Trước những đòi hỏi cấp thiết của việc bảo tồn và gìn giữ tính đa dạng của loài thực vật, đặc biệt là các loài cây thuộc họ Dẻ nghiên cứu về thành phần loài, xác định loài gây hại
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
NGUYỄN ĐÌNH THẮNG
"ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
MỌT NUÔI NẤM (MỌT AMBROSIA) GÂY HẠI CÁC LOÀI CÂY THUỘC HỌ DẺ (FAGACEAE) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
HOÀNG LIÊN - VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI"
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Mã số : 60 62 60
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Phạm Quang Thu
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Lào Cai có diện tích đất tự nhiên 638.389.59 ha trong đó; rừng tự nhiên 323.277.11 ha, rừng trồng 65.586.23 ha, đất chưa có rừng là 94.657.05 ha, đất khác 220.455.43 ha Độ che phủ của rừng tăng tính đến hết năm 2010 là 49,5% Trên địa bàn có hai khu bảo tồn đa dạng sinh học
đó là Vườn Quốc gia Hoàng Liên và Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn là nơi bảo vệ các nguồn gen động, thực vật quý hiếm của nước ta
Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn thuộc dãy Hoàng Liên Sơn Có tổng diện tịch là: 25.669 ha bao gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 21.624 ha, Phân khu phụ hồi sinh thái: 4.040 ha, là nơi phân bố đa dạng thực vật bậc nhất của dãy Hoàng Liên Sơn và là nơi hiển diện nhiều kiểu rừng kín thường xanh nhiệt đới núi thấp và rừng kín thường xanh nhiệt đới núi cao Khu vực Hoàng liên là nơi lưu giữ và cư trú của nhiều loài động thực vật quý hiếm có tầm Quốc gia và Quốc tế như Bách tán Đài loan, Hoàng liên Ô
rô, Dẻ lá rụng, Vượn đen tuyền, Chim trèo cây lưng đen, Cá cóc Tam Đảo, Dơi dơi sọ to, Cu ly nhỏ, các loài này đang có nguy cơ bị đe dọa ở mức cao, cần được ưu tiên bảo tồn trước những tác động bất lợi của rất nhiều nguyên nhân như dân số tăng, tình hình dịch bệnh xâm nhiễm gây hại đến rừng dẫn đến các giá trị bảo tồn sẽ bị mất đi từng ngày
Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn là vùng có phân bố
tự nhiên của nhiều loài họ Dẻ (Fagaceae), trong đó có loài có tên trong sách
đỏ của thế giới như loài Dẻ lá rụng Các loài Sồi, Dẻ này chủ yếu thuộc chi
Castanopsis họ Dẻ (Fagaceae), mọc thành quần thụ, có nơi mọc tập trung
với mật độ cao và trở thành ưu hợp Sồi, Dẻ Tuy nhiên cùng với sự phát triển của loài và tính đa dạng sinh học của nó thì đi theo nó là sự tồn tại và phát triển của rất nhiều các loài sâu bệnh hại nguy hiể m, có nguy cơ tiêu
Trang 3diệt và gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của loài Sồi , Dẻ này, Trong số các loài sâu bệnh hại được ghi nhận gần đây trên các loài Sồi , Dẻ thì bệnh Nấm xanh (Blue – Stain) do một vector truyền bệnh là một loài mọt gỗ thuộc họ mọt gỗ Scoltydae Bệnh này đã bước đầu được ghi nhận tại các tỉnh tập trung nhiều Dẻ là Lâm Đồng , Kon Tum, Gia Lai Như vậy, phạm vi xuất hiện của loài này trong tự nhiên đã được khẳng định , trải rộng trên một vùng rộng của Miền Nam Việt Nam
Các loài mọt nuôi nấm thường gây chết cây do Mọt mang theo các loài nấm để gây cấy trong thân cây chủ để làm thức ăn Các loài nấm được Mọt gây cấy đã phát triển nhanh trên phần gỗ giác, làm biến màu gỗ và gây tắc nghẽn các mạnh dẫn chất dinh dưỡng nuôi cây làm cây bị héo và chết Bệnh có tốc độ lây lan nhanh do Mọt trưởng thành vũ hóa từ những cây bị chết, xâm nhiễm vào cây chủ khác và làm cây chết trong mùa sinh trưởng tiếp theo Khi mật độ quần thể Mọt lớn, sự xâm nhiễn diễn ra với tốc độ nhanh dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học Trước những đòi hỏi cấp thiết của việc bảo tồn và gìn giữ tính đa dạng của loài thực vật, đặc biệt là các loài cây thuộc họ Dẻ nghiên cứu về thành phần loài, xác định loài gây hại chính và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài gây hại chính và đề xuất biện pháp quản lý dịch hại là rất cần thiết, trên cơ sở đótôi mạnh dạn đề xuất đề tài nghiên cứu thuộc chương trình đào tạo Thạc sỹ
của mình là : "Điều tra thành phần loài và đặc điểm sinh học mọt nuôi nấm (Mọt ambrosia) gây hại các loài cây họ Dẻ (Fagaceae) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn bàn, tỉnh Lào Cai".
Trang 4Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1 Nghiên cứu về côn trùng nói chung
Côn trùng học trở thành một ngành Khoa học bắt đầu từ 384-322 trước Công nguyên khi Aristoteles đã mô tả và sắp xếp thế giới động vật thành 02 nhóm: không máu và có máu [3] Sau đó đến năm 23-79 trước Công nguyên Cajus Plinius Secundus công bố các công trình và có sự phỏng đoán về sự hô hấp của côn trùng
Aldrovandi vào thế kỷ XVI bắt đầu dụng thuật ngữ về côn trùng (Insecta) và có một khối lượng lớn về quan sát cách sinh sống, hình dạng của nhóm động vật này Th.Moufer dựa theo bản thảo của Conrad Gesner [4] đã biên soạn thông tin về côn trùng thành một tài liệu và được công bố vào năm 1634 Từ những năm 1628 đến 1723 đã có những công trình nghiên cứu về giải phẫu côn trùng đáng kể nhất là của Marcello Malpighi
và của Antony Leeuwenhoek
Năm 1710, tài liệu “Historia Insectorum” của Ray đã được Hội hoàng gia Anh công bố [9] Ông được coi là nhà côn trùng học đầu tiên về
hệ thông phân loại côn trùng Nhưng cách mô tả và phân loại còn hạn chế, chưa chi tiết và khó hiểu
Carl von Linne tiếp bước Ray xây dựng nền móng cho hệ thống phân loại hiện đại về côn trùng Ông đã phân chia chi tiết côn trùng thành các bộ, giống, loài
Sau thời kỳ của Linne, số lượng các công trình nghiên cứu về côn trùng được phát triển bổ sung hoàn thiện nhưng Côn trùng học vẫn chỉ là một bộ phận của Động vật học chứ chưa trở thành một lĩnh vực riêng
Từ năm 1801 đến 1897 các công trình nghiên cứu về côn trùng trong Lâm nghiệp và Nông nghiệp được xây dựng như của J.T.C Ratzeburg và
Trang 5H.Nordlinge [9] Cũng trong giai đoạn này các công trình nghiên cứu về côn trùng phát triển mạnh mẽ ở các nước phát triển như: Đức, Mỹ, Canada, Pháp sau đó lan rộng sang các nước trên toàn thế giới
Ngày nay công trình nghiên cứu về côn trùng đã có những bước tiến vượt bậc, có trên 135 tạp trí chuyên khảo về côn trùng với các đội ngũ đông đảo các nhà khoa học chuyên sâu [4]
1.1.2 Nghiên cứu về côn trùng cánh cứng và các loài mọt
Bộ cánh cứng (Coleoptera) là một trong những bộ có các loài côn trùng gây hại nguy hiểm cho ngành Nông Lâm nghiệp Các loài gây hại không chỉ cho loài cây lá rộng, là kim mà cả các loại cây công nghiệp Trong số đó Mọt là những loài cánh cứng gây hại nhiều nhất, theo các nhà Khoa học trên thế giới đã xác định rất nhiều loài Mọt hại vỏ cây sống làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây, thậm trí còn làm trên cây và gây ra
thành dịch trong đó có 06 loài chủ yếu như: Ips calligraphus Germar, Ips
grandicollis Eichhoff, Ips avulsus Eichhoff, Dendroctonus frontalis
Zimmerman, Dendroctonus terebrans Olivier và Dendroctonus pondesae
