Thực trạng hoạt động cho vay của hệ thống NHTM Việt Nam hiện đangtồn tại một vấn đề hết sức khó khăn đó là khả năng thu nợ chưa cao, hàng loạtcác vấn đề như nợ quá hạn, nợ khó đòi, khả n
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 2Tên viết tắt Tên đầy đủ
và phát triển nông thôn Láng Hạ
Trang 3* Căn cứ theo thời hạn cho vay 4 Ngân hàng cho khách hàng vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống và các dự án đầu tư phát triển: 4
* Căn cứ theo phương thức hoàn trả 6 Cho vay trả góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ Loại cho vay này chủ yếu được đáp ứng cho vay bất động sản, nhà ở, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ, cho vay trang bị kỹ thuật trong nông nghiệp Thông thường có 4 phương pháp trả góp sau: 6 + Phương pháp cộng thêm 6 + Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và trả lãi theo số dư vào cuối mỗi định kỳ 6 + Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và lãi tính trên mức hoàn trả của vốn gốc 6 + Phương pháp trả vốn gốc và lãi bằng nhau trong tất cả các định kỳ 6 Cho vay phi trả góp: Là loại cho vay được thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận 6 Cần hoàn thiện cơ chế đảm bảo tiền vay 70 Cần đưa ra giải pháp về định giá tài sản đảm bảo 71 Cần một chính sách về xử lý tài sản đảm bảo để hạn chế những bất cập, giúp ngân hàng khi phát mại tài sản 72 Toà án cần giúp ngân hàng trong việc phát mãi tài sản hơn nữa 74
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 - Tính cấp thiết của đề tài:
Cho vay là hoạt động rất quan trọng đối với Ngân hàng thương mại(NHTM) nhưng thu nợ còn quan trọng hơn bởi vì hoạt động cho vay đem lạinguồn thu chủ yếu của NHTM nhưng chỉ có thu đủ nợ (cả gốc và lãi vay) thìnguồn thu của ngân hàng mới được đảm bảo và hoạt động kinh doanh của ngânhàng mới được coi là hiệu quả Muốn vậy, các khâu của hoạt động cho vay vàthu nợ phải được phối hợp một cách trôi chảy theo những nguyên tắc nhất định
để bảo đảm cho NHTM thu hồi được cả gốc và lãi khi hết thời hạn vay
Thực trạng hoạt động cho vay của hệ thống NHTM Việt Nam hiện đangtồn tại một vấn đề hết sức khó khăn đó là khả năng thu nợ chưa cao, hàng loạtcác vấn đề như nợ quá hạn, nợ khó đòi, khả năng mất vốn và xoá nợ luôn làmột trong những nguy cơ đe dọa hiệu quả kinh doanh của các NHTM Áp lựccạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng tăng đặc biệt là từ khi hội nhập.Trong bối cảnh đó, các NHTM phải nâng cao chất lượng và hiệu quả kinhdoanh, phải có doanh số cho vay cao và khả năng thu nợ tốt
Vì vậy, đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả thu nợ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Láng Hạ” được chọn để
nghiên cứu
2 - Mục đích nghiên cứu:
1 Hệ thống hóa lý luận về cho vay - thu nợ và hiệu quả của thu nợ tronghoạt động của NHTM Trên cơ sở đó xác định các chỉ tiêu phản ánh về hiệuquả thu nợ
2 Phân tích thực trạng hiệu quả thu nợ của Chi nhánh NHNo&PTNTLáng Hạ, từ đó đưa ra nhận xét đánh giá về hiệu quả thu nợ của Chi nhánh
Trang 5NHNo&PTNT Láng Hạ so với các ngân hàng khác ở Việt Nam và một sốNHTM hiện đại trên thế giới.
