1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ động từ ba diễn tố trong tiếng việt

120 477 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 824,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu kết trị của động từ ba diễn tố có thể được sử dụng để biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường... Phương pháp

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

Thái Nguyên - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Lộc

Thái Nguyên - 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên cùng các thầy giáo ở Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đã động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Tâm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Nguyên Thị Thanh Tâm

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ i

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ 7

1.1 Động từ 7

1.1.1 Khái niệm 7

1.1.2 Cách xác định động từ 7

1.1.3 Một số vấn đề cần chú ý khi xác định động từ 9

1.2 Vị trí của động từ ba diễn tố trong hệ thống động từ tiếng Việt 11

1.2.1 Cách phân loại động từ theo quan điểm truyền thống 11

1.2.2 Cách phân loại động từ theo lý thuyết kết trị 13

1.3 Nguyên tắc, thủ pháp và quy trình nghiên cứu động từ theo lý thuyết kết trị 29

1.3.1 Nguyên tắc xác định, phân tích kết trị của động từ 29

1.3.2 Thủ pháp pháp xác định, phân tích kết trị của động từ 37

1.3.3 Quy trình xác định, miêu tả kết trị của động từ 38

1.4 Đặc điểm chung của động từ ba diễn tố 40

1.4.1 Nhận xét chung 40

1.4.2 Phân loại động từ ba diễn tố (Các diện đối lập chính trong động từ ba diễn tố) 42

Tiểu kết 48

Chương 2 ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ VỚI MÔ HÌNH N 1 – V – N 2 – N 3 49

2.1 Nhận xét chung 49

2.1.1 Đặc điểm chung 49

2.2 Nhóm động từ ban phát 50

2.2.1 Nhận xét chung 50

Trang 6

2.2.2 Các diễn tố bên động từ ban phát 51

2.2.3 Các nhóm động từ ban phát, trao tặng 57

2.3.Nhóm động từ thu nhận 63

2.3.1 Đặc điểm chung 63

2.3.2 Các diễn tố bên động từ thu nhận 64

2.3.2 Các nhóm động từ thu nhận: 68

2.4 Nhóm động từ so sánh đối chiếu 70

2.4.1 Đặc điểm chung 70

2.4.2 Các diễn tố bên động từ so sánh đối chiếu 71

2.4.3 Các nhóm động từ so sánh đối chiếu 73

2.5 Nhóm động từ hòa hợp, kết nối 74

2.5.1 Đặc điểm chung 74

2.5.2 Các diễn tố bên động từ kết nối 75

2.5.3 Các nhóm động từ kết nối: 77

Tiểu kết 78

Chương 3 ĐỘNG TỪ BA TIỀN TỐ VỚI CÁC MÔ HÌNH N 1 - V 1 - N 2 - V 2 và N 1 – V 1 - N 2 -  2N 3 79

3.1 Nhận xét chung 79

3.2 Nhóm động từ cầu khiến 80

3.2.1 Nhận xét chung 80

3.2.2 Các diễn tố bên động từ cầu khiến 82

3.2.3 Các nhóm động từ cầu khiến 94

3.3 Nhóm động từ bình xét 103

3.3.1 Đặc điểm chung 103

3.3.2 Các diễn tố bên động từ bình xét 105

3.3.2 Về phân loại nhóm động từ bình xét - đánh giá 109

Tiểu kết 110

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 7

MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nghiên cứu hệ thống từ loại tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đều khẳng định vị trí và vai trò hết sức quan trọng của động từ Động từ là từ loại có số lượng rất lớn và có đặc tính hết sức phức tạp Về vai trò ngữ pháp, động từ là trung tâm tổ chức của tuyệt đại đa số câu tiếng Việt Do có địa vị quan trọng trong hệ thống từ loại nên động từ luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Việc nghiên cứu động từ đã được tiến hành ở nhiều góc độ với những

công trình khác nhau như: Cụm động từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong, Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản, Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ của Vũ Thế Thạch, Vị từ hành động và các tham tố của nó của Nguyễn Thị Quy, Kết trị của động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc

Qua những công trình nghiên cứu này, ta thấy rằng động từ là một từ loại lớn,

có đặc điểm hết sức phức tạp, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu rộng hơn Một trong những vấn đề đó là việc nghiên cứu, xác lập, phân tích, miêu tả làm rõ đặc điểm của các tiểu loại, các nhóm động từ

Động từ ba diễn tố trong tiếng Việt là một nhóm động từ có số lượng khá lớn, có ý nghĩa ngữ pháp quan trọng Tuy nhiên, đến nay, nhóm động từ này trong tiếng Việt chưa được nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống

Việc nghiên cứu về động từ ba diễn tố có ý nghĩa không nhỏ cả về lý luận lẫn thực tiễn

Về lý luận, việc nghiên cứu nhóm động từ này theo lý thuyết kết trị sẽ góp phần soi sáng thêm một số vấn đề lý thuyết về động từ nói chung, lý thuyết kết trị động từ nói riêng trên cứ liệu của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu kết trị của động từ ba diễn tố có thể được sử dụng để biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường

Trang 8

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Động

từ ba diễn tố trong tiếng Việt”

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Về sự tồn tại của động từ tiếng Việt, từ trước đến nay có rất nhiều ý kiến nhưng có hai ý kiến trái ngược nhau Ý kiến thứ nhất phủ nhận sự tồn tại của động từ Còn ý kiến thứ hai thừa nhận sự tồn tại của động từ

Những người có ý kiến thứ nhất như M Grammong (M.Grammont) và

Lê Quang Trinh phủ nhận khả năng phân định các loại từ trong tiếng Việt Do

đó, các tác giả cũng phủ nhận sự tồn tại của động từ.Các tác giả này cho rằng trong tiếng Việt, không có mạo từ, danh từ, đại từ, động từ, cũng không có giống và số mà chỉ có những từ không thôi: những từ này đều là đơn âm tiết, nói chung không biến đổi, ý nghĩa của chúng thay đổi hay được xác định nhờ những từ đặt trước hay theo sau, nghĩa là nhờ chức năng, vị trí của chúng ở trong câu

Ý kiến thứ hai thừa nhận sự tồn tại của động từ, nhưng những người theo ý kiến này lại khác nhau về điểm xuất phát cũng như về kết quả đạt được Có thể kể ra một số ý kiến như sau:

Nguyễn Kim Thản phân động từ ra làm bốn loại: loại thứ nhất có sự lẫn lộn giữ động từ và vị ngữ bắt nguồn từ thời cổ Hy Lạp, loại thứ hai xuất phát

từ ý nghĩa, loại thứ ba xuất phát từ hình thức ngữ pháp (hiểu theo nghĩa rộng), chủ yếu là khả năng kết hợp của từ, loại thứ tư chú ý tới cả đặc điểm ý nghĩa

Trang 9

để tìm ra cái quy định đặc tính của nó, mà phải nhìn vào hoàn cảnh của nó, tức là khả năng kết hợp các từ với các từ khác trong ngôn ngữ

Trong loại ý kiến thứ tư, Nguyễn Kim Thản chủ trương phân định từ loại dựa vào cả ý nghĩa lẫn hình thức ngữ pháp, tác giả chứng minh sự tồn tại của danh từ và động từ tiếng Việt bằng cách đối lập khả năng kết hợp của hai

từ loại như khả năng kết hợp với những từ chỉ định (này, kia ) với từ chỉ sở thuộc, với đại từ (có là và không có là), với định ngữ tính từ (danh từ thì kết hợp trực tiếp, động từ thì có thể có từ cho), với những từ phủ định

Trong hai loại ý kiến trên, ý kiến thứ hai đã dần chiếm ưu thế và được công nhận Bởi thế, động từ bắt đầu được nghiên cứu một cách nghiêm túc và đầy đủ Quá trình ấy có thể được tóm tắt như sau:

Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu những năm sáu mươi của thế kỉ XX, việc nghiên cứu về động từ chưa đạt được những thành tựu đáng kể, chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách đầy đủ về động từ Chỉ từ giữa những năm sáu mươi đến nay, việc nghiên cứu về động từ mới thực sự được chú ý và đi vào chiều sâu Bên cạnh những công trình chung về ngữ pháp thường có đề cập đến động từ, có thể kể đến một số chuyên luận tiêu biểu trong và ngoài nước như:

Ở nước ngoài có:

- Phân loại động từ tiếng Việt của I.S Bystov (1966)

- Cụm động từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong (1973)

Ở trong nước có:

- Các động từ chỉ hướng trong tiếng Việt của Nguyễn Lai (1976)

- Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản (1977)

- Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ của Vũ Thế Thạch (1984)

- Vị từ hành động và các tham tố của nó của Nguyễn thị Quy (1995)

- Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc (1995)

Trang 10

Trong các công trình trên đây, một số nghiên cứu tương đối hoàn toàn diện về động từ nói chung Đó là những công trình của Nguyễn Phú Phong và Nguyễn Kim Thản Ở những công trình này, diện mạo chung của động từ đã hiện lên khá rõ rệt Bên cạnh đó có những công trình đi sâu vào một khía cạnh nào đó của động từ như: I.S Bystov đi vào phân loại động từ, Nguyễn Lai tìm hiểu về nhóm động từ chỉ hướng, Vũ Thế Thạch tìm hiểu về mặt ngữ nghĩa, Nguyễn Thị Quy tìm hiểu về vị từ hành động và các tham tố của nó, Nguyễn Văn Lộc đi sâu vào mặt kết trị Tuy nhiên, có một khía cạnh của động từ còn ít được chú ý đến, đó là việc tìm hiểu về các nhóm, các tiểu loại động từ trong đó

có động từ ba diễn tố Vì vậy, ở đề tài này chúng tôi sẽ đi sâu vào việc tìm hiểu

về động từ ba diễn tố trong tiếng Việt theo lý thuyết kết trị

III MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Mục đích của đề tài này là miêu tả làm rõ đặc điểm ý nghĩa và thuộc tính kết trị của nhóm động từ ba diễn tố trong tiếng Việt Qua đó, góp phần soi sáng thêm một số vấn đề về lý thuyết kết trị và kết trị của động từ trên cứ liệu của một nhóm động từ cụ thể trong một ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung (về động từ, lý thuyết kết trị

và kết trị của động từ, phân loại động từ theo kết trị, khái niệm động từ ba diễn tố)