Hopkins (Albert E.M, 2005; Clyde S.G, 1999; Hiratsuka Y và cộng sự, 2004; Jame R.M và cộng sự, 2000; Jeffrey M.E và Albert E.M, 2006; Micheal D.C và Robert C.W, 1983) Từ năm 1973 đến 1979 có 03 loài Mọt
thuộc chi Ips gây hại hơn 3 triệu m3
gỗ Thông ở miền Nam nước Mỹ Sự
gây hại và trở thành dịch của loài Mọt Dendroctonus pondesae Hopkins
cho loài Thông ở Vườn quốc gia Banff thuộc bang Alberta năm 1940-1944
và miền Tây Nam bang Alberta Canada vào năm 1977-1985 Phần lớn các loài Mọt này tấn công chủ yếu vào những cây bị tổn thương cơ giới hoặc
những cây sinh trưởng và phát triển kém Gần đây loài Mọt Tomicus
piniperda đang trở thành mối nguy hiểm cho loài Thông ở các nước Châu
Âu Cho nên các loài Mọt gỗ nói chung ngày càng được quan tâm nghiên cứu bởi những tác hại do chung gây ra cho ngành Lâm nghiệp
Trang 6Loài Mọt chân dài Platypus quercivorus là một loài Mọt điểm hình
thuộc nhóm Mọt không ăn gỗ Con cái của loài Mọt này sau khi vũ hóa từ các loài cây chủ thuộc họ Dẻ đã bị chết, bay đến cây chủ ưa thích thuộc họ
Dẻ (Fagaceae) đào hang thẳng từ vỏ vào phần gỗ giác của thân cây, cuối đường hang con cái đào thêm 1 đến 2 đường nhánh theo đường vòng năm
để đẻ trứng Trong quá trình đào hang, bào tử nấm bám trên cơ thể của Mọt
và ở các lỗ trên tấm ngực trước nảy mầm và xâm nhiễm vào thân cây Mọt
sử dụng sợi nấm này làm thức ăn Gỗ phát triển mạnh trong thân cây ở phần gỗ giác làm gỗ bị biến màu và sợi nấm làm tắc các ống mạch dẫn nước làm cây chủ bị héo và chết Khi cây chết Mọt cái trưởng thành vũ hóa
và xâm nhiễm cây chủ khác Đối với loài Mọt Platypus quercivoru có phổ cây chủ rất rộng, gây hại các loài thuộc họ Dẻ sau: Castanea crenata,
Castanopsis cuspidata, Castanopsis sieboldii, Quercus acuta, Quercus myrsinaefolia, Quercus serrata, Quercus mongolica, Quercus acutissima, Quercus phillyraeoides, Quercus crispuloserrata, Quercus sessilifolia, Quercus salicina, Lithocarpus glaber, Lithocarpus edulis (Erica E et al., 2005)
Platypus quercivorus là loài Mọt gây hại rất nguy hiểm đới với rừng
tự nhiên ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Tại Nhật Bản loài Mọt này
mang loài nấm Raffaelea quercivora đã làm chết 100.000 đến 200.000 cây
dẻ mỗi năm bắt đầu từ năm 1980 Loài cây bị tấn công nhiều nhất là 2 loài
Quercus serrata và Q mongolica var grosseserrata (Ito et al 2003a, Ito et
al 2003b)
Esaki và cộng sự (2005) điều tra lâm phần có các loài dẻ phân bố bị
Mọt Platypus quercivorus gây hại và có nhận định rằng loài Mọt này chỉ
gây hại những cây có đường kính trên 15cm và chỉ gây hại ở độ cao của thân dưới 1,5m Mọt không tấn công những cây có đường kính nhỏ hơn 8cm Khi đẽo vỏ cây ở xung quanh các lỗ Mọt thấy gỗ bị biến màu do sợi nấm Mọt cấy làm thức ăn Một nghiên cứu khác tại Nhật Bản cho thấy các
Trang 7loài dẻ mọc ở rừng lá rộng thường xanh thì ít bị hại hơn so với các loài dẻ mọc ở rừng lá rộng rụng lá
1.1.3 Những nghiên cứu về chất dẫn dụ côn trùng và bẫy côn trùng bằng chất dẫn dụ
Đầu thế kỷ XX, các nhà côn trùng học đã tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu trên một số đối tượng côn trùng nhằm đưa ra cơ sở khoa học để giải thích cho hiện tượng vận động của côn trùng dưới ảnh hưởng của các
yếu tố hoá học Barrows (1907) đã mô tả tập tích của ruồi Dropsophila
melanogaster Mg dưới tác động của chất hấp dẫn [27] Những nghiên cứu
của Kellog (1907) về phản ứng của ngài đực Bombyx mori L đối với mùi
thơm hấp dẫn của con cái [27] Đến năm 1909 Freiling đã tiến hành nghiên
cứu phản ứng trên hai con đực ở hai giống Danais và Euploea
(Lepidoptera) với mùi thơm hấp dẫn từ con cái Một thời gian sau đó việc nghiên cứu này lại bị gián đoạn cho mãi đến năm 1932 khi Bethe tìm hiểu
về đặc tính sinh hoá học của các chất thơm gây ra hiện tượng hấp dẫn và xua đuổi ở một số côn trùng cánh cứng và đã gọi các chất này với tên ektohormon [27], tiếp sau đó là các công trình nghiên cứu của Kaltofen (1951), Hass (1952), Kalmus (1955), Kohler (1955) tiến hành trên ong mật
Apis mellifera và hàng loạt những nghiên cứu của Sengun (1954),
Schwinek (1955), Ander (1959)…về tác động lôi cuốn của con cái đối với
con đực ngài Bombyx mori L Trong số những công trình nghiên cứu phải
kể đến công trình của Kullenberg, năm 1953 ông đã tiến hành các thí nghiệm về tác dụng sinh học của của các chất thơm của con cái đối với con đực của 8 loài của họ Sphecidae; 21 loài của họ Apidae và các họ Chrysididae, Mutillidae, Vespidae và Ichneumonidae mỗi họ nghiên cứu đại diện một loài Ông đã so sánh các chất thơm này với tác dụng kích thích của hormon và nhận thấy giữa chúng có những điểm chung là đều có hoạt tính sinh học cao, đều gây ảnh hưởng đối với các tập tính của con vật và
Trang 8ông đã gọi chất thơm này là parahormon Sau hàng loạt các tên gọi được đưa ra cho loại chất thơm kể trên được đông đảo các nhà khoa học thống nhất gọi một cái tên là pheronmone [27] Pheromone theo định nghĩa của Peter Karlson và Martin Lüscher công bố vào năm 1959 là một chất được tiết ra môi trường bên ngoài từ một cá thể và được nhận biết ở một cá thể thứ hai cùng loài Sau nhiều công trình nghiên cứu các nhà khoa học đã chứng minh rằng pheromone có thể được tiết ra từ các tuyến khác nhau của
cơ thể động vật chứ không phải chỉ được tiết ra ở một tuyến nhất định như trước đây người ta nghĩ vậy Ở một số loài côn trùng, ngoài các pheromone được tiết ra từ các tế bào biểu bì của lớp phôi ngoài còn có các pheromone được tiết ra từ các tế bào tuyến biểu bì ở phần nếp gấp gian đốt cơ thể [27] Theo tính chất tác động, pheromone được chia làm nhiều loại khác nhau
như: pheromone tập hợp (aggregation pheromones) chỉ tạo ra bởi một giới
trong cùng một chủng loài và chúng có tác dụng hấp dẫn đến cả hai giới; pheromone báo động (alarm pheromones) một vài loài khi bị tấn công bởi động vật ăn thịt, một vài loài tiết ra những hợp chất bay hơi để các thành viên khác bay đi (như ở con rệp vừng) hoặc tụ lại (như ở ong) Ngoài ra pheromone cũng tồn tại trong cây cỏ Một số loại cây tỏa ra pheromone khi chúng bị trầy xước khiến những cây khác tăng hàm lượng tannin (có vị đắng) trong cây khiến cho cây trở nên kém ngon miệng đối với động vật ăn
cỏ; pheromone đánh dấu lãnh địa (territorial pheromones), những loại
pheromone này được phóng thích vào trong môi trường để đánh dấu biên giới giữa những vùng lãnh thổ của động vật; pheromone đánh dấu lãnh địa chỉ dùng cho con cái (epideictic pheromones), côn trùng cái dùng những loại pheromone này được nhận dùng để đánh dấu lãnh địa của chúng và nhận biết được bởi những con khác Ông Fabre, nhà côn trùng học người Pháp, trong nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã phát hiện ra những con cái đẻ trứng trên trái cây cùng với những hợp chất huyền bí quanh tổ
Trang 9của chúng để gửi tín hiệu đến những con cái khác cùng loài để chúng khác
phải làm tổ ở nơi nào đó khác; pheromones dẫn dụ (releaser pheromones)