3 Xây dựng một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu nợ tại Chi nhánhNHNo&PTNT Láng Hạ
3 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu trong bài viết này là hoạt động thu nợ và hiệu quảthu nợ trong hoạt động kinh doanh ở Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ
4 - Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt lý luận, đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về hoạt động chovay, hoạt động thu nợ vay Các mặt hoạt động khác như tăng cường quản lýhoạt động cho vay, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ cho vay cũng được đềcập đến song không phải là trọng tâm nghiên cứu Về mặt thực tiễn, đề tài sửdụng hệ thống số liệu và tài liệu của Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ từnăm 2006 - 2008
5 - Phương pháp nghiên cứu:
Bài viết sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu khoa học:Phương pháp thống kê, phân tích hoạt động kinh tế và xử lý hệ thống; phươngpháp khảo nghiệm tổng kết thực tiễn; Phương pháp quy nạp;
6 - Kết cấu của luận văn:
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tàiliệu tham khảo, nội dung chính sẽ bao gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về hiệu quả thu nợ của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng về hiệu quả thu nợ tại Chi nhánh NHNo&PTNT
Láng Hạ
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thu nợ tại Chi nhánh NHNo&PTNT
Láng Hạ
Trang 6Chương 1
TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ THU NỢ CỦA NHTM
1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ THU NỢ CỦA NHTM
1.1.1 Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1.1 Khái niệm cho vay
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức tín dụng giaocho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời giannhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Thông quahoạt động cho vay, ngân hàng thực hiện điều hoà vốn trong nền kinh tế dướihình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xãhội để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống.Hay, Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM vàngười vay), trong đó một bên là NHTM (cho vay) chuyển giao tiền hoặc tàisản cho bên kia (người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định NHTMvới tư cách là người cho vay (chủ nợ) yêu cầu khách hàng của mình (người đivay) muốn vay được vốn phải tuân thủ những điều kiện nhất định, những điềukiện này là cơ sở ràng buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho người cho vay có thểthu hồi được nợ (gốc + lãi) sau một thời gian nhất định Để thu hồi được nợ,các ngân hàng có quyền yêu cầu người đi vay đáp ứng những điều kiện vay cụthể dựa trên cơ sở mức độ tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau giữa ngân hàng vớikhách hàng, ví dụ như: cho vay có tài sản đảm bảo, cho vay tín chấp… Mặtkhác, cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu(NHTM) sang người sử dụng (người vay - khách hàng), sau một thời giannhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu
Trang 7Qua khái niệm trên cho thấy bản chất của cho vay là một giao dịch vềtiền hoặc tài sản trên cơ sở có hoàn trả mà thực chất là sự vay mượn dựa trên
cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau Nguyên tắc hoàn trả đúng hạn yêu cầukhách hàng phải cam kết trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn đã thỏa thuận tronghợp đồng tín dụng và đây là cam kết hoàn trả vô điều kiện Nguyên tắc nàynhằm đảm bảo cho việc ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động phi phápcủa người đi vay, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng và quan trọnghơn là mục đích đó đã được thẩm định và ngân hàng tin rằng nếu khách hàng
sử dụng đúng mục đích thì sẽ đảm bảo khả năng trả nợ gốc và lãi đúng hạn
1.1.1.2 Phân loại cho vay
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của NHTM rất đa dạng
và phong phú với nhiều hình thức khác nhau Việc áp dụng các loại cho vaytùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng vay vốn nhằm sử dụng và quản
lý vốn vay một cách hiệu quả, đảm bảo thu hồi nợ cả gốc và lãi khi đến hạn
Để làm được điều đó, chúng ta cần thiết phải phân loại cho vay
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản vay theo từng nhóm dựatrên một số tiêu thức nhất định Nếu việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học
sẽ là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả
sử dụng đồng vốn trong hoạt động cho vay
Có rất nhiều loại cho vay khác nhau mà ngân hàng phân loại ra nhưngthông thường, ngân hàng áp dụng những loại nhằm đảm bảo việc thu hồi vốnvay có hiệu quả như: cho vay căn cứ theo thời hạn vay, cho vay căn cứ vào tàisản bảo đảm, cho vay căn cứ theo phương thức hoàn trả Dưới đây là một sốloại cho vay dựa trên các tiêu thức mà đề tài quan tâm:
* Căn cứ theo thời hạn cho vay
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằmđáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống và các dự ánđầu tư phát triển:
Trang 8Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống và
được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanhnghiệp, nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân Đối với NHTM cho vayngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất và đem lại ít rủi ro hơn so với cho vay trung
và dài hạn
Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến
60 tháng, chủ yếu đáp ứng các nhu cầu đầu tư mua sắm tài sản cố định, cảitiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựngcác dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn tương đối nhanh
Cho vay dài hạn: là khoản cho vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng.