2 Xác lập nguyên tắc và thủ pháp phân tích, miêu tả động từ ba diễn tố theo lý thuyết kết trị

3 Phân loại, miêu tả các nhóm động từ 3 diễn tố theo đặc điểm ý nghĩa

và thuộc tính kết trị

IV ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là động từ ba diễn tố trong tiếng Việt hiện đại

Trang 11

Phạm vi nghiên cứu là các nhóm động từ ba diễn tố trong tiếng Việt hiên đại được khảo sát trong các tác phẩm văn học, báo chí và một số loại văn bản của các tác giả có uy tín về sử dụng ngôn ngữ

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này được sử dụng để khảo sát, thống kê việc sử dụng động từ ba diễn tố trong văn bản và tiến hành phân loại chúng thành các nhóm nhỏ

2 Phương pháp miêu tả

Phương pháp này được sử dụng để miêu tả đặc điểm ý nghĩa và đặc

điểm hoạt động ngữ pháp (thuộc tính kết trị) của động từ ba diễn tố trong các

tác phẩm văn học, báo chí và một số văn bản của các tác giả có uy tín về sử dụng ngôn ngữ Từ đó phát hiện ra đặc trưng của nhóm động từ này trong tiếng Việt

2 Những phương pháp khác: So sánh, đối chiếu Những phương pháp

này dùng kết hợp để triển khai thực hiện đề tài

3 Về thủ pháp nghiên cứu, luận văn kết hợp sử dụng các thủ pháp như

lược bỏ, bổ sung, thay thế, cải biến.Các thủ pháp nói trên giúp cho việc

miêu tả và phân tích ngữ pháp hạn chế được sự chủ quan, cảm tính nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra của luận văn

VI DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Với những kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn sẽ có những đóng góp mới sau đây:

Thứ nhất, việc nghiên cứu nhóm động từ này theo lý thuyết kết trị sẽ góp phần soi sáng thêm một số vấn đề lý thuyết về động từ nói chung, lý thuyết kết trị về động từ nói riêng trên cứ liệu của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt

Trang 12

Thứ hai, từ việc nghiên cứu các nhóm động từ ba diễn tố cụ thể theo lí thuyết kết trị, chúng ta sẽ thấy được sự phong phú, đa dạng của động từ tiếng Việt nói chung và động từ ba diễn tố nói riêng

Thứ ba, về thực tiễn, kết quả nghiên cứu kết trị của động từ ba diễn tố

có thể được sử dụng để biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường

VII BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về động từ ba diễn tố

Chương này tập chung tìm hiểu những lí thuyết về động từ, nguyên tắc thủ pháp và quy trình nghiên cứu động từ theo lí thuyêt kết trị Vị trí, đặc điểm chung của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt

Chương 2: Động từ ba diễn tố với mô hình N 1 – V – N 2 – N 3

Chương này tập trung miêu tả đặc điểm chung, thuộc tính kết trị của các diễn tố, phân loại các nhóm động từ thuộc các nhóm động từ ban phát; nhóm động từ thu nhận; nhóm động từ so sánh, đối chiếu; nhóm động từ kết nối Kể thêm nhưng không phân tích sâu hai nhóm động từ cũng thuộc mô hình này là nhóm động từ chia tách đối tượng và nhóm động từ làm chuyển dời các đối thể

Chương 3: Động từ ba diễn tố với mô hình N 1 – V 1 – N 2 – V 2

Chương này tập trung miêu tả đặc điểm chung, thuộc tính kết trị, phân loại các nhóm động từ thuộc các nhóm động từ cầu khiến; nhóm động từ bình xét; kể thêm nhưng không phân tích sâu nhóm động từ biến hóa

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ

1.1 Động từ

1.1.1 Khái niệm

Khi nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã dành rất nhiều tâm huyết của mình cho việc nghiên cứu động từ Điều đó cho thấy tầm quan trọng cũng như sự phức tạp của từ loại này Vai trò của động từ dã được Nguyễn Kim Thản khẳng định: “Trong câu, động từ gần như là trung tâm của các mối quan hệ của các từ, nó không những có mối quan hệ tường thuật với

từ chỉ chủ thể mà còn có quan hệ chính phụ với những từ chỉ đối tượng, chỉ hoàn cảnh, trạng thái ” [34, tr.97] Động từ ba diễn tố là một tiểu loại của động từ nhưng trước khi tìm hiểu về nó, ta cần có một cách hiểu khái quát về động từ với những đặc điểm chính sau đây:

Theo “Từ điển tiếng Việt”, động từ là “từ chuyên biểu thị hành động, trạng thái hay quá trình, thường làm vị ngữ trong câu” [25, tr.346]

Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, tác giả Diệp Quang Ban cho rằng:

“Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình – ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể Đó là ý nghĩa hành động, ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và không gian” [2, tr.90]

Như vậy, căn cứ vào các định nghĩa về động từ của các tác giả nêu

trên, ta có thể đưa ra cách hiểu khái quát về động từ như sau: Động từ là một

từ loại thực từ dùng để chỉ hoạt động (hành động hay trạng thái) của sự vật, hiện tượng

1.1.2 Cách xác định động từ

1.1.2.1 Dựa vào ý nghĩa

Như trên đã trình bày, Động từ là một loại thực từ dùng để chỉ hoạt động (hành động hay trạng thái) của sự vật, hiện tượng, vì vậy, khi xác định

động từ, cần dựa vào chức năng này

Trang 14

1.1.2.2 Dựa vào khả năng kết hợp

- Động từ có khả năng kết hợp với các phụ từ để biểu thị các ý nghĩa quan hệ có tính tình thái giữa quá trình với cách thức và quá trình với các đặc trưng vận động của quá trình trong không gian, thời gian và trong hiện thực

Cụ thể là:

+ Động từ có khả năng kết hợp về phía trước với các phụ từ thời thể

như: đã, sẽ, đang, hãy, đừng, chớ

Thí dụ: đang học, đã ăn

+ Động từ có khả năng kết hợp về phía sau với các thành tố phụ khác

để tạo thành các nhóm động từ

Các thành tố phụ chỉ phương hướng: ra, vào, lên, xuống,

Thí dụ: đi lên, trèo xuống,

Các thành tố chỉ kết quả: xong, rồi

Thí dụ: ăn xong, làm rồi

- Động từ kết hợp với các thực từ để phản ánh các quan hệ trong nội dung vận động của quá trình

1.1.2.3 Dựa vào chức năng cú pháp

Động từ có khả năng giữ nhiều chức năng ngữ pháp khác nhau nhưng chức năng ngữ pháp quan trọng nhất của động từ là làm vị ngữ của câu Theo thống kê của Nguyễn Kim Thản, những câu có vị ngữ là động từ chiếm khoảng 88% tổng số câu trong tiếng Việt Ngoài ra, động từ còn tham gia đảm nhiệm nhiều chức năng khác trong câu như: bổ ngữ, định ngữ, chủ ngữ, trạng ngữ

- Động từ làm bổ ngữ: Tôi muốn đi thành phố

- Động từ làm chủ ngữ: Lao động là vinh quang

- Động từ làm định ngữ: Bút này là bút kí

- Động từ làm trạng ngữ: Nói xong, nó bỏ đi ngay

Trang 15

Khi một chức vụ cú pháp nhất định, động từ thường có khả năng thay

thế bằng các từ nghi vấn hoặc trả lời cho câu hỏi: làm gì? làm sao?

Tóm lại, động từ là một loại thực từ cơ bản trong kho từ vựng của bất

kì một ngôn ngữ nào Ý nghĩa khái quát của động từ là chỉ hoạt động của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan cũng như trong đời sống tinh thần con người Động từ có khả năng kết hợp về phía trước với các phụ từ thời thể,

về phía sau với các phụ từ chỉ sự hoàn thành, kết thúc sự việc, chỉ hướng để tạo thành nhóm Chức năng cơ bản của động từ là làm vị ngữ trong câu

1.1.3 Một số vấn đề cần chú ý khi xác định động từ

Khi xác định động từ, trước hết, ta xác định được một nhóm lớn bao gồm những từ có đầy đủ các đặc điểm nêu trên đây của động từ Thuộc nhóm

này là những từ kiểu như: đi, chạy, ngã, ăn, đọc, viết, trao, tặng,…Có thể gọi

những từ thuộc nhóm này là những động từ điển hình hay những động từ - thực

từ Những động từ - thực từ tạo nên khu vực trung tâm của từ loại động từ

Bên cạnh các động từ - thực từ còn có một nhóm không lớn bao gồm những từ có không đầy đủ các đặc điểm nêu trên đây của động từ Thuộc

nhóm này là những từ kiểu như: trở thành, trở nên, phải, bị, được, khiến,…

Khác với các động từ - thực từ, những từ thuộc nhóm này rất trống nghĩa từ vựng Chúng chỉ các hoạt động trừu tượng, khái quát (hoạt động kiểu theo nghĩa ngữ pháp) Chính do sự trống vắng nghèo nàn về ý nghĩa từ vựng mà

về hình thức, các từ thuộc nhóm này chỉ có khả năng thay thế bằng từ nghi

vấn một cách hạn chế, có điều kiện Khi trả lời các câu hỏi “làm gì”, “làm sao” đặc trưng cho động từ, chúng thường phải kết hợp vào mình một thực từ

khác Với những đặc điểm chỉ ra trên đây, các từ thuộc nhóm thứ hai rõ ràng mang tính chất trung gian giữa động từ và hư từ Ở đây, chúng tôi xếp chúng vào động từ và gọi chúng là động từ - ngữ pháp Động từ ngữ pháp chính là nhóm động từ không điển hình tạo thành khu vực biên của từ loại động từ

Trang 16

Khi xác định các động từ ngữ pháp, không thể không đề cập đến

trường hợp của từ “là” trong những cấu trúc kiểu “Tôi là sinh viên” Theo ý kiến của một số tác giả thì “là” vốn là động từ thực thụ có ý nghĩa như “làm” nhưng đã hư hóa trở thành hư từ Những tác giả theo quan niệm này xếp “là” vào loại hệ từ hoặc từ nối (quan hệ từ) Một số tác giả coi “là” là động từ

nhưng không phân biệt nó với động từ - thực từ

Xem xét đặc điểm của từ “là” trong những cấu trúc kiểu “Tôi là sinh viên”, ta thấy nó vẫn còn có những đặc điểm của động từ “Là” vẫn có khả năng tiếp nhận các yếu tố chỉ thời thể như các động từ khác (Thí dụ: Tôi đang là sinh viên Tôi sẽ là sinh viên) Mặt khác, trong nhiều trường hợp, “là” còn có khả năng thay thế cho “làm”, “trở thành” là những từ được thừa nhận là động từ