đây là những hợp chất hấp dẫn cực mạnh mà một vài loài dùng để hấp dẫn bạn tình trong khoảng cách hai dặm hoặc xa hơn Loại pheromone này được đáp trả nhanh chóng nhưng rất mau suy giảm Trái lại những pheromone theo mùa (primer pheromone) có tác dụng chậm hơn nhưng lại
lâu hơn rất nhiều; pheromone báo hiệu mùa (primer pheromones) đây là
loại pheromone gây ra sự thay đổi của những giai đoạn phát triển của động
vật; pheromone dẫn đường (trail pheromones) loại này rất phổ biến trong hoạt động xã hội của côn trùng; pheromne sinh dục (sex pheromones) ở
động vật, pheromone sinh dục thể hiện con cái đã đến lúc sẵn sàng cho việc sinh sản Những con đực cũng tiết ra pheromones để truyền tải thông tin về chủng loài và loại gien Nhiều loại côn trùng có thể tiết ra pheromone sinh dục có sức hấp dẫn bạn tình Các loài thuộc bộ Lepidoptera có thể phát hiện
ra con cái ở cách xa đến 10 km Ở loài lưỡng tính, pheromone được dùng
để dẫn dụ con khác giới đến để thụ tinh Các loại pheromone khác chưa được phân loại pheromones một cách chủ quan dựa trên trên ảnh hưởng của chúng đến hành vi của động vật Pheromone có thêm nhiều chức năng phụ như loại pheromone hướng dẫn về tổ ở loài ong, pheromone của ong chúa, pheromone làm cho khuây khỏa Pheromone yếu tố truyền tin bằng hóa học được xem như là dạng cổ sơ nhất trong các nguyên tắc cơ bản của thông tin
và tồn tại đặc biệt phong phú trong lớp côn trùng [27] Người ta đã tìm thấy pheromone ở 350 loài côn trùng thuộc 12 bộ khác nhau (Hinhiclo) và theo phỏng đoán của Hall (1965) trong tương lai người ta có thể tìm thấy tác dụng pheromone ở tất cả các bộ của côn trùng Còn theo Wright (1960) cho biết đã có trên 400 chất có tác dụng hấp dẫn đối với côn trùng tuy nhiên không phải tất cả cá chất đó đều là Pheromone Ngoài ra pheromone còn được tìm thấy ở nhiều loài động vật khác như Giáp xác, Nhện, Cá, Rắn,
Trang 10Sơn Dương, Chuột… Mặc dù động vật có xương sống có sử dụng pheromone để trao đổi tín hiệu nhưng côn trùng mới là kẻ sử dụng pheromone một cách thiện nghệ nhất Như pheromone của bọ Nhật bản và
bọ gypsy có thể dùng để điều khiển nhiều hành vi khác nhau như theo dõi, kiểm soát số lượng qua việc kết đôi và đẻ trứng, tiết ra chất Bombykol để hấp dẫn bạn tình Tốc độ và khối lượng các công trình nghiên cứu về pheromone ở côn trùng cũng như ở các nhóm động vật khác ngày càng được quan tâm nhiều hơn chỉ tính riêng nhóm nghiên cứu của giáo sư Kuwahara ở trường Đại học tổng hợp Kyoto Nhật Bản trong vòng 31 năm (1967-1998) đã có 250 công trình liên quan đến Pheromone được công bố [27] Như vậy có thể nói pheromone đã trở thành chủ đề hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu trên thế giới, nó đã trở thành dòng suy nghĩ mới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Sau những quá trình nghiên cứu về pheromone con người đã tìm ra được bản chất của loại hợp chất này và bắt đầu sản xuất các dạng pheromone nhân tạo khác nhau để ứng dụng vào công tác phòng trừ sâu hại của một số tác giả: Burkholder (1979); Levinson (1979); Hodges (1984) và một tác giả khác Cũng đã có một số phương pháp phòng trừ các loài sâu hại như: sử dụng các loại bẫy đèn, bẫy hố, mồi nhử và cả sử dụng thuốc trừ sâu đã diễn ra khá phổ biến trước đây, tuy nhiên hiệu quả phòng trừ của chúng chưa cao mà còn ảnh hưởng đến các sinh vật khác và môi trường xung quanh Trong những năm gần đây con người đã nghiên cứu chi tiết hơn về pheromone của một số loài sâu hại thì việc phát triển ứng dụng các loại bẫy đơn giản với mồi nhử pheromone nhân tạo để hấp dẫn các loài này
đã giúp chúng ta xây dựng được nhiều loại chất dẫn liệu sinh học quan trọng trong việc phòng trừ có hiệu quả, hạn chế tối thiểu việc sử dụng thuốc trừ sâu, ngăn ngừa kịp thời sự xâm nhiễm và nguy cơ gây hại của các loài
Trang 11sâu hại Burkholder (1974) đã rất lạc quan phát biểu rằng pheromon là một phương tiện đầy quyền lực góp phần rất hiệu quả trong việc chế ngự côn trùng gây hại đồng thời cũng dự báo là pheromon sẽ sớm được áp dụng rộng rãi ở các nước nghèo với giá thành hạ và sẽ mở ra một tương lai sáng lạn cho việc phát hiện và giám sát những loài côn trùng gây hại quan trọng [14] Đến năm 1984 thì Hodges đã đưa ra quan điểm cần sử dụng pheromone và các chất hấp dẫn để tập trung khi xử lý phương pháp gây bệnh hoặc xử lý thuốc trừ sâu Điều này đã được chứng minh tính hiệu quả trong việc sử dụng bẫy pheromone gồm cả mồi pheromone với diclofos trong kho bột mì ở Châu Âu Trên thế giới nhiều nước đã sử dụng bẫy pheromone trong việc giám sát quần thể sâu hại, các pheromone nhân tạo
đã được sản xuất ở nhiều nước như Rumani, Bulgarie, Đức, Mĩ….[27] Tại một số nước công nghiệp phát triển người ta đã xem các loại bẫy pheromone côn trùng như một loại hàng hóa bình thường khác Trong gần
50 năm trở lại đây với tốc độ phát triển nhanh chóng của các ngành khoa học kỹ thuật người ta đã thấy được những ảnh hưởng to lớn của lớp côn trùng đối với cuộc sống và nhận thấy sự phong phú đa dạng trong đời sống của chúng vì vậy côn trùng học đã trở thành một ngành khoa hoc chính xác thu hút sự quan tâm, đam mê của nhiều người Đặc biệt lĩnh vực nghiên cứu pheromone côn trùng là một trong những vấn đề mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc Các kết quả nghiên cứu về pheromone đã mở ra triển vọng mới cho công tác phòng trừ sâu hại góp phần làm phong phú thêm biện pháp kỹ thuật sinh học phòng trừ sâu hại Hơn nữa những nghiên cứu về tác dụng của pheromone cũng làm phong phú nội dung và những hiểu biết của ngành nghiên cứu sinh học
Trang 121.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.2.1.Về côn trùng nói chung
Nghiên cứu về côn trùng đầu tiên ở Việt Nam được biết đến là công trình của đoàn nghiên cứu tổng hợp của Pháp mang tên Mission Pavie, đoàn đã tiến hành khảo sát ở cả khu vực Đông Dương từ năm 1879 đến
1895 đã xác định được 08 bộ, 85 họ và 1040 loài côn trùng Nhưng phần lớn mẫu lại được thu thập ở Lào, Campuchia Các mẫu côn trùng thu được đều lưu trữ ở các Viện bảo tàng ở Paris, London, Geneve và Stockholm Đến những năm đầu của thế kỷ XX có công trình nghiên cứu về Bộ cánh vẩy (Lepidoptera) của J.de Joannis mang tên “Lepidopteres du Tonkin” và được xuất bản ở Paris năm 1930 Tác giả đã thống kê được ở Việt Nam có
1798 loài thuộc 746 giống và 45 họ Điều tra trên các loài cây Lâm nghiệp
có các công trình nghiên cứu của Bourret (1902); Vieil (1912) và Phạm Tự Thiện (1922) nhưng chủ yếu là trên cây Bồ đề và Sồi Bùi Công Hiển (1995) cũng đề cập được đến một số loài Mọt hại kho [2] Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã (1997) đã mô tả đặc điểm hình thái và sinh học của một số bộ phổ biến ở Việt Nam [4]; Phạm Quang Thu và cộng sự (2006) đã xác định được nguyên nhân cây Đước chết là do sâu đục thân thuộc họ Cossidae bộ cánh vẩy Lepidoptera gây ra; Lê Văn Bình, Đặng Thanh Tân và Phạm Quang Thu (2006) đã xác định được 02 hai bọ xít là
Bọ xít đùi gai to (Notobitus meleagris) và Bọ xít đùi gai nhỏ (Notobitus sp.)