Cho vay dài hạn thường được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn nhưxây nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xínghiệp mới
Phân loại theo thời gian có một ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vìthời gian liên quan đến tính an toàn và sinh lợi của món vay cũng như khảnăng hoàn trả của khách hàng
* Căn cứ theo hình thức đảm bảo tiền vay hay mức độ tín nhiệm
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Cho vay có tài sản đảm bảo là loại cho
vay phải có tài sản đảm bảo (TSĐB) bằng các hình thức như thế chấp, cầm
cố, hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Khi cho vay, ngân hàng sẽ đánh giá mức độtín nhiệm của khách hàng để xác định tỷ lệ giá trị TSĐB cần thiết theo nguyêntắc mức độ tín nhiệm càng cao thì tỷ lệ giá trị TSĐB trên tổng số cho vaycàng thấp Sự bảo đảm này giúp ngân hàng ngăn ngừa tâm lý ỷ lại và là nguồnthu nợ thứ hai khi rủi ro xảy ra
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Cho vay không có bảo đảm
bằng tài sản là việc ngân hàng cho khách hàng vay vốn không có tài sản cầm
Trang 9cố, thế chấp hoặc không có bảo lãnh của người thứ ba Ngân hàng cho vay chỉdựa vào uy tín của khách hàng để xem xét cho vay Khách hàng có uy tín làkhách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính lành mạnh,quản trị có hiệu quả, có tín nhiệm với ngân hàng cho vay trong sử dụng vốnvay, hoàn trả nợ đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn.
* Căn cứ theo phương thức hoàn trả
Cho vay trả góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc
và lãi theo định kỳ Loại cho vay này chủ yếu được đáp ứng cho vay bất độngsản, nhà ở, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ,cho vay trang bị kỹ thuật trong nông nghiệp Thông thường có 4 phương pháptrả góp sau:
+ Phương pháp trả vốn gốc và lãi bằng nhau trong tất cả các định kỳ
Cho vay phi trả góp: Là loại cho vay được thanh toán một lần theo kỳ
hạn đã thỏa thuận
1.1.1.3 Vai trò của hoạt động cho vay
Khả năng cho vay của ngân hàng là lý do cơ bản để ngân hàng được các
cơ quan quản lý cấp giấy phép hoạt động Cho vay là chức năng cơ bản hàngđầu của các ngân hàng để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân
và các cơ quan của Chính phủ
Trang 10Đối với nền kinh tế:
Nghiệp vụ cho vay đã tạo điều kiện thay đổi đời sống kinh tế xã hội
Thứ nhất là thúc đẩy sản xuất phát triển Xuất phát từ chức năng tập
trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, ngân hàng đã thu hút những nguồnvốn dư thừa, tạm thời nhàn rỗi đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đápứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.Mặt khác, trong quá trình cho vay, để tránh rủi ro, ngân hàng thườngxuyên đánh giá, phân tích khả năng tài chính, giám sát hoạt động sản xuấtkinh doanh để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết, giúp cho hoạtđộng của doanh nghiệp đi đúng hướng Do vậy, nghiệp vụ cho vay đã gópphần thúc đẩy sản xuất phát triển bền vững, tạo điều kiện tiền đề vật chất cho
xã hội
Thứ hai là góp phần ổn định tiền tệ và giá cả Trong nền kinh tế thị
trường, việc chú trọng phát triển lưu thông hàng hoá đồng thời phải gắn với
ổn định tiền tệ Nghiệp vụ cho vay là một trong những cách để đưa tiền vàolưu thông (vì cho vay là ngân hàng đưa tiền vào lưu thông, thu nợ là ngân hàngrút tiền ra khỏi lưu thông) từ đó, các ngân hàng nhà nước có thể kiểm soát đượcphần nào khối lượng tiền nhằm rút cho khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế phùhợp với khối lượng hàng hoá trên thị trường Mặt khác, nếu nghiệp vụ cho vayhoạt động có hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo cho khối lượng tiền cung ứng phùhợp, điều đó làm cho giá cả hàng hoá cũng dần dần ổn định
Hoạt động của ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi màvốn này nằm trong tay các nhà doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước và cánhân, trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế khác Tuy nhiên quá trình đầu
tư cho vay không phải rải đều cho mọi chủ thể có nhu cầu mà việc đầu tưđược thực hiện một cách tập trung, chủ yếu là cho các doanh nghiệp lớn,
Trang 11những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Đầu tư tập trung là quá trình tấtyếu vì nó vừa đảm bảo tránh rủi ro cho vay, vừa thúc đẩy quá trình tăngtrưởng kinh tế.