So sánh:

- Nó sẽ trở thành giáo viên – Nó sẽ là giáo viên

- Tôi làm tổ trưởng – Tôi là tổ trưởng

Ngoài ra, nếu so sánh “là” trong những cấu trúc trên đây với từ “là” đã

hư hóa thực sự và trở thành quan hệ từ thì ta thấy giữa chúng có sự khác nhau

rất rõ “Là” với tư cách quan hệ từ không có khả năng tiếp nhận các các yếu

tố chỉ thời thể, mặt khác nó luôn có khả năng thay thế bằng quan hệ từ

Trang 17

Khi xác định động từ, cũng cần lưu ý rằng những đặc điểm nêu trên đây của động từ là thuộc tính chung của động từ với tư cách là đơn vị trừu tượng của ngôn ngữ được khái quát từ những biến thể của nó trong lời nói Khi hoạt động trong lời nói, động từ luôn tồn tại dưới những biến thể cụ thể Trong số các biến thể của động từ có biến thể là cơ bản (điển hình) và có những biến thể không cơ bản (không điển hình) Biến thể cơ bản là biến thể phổ biến nhất và có đầy đủ các đặc điểm của động từ (Chẳng hạn, trong tiếng Nga, biến thể cơ bản của động từ thường được coi là hình thức được chia (sprjagajemara forma) của động từ, còn biến thể không cơ bản là các hình thức nguyên dạng, tính động từ, trạng động từ) Trong tiếng Việt, hình thức

cơ bản của động từ có thể coi là hình thức thời thể (tức là hình thức có khả năng kèm thêm các yếu tố chỉ thời thể) Chẳng hạn, trong cấu trúc: “Tôi đang

đọc sách” và “Tôi bước vào phòng đọc sách”, “đọc” mặc dù đều là động từ

nhưng ở cấu trúc thứ nhất, nó là biến thể điển hình, còn ở cấu trúc thứ hai, nó

là biến thể không điển hình

1.2 Vị trí của động từ ba diễn tố trong hệ thống động từ tiếng Việt

1.2.1 Cách phân loại động từ theo quan điểm truyền thống

Động từ là môt loại từ lớn bao gồm hàng vạn từ và rất không thuần nhất Trong nội bộ động từ, có thể phát hiện những tiểu loại, những nhóm đối lập với nhau theo những tiêu chí nhất định Vấn đề phân loại động` từ được nhiều chuyên khảo đề cập đến Dưới đây là một số cách phân loại truyền thống thường gặp:

1.2.1.1 Cách phân loại dựa vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp:

Theo cách phân loại này, có thể xác định trong nội bộ động từ những diện đối lập chính sau:

a Trước hết, đó là sự đối lập giữa động từ thực từ và động từ ngữ pháp (động từ bán thực từ, bán hư từ)

Trang 18

Động từ - thực từ là những động từ có ý nghĩa cụ thể, chân thực, có khả

năng thay thế bằng từ nghi vấn (Thí dụ: làm gì, làm sao) và có khả năng độc lập làm vị ngữ (Thí dụ: đi, chạy, viết, đọc ) Động từ ngữ pháp là những

động từ không có ý nghĩa cụ thể, chân thực, không có khả năng thay thế bằng

từ nghi vấn (khả năng độc lập trả lời câu hỏi), không có khả năng độc lập giữ

vai trò vị ngữ (Thí dụ: có thể, trở nên, bị, được ) Động từ ngữ pháp được chia thành động từ tình thái (có thể, nên ) và động từ quan hệ (là, khiến )

b Các động từ - thực từ được chia tiếp thành động từ chủ động và động từ không chủ động

Động từ chủ động là những động từ chỉ hoạt động có chủ ý, tức là hoạt động xuất phát từ chủ thể và chủ thể có thể điều khiển hoạt động theo ý muốn

của mình (Thí dụ: đi, ăn, chạy )

Động từ không chủ động chỉ hoạt động không xuất phát từ chủ thể và

chủ thể không điều khiển được họat động theo ý muốn của mình (Thí dụ: tan, cháy, đổ, vỡ )

Tiếp tục phân chia động từ chủ động ta có hai nhóm động từ: động từ tác động (biểu thị những hoạt động mà kết quả những hoạt động đó làm cho

đối tượng bị thay đổi về phương diện nào đó (nảy sinh hoặc tiêu biến đi): ăn, đập, phá ) và động từ không tác động (không có những đặc điểm như từ tác động): đi, bơi, chạy Trong động từ tác động có hai diện đối lập: động từ tạo tác (chỉ những hoạt động tạo ra đối tượng: đào, nặn ) và động từ chuyển tác (chỉ những hoạt động làm chuyển biến đối tượng ở một mặt nào đó: đánh, đốt, phá ) Động từ không tác động cũng được chia tiếp thành: động từ chỉ hoạt động chuyển động (đi, chạy ) và động từ chỉ hoạt động không chuyển động (ngủ, nghĩ ) Như vậy, căn cứ vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp, ta có

thể chia động từ thành nhiều tiểu loại với những dấu hiệu ý nghĩa và hình thức đặc trưng của từng tiểu loại

Trang 19

1.2.1.2 Phân loại động từ dựa vào đặc điểm chi phối

Sự chi phối của động, từ theo cách hiểu chung, (áp dụng cho cả ngôn ngữ biến hình và ngôn ngữ không biến hình) là khả năng của động từ đòi hỏi

sự có mặt và quy định đặc tính (ý nghĩa và hình thức) của các bổ ngữ

Theo cách phân loại này, động từ được chia thành hai loại chính: động

từ nội hướng (nội động) và động từ ngoại hướng (ngoại động) Động từ nội

hướng là động từ không chi phối bổ ngữ (Thí dụ: nằm, đứng, ngủ, thức, )

còn động từ ngoại hướng là động từ có khả năng chi phối các bổ ngữ (Thí dụ:

ăn, viết, đánh, đọc, ) Tuy nhiên, cũng như sự đối lập giữa các nhóm động từ

phân loại theo ý nghĩa và hình thức ngữ pháp, sự đối lập giữa động từ nội hướng và động từ ngoại hướng trong cách phân loại này không hẳn rõ ràng và dứt khoát Bằng chứng là giữa hai nhóm động từ này vẫn tồn tại nhóm động

từ trung tính (Thí dụ: tan, cháy, lắc, gật, )

1.2.2 Cách phân loại động từ theo lý thuyết kết trị

1.2.2.1 Vài nét về lý thuyết kêt trị

a, Thuật ngữ kết trị

Thuật ngữ kết trị (hóa trị, ngữ trị, tiếng Pháp: valence, tiếng Nga: valentnost) vốn được dùng trong hóa học để chỉ thuộc tính kết hợp của các nguyên tử với một số lượng xác định các nguyên tử khác Thuật ngữ này mới chỉ được dùng rộng rãi trong ngôn ngữ học từ cuối những năm bốn mươi của thế kỉ xx để chỉ khả năng kết hợp của các lớp từ hoặc các lớp hạng đơn vị ngôn ngữ nói chung

b, Ngữ pháp phụ thuộc của L Tesnière – cơ sở của lý thuyết kết trị

Người khởi xướng lí thuyết kết trị là L Tesnière, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Pháp Những tư tưởng về lý thuyết kết trị được L Tesnière trình

bày trong cuốn Các yếu tố của cú pháp cấu trúc (Elements de syture

structurale) xuất bản ở Paris vào năm 1959, sau khi ông mất năm năm

Trang 20

Trong cuốn sách trên đây của L Tesnière, lý thuyết kết trị đã được

trình bày gắn liền với tứ tưởng về ngữ pháp phụ thuộc của ông Lấy câu “Quy tắc cao nhất là sự phụ thuộc và tính phụ thuộc” làm lời đề cho chương 2 (Tôn

ti của quan hệ cú pháp), L Tesnière viết: “Quan hệ cú pháp xác lập giữa các

từ mối quan hệ phụ thuộc Mỗi quan hệ thống nhất một vài yếu tố đứng trên với yếu tố đứng dưới.Yếu tố đứng trên chúng tôi sẽ gọi là yếu tố chi phối hoặc yếu tố chính,còn yếu tố đứng dưới là yếu tố phụ thuộc Chẳng hạn, trong

câu Alfred parle (Anphret nói) parle (nói) là yếu tố chính, còn Anphred là yếu

tố phụ” [28, tr.64] Trong câu, một từ có thể đồng thời vừa là yếu tố chi phối

(yếu tố chính) vừa là yếu tố phụ thuộc Chẳng hạn, trong câu Mon ami parle (Bạn tôi nói), từ ami (bạn) vừa phụ thuộc vào từ parle (nói) vừa chi phối mon (tôi) Toàn bộ các từ đi vào thành phần câu lập tôn ti (thứ bậc) của mối quan

hệ cú pháp Chẳng hạn, trong câu Mon ami parle (Bạn tôi nói), từ mon (tôi) phụ thuộc vào ami (bạn), còn từ này đến lượt mình lại phụ thuộc vào parle (nói), ngược lại, từ parle (nói) chi phối từ ami (bạn), còn từ này lại chi phối mon (tôi) Mối quan hệ với tính tôn ti như trên được trình bày với sơ đồ sau: parle (nói) parle (nói)

Alfred ami (bạn)

mon (tôi)

Cùng với nguyên tắc phụ thuộc và tính tôn ti của quan hệ cú pháp như trình bày trên đây, L Tesnière cũng lưu ý đến tính chất một chức năng của yếu tố phụ thuộc: “Về nguyên tắc, không một yếu tố phụ thuộc nào có thể phụ thuộc vào hơn một yếu tố chính Ngược lạị, yếu tố chính có thể chi phối

một vài yếu tố phụ thuộc” [28, tr.25] Chẳng hạn, trong câu Mon vierl ami

Trang 21

chante cette jolie chanson (Người bạn già của tôi hát bài hát tuyệt vời này),

từ chings (hát) chi phối hai từ là ami (bạn) và chanson (bài hát) trong khi với các từ phụ thuộc, mỗi từ chỉ phụ thuộc vào một từ duy nhất mon (tôi) và vierl (già) phụ thuộc vào ami (bạn), ami (bạn) phụ thuộc vào chante (hát), cette (này) và jolie (tuyệt vời) phụ thuộc vào chanson (bài hát) phụ thuộc vào chante (hát) [28, tr.25]