hại măng Luồng ở Thanh Hoá Và còn rất nhiều các công trình khác đã được công bố trên tạp trí trong lĩnh vực nghiên cứu Lâm nghiệp và của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông
Gần đây, Nguyễn Thế Nhã - Trần Công Loanh - Trần Văn Mão (2001)
[6] đã xuất bản giáo trình “Điều tra dự tính, dự báo sâu bệnh trong lâm
nghiệp” Các tác giả nhấn mạnh điều tra và dự tính, dự báo sâu bệnh hại
rừng là công việc có liên quan chặt chẽ với nhau Điều tra là cơ sở của dự
Trang 13tính, dự báo, điều tra sâu bệnh hại tiến hành càng kịp thời, chính xác thì kết quả dự báo càng đảm bảo độ tin cậy Dự tính, dự báo là cơ sở của việc phòng trừ sâu bệnh hại và quản lý hữu hiệu nguồn tài nguyên côn trùng và
vi sinh vật có ích
Năm 2002, Nguyễn Thế Nhã - Trần Công Loanh đã xuất bản cuốn “Sử
dụng côn trùng và vi sinh vật có ích - tập I” [8] Đây là tài liệu được nghiên
cứu và biên soạn công phu giúp cho những người làm công tác quản lý tài nguyên rừng có cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp thích hợp trong việc phòng trừ sâu bệnh hại rừng theo nguyên lý của quản lý sâu bệnh hại tổng hợp IPM, lợi dụng được sự khống chế tự nhiên của các loài côn trùng là thiên địch của sâu hại rừng, giữ gìn sự cân bằng sinh thái tự nhiên và an toàn cho môi trường
1.2.2 Nghiên cứu về côn trùng Bộ cánh cứng và các loài Mọt
Ở Việt Nam đã được nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19 cho đến trước năm 1945 Lesne phát hiện nhiều loài trong họ mọt có ở Việt Nam Trong thời gi an 1985 – 1938 tác giả đã ghi nhận ở Việt Nam có 15 giống và 34 loài trong tổng số 600 loài được phát hiện trên toàn thế giới Schedl năm
1962 đã ghi nhận có 11 loài thuộc họ Bostrychidae phân bố ở Việt Nam :
Heterobostrychus pileatus Lesne, Schistoceros caenophradoides Lesne, Sinoxylon anale Lesne, Sinoxylon crassum Lesne, Xylodectes venustus
Lesne, Xylopsocus radula Lesne, Xylopsocus capucinus F, Xylothrips
flavipes và Rhizopertha dominica F Những năm sau đó khi nghiên cứu về
côn trùng hại gỗ , Lê Văn Nông đã ghi nhận ở Bắc Việt Nam có 9 giống gồm 21 loài thuộc họ mọt dài Bostrychidae [9]
Tại Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về sâu bệnh hại về cây lâm nghiệp , trong đó có cây Sồi , Dẻ thuộc họ Dẻ Các nghiên
Trang 14cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu thành phần , mức độ hại và các biện pháp dự tính, dự báo và các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại
Có các công trình nghiên cứu về thành phần các loài côn trùng ở Việt Nam của các tác giả người nước ngoài: L.Fairmaire (1893); Boucoment và
I Giller (1921); Boucoment (1923-1924); S.H Chen (1934); M.F Paulian (1931-1934 và 1945) Còn ở trong nước phải nói đến một số tác giả như:
Lê Văn Nông (1985) đã đưa ra một sô loài côn trùng chính hại tre gỗ ở miền Bắc Việt Nam [6]; Lê Văn Nông (1991) đã mô tả và đề cập đến một
số loài Mọt hại gỗ và vỏ gỗ ở Việt Nam [7]; Lê Văn Lâm (1994) đã mô tả, xác định được sự phân bố và đưa ra biện pháp phòng trừ một số loài xén tóc nguy hại ở 44 loài gỗ khô khác nhau; Lê Văn Nông (1999) cũng đã mô
tả được đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học của 58 giống thuộc 8 họ
và phân họ Mọt và Xén tóc [9]; Nguyễn Thuý Nga và Phạm Quang Thu
(2007), đã xác định được các loài Mọt Ips calligraphus Germar, giống Ips
và Dendroctonus chính là véc tơ gây truyền bệnh nấm xanh Ophiostoma
gây bệnh làm chết Thông mã vĩ [5]; Phạm Quang Thu và Ngô Văn Cầm (2008) cũng đã mô tả được hình thái loài Xén tóc đục thân Bạch đàn ở Gia Lai; Phạm Quang Thu và cộng sự (2010), đã mô tả đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học tập tính của loài Xén tóc Trirachys bilobulartus và cách nhận biết cây Đước bị loài này gây hại; Phạm Quang Thu và Lê Văn Bình (2010), đã mô tả được đặc điểm của Xén tóc đen vân ánh bạc đục thân
Xoan ta (Melia azedazach) là loài (Aeolesthes holosericea) thuộc giống
Aeolesthes; Phạm Quang Thu và cộng sự (2010), bằng việc sử dụng
phương pháp bẫy pheromone thu được và mô tả 12 loài côn trùng thuộc 7
họ khác nhau trong bộ cánh cứng ở khu vực Đại Lải –Vĩnh Phúc [13]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về côn trùng nói chung và côn trùng thuộc Bộ cánh cứng nói riêng cho đến nay còn ít chỉ mang tính
Trang 15chất điều tra cơ bản, nhỏ lẻ, tập trung nhiều về cây nông nghiệp, cây công nghiệp, còn nghiên cứu côn trùng trên công Lâm nghiệp vẫn chưa được quan tâm nhiều và các nhà nghiên cứu của Việt Nam về lĩnh vực còn hạn chế
Riêng đối với các nghiên cứu về loài mọt Ambrosia rất hạn chế Năm
1993 Lê Văn Nông đã ti ến hành nghiên cứu thành phần và các loại mọt gỗ chân dài Platypocidae ở miền Bắc Việt Nam [8] Các kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần mọt gỗ chân dài ở miền Bắc Việt Nam gồm có 5 giống, 25 loài, trong đó tìm ra được 13 loài mới cho Bắc Việt Nam và 4 loài mới cho thế giới Đặc biệt là đã phát hiện ra hiện tượng sâu non của mọt không trực tiếp tiêu hóa gỗ mà sử dụng thức ăn là nấm ambrosia do mọt trưởng thành cấy vào hang mới khi xâm nhập cây mới, vì thế còn được gọi là Mọt Ambrosia
Trong công trình nghiên cứu về Côn trùng hại gỗ và biện pháp phòng trừ năm 1999 [9], Lê Văn Nông đã có nghiên cứu sâu hơn về các họ mọt gỗ khác Ông khẳng định họ Platypoci dae và họ Scolytidae được xếp vào nhóm côn trùng Xylo - mycetophage (nhóm côn trùng ăn gỗ và nấm hay mọt hại gỗ gián tiếp ) Vì trong quá trình phát triển của mình , từ sâu non cho đến mọt trưởng thành , chỉ có mọt bố mẹ tham gia đào hang và c ấy bào tử
để sau này bảo tử nở thành các sợi nấm là nguồn của thức ăn sau này Các sợi nấm này rất giàu Protein nên mọt non sinh trưởng rất nhanh Khác hẳn
với các họ mọt Bostrchidae, Cerambycidae, Lyctindae, Anoboiidae ăn gỗ
trực tiếp, chúng ăn các các sợi nấm mọc ra từ gỗ trong hang chúng đào nên gọi là mọt ăn gỗ gián tiếp Đường hang mọt này rỗng , không có mùn cưa
và màu đen
Trang 16Đối với giống Xyleborus và các giống khác tr ong tộc Xyleborini thì tất
cả việc đào hang và làm sạch hang mọt cũng như việc ấp (chăm sóc ) sâu
non đều do một mình mọt cái đảm nhiệm , mọt đực thì không rời ngôi nhà
của mình nơi nó sinh ra và lớn lên Mọt đực và mọt cái đã trưởng thành tiến
hành giao phối ngay trong hang cũ mà chúng sinh ra và lớn lên , rồi mọt đực
chết ở đó, sau đó chỉ có mọt cái bay ra (vũ hóa) ngoài để xâm nhập vào cây
gỗ khác Một số giống khác như Trypodendron và S colytoplatypus thì mọt
đực ngoài việc giao phối nó còn giúp đỡ con cái trong việc ấp trứng Tuy