Thứ ba là góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định
trật tự xã hội Nghiệp vụ cho vay chú trọng vào nhiều lĩnh vực mới, nó cải tạo
và nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô doanh nghiệp, từ
đó tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, do nănglực sản xuất ngày càng được nâng cao nên số lượng sản phẩm tiêu thụ sẽnhiều hơn, đó là nguồn để tăng thu nhập và ổn định đời sống cho cán bộ trongdoanh nghiệp Mặt khác, tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện thuận lợi choviệc chuyển dịch cơ cấu đầu tư, hợp lý hoá cơ cấu nền kinh tế, từ đó làm tiền
đề cho sự ổn định và trật tự an toàn xã hội
Trong điều kiện ngày nay, việc phát triển kinh tế của một nước luôn gắnliền với thị trường thế giới, vì vậy hoạt động cho vay đã trở thành một trongnhững phương tiện nối liền các nền kinh tế các nước với nhau
Đối với khách hàng:
Hoạt động cho vay đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuấtđược liên tục, đồng thời đầu tư phát triển kinh tế Thực trạng hiện nay là tàisản cố định của các doanh nghiệp đã cũ nát và lạc hậu, thời gian khấu hao đãhết làm cho doanh nghiệp khó có thể tăng năng suất lao động và phát triển sảnxuất Nghiệp vụ cho vay đã góp phần khắc phục được vấn đề
Thứ nhất là làm tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Trong môi
trường kinh tế cạnh tranh, các chủ thể kinh doanh luôn phải chủ động tìmkiếm và thực hiện nhiều biện pháp để các sản phẩm của mình tiêu thụ đượcnhanh, nhiều trên thị trường Ví dụ như ứng dụng những thành tựu khoa họcđổi mới công nghệ, hoàn thiện nghệ thuật quản trị kinh doanh, tìm kiếm thị
Trang 12trường mới… nhằm nâng cao khả năng sản xuất, làm cho các sản phẩm củabản thân doanh nghiệp có chỗ đứng trên thị trường, nhờ vậy các doanh nghiệp
có thể tồn tại và phát triển Muốn thực hiện được điều đó các doanh nghiệpcần có một lượng vốn lớn mà không ai khác ngoài ngân hàng có thể cung cấpcho họ Nghiệp vụ cho vay đã góp phần rất lớn vào quá trình sản xuất kinhdoanh ổn định của doanh nghiệp Nhờ việc đầu tư xây dựng mới, việc ápdụng công nghệ hiện đại mà doanh nghiệp cũng như sản phẩm của doanhnghiệp nâng cao được uy tín và vị thế trên thị trường, thu hút được kháchhàng, làm cho mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp được thực hiện dễ dànghơn
Thứ hai là tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất,
chiếm lĩnh thị trường Khi được đầu tư trung và dài hạn, doanh nghiệp có cơhội để mở rộng quy mô sản xuất, tăng thêm máy mọc thiết bị cũng như dâychuyền sản xuất mới nhằm tạo thêm nhiều sản phẩm có mẫu mã và chất lượngcao cung ứng ra thị trường Nhờ vậy sản phẩm của doanh nghiệp được thịtrường tin tưởng và chấp nhận từ đó lượng tiêu thụ tăng lên, dần dần chiếmlĩnh được thị trường, mở rộng thị phần hoạt động, tạo điều kiện tiền đề về vậtchất cho doanh nghiệp
Qua việc vay vốn và tiến hành đầu tư những dự án mới, doanh nghiệp có
cơ sở và điều kiện tăng số lượng hàng hoá dịch vụ cung ứng ra thị trường, nhờvậy doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng lên đáng kể
Đối với Ngân hàng thương mại:
Hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM là huy động vốn và cho vay,bên cạnh đó ngân hàng cũng tiến hành một số các dịch vụ khác nhằm thuđược lợi nhuận
Hoạt động cho vay là hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng Qua sử
Trang 13dụng vốn để đầu tư vào các dự án, ngân hàng thu lãi do khách hàng vay trả.
Có càng nhiều khoản đầu tư tín dụng thì ngân hàng càng có cơ sở để thu đượcnhiều lãi Từ phần lãi thu được đó, sau khi trừ chi phí cần thiết khác như trảlãi vốn huy động, trả lương cho cán bộ công nhân viên, trích lập các quỹ… làphần lợi nhuận của ngân hàng
Bên cạnh đó, khi NHTM đầu tư tín dụng cho doanh nghiệp, nhất lànhững doanh nghiệp mới thì thường hoạt động của doanh nghiệp gắn liền vớingân hàng Mọi nhu cầu về vốn lưu động phục vụ cho chu kỳ sản xuất kinhdoanh đều qua ngân hàng, nhờ vậy, ngân hàng có thể phát triển thêm đượccác loại hình tín dụng khác để góp phần tăng thêm thu nhập
Ngoài ra, khi doanh nghiệp tiến hành vay vốn của NHTM thì doanhnghiệp cần phải mở tài khoản tại ngân hàng, do đó mọi hoạt động thu chidoanh nghiệp đều nhờ ngân hàng thực hiện hộ Như vậy, ngân hàng có thểcung cấp thêm nhiều dịch vụ phục vụ cho khách hàng Nhờ phát triển mạnh
mẽ nghiệp vụ cho vay, ngân hàng có thể củng cố thêm vị thế trên thị trường,điều này vô cùng thuận lợi cho ngân hàng trong cả công tác huy động vốncũng như sử dụng vốn Nếu ngân hàng có uy tín, khách hàng sẽ đến giao dịchvới ngân hàng nhiều hơn, sử dụng các dịch vụ ngân hàng thường thườngxuyên hơn Đây là cơ sở để ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh, tăngsức cạnh tranh trên thị trường nhằm thu được nhiều lợi nhuận
Hoạt động đầu tư của khách hàng, hoạt động cho vay - thu nợ của NHTM,tình trạng phát triển của nền kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau Khi nềnkinh tế đang trong tình trạng phát triển hưng thịnh thì các hoạt động kia cũng
có chiều hướng gia tăng, các nhà đầu tư kỳ vọng hơn vào nền kinh tế sẽ đầu tưmạnh hơn và từ đó khối lượng và chất lượng (khả năng thu nợ gốc và lãi khi
Trang 14đến hạn) các khoản cho vay của ngân hàng cũng sẽ được gia tăng.