Tư tưởng về tính phụ thuộc trong cú pháp mặc dù không hoàn toàn mới nhưng cái mới ở L Tesnière là tính phụ thuộc được đưa lên thành nguyên tắc hàng đầu của cú pháp: Ở L Tesnière, cấu trúc của câu được xác định bởi toàn

bộ các mối quan hệ cú pháp phụ thuộc giữa các thành tố của nó Khác với ngữ pháp học truyền thống trong đó có sự thừa nhận rộng rãi quan niệm về tính hai đỉnh cú pháp của câu (chủ ngữ, vị ngữ), tư tưởng ngữ pháp phụ thuộc của L Tesnière mà hạt nhân là lý thuyết kết trị chỉ xác định trong câu một đỉnh cú pháp duy nhất (tương đương với vị ngữ truyền thống) Đó là trung tâm của nút mà ở câu động từ, đó là động từ Quan niệm này, theo L Tesnière, thực sự xuất phát từ mặt cấu trúc (mặt ngữ pháp), khác với quan niệm truyền thống thường xuất phát từ mặt logic hoặc ngữ nghĩa [28, tr.118 - 124]

c, Khái niệm nút, nút động từ, diễn tố (actant), chu tố (circonstant)

Theo quan niệm của L Tesnière, mỗi yếu tố chính mà ở nó có một hay một vài yếu tố phụ lập thành cái ông gọi là nút (tiếng Pháp: noeut, tiếng Nga: uzel) Nút được L Tesnière xác định là “tập hợp bao gồm từ chính và tất cả các từ trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào nó” [28, tr.25] Nút được tạo thành bởi từ thu hút vào mình, trực tiếp hay gián tiếp, tất cả các từ của câu gọi

là nút trung tâm Nút này đảm bảo sự thống nhất cấu trúc của câu bởi nó gắn tất cả các yếu tố của câu thành một chuỗi thống nhất Trong ý nghĩa nhất định, nó đồng nhất với cả câu [28, tr.26] Nút trung tâm được cấu tạo bởi động

từ (như trong các Thí dụ trên đây) nhưng cũng có thể là danh từ, tính từ, trạng

từ Về nguyên tắc, chỉ các thực từ mới có khả năng tạo nút Phù hợp với các

loại thực từ, L Tesnière phân bốn loại kiểu nút: nút động từ, nút danh từ, nút tính từ và nút trạng từ

Trang 22

Nút động từ là nút mà trung tâm của nó là động từ, thí dụ: Alfred frappe Bernard (Anphret đánh Becna)

Nút danh từ là nút mà trung tâm của nó là danh từ, thí dụ: six forts chevaux (sáu con ngựa khỏe)

Nút tính từ là nút có tính từ làm trung tâm, thí dụ: extremement jeune (cực kì trẻ trung)

Nút trạng từ là nút có trạng từ làm trung tâm, thí dụ: relativement vite (tương đối nhanh)

Theo L Tesnière, nút động từ là trung tâm của câu trong phần lớn các ngôn ngữ châu Âu và nó biểu thị cái tương tự như một vở kịch nhỏ với các vai diễn (diễn tố, bổ ngữ) và circonstants (chu tố, trạng ngữ) Động từ biểu thị

quá trình (frappe – đánh trong Alfred frappe Bernanrd) Các diễn tố chỉ người

hay vật tham gia vào quá trình với tư cách bất kì (chủ động hay bị động)

Chẳng hạn, trong câu trên, các diễn tố là Alfred và Bernanrd [28, tr.117] Các

diễn tố (actant) có những đặc điểm chung là:

- Đều phụ thuộc vào động từ, là kẻ thể hiện kết trị của động từ, kể cả diễn tố chủ thể (chủ ngữ)

- Đều có tính bắt buộc, nghĩa là sự xuất hiện của chúng do nghĩa của động từ đòi hỏi và việc lược bỏ chúng sẽ làm cho nghĩa của động từ trở nên không xác định

- Về hình thức, chúng được biểu hiện bằng các danh từ hoặc các yếu tố tương đương (Các yếu tố này theo L Tesnière, gồm đại từ, động từ nguyên

dạng và mệnh đề phụ bổ ngữ mà ông gọi là mệnh đề phụ diễn tố)

Các diễn tố (actants) được L Tesnière phân loại dựa vào chức năng khác nhau mà chúng thực hiện theo mối quan hệ với động từ Dựa vào số lượng chức năng (và cũng là số lượng tối đa diễn tố có thể có bên động từ), L

Tesnière xác định ba kiểu diễn tố mà ông gọi tên theo số thứ tự: diễn tố thứ nhất, thứ hai và thứ ba Về nguyên tắc, số thứ tự của diễn tố không bao giờ

vượt quá số lượng diễn tố phụ thuộc vào động từ Chẳng hạn, động từ không

Trang 23

diễn tố không thể chi phối bất kì diễn tố nào, động một diễn tố không thể chi phối diễn tố thứ hai và thứ ba, động từ hai diễn tố không thể chi phối diễn tố thứ ba Như vậy, diễn tố thứ nhất có thể gặp trong câu gồm một, hai và ba diễn tố Diễn tố thứ hai có thể gặp trong câu có hai và ba diễn tố còn diễn tố thứ ba chỉ có thể gặp trong câu có ba diễn tố [28, tr.123]

Diễn tố thứ nhất từ góc độ ngữ nghĩa, chính là diễn tố chỉ kẻ hành động

và chính vì vậy, trong ngữ pháp học truyền thống, nó được gọi là chủ thể

(sujet) L Tesnière đề nghị giữ lại thuật ngữ này Trong câu Alfred parle (Anphret nói), Anphret từ góc độ cấu trúc là diễn tố thứ nhất, từ góc độ ngữ

nghĩa chỉ chủ thể của hành động nói

Diễn tố thứ hai về cơ bản, phù hợp với bổ ngữ đối thể trong ngữ pháp học truyền thống L Tesnière đề nghị gọi đơn giản là đối thể Chẳng hạn trong

câu Alfred frappe Bernard (Anphret đánh Bécsna), Bécsna về mặt cấu trúc là

diễn tố thứ hai, về mặt nghĩa chỉ đối thể của hành động Khi so sánh diễn tố chủ thể (chủ ngữ) với diễn tố đối thể (bổ ngữ), L Tesnière lưu ý rằng chúng chỉ đối lập nhau về ngữ nghĩa, còn về cấu trúc (cú pháp), giữa chúng không có

sự đối lập [28, tr.124] Tác giả nhấn mạnh rằng: “Trên thực tế, từ góc độ cấu trúc, không phụ thuộc vào chỗ trước chúng ta là diễn tố (actant) thứ nhất hay thứ hai, yếu tố bị phụ thuộc luôn luôn là bổ ngữ” [28, tr.124] Xuất phát từ

cách nhìn nhận đó, L Tesnière đề nghị khi sử dụng các thuật ngữ truyền thống

mà không có sự điều chỉnh, cần khẳng định rằng diễn tố chủ thể (chủ ngữ truyền thống) chính là bổ ngữ cũng như những bổ ngữ khác [28, tr.124]

Diễn tố thứ ba, từ góc độ ngữ nghĩa đó là diễn tố mà hành động được thực hiện có lợi hay gây thiệt hại cho nó Diễn tố này về cơ bản, tương ứng với bổ ngữ gián tiếp trong ngữ pháp học truyền thống Chẳng hạn, trong câu

Alfred donne le livre à Charler (Anphret đua cuốn sách cho Sáclơ), diễn tố thứ ba là Sáclơ Như vậy, ở câu có ba diễn tố, cả ba loại diễn tố: thứ nhất, thứ

hai, thứ ba đều xuất hiện Lược đồ của ba diễn tố trên đây như sau:

Trang 24

Donne (đưa)

Alfred le livre (cuốn sách) à Charler

(actant 1) (actant 2) (actant 3)

Cùng nằm trong phần cấu trúc của câu động từ, bên cạnh các diễn tố

còn có các chu tố (circonstant) Về nghĩa, các chu tố biểu thị hoàn cảnh (thời

gian, vị trí, phương thức ) trong đó quá trình được mở rộng Chẳng hạn,

trong câu: Alfred fourve toujours son nez partout (Anphret ở đâu cũng luôn

ngoáy cái mũi của mình), có hai chu tố là toujours (luôn luôn) và partout (ở

mọi nơi).Về cấu tạo, các chu tố luôn luôn là trạng từ (thời gian, vị trí, phương

thức ) hoặc yếu tố tương đương (trong đó có các mệnh đề phụ); ngược lại,

trong câu, các trạng từ luôn đảm nhiệm chức năng chu tố [28, tr.118]

Chẳng hạn, trong câu Alfred parl bien (Anphret nói hay), từ bien (hay)

là chu tố Lược đồ của câu này như sau:

Parl

Về chức năng, cũng như diễn tố, chu tố phụ thuộc trực tiếp vào động

từ Quan niệm này của L Tesnière khác với quan niệm truyền thống coi trạng

ngữ là thành phần phụ của cả nòng cốt câu (chủ ngữ, vị ngữ)

d, Khái niệm kết trị và các kiểu kết trị của động từ

* Khái niệm kết trị

Trong khuôn khổ của vấn đề quan hệ cú pháp (được trình bày trong

phần 1 của cuốn sách), sau khi đã đề cập và luận giải nhiều khái niệm quan

trọng liên quan đến lí thuyết kết trị như quan hệ cú pháp, sự phụ thuộc, nút

động từ, diễn tố, chu tố…, L Tesnière dành chương 97 (kết trị và dạng) để

Trang 25

trình bày về khái niệm kết trị Theo L Tesniere, cũng giống như sự tồn tại của các kiểu diễn tố khác nhau (diễn tố thứ nhất, thứ hai, thứ ba), thuộc tính của động từ chi phối các kiểu diễn tố được phân biệt dựa vào chỗ chúng chi phối một, hai hay ba diễn tố Ông viết: “Có thể hình dung động từ ở dạng nguyên tử với những cái móc có thể hút vào mình một số lượng diễn tố phù

hợp với số lượng móc mà nó có để giữ bên mình các diễn tố này - số lượng các móc có ở động từ và số lượng diễn tố mà nó có khả năng chi phối lập thành bản chất của cái mà chúng tôi sẽ gọi là kết trị của động từ (valence

verbe)” [28, tr.250] Như vậy theo cách hiểu của L Tesnièrre, kết trị của động

từ chính là thuộc tính hay khả năng của động từ thu hút vào mình một số lượng nhất định các diễn tố tương tự như khả năng của nguyên tử kết hợp với một số lượng các nguyên tử khác