nhiên các nghiên cứu này vẫn để ngỏ những nội dung cần nghiên cứu thêm
Thành phần loài , đặc điểm sinh học , sinh thái học của c ác loài mọt
ambrosia, đặc điểm sinh học , sinh thái học , chu trình xâm nhiễm của nấm
ambrosia, mối quan hệ cộng sinh giữa nấm ambrosia và các loài mọt khác
nhau và khả năng phòng trừ loại bệnh
Các nghiên cứu trên là các đó ng góp quan trọng trong công tác bảo vệ
rừng tại Việt Nam Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có
nguyên nhân nhập nội các loài cây , nhiều loại sâu bệnh mới tiếp tục xuất
hiện, đòi hỏi phải có các nghiên cứu kị p thời và đầy đủ để góp phần quản lý
tốt sâu bệnh hại, hạn chế tác hại của sâu bệnh hại
1.2.3 Nghiên cứu về chất dẫn dụ và bẫy côn trùng bằng chất dẫn dụ
Ở nước ta việc nghiên cứu pheromone bắt đầu từ những năm đầu
thập niên 70 của thế kỷ trước trên đối tượng là Mọt (Trogoderma
granarium Everts) và bọ cánh cứng (Blaps mucronata Latr) [1] Cũng trong
khoảng thời gian này cũng có một số cán bộ của viện Hóa công nghiệp đã
nghiên cứu thử nghiệm chất Methyleugenol làm chất hấp dẫn Ruồi hại cam
(Dacus dosalis) tuy nhiên chất này không phải là một Pheromone Nước ta
Trang 17có rất ít công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, kết quả nghiên cứu của một
số tác giả mới chỉ dừng lại ở việc chứng minh sự tồn tại và sự tác động của pheromone trong đời sống động vật chứ chưa có nhiều nghiên cứu về mặt
lý luận khoa học và thực tiễn Từ năm 1980 trở lại đây việc nghiên cứu pheromone ở nước ta có nhiều chuyển biến hơn, cũng có một phần nhỏ nói
về pheromone côn trùng Với điều kiện Khoa học kỹ thuật hiện nay của nước ta thì việc nghiên cứu đầy đủ quy luật tác động cũng như vai trò của pheromone đối với đời sống động vật nói chung, trong đời sống côn trùng không còn là vấn đề quá khó khăn nữa nên chúng ta có thể tin trong tương lai không xa những nghiên cứu về pheromone của các nhà khoa học nước
ta sẽ mang lai nhiều thành công mở ra nhiều triển vọng mới cho ngành côn trùng học ứng dụng
Từ những năm 1980 trở lại đây Cục Bảo vệ Thực vật và Viện Bảo vệ Thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tiến hành sử dụng một số loại bẫy chất pheromone nhập khẩu từ nước ngoài đối với côn trùng gây hại ngoài đồng ruộng và trong kho Có khoảng hơn 20 loại bẫy chất pheromone được nước ta nhập khẩu về phòng trừ côn trùng gây hại trong kho Như các loại thương phẩm: TDA; HAD; Stegobinon; Truncall 1; Truncall 2;…[3].Từ năm 2001 đến nay Viện Bảo Vệ Thực Vật đang hợp tác với các chuyên gia Trung Quốc nghiên cứu áp dụng pheromone vào phòng trừ côn trùng gây hại ngoài đồng ruộng Đến năm 2009 GS.TS Nguyễn Công Hào, viện Công nghệ hóa học TP.HCM vừa chế tạo thành công một sản phẩm bẫy côn trùng bằng mồi nhử pheromone, với khả năng diệt côn trùng cao bằng 90% so với mẫu tương tự ngoại nhập mà giá thành chỉ bằng 1/3 [27] Ngoài ra bẫy pheromone có tính chuyên biệt với từng đối tượng cụ thể nên khi sử dụng không có ảnh hưởng đến các loài khác và nếu
Trang 18dư thừa cũng không gây ảnh hưởng gì đến sinh vật khác và môi trường Riêng đối với côn trùng ngoài khả năng sử dụng pheromone làm tăng sản lượng côn trùng có lợi thì chủ yếu hiện nay người ta tập trung sử dụng chúng như một giải pháp mới để phòng trừ sâu hại Việc sử dụng pheromone đã được chứng minh là không gây độc với người, vật nuôi cây trồng nên nhiều tác giả đã gọi chúng là thế hệ thứ ba của thuốc hóa học phòng trừ sâu hại Trong các biện pháp sinh học những biện pháp đang được quan tâm áp dụng và phát triển hiện nay có sử dụng đến phương pháp bẫy pheromone Như vậy với việc chế tạo thành công bẫy pheromone có tính năng cao, giá thành hạ đã mở ra hướng mới cho công tác phòng trừ côn trùng gây hại ở nước ta Việc thay thế các loại thuốc bảo
vệ thực vật bằng các loại bẫy pheromone có thể thực hiện được trong một tương lai không xa
Trang 19Chương 2
MỤC TIÊU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU- NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xác định được thành phần loài , đặc điểm hình thái và một số đặc điểm sinh học , sinh thái học của các loài Mọt hại các loài cây thuộc họ Dẻ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn bàn - Lào Cai
- Đề xuất được giải pháp tổng hợp quản lý dịch hại có hiệu quả và góp phần đảm bảo phát triển bền vững rừng tự nhiên Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn bàn - Lào Cai
2.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài Mọt Ambrosia (Platypus quercivorius Murayama) mang nấm xanh (Blue stain) gây hại các loài cây thuộc họ Dẻ (Fagaceae)
Đề xuất một số giải pháp tổng hợp quản lý dịch hại có hiệu quả và góp phầ n đảm bảo phát triển bền vững rừng tự nhiên khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu t hành phần loài Mọt (Platypus quercivorius Murayama)
mang nấm xanh (Blue stain) gây hại các loài cây thuộc họ Dẻ tại Khu bảo tồn Hoàng Liên - Văn Bàn
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và đặc điểm gây hại của loài
Mọt Platypus quercivoriusMurayama
Trang 20*/ Địa điểm nghiên cứu
Các hoạt động nghiên cứu được tiến hành ở một số khu vực trong và ngoài khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn bàn - Lào Cai
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra thành phần loài Mọt gây hại trên các loài cây họ Dẻ tại Khu
bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn
- Phương pháp nghiên cứu xác định thành phần loài và đặc điểm nhận
biết của các loài Mọt thu được trên các loài cây họ Dẻ bị gây hại
- Nghiên cứu một số điểm sinh học và đặc điểm gây hại của loài Mọt
(Platypus quercivorius Murayama) thu được trên các loài cây họ Dẻ bị gây hại
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý Mọt (Platypus quercivorius
Murayama)mangnấm xanh hại các loài cây thuộc họ Dẻ (Fagaceae)
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần loài Mọt gây hại trên các loài cây họ Dẻ tại khu vực nghiên cứu
2.4.1.1 Mô tả quá trình điều tra loài cây bị gây hại
* Điều tra theo ô tiêu chuẩn
Điều tra theo OTC là phương pháp tiến hành lập 36 ô tiêu chuẩn diện tích của mỗi OTC 500m2 tại các điểm đã được lựa chọn trước Các OTC tiêu chuẩn được bố trí tại cả 3 khu vực khác nhau (chân – sườn – đỉnh) Trong đó chú ý đến chỉ tiêu như loài cây, tình hình sinh trưởng , sâu bệnh hại (mức độ và tỷ lệ hại ) Trên các OTC sẽ tiến hành bằng cách quan sát lá, hoa, quả hay chất gỗ, mùi gỗ để từ đó xác định tên loài cây , lựa chọn ra các cây thuộc loài cây họ Dẻ để tiến hành điều tra đánh giá tình hình bị hại trên các loài cây đó (Hình 2.1)
