Chủ thể có thể ấn định khoảng thời gian thực hiện hành động
Chẳng hạn, có thể nói: Nó định đi trong hai ngày Với động từ không chủ động, không thể nói: Cành cây định gãy trong hai ngày
- Chủ thể có thể dừng hoạt động theo ý muốn
Chẳng hạn, có thể nói: Thị nghĩ bụng hãy dừng yêu để hỏi cô thị đã
(Nam Cao) Với động từ không chủ động, không thể nói: Cành cây hãy dừng gãy
- Chủ thể có thể điều khiển được tốc độ của hoạt động
Chẳng hạn, có thể nói: Nó chạy chậm lại Với động từ không chủ động, không thể nói: Cành cây gãy chậm lại.Cũng giống nhƣ trong cấu trúc: Nước sôi, mây tan…thì nước và mây không thể điều khiển đƣợc hành động sôi hay tan Ta không thể nói:
Nước sôi nhanh lên Mây tan chậm lại…
Trang 401.3 Động từ chủ động chỉ hành động
Khác với động từ không chủ động có ý nghĩa trạng thái, động từ chủ động chỉ hành động của chủ thể thường là người hay vật hữu sinh Với nghĩa hành động, động từ chủ động thường đặc trưng bởi kết trị công cụ là kiểu kết trị không thể có ở động từ không chủ động: Chẳng hạn, có thể nói
Nó đi học bằng xe đạp.Với động từ không chủ động, không thể nói: Cành cây gãy bằng gì? Đám mây tan bằng gì?
1.4 Động từ chủ động chỉ hành động có chủ đích của chủ thể:
Chủ thể có thể trù liệu, xác định trước mục đích của hoạt động
Chẳng hạn, có thể nói: Nó chạy để rèn luyện sức khỏe Với động từ không chủ động, không thể nói: Cành cây gãy để…, Cái bát vỡ để… Với nghĩa
chỉ hoạt động có chủ đích, động từ chủ động không chỉ được đặc trưng bởi
kết trị mục đích mà còn được đặc trưng bởi kết trị kẻ được quan tâm, phục
vụ.Chẳng hạn, có thể nói: Nam trông nhà cho mẹ Nam nấu cơm cho mẹ Nam gửi thư hộ (giúp) bạn Với động từ không chủ động, không thể nói: Cái cây gãy cho ai
Theo Nguyễn Thị Quy “Nếu chủ thể là người hay động vật, nó chỉ hành động; nhưng nếu chủ thể là bất động vật, nó chỉ trạng thái ” (Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó) Nhìn vào hai cấu trúc (1) và
(2) đây trên thì nó là sự vật hữu sinh và có thể điều kiển được hành động
chạy (chạy nhanh, chạy chậm, chạy trước, chạy sau ) Có được điều đó là
bởi vì chủ thể nó có tư duy, có suy nghĩ để điều khiển hành động của mình
Ở cấu trúc (2) (cây gãy) thì chủ thể cây không thể làm chủ, điều khiển được hành động gãy Vì vậy:
Có thể nói: Không thể nói:
Nó chạy chậm lại Cây gãy chậm lại