Với cách hiểu trên đây, L Tesnière làm rõ thuộc tính kết trị của động

từ qua phạm trù dạng mà thuộc tính của nó phụ thuộc chủ yếu vào số lượng

và các đặc tính của các diễn tố mà động từ chi phối

Sau này, lí thuyết kết trị đã được phát triển và vận dụng vào việc nghiên cứu các đơn vị ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác nhau

Theo nghĩa rộng, kết trị được hiểu là thuộc tính kết hợp của các đơn vị ngôn ngữ cùng cấp độ Ở cấp độ từ, kết trị theo nghĩa rộng được là thuộc tính hay khả năng của lớp từ nhất định tham gia vào các mối quan hệ cú pháp nói chung Cách hiểu này đồng nhất kết trị của từ với thuộc tính kết hợp cú pháp của từ (theo đó, quan hệ cú pháp đồng nhất với quan hệ kết trị)

Ở Việt Nam, lý thuyết kết trị lần đầu tiên được nghiên cứu trong

chuyên luận Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc Tiếp thu tư

tưởng của L Tesnière và các nhà ngôn ngữ học Xô Viết, trong công trình

này, Nguyễn Văn Lộc hiểu kết trị của động từ là khả năng của động từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi các thành tố cú pháp (các thực từ) mang ý nghĩa bổ sung nhất định [17, tr.23-24] Nói cách

Trang 26

khác kết trị của từ là thuộc tính kết hợp cú pháp của từ Thuộc tính này được hàm chứa trong ý nghĩa của từ Nó chính là sự phản ánh những đòi hỏi hoặc khả năng của từ được cụ thể hóa về mặt nào đó

Dựa vào số lượng diễn tố, L Tesnière chia động từ thành động từ

không diễn tố hay còn gọi là động từ vô trị (verb avalent), động từ một diễn

tố hay còn gọi là động từ đơn trị (verb monovalent), động từ hai diễn tố hay còn gọi là động từ song trị (verb trivalent), động từ ba diễn tố hay còn gọi là động từ tam trị (verb divalent) [28, tr.251]

Các động từ không thể có diễn tố theo cách hiểu của L Tesnière trong ngữ pháp học truyền thống thường được gọi là động từ vô nhân xưng

(conpersonnels) hay đơn nhân xưng (unipersonnnels) Thí dụ: pleuevoir (mưa), il pleout (trời mưa) Tuy nhiên, theo L Tesniene cả hai cách gọi trên

đây đều không phù hợp vì trên thực tế, các động từ này vừa có thể dùng theo

kiểu vô nhân xưng (plevour) vừa có thể dùng theo kiểu đơn nhân xưng (il

pleout) ông đề nghị gọi các động từ này là động từ không kết trị hay động từ

không diễn tố (động từ vô trị: verb avalent) Sự vắng mặt của các diễn tố bên

các động từ vô trị, theo L Tesnière có thể giải thích bởi lí do: Chúng chỉ các

sự kiện diễn ra mà không có sự tham gia thực sự của bất kì diễn tố nào Còn

về chủ ngữ có thể gặp bên các động từ kiểu này trong một số ngôn ngữ

(Chẳng hạn, trong tiếng Pháp: il pleout) thì theo L Tesnière, đó chỉ là chủ

ngữ giả có tác dụng hình thức đơn thuần [28, tr.251]

Động từ một kết trị hay một diễn tố theo cách hiểu của L Tesnière phù hợp với động từ nội hướng (nội động) trong ngữ pháp học truyền thống Đó là

các động từ kiểu như sommeiller (mơ màng), voyager (du lịch, du hành), jailli (tuôn tràn)…

Động từ hai kết trị hay hai diễn tố theo cách hiểu của L Tesnière phù hợp với động từ ngoại hướng (ngoại động) trong ngữ pháp học truyền thống Các động từ này chỉ hành động chuyển từ chủ thể đến đối thể Chẳng hạn,

Trang 27

trong câu Alfred frappe Bernard (Anphrét đánh Bécna), hoạt động chuyển từ Anphret đến Bécna

Động từ hai kết trị được đặc trưng bởi phạm trù dạng Theo miêu tả của

L Tesnière, ở lớp động từ này có bốn dạng mà đặc tính của chúng có thể phản ánh bằng sơ đồ ở dưới (trong đó mũi tên chỉ ra hướng của hành động)

- Dạng chủ động A -> B (Alfred frappe Bernard), (Anphrét đánh Bécna)

- Dạng bị động A <- B (Bernard est frappe par Alfred), (Bécna bị Alphrét đánh)

- Dạng phản thân AB (Anfred se tue), (Anphret tự giết mình = tự sát)

- Dạng tương hỗ A (Alfred et Bernard s’ entretuent) (Anphret và Bécna giết nhau)

Động từ ba diễn tố hay ba kết trị theo cách phân loại của L Tesnière trong ngữ pháp học truyền thống được gọi chung là động từ ngoại hướng (ngoại động) Mặc dù được xếp chung vào lớp động từ ngoại hướng nhưng theo L Tesnière, ở nhóm động từ ba kết trị có những đặc điểm phức tạp mà việc nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là với những người học ngoại ngữ Thực tế cho thấy khả năng tham gia cải biến bị động của các diễn

tố bên nhóm động từ này ở các ngôn ngữ khác nhau là không như nhau chẳng hạn, theo L Tesnière, trong tiếng Pháp, câu với trung tâm là động từ

ba kết trị donne: Alfred donne le livre à Charles (Anphret đưa cuốn sách cho Sáclơ) về nguyên tắc chỉ có một dạng bị động duy nhất là: Le livre ét donne par Alferd à Charles (Cuốn sách được Anphret đưa cho Sáclơ) Diễn

tố thứ ba (à Charles) trong cả hai trường hợp (dạng chủ động và dạng bị

động) vẫn giữ lại ý nghĩa và hình thức của mình [28, tr.269] Tuy nhiên, trong tiếng Anh, câu tương ứng với câu ba diễn tố trên đây lại cho phép có

hai dạng cải biến bị động Chẳng hạn, câu Alfred gives the book to Charles cho phép có hình thức bị động không chỉ với diễn tố thứ hai (Thí dụ: The

Trang 28

book í given to Charler by Alfred) mà cả đối với diễn tố thứ ba (Charlesis given the book by Alfred) Ngoài ra, trong các ngôn ngữ có phạm trù cách,

động từ ba diễn tố chi phối dường như không phải diễn tố thứ hai và thứ ba

mà diễn tố thứ nhất và diễn tố thứ hai Chẳng hạn, trong tiếng Nga (Anton dạy cậu bé ngữ pháp) hai diễn tố sau động từ có ý nghĩa và hình thức giống

như diễn tố thứ hai

Dựa vào số lượng diễn tố, L Tesnière chia động từ thành động từ không diễn tố hay còn gọi là động từ vô trị (verb avalent), động từ một diễn

tố hay còn gọi là động từ đơn trị (verb monovalent), động từ hai diễn tố hay còn gọi là động từ song trị (verb trivalent), động từ ba diễn tố hay còn gọi là động từ tam trị (verb divalent) [29,tr.251]

Các động từ không thể có diễn tố theo cách hiểu của L Tesnière trong ngữ pháp học truyền thống thường được gọi là động từ vô nhân xưng

(conpersonnels) hay đơn nhân xưng (unipersonnnels) Thí dụ: pleuevoir (mưa), il pleout (trời mưa) Tuy nhiên, theo L Tesniene cả hai cách gọi trên

đây đều không phù hợp vì trên thực tế, các động từ này vừa có thể dùng theo kiểu vô nhân xưng (plevour) vừa có thể dùng theo kiểu đơn nhân xưng (il pleout) ông đề nghị gọi các động từ này là động từ không kết trị hay động từ không diễn tố (động từ vô trị: verb avalent) Sự vắng mặt của các diễn tố bên các động từ vô trị, theo L Tesnière có thể giải thích bởi lí do: Chúng chỉ các

sự kiện diễn ra mà không có sự tham gia thực sự của bất kì diễn tố nào Còn

về chủ ngữ có thể gặp bên các động từ kiểu này trong một số ngôn ngữ (Chẳng hạn, trong tiếng Pháp: il pleout) thì theo L Tesnière, đó chỉ là chủ ngữ giả có tác dụng hình thức đơn thuần [28, tr.251]

Động từ một kết trị hay một diễn tố theo cách hiểu của L Tesnière phù hợp với động từ nội hướng (nội động) trong ngữ pháp học truyền thống

Trang 29

Đó là các động từ kiểu như sommeiller (mơ màng), voyager (du lịch, du hành), jaillỉ (tuôn tràn)…

Động từ hai kết trị hay hai diễn tố theo cách hiểu của L Tesnière phù hợp với động từ ngoại hướng (ngoại động) trong ngữ pháp học truyền thống các động từ này chỉ hành động chuyển từ chử thể đến đối thể Chẳng hạn,

trong câu Alfred frappe Bernard (Anphrét đánh Bécna), hoạt động chuyển từ Anphret đến Bécna

Động từ hai kết trị được đặc trưng bởi phạm trù dạng Theo miêu tả của L Tesnière, ở lớp động từ này có bốn dạng mà đặc tính của chúng có thể phản ánh bằng sơ đồ ở dưới (trong đó mũi tên chỉ ra hướng của hành động)

- Dạng chủ động A -> B (Alfred frappe Bernard), (Anphrét đánh Bécna)

- Dạng bị động A <- B (Bernard est frappe par Alfred), (Bécna bị Alphrét đánh)

- Dạng phản thân AB (Anfred se tue), (Anphret tự giết mình = tự sát)

- Dạng tương hỗ A (Alfred et Bernard s’ entretuent) (Anphret và Bécna giết nhau)