Trang 21Hình 2.1: Cách xác định tên các loài cây họ Dẻ
Kết quả điều tra được tổng hợp từ 36 OTC, tại khu vực 4 xã Liêm Phú, Nậm Xây, Nậm Xé và xã vùng đệm Minh Lương của khu Bảo tồn Thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, điều tra được 729 cây thuộc họ Dẻ , qua đặc điểm hình thái cách nhận biết đã xác định được 32 loài cây họ Dẻ , xây dựng thành danh m ục các loài cây chủ bị gây hại được thể hiện ở bảng 2.1
Trang 22Bảng 2.1: Danh mục các loài cây nghiên cƣ́u
TT Loài cây gây hại Tên khoa học Ghi
chú
1 Sồi lá mác Lithocarpus balansae (Drake) A Camus
2 Dẻ gai Ấn độ Castanopsis indica (Roxb.) A DC
3 Dẻ gai đỏ Castanopsis hystrix
4 Dẻ bốp Castanopsis cerebrina Barnett
5 Dẻ rừng L silvicolarum Chun
6 Dẻ lá rụng Fagus longipetiolata Seem
7 Cà ổi gai ngắn Castanopsis echinocarpa A DC
8 Dẻ hoàng Castanopsis fissoides Chun et Hoang
9 Cà ổi đỏ Castanopsis hystrix DC
10 Sồi đấu to Lithocarpus aff grandicupulus Hsu P X
11 Sồi bán cầu Lithocarpus hemisphaericus (Drake)
12 Dẻ trắng Lithocarpus pachicarpus Camus
13 Dẻ cau Quercus acutissima Carruth
14 Sồi lông bạc Quercus aff blakei Skan
15 Dẻ đấu kín Quercus sp nov
16 Sồi quả dẹt Quercus helferiana A DC
17 Dẻ sờn thô C pachyrrachis Hickel et A Camus
18 Dẻ fan-si-pan C phansipanensis A Camus
19 Dẻ bắc C tonkinensis Hickel et A
20 Sồi đỏ L cornea (Lour.) Rehder
21 Dẻ trắng, dẻ đá Lithocarpus dealbatus (Hook.f Thoms)
22 Dẻ lò, dẻ cau L fennestrata (Roxb.) Rehder
23 Sồi đầu cứng L fenetii (Hickel et A Camus) Ho
24 Dẻ đá L fordiana (Hemsl.) Chun
25 Sồi tày L harlandii
26 Dẻ cọng dài L longipetiolata (Hickel et A Camus) A
27 Dẻ xanh, sồi lông L pseudosundaicus (Hickel et A Camus)
28 Dẻ cụt L truncata Hickel et A Camus
29 Sồi vòng Quercus annulata Wall
30 Sồi lá tre Q bambusifolia Hance
31 Sồi xanh trắng Q glauca Thunb
32 Sồi răng nhọn Q oxyodon Miq
Trang 23Chỉ số bệnh: được tính cho các loài cây được nghiên cứu Việc xác
định chỉ số bệnh hại được thực hiện theo phương pháp của Nguyễn Hoàng Nghĩa và Ken Old, 1997 Chỉ số bệnh được tính riêng bệnh hại thân cành
Để đánh giá tình hình bị hại tiến hành phân cấp bị hại cho toàn bộ loài cây họ Dẻ có trong ô tiêu chuẩn (tùy theo mật độ của rừng, số cây trong ô tiêu chuẩn xác định được khoảng 15-30 cây) Cấp bị hại được phân thành 5 cấp từ 0 đến 4 với tiêu chí từng cấp như sau:
Bảng 2.2: Kết quả điều tra mức độ bị hại ở các loài cây trên các OTC
Trang 242.4.1.2 Mô tả quá trình điều tra thành phần loài mọt
Sau khi điều tra và xác định được thành phần loài cây bị gây hại, trước khi tiến hành thu mẫu ta cần phải chuẩn bị một số dụng cụ và trang thiết bị sau:
(1) Máy cưa săng, cưa tay
Hình 2.2: Các cây bị xâm hại trong khu vực điều tra
Trang 25Các cây được điều tra phát hiện dấu hiệu bị xâm hại do Mọt gây nên
sẽ được chọn lựa, cắt hạ xuống đánh số thứ tự, địa điểm, ngày, tháng tiến hành cắt hạ, rồi được mang về tiến hành điều tra thành phần loài đang xâm hại trong đó (Hình 2.3)
Hình 2.3: Cắt hạ các cây bị xâm hại để nghiên cứu
Sau khi mẫu được thu về , chúng ta tiến hành cắt ngắn các khúc gỗ bị sâm hại thành từng đoạn từ 05 – 15cm tùy theo sự sâm hại suất hiện trên các khúc gỗ để thuận tiện cho việc thu mẫ u, gỗ được cắt ngắn sẽ được đánh
số thứ tự theo loài cây thu được (Hình 2.4)
Trang 26Hình 2.4: Một số thao thác cắt ngắn và đánh số các mẫu gỗ bị sâm hại
Sau khi các mẫu được c ắt ngắn chúng ta tiến hàn d ùng các dụng cụ chuyên dụng, chẻ nhỏ lần theo đường hang Mọt bắt các loài mọt đang sinh sống và gây hại trong các mẫu gỗ, các mẫu gỗ có dấu hiệu của nấm xanh của mỗi loài tìm thấy sẽ được đánh số, bảo quản theo đúng quy trình và ghi
chép tỉ mỉ, tránh tình trạng nhầm lẫn giữa các mẫu (Hình 2.5)
Hình 2.5: Một số thao thác thu th ập thành phần loài Mọt sâm hại
Trang 27Mẫu thu được đem về phòng nghiên cứu bảo vệ thực rừng Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (Đông Ngạc – Từ Liêm – Hà Nội) để bảo quản mẫu vật (trứng, sâu non , nhộng và sâu trưởng thành ) được tuân theo phương pháp bảo quản đối với côn trùng bộ cánh cứng Để phòng chống mốc cho Mọt trưởng thành chúng tôi sử dụng Pentachlorophenolatnatri hòa tan trong cồn hoặc Formalin rồi nhúng hoặc chấm lê n Mọt trưởng thành , đem sấy khô ở nhiệt độ thấp từ 50 – 600
Pentachlorophenolatnatri hòa tan trong cồn hoặc Formalin rồi nhúng hoặc chấm lên mọt trưởng thành , đem sấy khô ở nhiệt độ thấp từ 50 – 600
C Phương pháp làm tiêu bản hiển vi : Đặt mọt trưởng thành trong các ống nghiệm có đựng cát ẩ m khoảng 20 – 30 giờ để các khớp nối mềm ra và tách các bộ phận côn trùng không bị gãy , làm tiêu bản hiển vi theo phương pháp của Dieke (1947), Jagulaev (1965) ; Hoàng Đức Nhuận (1982) ; Lê Văn Nông (1993)
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và đặc điểm
gây hại của loài Mọt (Platypus quercivorius Murayama) thu được trên
các loài cây họ Dẻ bị gây hại
* Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài Mọt
(Platypus quercivoriusMurayama)
Trang 28Sau khi thu thậ p từ các địa điểm điều tra về, ngay lập tức sẽ tiến hành cắt các mẫu gỗ thành các khúc có chiều dài khoảng 10cm, sau đó tiến hành chẻ nhỏ để quan sát đặc điểm triệu chứng bệnh , đặc điểm các hang mọt Ambrosia và đặc điểm xâm nhiễm phát triển của các sợi nấm trong các mô gỗ
Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của mọt Platypus quercivorius Murayama và cách lây truyền nấm xanh : Do mọt Platypus
quercivorius Murayama có thể tấn công cả cây sống và cây chết nên phải tiến hành điều tra trên cả cây sống và các khúc gỗ đã chặt hạ Việc quan sát
các đặc điểm sinh học của mọt gỗ Platypus quercivorius Murayama được tiến hành trên thực địa bằng quan sát bằng mắt thư ờng các dấu hiệu khi cây
bị xâm nhiễm , đặc điểm hình thái của cây bị bệnh Để biết thời gian vòng đời của mọt hay nhiều thế hệ , chúng tôi thực hiện thường xuyên tiến hành điều tra bằng cách cắt và chẻ các mẫu gỗ để qu an sát các giai đoạn phát triển của mọt , đường hướng , cách đào hang , cấy nấm , thời gian đẻ trứng , sâu non, nhộng và sâu trưởng thành Các mẫu vật mọt sẽ được giải phẫu chi tiết để tìm hiểu xem mọt mang bào tử nấm ở đâu và số lượng bào tử trên một cá thể là bao nhiêu Đồng thời tìm hiểu thêm xem hình thức cấy nấm trên các đường hang mà các cá thể mọt đã đào
* Phương pháp xác định đặc điểm gây hại của loài Mọt (Platypus
Trong đó: n: là số cây bị sâu, bệnh
N: là tổng số cây điều t ra
Mức độ hại R% được tính theo công thức :
100 NV
v n
% R
4 0 i i i
Trang 29Trong đó:
R% : chỉ số bị sâu hại trung bình ni: là số cây bị hại với chỉ số bị sâu hại i
vi: là trị số của cấp bị sâu hại thứ i
N: là tổng số cây điều tra V: là trị số của cấp sâu hại cao nhất, trong trường hợp này V=4
Mức độ bị hại dựa trên chỉ số % trung bình sâu hại
10%<R≤15% Cây bị hại nhẹ
15%<R≤25% Cây bị hại trung bình
đề xuất cũng được thông qua các tài liệu tham khảo được thực hiện ở các nước trên thế giới
Trang 31- Phía Bắc giáp xã Bản Hồ, xã Nậm Cang huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai Khu vực nghiên cứu nằm trong địa phận hai xã Nậm Xé, Nậm Xây và một phần nhỏ của xã Liêm Phú Huyện Văn Bàn
2.1.2 Địa hình
Toàn bộ khu điều tra tài nguyên thực vật có địa hình núi cao, đại bộ phận cao trên 700m so với mặt biển Đỉnh Lang Cung (2913m) là đỉnh núi cao nhất của khu vực nằm trên ranh giới xã Nậm Xây của huyện Văn Bàn với xã Nậm Có của Huyện Mù Cang Chải Độ cao thấp hơn
700 m của khu nghiên cứu có diện tích nhỏ nằm phía Đông khu nghiên cứu thuộc xã Nậm Xây
Khu nghiên cứu là sườn Đông của dãy núi Hoàng Liên kéo dài , bắt đầu từ đỉnh Nam Kang Ho Tao ở phía Bắc, chạy theo hướng Nam đến đỉnh Phu Mang Pang rồi ngoặt về hướng Đông qua đỉnh đỉnh Lang Cung Trong khu nghiên cứu có 6 đỉnh núi cao trên 2000m nhưng đều nằm trên ranh giới khu nghiên cứu Địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dông núi phụ với các khe suối dốc, chạy từ trên các đỉnh dông cao phía Tây xuống Trong khu nghiên cứu có xen kẽ một số đỉnh núi cao đơn lẻ, khá hiểm trở có độ cao d-ưới 2000m Do độ chênh cao lớn nên khu nghiên cứu có độ dốc trung bình 30-350, nhiều nơi có độ đốc lớn hơn 350
rất khó đi lại Nhìn chung địa hình khu nghiên cứu thuộc loại trung và đại địa hình vùng núi cao, có độ chênh cao trên 1000m Độ cao, địa hình phức tạp và bị chia cắt là yếu tố quan trọng tạo nên sự đa dạng về thực vật và hoàn cảnh cho thực vật còn tồn tại đến ngày nay mà không bị người dân phá hết
2.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng
Nền địa chất khu nghiên cứu có lịch sử nguồn gốc kiến tạo cuối kỷ Palacosoic, đầu kỷ Mesozoic và chịu ảnh hưởng nhiều của hoạt động tạo sơn Indexin ở kỷ thứ ba, có tuổi địa chất nhỏ nên dãy núi Hoàng Liên được
Trang 32xem là dãy núi trẻ, đỉnh núi nhọn nhiều khe rãnh sâu vì quá trình bào mòn địa chất tự nhiên còn chưa lâu
Đá mẹ: Trong khu nghiên cứu đá mẹ thuộc 2 nhóm chính: Đá macma axit (Macm silic và đá biến chất với các loại chính như: Granit, Gnai, Amphibolit, Filit, Đá vôi, đôi chỗ còn lẫn phiến thạch sét, Sa thạch,
Đá Diệp Thạch Sự đa dạng về đá mẹ đã tao ra nhiều loại đất với nhiều chủng loại khác nhau
Các loại đất chính trong khu vực có chung các loại đất thuộc dãy Hoàng Liên của Sa Pa như:
Đất mùn thô màu xám trên núi cao, thành phần cơ giới nhẹ phân bố thường ở độ cao trên 2500m
Đất mùn Alit màu vàng nhạt, màu xám vàng trên núi cao, thành phần
cơ giới nhẹ thường có ở độ cao 1700-2800m
Đất Feralit mùn vàng đỏ núi cao phát triển trên đá A xít, đá Biến chất,
đá Diệp Thạch, Đá phiến lẫn Sa thạch, thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình thờng phân bố ở độ cao 700- 1700m
Đất Feralit màu vàng đỏ phát triển trên đá Axit hoặc đá biến chất, thành phần cơ giới trung bình ở độ cao 600-700m
Đất Feralit màu vàng đỏ phát triển trên đá phiến - Sa thạch, thành phần cơ giới trung bình thường ở độ cao 600-700m
Đất Feralit màu xám biến đổi do trồng lúa, có thành phần cơ giới trung bình, phân bố quanh làng bản và trên các sườn núi có nguồn nước Đất dốc tụ chân núi, thành phần cơ giới trung bình
Nhìn chung đất trong khu vực là cát pha tới sét nhẹ, có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, kết cấu viên nhỏ và có độ mùn từ trung bình đến khá, tơi, xốp, có độ ẩm cao còn tính chất đất rừng, rất thuận lợi cho quá trình phát triển và phục hồi rừng nếu ngăn chăn được nạn lửa rừng Nơi còn rừng có nhiều cây lớn, có tầng mùn bán phân giải dày tới 50-60cm,
Trang 33mùa khô hanh kéo dài tầng này dễ bắt lửa; Khi cháy rừng, tầng mùn bán phân giải cũng bị cháy ngầm làm tăng sự tàn phá của lửa rừng đối với đất
và cây gỗ lớn đồng thời không thể dập được cháy nếu không có ma điều này được minh chứng trên dông núi cao 2000m bị lửa thiêu sau bản Phiềng Đoóng hiện cò hàng trăm thân cây cổ thụ Pơ mu chết đứng
- Nhiệt độ bình quân năm 22,9oC
- Nhiệt độ tối cao 33oc, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối -1- 20
+ Lượng mưa
Lượng mưa bình quân năm 3000-3500mm
+ Lượng bốc hơi nước trung bình năm 865,5mm
+ Sương mù: bình quân có 160,8 ngày có sương mù trong năm
+ Sương muối: bình quân 6 ngày có sương muối trong năm nhưng đôi khi có đợt kéo dài 3 đến 5 ngày cao nhất tới 11 ngày
Trang 34+ Gió: Hướng gió chủ yếu của khu nghiên cứu là Đông bắc, Tây Bắc đôi khi có gió mùa Tây Nam, gió nhẹ 2,7m/s, hàng năm vào các tháng 3, 4 đôi khi có gió Tây khô nóng xuất hiện
+ Tuyết, mưa đá: Những ngày rét đậm trong mùa đông, nhiệt độ xuống thấp trên các đỉnh cao lớn hơn 2500m có tuyết phủ, đôi khi tuyết phủ xuống tới độ cao 2000m
Trong các tháng 4,5 đôi khi có mưa đá, đường kính hạt đá trung bình 1cm và gây nhiều thiệt hại cho rau, màu, hoa cảnh
Tóm lại: Khí hậu khu vực nghiên cứu là mát vào mùa hè, lạnh về mùa đông, riêng mùa đông có nhiệt độ thấp, lại có sương mù sương muối nên ít nhiều gây cản trở tới các hoạt động sản xuất lâm nghiệp đặc biệt là khâu gieo ươm cây con Từ độ cao 1500m trở lên khí hậu mát mẻ và thời tiết rất thích hợp cho nhiều loài cây á nhiệt đới sinh trưởng và phát triển
2.1.5 Thuỷ văn
Trong khu nghiên cứu không có sông lớn Đáng chú ý có 2 hệ thống các suối đón nước từ dãy Hoàng Liên kéo dài ở ranh giới phía Tây đổ về ngòi Nậm Chan rồi chảy ra Sông Hồng
Hệ thống các suối Nậm Qua, Nậm Xi Tan, Nậm Mu đón nước từ địa phận xã Nậm Xé chảy suôi theo hướng Đông Nam hợp lại với suối Nậm Xây đổ ra Ngòi Nậm Chan
Suối Nậm Xây Noi đón nước vùng giáp ranh hai xã Nậm Xé và Nậm Xây chảy theo hướng Đông, hợp với suối Nậm Xây
Suối Nậm Xây đón nước ở phía Nam xã Nậm Xây chảy ngược theo hướng Tây Bắc chảy về Nậm Chan đổ ra sông Hồng ở phía Đông khu nghiên cứu
Các suối chính kể trên thường có lưu lượng nước nhiều, chảy mạnh về mùa hè còn mùa đông nước rất cạn Ngoài những con suối chính đã nêu,
Trang 35trong khu nghiên cứu còn một số con suối nhỏ chỉ có nước trong và sau những ngày mưa to còn ít ngày sau là nước ít chỉ như những rãnh nước kiệt Khi nước suối dâng cao trong những ngày mưa lớn thường gây ra lở sạt đất vì các suối có độ dốc cao, hiện tượng cát lở dọc suối không có
3.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC VÙNG ĐỆM KHU BẢO TỒN