Động từ ba diễn tố hay ba kết trị theo cách phân loại của L Tesnière trong ngữ pháp học truyền thống được gọi chung là động từ ngoại hướng (ngoại động) Mặc dù được xếp chung vào lớp động từ ngoại hướng nhưng theo L Tesnière, ở nhóm động từ ba kết trị có những đặc điểm phức tạp mà việc nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là với những người học ngoại ngữ Thực tế cho thấy khả năng tham gia cải biến bị động của các diễn tố bên nhóm động từ này ở các ngôn ngữ khác nhau là không như nhau chẳng hạn, theo L Tesnière, trong tiếng Pháp, câu với trung tâm là động từ ba kết trị

donne: Alfred donne le livre à Charles (Anphret đưa cuốn sách cho Sáclơ) về nguyên tắc chỉ có một dạng bị động duy nhất là: Le livre ét donne par Alferd

Trang 30

à Charles (Cuốn sách được Anphret đưa cho Sáclơ) Diễn tố thứ ba (à Charles) trong cả hai trường hợp (dạng chủ động và dạng bị động) vẫn giữ lại

ý nghĩa và hình thức của mình [28, tr.269] Tuy nhiên, trong tiếng Anh, câu tương ứng với câu ba diễn tố trên đây lại cho phép có hai dạng cải biến bị

động Chẳng hạn, câu Alfred gives the book to Charles cho phép có hình thức

bị động không chỉ với diễn tố thứ hai (Thí dụ: The book í given to Charler by Alfred) mà cả đối với diễn tố thứ ba (Charlesis given the book by Alfred)

Ngoài ra, trong các ngôn ngữ có phạm trù cách, động từ ba diễn tố chi phối dường như không phải diễn tố thứ hai và thứ ba mà diễn tố thứ nhất và diễn tố

thứ hai Chẳng hạn, trong tiếng Nga (Anton dạy cậu bé ngữ pháp) hai diễn tố

sau động từ có ý nghĩa và hình thức giống như diễn tố thứ hai

* Các kiểu kết trị

Kết trị của từ hiểu như là thuộc tính cú pháp của nó là phạm trù phức tạp không thuần nhất Vì vậy, có thể phân loại kết trị của từ thành những kiểu khác nhau Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày một cách khái quát các cách phân loại kết trị của từ và xác định các kiểu kết trị cơ bản tương ứng với mỗi cách phân loại

- Kết trị nội dung và kết trị hình thức

Kết trị nội dung là sự kết hợp về mặt ngữ nghĩa giữa từ mang kết trị và các diễn tố, chu tố Kết trị nội dung thường được xác định theo đặc điểm về ý

nghĩa cú pháp (các kiểu nghĩa như chủ thể, đối thể, công cụ, nguyên nhân )

của các diễn tố và chu tố và gắn chặt với ý nghĩa của từ mang kết trị Vì kết trị nội dung gắn chặt với với nghĩa của từ nên sự thay đổi về ý nghĩa của từ luôn kéo theo sự thay đổi kết trị nội dung của nó

Chẳng hạn, động từ “chạy” trong tiếng Việt vốn có ý nghĩa nội hướng

và khi được dùng với nghĩa vốn có của mình, “chạy” không thể có kết trị đối thể (Thí dụ: Nó đang chạy trên đường) Nhưng khi được dùng với nghĩa

Trang 31

ngoại hướng, “chạy” hoàn toàn có thể có các kết trị đối thể như các động từ ngoại hướng khác (Thí dụ: Nó chạy thóc vào nhà)

Kết trị hình thức của từ là mối quan hệ (sự kết hợp) về hình thức giữa

từ mang kết trị và các diễn tố và chu tố Khác với kết trị nội dung chỉ gắn với mặt nghĩ của từ kết trị hình thức gắn với hình thức ngữ pháp của từ Sự đối lập giữa kết trị nội dung và kết trị hình thức được bộc lộ rõ rệt trong ngôn ngữ biến hình Chẳng hạn, trong tiếng Nga, hình thức động từ “chitaju” về mặt kết trị nội dung, đòi hỏi hai diễn tố bắt buộc là chủ thể và đối thể hành động Nhưng khi xác định các yếu tố làm đầy các vị trí bên hình thức của động từ này, không thể chỉ chú ý đến ý nghĩa từ vựng – ngữ pháp của từ Chỉ có thể

nói: “Ja chitaju knigu” chứ không thể nói: “On chitaju kniga” Cấu trúc sau

sở dĩ không chấp nhận được là vì giữa các từ không có sự phù hợp về hình thức ngữ pháp, tức là thiếu kết trị hình thức

Kết trị nội dung và kết trị hình thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không phải luôn tương ứng với nhau theo kiểu “một đối một’ Vì kết trị nội dung phụ thuộc chặt chẽ vào mặt nghĩa của từ nên là phạm trù mang tính phổ quát Kết trị hình thức, trái lại, vì gắn với dặc tính của từ trong mỗi ngôn ngữ cụ thể nên là phạm trù mang tính đặc thù ; nghĩa là trong các ngôn ngữ khác nhau, đặc biệt là trong các ngôn ngữ khác loại hình, kết trị hình thức của từ thể hiện khác nhau

Sự không trùng nhau giữa kết trị nội dung và kết trị hình hình thức còn

có thể thấy trong từng ngôn ngữ, thậm chí ở từng từ Trong tiếng Nga, kết trị

điểm đến (kết trị nội dung) của động từ “vstupat” (bước vào) tương ứng với

hai kết trị hình thức

So sánh:

Vstupat na fakulchet (bước vào khoa)

Vsutupat v universichet (bước vào trường)

Trang 32

Trong tiếng Việt, một kết trị nội dung tương ứng với một vài kết trị

hình thức cũng không phải là hiện tượng hiếm (so sánh: “đấu tranh vì tự do”

và “đấu tranh cho tự do”; “nói cho nó biết “và “nói để nó biết” )

Những đặc điểm riêng của kết trị nội đung và kết trị hình thức, sự không trùng nhau của hai kiểu kết trị này cho phép khi miêu tả kết trị của từ,

có thể xem xét theo từng mặt một Chẳng hạn, phân tích kết trị của từ theo mặt nội dung, có thể xác định các kiểu kết trị như kết trị chủ thể, đối thể, công

cụ, nguyên nhân theo mặt hình thức, có thể phân biệt các kiểu kết trị trực tiếp, gián tiếp Tuy nhiên, như đã nói trên đây, vì kết trị nội dung và kết trị hình thức là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau (mỗi đơn vị thuộc mặt nội dung bao giờ cũng được biểu hiện bằng một hoặc một vài yếu tố hình thức và ngược lại nêu trên thực tế, không thể miêu tả kết trị nội dung và kết trị hình thức một cách hoàn toàn tách biệt nhau)

Kết trị bắt buộc là khả năng của từ tạo ra xung quanh mình các vị trí

mở cần làm đầy bởi các kết tố bắt buộc (diễn tố), còn kết trị tự do là khả năng của từ tạo ra xung quang mình các vị trí mở có thể làm đầy bởi các kết tố tự

do (chu tố)

Trong các công trình nghiên cứu về kết trị, khái niện kết trị bắt buộc và kết trị tự do chủ yếu được áp dụng để phân tích kết trị của động từ Đặc điểm

Trang 33

và sự đối lập cơ bản của kết tố bắt buộc (diễn tố) và kết tố tự do (chu tố) bên động từ là:

- Về ý nghĩa, nghĩa của các kết tố bắt buộc (diễn tố) phụ thuộc chặt chẽ vào nghĩa của động từ và chỉ được xác định xét trong mối quan hệ với nghĩa của động từ, còn nghĩa của các kết tố tự do (chu tố) có tính độc lập

tương đối Chẳng hạn, trong cấu trúc “Nam đọc sách ở thư viện”, nghĩa chủ thể và đối thể hoạt động của các diễn tố “Nam” và “sách” (kết tố bắt buộc) chỉ được xác định xét trong quan hệ với nghĩa của động từ “đọc” nhưng nghĩa vị trí của chu tố “ở thư viện” (kết tố tự do) có thể được xác định một

cách độc lập tương đối với nghĩa của động từ

- Về vai trò đối với việc tổ chức cấu trúc, các kết tố bắt buộc quan trọng hơn hẳn các kết tố tự do Sự xuất hiện của các kết tố bắt buộc là do nghĩa của động từ đòi hỏi Việc lược bỏ kết tố bắt buộc chỉ cho phép trong điều kiện ngữ cảnh hoặc tình huống nói năng nhất định, trong khi đó sự xuất hiện của các kết tố tự do chỉ phản ánh khả năng của động từ được xác định rõ thêm về nghĩa và phụ thuộc chủ yếu vào mục đích giao tiếp

- Về mặt phân bố (vị trí), kết tố bắt buộc vì gắn với động từ chặt chẽ hơn nên thường đứng sát động từ hơn các kết tố tự do

Mặc dù sự đối lập giữa kết tố bắt buộc và tự do là rất rõ nhưng cần thấy ranh giới giữa chúng không phải lúc nào cũng rõ ràng, dứt khoát Có thể so sánh hai câu sau:

(1) Tôi tắm cho con

(2) Nó trông nhà cho mẹ

Trong hai cấu trúc trên đây, từ “con” và “mẹ” đều chỉ kẻ được quan tâm, phục vụ Nhưng từ “con” ở cấu trúc (1) có đặc tính của kết tố bắt (diễn tố) buộc còn từ “mẹ” ở cấu trúc (2) lại có đặc tính của kết tố tự do (chu tố)

Trang 34

Khó có thể cho rằng, trong trường hợp trên đây, ta có hai kiểu kết tố khác hẳn nhau (một thuộc kết tố bắt buộc, một thuộc kết tố tự do) ; còn nếu cho rằng trong trường hợp trên đây chỉ có một kết tố duy nhất chỉ kẻ được quan tâm phục vụ thì khi miêu tả kết trị của động từ, kiểu kết tố này cần được xem xét

cả trong phạm vi kết trị bắt buộc lẫn tự do

1.2.2.2 Phân loại động từ theo kết trị - khái niệm động từ ba diễn tố

So với cách phân loại truyền thống, cách phân loại động từ theo kết trị

ra đời muộn hơn nhưng có tính khái quát cao hơn Nội dung của cách phân loại này là dựa vào số lương và đặc tính của các kiểu diễn tố có thể có bên động từ để chia động từ thành những loại, những nhóm nhất định Cách phân loại động từ theo kết trị rất gần với cách phân loại động từ theo đặc diểm chi phối nhưng có tính khái quát cao hơn Trong cách phân loại theo đặc điểm chi phối, thuộc tính cú pháp được chú ý là khả năng kết hợp về phía sau của động từ (khả năng kết hợp với bổ ngữ) Trong cách phân loại theo kết trị, thuộc tính cú pháp được chú ý gồm cả khả năng kết hợp về phía trước của động từ (khả năng kết với chủ ngữ)