3.2.1 Dân số, dân tộc
* Dân số
Nhìn chung mật độ dân số các xã vùng đệm Khu bảo tồn Hoàng Liên
- Văn Bàn thưa (bình quân 23 người/Km2), sống tập trung chủ yếu ven quốc lộ 279, các khu đất bằng ven khe suối và các thung lũng theo từng thôn bản
Bảng 3.1: Dân số và mật độ dân số các xã vùng đệm
Số
TT Xã
Diện tích (Km 2 ) Số hộ Số khẩu Mật độ
Trang 36Bảng 3.2: Cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi lao động các xã vùng đệm Số
Việc sử dụng lao động trong vùng phụ thuộc vào mùa vụ trong năm
và phong tục, tập quán của các dân tộc khác nhau, nhưng điểm chung nhất cho thấy thời gian bận rộn công việc là vào mùa làm nương rẫy, gieo cấy
và thu hoạch Trong những ngày thời vụ lao động trẻ em cũng được sử dụng vào các công việc như dọn nương, dẫy cỏ, lấy củi, lấy măng, chăn trâu phụ giúp gia đình; những ngày nông nhàn hầu hết lao động trong vùng không có việc làm vì trong vùng không có nghề phụ truyền thống
Trang 37* Dân tộc
Trong vùng đệm Khu bảo tồn có 3 dân tộc sinh sống; Dân tộc Mông chiếm tỷ lệ cao nhất (43,15%), tiếp đến là dân tộc Tày (40,68%) và dân tộc Dao (12,41%) các dân tộc sống tập trung theo từng thôn bản, 40.68
Bảng 3.3: Phân bố và thành phần dân tộc ở các xã vùng đệm
(Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở huyện Văn Bàn)
+ Dân tộc Tày sống tập trung thành làng (bản), nhà cách nhà gần nhau, nơi đất bằng gần các con sông, suối, làm nhà sàn bằng gỗ, tùy theo số lượng nhân khẩu trong gia đình để làm nhà to hay nhỏ, canh tác ruộng nước thông thạo như người Kinh và làm nương rẫy nhưng với diện tích nhỏ; xung quanh nhà có vườn trồng rau xanh và ao nuôi cá, chăn nuôi gia súc và gia cầm, tận dụng phân gia súc, gia cầm bón cho lúa, ngô và rau màu
+ Dân tộc Dao sống tập trung thành từng thôn bản, nhà cách nhà xa nhau hơn so với người Tày, ở nơi chân hoặc sườn núi có độ dốc thấp, làm nhà trệt (đất) hoặc nửa đất nửa sàn, xung quanh nhà có vườn rừng hỗn giao
để tiện cho việc trồng cây đặc sản như quế, thảo quả, lấy củi và các vật liệu khác, canh tác ruộng nước và làm nương rẫy
+ Người Mông sống theo từng thôn bản nhưng khoảng cách giữa các nhà xa nhau, làm nhà trệt (đất) bằng gỗ hoặc trình tường bằng đất, làm
Trang 383.2.2 Tình hình phát triển kinh tế các xã vùng đệm khu bảo tồn
Đất đai trong các xã vùng đệm đã được quy hoạch sử dụng đất, đã làm rõ các loại đất, việc quy hoạch chủ sử dụng đất đã được tiến hành, các
hộ gia đình phần lớn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất “Sổ Đỏ” với diện tích đất nông nghiệp, đất ở, đất lâm nghiệp trước đây đã được giao Sổ Vườn rừng nay đang chuyển đổi sang Sổ Đỏ để việc quản lý sử dụng đúng theo quy định của luật đất đai
* Nông nghiệp
- Việc sử dụng đất chủ yếu là khai thác màu mỡ của đất thể hiện qua các hoạt động như: Sản xuất nương rẫy luân canh không trồng cây cải tạo đất và chống xói mòn đất; trồng lúa nước không bón phân hoặc có bón phân nhưng ít; trồng cây ăn quả theo kiểu vườn tạp, cây trồng không theo quy hoạch mỗi loại một vài cây không tạo ra khối lượng hàng hóa lớn có giá trị kinh tế cao để sản xuất hàng hoá; khai thác tài nguyên còn tùy tiện tự phát chưa chú trọng bồi bổ, tái tạo đầu tư
- Trình độ canh tác thấp thể hiện qua các mặt: Gieo cấy thủ công kiểu chọc lỗ tra hạt; công cụ sản xuất thô sơ chủ yếu dùng sức kéo trâu, sức thồ của ngựa và sức người; ruộng nước bậc thang khi sản xuất để nước chảy tràn bờ làm mất độ phì của đất, không bền vững; hệ thống kênh mương chủ yếu là mương đất hoặc máng nước chưa được kiên cố hóa Tình hình sử dụng đất trong khu vực thể hiện qua bảng
* Lâm nghiệp
Nghề rừng trong các xã vùng đệm: đây là các xã vùng cao việc khai thác lâm sản hàng năm không có kế hoạch khai thác gỗ, tận thu lâm sản và khai thác lâm sản phụ như song mây trong rừng tự nhiên Những năm trước
có tổ chức để nhân dân thực hiện nhưng thời gian gần đây do tài nguyên cạn kiệt nên việc thu mua có giảm dần Trong vùng dự án 661 đã tổ chức
Trang 39khoán bảo vệ rừng cho nhân dân địa phương, Các thôn bản đã tổ chức các
tổ tuần tra bảo vệ rừng và thu nhập của người dân có được cải thiện thêm nhờ định xuất khoán BVR 80.000 đồng/ha/năm Nhưng thời hạn khoán giới hạn 5 năm sau đó chuyển sang thực hiện chính sách hưởng lợi theo quyết định 178 của Chính phủ Nhưng ở khu vực này đa phần là rừng phòng hộ cực xung yếu, địa hình hiểm trở, đường xá phức tạp nên việc thực hiện chính sách hưởng lợi gặp nhiều khó khăn, nguyện vọng của nhân dân muốn Nhà nước tiếp tục cấp kinh phí đầu tư cho công tác khoán bảo vệ rừng
Bảng 3.4: Bảng cơ cấu sử dụng đất xã vùng đệm khu bảo tồn
Loại đất Nậm xây Nậm Xé Lương Minh Nậm
Chày Tổng diện tích tự nhiên 66.475,55 17.113 3.524 8.581
I Diện tích đất Nông nghiệp 14.111,53 14.681,14 2.367,16 3.238,82 Đất sản xuất nông nghiệp 436,49 551,12 612,52 480,07 Đất lâm nghiệp 13.674,7 14.129,88 1.745,2 2.758,7
III Diện tích chưa sử dụng 2.590,02 2.102,74 921,43 5.194,19 Đồi núi chưa sử dụng 601,80 1.701,64 921,43 3.110,15
Trang 40* Chăn nuôi:
Đa số các hộ gia đình đều có chăn nuôi gia súc, gia cầm Gia súc ở đây là Trâu, Bò, Ngựa, Dê một số được thả rông ở các bãi cỏ chăn thả gia súc của thôn bản, tối được lùa về chuồng gần hộ gia đình; một số trại Dê được được khoanh thành một vùng có rào xung quanh bảo vệ và có chuồng tạm hoặc ở trong các hang núi đá, được các hộ gia đình làm lán ở bên cạnh trông coi, bảo vệ Giống gia súc chủ yếu là giống địa phương nên nhỏ con, tạp giao chậm lớn Gia cầm chủ yếu các hộ gia đình nuôi Gà, Ngan, Vịt, Ngỗng mỗi loại có số lượng con phụ thuộc khả năng phát triển của từng hộ gia đình và kế hoạch sử dụng chúng vào các công việc của hộ đó chưa có hướng nuôi để kinh doanh Gia cầm được nuôi thả xung quanh nhà, có chuồng hoặc ngủ qua đêm trên cành cây, dưới gầm sàn nhà; giống gà chủ yếu là giống gà ri và gà đen của người Mông trọng lượng nhỏ, sinh sản nhanh, dễ nuôi, có sức đề kháng cao, thịt thơm ngon
Bảng 3.5: Đàn gia súc của các xã vùng đệm
TT Tên xã Trâu (con) Bò (con) Ngựa (con) Dê (con) Lợn (con)
* Nuôi chồng thủy sản: Các xã vùng đệm khu bảo tồn là xã vùng
cao, chủ yếu là đồi núi có nhiều suối như: suối Nậm Chấn lớn; Nậm Chấn nhỏ; Nậm Xi Tan; Nậm Mu; Nậm Xây Noi; Nậm Xây Luông là nơi hội tụ của nhiều loài cá suối có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao Việc đánh bắt cá trước trên suối đây được thực hiện quanh năm chủ yếu là bằng chài lưới và
là nguồn cung cấp thực phẩm đáng kể trong bữa ăn của cộng đồng dân cư nơi đây Những năn gần đây do việc đánh bắt bằng mìn đã làm cho số