Theo cách phân loại này, động từ được chia thành: động từ không đòi

hỏi diễn tố hay còn gọi là động từ vô trị (thí dụ: nắng, mưa, sáng, tối ) động

từ đòi hỏi một diễn tố hay động từ đơn trị (thí dụ: thức, ngủ, )., động từ hai kết tố hay còn gọi là động từ song trị (thí dụ: ăn, đọc, đánh, )., động từ đòi hỏi ba diễn tố hay còn gọi là động từ tam trị (thí dụ; trao, tặng, biếu, )

Động từ ba diễn tố thuộc nhóm các vị từ mà khi cấu tạo câu đòi hỏi phải có ba diễn tố tham gia trong cấu trúc, tương ứng với chủ ngữ và hai

bổ ngữ

Thí dụ: Nam tặng bạn cuốn sách

Trong câu trên động từ “tặng’ là động từ ba diễn tố bởi nó chi phối chủ ngữ là “Nam” và hai bổ ngữ: trực tiếp (cuốn sách) và gián tiếp (Nam)

Trang 35

1.3 Nguyên tắc, thủ pháp và quy trình nghiên cứu động từ theo lý thuyết kết trị

1.3.1 Nguyên tắc xác định, phân tích kết trị của động từ

Kết trị của động từ theo cách hiểu trên đây được xác định theo số lượng các vị trí mở (các ô trống) bao quanh nó còn bản thân các vị trí mở lại được xác định dựa vào số lượng các thành tố bổ sung (các diễn tố hay chu tố) làm đày các vị trí mở này Như vậy, xác định, phân tích, miêu tả kết trị của động

từ thực chất là xác định, phân tích, miêu tả các diễn tố hay chu tố có thể có hoặc làm đầy các vị trí mở bên động từ Công việc này cần tuân thủ những nguyên tắc sau:

1.3.1.1 Xuất phát từ ý nghĩa và thuộc tính kết trị của động từ hạt nhân

Vì trong cấu trúc động từ (nút động từ theo cách hiểu của L Tesnière); động từ hạt nhân luôn là thành tố giữ vai trò chi phối ý nghĩa và hình thức của các diễn tố (hay chu tố) nên không thể hiểu và lí giải đặc điểm ý nghĩa và hình thức của các diễn tố mà không dựa vào ý nghĩa và đặc điểm chi phối (thuộc tính kết trị) của động từ hạt nhân Chẳng hạn, nếu hạt nhân thuộc

nhóm động từ không đòi hỏi diễn tố (động từ vô trị) như mưa, nắng, sáng, tối,

…thì ta hiểu sự xuất hiện của diễn tố (trời) bên chúng là không bắt buộc và

mô hình kết trị cơ bản của chúng chỉ là – V – (Thí dụ: Sáng rồi Tối rồi) Nếu hạt nhân thuộc nhóm động từ đơn trị như thức, ngủ, đứng, nằm, ngồi, … thì

bên chúng chỉ có một diễn tố là diễn tố chủ thể và mô hình kết trị cơ bản của chúng sẽ là N1 – V Nếu hạt nhân là động từ song trị (ăn, đọc, đánh, đốt, phá,

…) thì chúng đòi hỏi một diễn tố chủ thể và một diễn tố đối thể với mô hình kết trị cơ bản là N1 – V – N2 Nếu hạt nhân là động từ tam trị (trao, tặng, biếu,…) thì chúng đòi hỏi một diễn tố chủ thể và hai diễn tố đối thể với mô

hình kết trị cơ bản là N1 – V – N2 – N3 Dựa vào ý nghĩa và thuộc tính kết trị của động từ hạt nhân, ta không chỉ xác định được số lượng diễn tố có bên động từ mà còn xác định được ý nghĩa và hình thức (cấu tạo và vị trí) của các

Trang 36

diễn tố Chẳng hạn, cùng là động từ một diễn tố nhưng khác với động từ chủ

động (thức, ngủ, ngồi, đứng, nằm,…) vốn không bao giờ cho phép diễn tố chủ thể chiếm vị trí liền sau mình (không thể nói: Ngồi một người đàn bà Chạy thỏ), động từ không chủ động (tan, cháy, đổ, vỡ, gãy,…) lại cho phép diễn tố chủ thể chiếm vị trí này (Thí dụ: Mây tan  Tan mây Cháy nhà  Nhà cháy) Những khả năng cải biến khác nhau này, suy đến cùng, đều do ý nghĩa

và kết trị của động từ quy định Dựa vào ý nghĩa của động từ hạt nhân, ta không chỉ xác định, lí giải được ý nghĩa và hình thức của các diễn tố mà trong nhiều trường hợp, còn xác định, lí giải được nghĩa cụ thể của từ giữ vai trò

diễn tố Chẳng hạn, từ chỉ chủ thể bên cạnh từ “sủa” về nguyên tắc chỉ có thể

là “chó” và bên động từ “cục tác” chỉ có thể là “gà” Đối với động từ “biếu”

ta không chỉ xác định được chủ thể và đối thể Chủ thể ở đây, về nguyên tắc, phải là người, mà còn xác định được chủ thể là người thuộc vai dưới hoặc có thái độ, tình cảm trân trọng với đối thể là kẻ nhận

Tóm lại, xuất phát từ động từ hạt nhân với ý nghĩa và đặc điểm chi phối của nó là điểm mấu chốt và cũng là điểm khác cơ bản của cách phân tích ngữ pháp theo quan điểm kết trị với cách phân tích ngữ pháp theo quan điểm truyền thống Đây cũng là nguyên tắc hàng đầu cần tuân thủ khi phân tích, miêu tả kết trị của động từ nói riêng và phân tích, miêu tả cú pháp theo lí thuyết kết trị nói chung

1.3.1.2 Xuất phát từ tính hai mặt của các diễn tố và chu tố

Với tư cách là đơn vị ngữ pháp (thành tố cú pháp), các diễn tố và chu

tố của động từ được đặc trưng bởi hai mặt: mặt ý nghĩa và mặt hình thức ngữ pháp Tính hai mặt của các diễn tố, chu tố đòi hỏi khi xác định phân tích kết trị của động từ phải tính đến cả mặt nội dung và mặt hình thức của chúng Việc tuân thủ nguyên tắc này cho phép tránh được sai lầm trong việc nghiên cứu kết trị của động từ

Trang 37

a, Theo nguyờn tắc trờn đõy, cỏc diễn tố và chu tố của động từ trước hết cần được xỏc định theo những đặc điểm sau:

- Về nội dung: Chỳng cụ thể húa ý nghĩa của động từ, tức là bổ sung

cho động từ hạt nhõn những ý nghĩa nhất định

- Về hỡnh thức: Chỳng cú khả năng thay thế bằng từ nghi vấn, tức là cú

thể dựa vào động từ hạt nhõn để đặt cõu hỏi về chỳng

Chẳng hạn, trong cấu trỳc Họ bắn mỏy bay bằng sỳng trường, cú thể xỏc định họ, mỏy bay là cỏc diễn tố và bằng sỳng trường là cỏc chu tố của động từ bắn Về nội dung, cỏc thành tố này bổ sung ý nghĩa cho động từ bắn (họ bổ sung ý nghĩa chủ thể, mỏy bay bổ sung ý nghĩa đối thể và bằng sỳng trường bổ sung ý nghĩa cụng cụ) Về hỡnh thức, chỳng đều cú khả năng thay thế bằng từ nghi vấn (Ai bắn? Bắn gỡ? Bắn bằng gỡ?)

b, Khi xỏc định, miờu tả cỏc diễn tố hoặc chu tố của động từ theo mặt nội dung, cần thấy rằng nghĩa đặc trưng cho cỏc diễn tố hoặc chu tố là nghĩa

cỳ phỏp và khỏc về bản chất với nghĩa biểu hiện hay nghĩa sõu Bản chất của nghĩa cỳ phỏp và ranh giới giữa nú với nghĩa biểu hiện hay nghĩa sõu cú thể làm rừ làm rừ qua việc so sỏnh chỳng với nhau

Những nét t-ơng đồng giữa nghĩa cú pháp và nghĩa sâu là:

- Chúng đều có tính khái quát, trừu t-ợng vốn là đặc tính chung của nghĩa

- Khác với nghĩa tự thân (nghĩa vốn có ở từ không phụ thuộc vào mối quan hệ với từ khác trong câu), chúng đều là kiểu nghĩa quan hệ, tức là kiểu nghĩa nảy sinh ở từ khi chúng tham gia vào các mối quan hệ nhất định với các

từ khác trong câu Có lẽ do sự gần gũi giữa nghĩa cú pháp với nghĩa sâu nên

đã nảy sinh ý t-ởng đồng nhất chúng với nhau

Những nét khác nhau giữa nghĩa cú pháp và nghĩa sâu là:

- Về tính chất: Nghĩa cú pháp có tính trừu t-ợng cao hơn nghĩa sâu

Nếu nghĩa sâu, cũng nh- nghĩa từ vựng, có "tính vật thể", tức là gắn với và

phản ánh trực tiếp các sự vật, hiện t-ợng, quan hệ trong thực tế thì nghĩa cú

Trang 38

pháp, cũng nh- nghĩa ngữ pháp nói chung, là "nghĩa siêu vật thể hay phi vật thể", tức là chúng chủ yếu phản ánh mối quan hệ giữa các từ, cụm từ Chẳng hạn, trong cấu trúc tiếng nổ làm (khiến) mọi ng-ời giật mình, có thể xác định mối quan hệ về nghĩa sâu là quan hệ nhân quả giữa tiếng nổ (chỉ nguyên nhân) và mọi ng-ời giật mình (chỉ kết quả) Mối quan hệ sâu này phản ánh

trực tiếp quan hệ nhân quả trong thực tế Bên cạnh mối quan hệ về nghĩa sâu

đó, còn có thể xác định mối quan hệ cú pháp (quan hệ chủ thể - hoạt động) giữa tiếng nổ (chủ ngữ) và làm (vị ngữ) Tuy nhiên, nghĩa cú pháp chủ thểcủa

chủ ngữ và mối quan hệ chủ thể - hoạt động giữa chủ ngữ và vị ngữ ở đây không trực tiếp phản ánh mối quan hệ cụ thể nào giữa sự vật và hoạt động trong thực tế mà chỉ là kết quả của sự khái quát mối quan hệ mang tính chất ngữ pháp thuần tuý giữa các từ Bàn về tính trừu t-ợng, khái quát của nghĩa ngữ pháp nói chung, nghĩa cú pháp nói riêng, V.M Solnsev đã chỉ ra rằng:

"Nghĩa ngữ pháp "chủ thể hành động" không nhất thiết là phải biểu thị ng-ời hành động trong thực tế; cho dù ý t-ởng về chủ thể hành động có cơ sở trên ý t-ởng về ng-ời hành động trong thực tế;" Chính vì nghĩa cú pháp có tính trừu

t-ợng cao nh- vậy nên khi xác định nghĩa cú pháp, nhìn chung, không thể dựa vào mối quan hệ giữa nó với sự vật, hiện t-ợng, quan hệ trong thực tế nh- khi xác định nghĩa từ vựng và nghĩa sâu

- Về chức năng: Nghĩa cú pháp gắn với chức năng hay chức vụ cú pháp

của từ Mỗi kiểu nghĩa cú pháp đặc tr-ng cho một loại, kiểu thành phần câu nhất định Nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu, trái lại, không gắn với chức vụ cú pháp của từ mà gắn với sự miêu tả (phản ánh) trực tiếp các sự vật, hiện t-ợng, quan hệ trong thực tế và đặc tr-ng cho các thành tố nghĩa (các vai nghĩa) trong cấu trúc nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa sâu) của câu

- Về ph-ơng tiện biểu thị: Nghĩa cú pháp, về nguyên tắc, luôn đ-ợc biểu

thị bằng ph-ơng tiện ngữ pháp (ở tiếng Việt, chủ yếu bằng trật tự và h- từ cú pháp) Nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu, ngoài việc có chung ph-ơng tiện biểu

Trang 39

thị với nghĩa cú pháp (khi hai kiểu nghĩa này trùng nhau), còn có thể đ-ợc biểu thị bằng các ph-ơng tiện từ vựng - ngữ pháp; đó là các yếu tố có tính chất bán thực từ ở các mức độ khác nhau mà điển hình là các động từ ngữ pháp (hay động từ quan hệ) Về bản chất, các động từ ngữ pháp vừa có nét giống với thực từ (động từ) vừa có nét giống với h- từ (quan hệ từ) Giống nh- động

từ nói chung, động từ ngữ pháp cũng chỉ hoạt động (hiểu theo nghĩa ngữ pháp), có khả năng kết hợp với các phó từ thời thể và có khả năng làm vị ngữ (làm hạt nhân ngữ pháp của bộ phận vị ngữ) Nét giống nhau giữa động từ ngữ pháp và quan hệ từ là ở chỗ động từ ngữ pháp hầu nh- không có nghĩa từ vựng (không chỉ hoạt động cụ thể) và cũng biểu thị mối quan hệ ngữ nghĩa (nghĩa sâu) giữa các thực từ Với những đặc điểm nêu trên đây, động từ ngữ pháp

th-ờng đ-ợc dùng nh- một "chỉ tố cải biến" Khi tham gia vào "cấu trúc đ-ợc cải biến", chúng chỉ làm thay đổi cấu trúc cú pháp (mối quan hệ cú pháp) mà

không làm thay đổi cơ bản nghĩa biểu hiện (nghĩa sâu) của cấu trúc Chẳng hạn, trong tiếng Việt, mối quan hệ đối thể có thể đ-ợc biểu thị bằng các động

từ ngữ pháp đ-ợc, bị (trong nó bị mẹ mắng, so với mẹ mắng nó); mối quan hệ nhân quả có thể đ-ợc biểu thị bằng các động từ ngữ pháp làm, khiến (trong tiếng nổ khiến mọi ng-ời giật mình, so với mọi ng-ời giật mình vì tiếng nổ); mối quan hệ công cụ có thể đ-ợc biểu thị bằng động từ ngữ pháp dùng

- Về tính chất của mối quan hệ giữa các thành tố mang ý nghĩa: Thành tố

mang ý nghĩa cú pháp, về nguyên tắc, phải nằm trong mối quan hệ cú pháp trực tiếp với từ khác Nói cách khác, nghĩa cú pháp chỉ đ-ợc xác định ở từ trong mối quan hệ với nghĩa ngữ pháp của từ khác có quan hệ cú pháp trực tiếp với nó Nghĩa sâu, trái lại, chỉ đ-ợc xác định trong mối quan hệ giữa các nghĩa từ vựng của từ Vì mối quan hệ về nghĩa sâu th-ờng trực tiếp phản ánh mối quan hệ giữa các sự vật, hiện t-ợng, quan hệ trong thực tế nên thành tố tham gia vào mối quan hệ nghĩa sâu (các thành tố mang nghĩa sâu), về nguyên tắc, phải là thực từ (các đơn vị mang nghĩa từ vựng) Mặt khác, vì mối quan hệ nghĩa sâu

Trang 40

có thể đ-ợc biểu thị bằng các ph-ơng tiện từ vựng - ngữ pháp (các yếu tố có tính chất bán thực từ) vốn có khả năng giữ các chức vụ cú pháp nh- thực từ nên giữa các yếu tố mang nghĩa sâu có thể không có mối quan hệ cú pháp trực tiếp

với nhau Chẳng hạn, trong cấu trúc nó bị mẹ mắng, giữa nó (chủ ngữ) và mắng (thuộc bổ ngữ), có thể xác định mối quan hệ nghĩa sâu trong đó nó có nghĩa sâu

đối thể Tuy nhiên, về cú pháp, nó chỉ có mối quan hệ cú pháp trực tiếp (quan

hệ chủ vị) với bị và nghĩa cú pháp của nó chỉ đ-ợc xác định trong mối quan hệ với từ này (nó chỉ chủ thể cú pháp của hoạt động hiểu theo nghĩa ngữ pháp do

bị biểu thị); còn giữa nó và mắng không có mối quan hệ cú pháp trực tiếp T-ơng tự nh- vậy, trong cấu trúc nó dùng chìa khoá (để) mở cửa, có thể xác

định mối quan hệ về nghĩa sâu giữa mở và chìa khoá (quan hệ hoạt động - công cụ) Tuy nhiên, về cú pháp, giữa chìa khoá (bổ ngữ của từ dùng) và mở (trạng ngữ của dùng) không có mối quan hệ cú pháp trực tiếp

Sự phân tích trên đây đã cho thấy rõ bản chất, cách biểu hiện của nghĩa

cú pháp và ranh giới giữa nó vơí nghĩa sâu

Nghĩa cỳ phỏp và nghĩa sõu dự cú mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng vẫn là hai kiểu nghĩa khỏc nhau sự khỏc nhau ấy thể hiện ở chỗ nghĩa

cỳ phỏp của cỏc kết tố chỉ được xỏc định trong mối quan hệ với nghĩa ngữ phỏp hoạt động của động từ và luụn cú hỡnh thức ngữ phỏp riờng để biểu thị, cũn nghĩa sõu được xỏc định trong mối quan hệ giữa cỏc nghĩa từ vựng của từ

và khụng cú từ ngữ riờng để biểu thị Cú thể chỉ ra sự khỏc nhau giữa nghĩa

cỳ phỏp và nghĩa sõu qua cỏc cấu trỳc sau:

(1) Lỳa vàng em gặt bằng liềm (ca dao)

(2) Con trõu cày chiờm, cỏi liềm bằng lỏ (đồng dao)

Về mặt nghĩa sõu, “liềm” ở cả (1) và (2) đều chỉ cụng cụ Nhưng về về nghĩa cỳ phỏp thỡ “liềm” chỉ cú ý nghĩa cụng cụ ở (1) cũn ở (2) thỡ lại cú ý

nghĩa chủ thể sự khỏc nhau này phự hợp với sự khỏc nhau về hỡnh thức giữa

Ngày đăng: 20/09/2014, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập II, Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1989
2. Diệp Quang Ban (2005) Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
3. Diệp Quang Ban (chủ biên), Hoàng Văn Thung (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban (chủ biên), Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
4. Đỗ Hữu Châu (1986).Các bình diện của từ và từ tiếng Việt. H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1986
5. Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học tập
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007
6. Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Bùi Minh Toán (2006), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 2006
7. Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học. Tập 2. NXB Giáo dục. 2001 8. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2008), Cơ sở ngônngữ học tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học". Tập 2. NXB Giáo dục. 2001 8. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2008), "Cơ sở ngôn "ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học. Tập 2. NXB Giáo dục. 2001 8. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục. 2001 8. Mai Ngọc Chừ
Năm: 2008
9. Gia Thị Đậm (2010), Động từ chủ động trong tiếng Việt - (Luận văn thạc sỹ K16. Đại học sư phạm Thái Nguyên) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động từ chủ động trong tiếng Việt
Tác giả: Gia Thị Đậm
Năm: 2010
10. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1996
11. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học việt ngữ, Nxb Đại học quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia HN
Năm: 2000
12. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên - 1994), Dẫn luận ngôn ngũ học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngũ học
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
13. Cao xuân Hạo (1991), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng. NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao xuân Hạo
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1991
14. Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt - Mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - Mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp, ngữ nghĩa
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
15. Cao Xuân Hạo, Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
16. Nguyễn Văn Lộc - Một số vấn đề ngữ pháp tiếng Việt, Giáo trình cao học dùng cho học viên chuyên ngành ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề ngữ pháp tiếng Việt
17. Nguyễn Văn Lộc (1995), Kết trị của động từ tiếng Việt. Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết trị của động từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Lộc
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1995
18. Nguyễn Văn Lộc (1997) Vận dụng lý thuyết kết trị vào việc phân tích câu tiếng Việt. Đề tài NCKH cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý thuyết kết trị vào việc phân tích câu tiếng Việt
19. Nguyễn Văn Lộc (2000), “Các mô hình kết trị của động từ tiếng Việt”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình kết trị của động từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Lộc
Năm: 2000
20. Nguyễn Văn Lộc (2003), “Thử nêu định nghĩa về chủ ngữ trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ.Số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nêu định nghĩa về chủ ngữ trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Lộc
Năm: 2003
21. Nguyễn Văn Lộc (2004), “Cần chú ý hiện tượng đồng hình trong cú pháp tiếng Việt”, Tạp chí giáo dục. Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần chú ý hiện tượng đồng hình trong cú pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Lộc
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w