1.1.2 Hoạt động thu nợ của NHTM
1.1.2.1 Khái niệm thu nợ
Thu nợ là việc thu hồi cả vốn và lãi của các món vay mà ngân hàng đãcho vay, vì vậy thu nợ bảo đảm sự bảo tồn và phát triển nguồn vốn cũng nhưkhả năng tồn tại và phát triển của NHTM
Thu nợ là một trong những yếu tố phản ánh hiệu quả hoạt động của ngânhàng một cách trực tiếp, nó là yếu tố chủ yếu thể hiện khả năng phân tích,đánh giá, kiểm tra khách hàng của ngân hàng có thành công hay không Việcthu hồi một khoản nợ đúng với các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng tíndụng là một thành công rất lớn trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng vì
đã cho vay đúng đối tượng, người sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệuquả và người vay đã tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc họ trả nợgốc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng Để thu hồi được nợ, các cán bộtín dụng phải quan tâm sát sao đến khách hàng, thường xuyên gặp gỡ vàthông báo cho họ biết trước khi khoản vốn đến hạn
Hoạt động thu nợ là khâu rất quan trọng sau khi cho vay, nó đòi hỏingười cán bộ tín dụng phải có năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất tốt
kể từ khâu phân tích thẩm định khách hàng, bởi một khoản tín dụng có độ rủi
ro cao hay thấp sẽ phụ thuộc rất lớn từ những khâu đầu tiên này Đối với ngânhàng, một khoản tín dụng cấp ra phải đạt chất lượng - tức là phải thu hồi được
nợ gốc và lãi đúng hạn đó chính là kết quả của sự thận trọng và thường xuyêntrong phân tích, đánh giá, kiểm tra của cán bộ tín dụng từ khi khách hàng đặtvấn đề vay vốn, sử dụng vốn đến khi trả nợ đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng.Đối với những khách hàng không thanh toán được nợ cho ngân hàng vìnguyên nhân bất khả kháng nhưng vẫn còn khả năng sản xuất hay phương án
Trang 15kinh doanh có hiệu quả để khắc phục thì cán bộ tín dụng nên xem xét cho giahạn nợ hoặc có thể cho vay vốn tiếp để tăng cường sức mạnh tài chính chokhách hàng để họ khôi phục lại sản xuất kinh doanh và khi đó ngân hàng phảigiám sát chặt chẽ những khách hàng này cho đến khi thu hồi được nợ Nếuthấy không có khả năng thu hồi nợ thì tiến hành thủ tục khởi kiện phát mại tàisản thế chấp để thu nợ giúp ngân hàng bảo toàn nguồn vốn hoạt động.
1.1.2.2 Quy trình cho vay - thu nợ
Quy trình cho vay thu nợ bao gồm những quy định về trình tự công việccần phải thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốntín dụng, quy trình cho vay - thu nợ thường được bắt đầu tư khi một cán
bộ/nhân viên của bộ phận quan hệ trực tiếp (thường được gọi là Cán bộ tín dụng - CBTD) tiếp nhận hồ sơ yêu cầu của khách hàng và kết thúc khi tất
toán thu hồi được nợ, thanh lý hợp đồng tín dụng Quy trình cho vay - thu nợ
mô tả chuỗi các bước công việc liên tiếp nhau để tạo ra dịch vụ cho vay cung
cấp cho khách hàng (được tóm tắt trong Sơ đồ 1.1) Chất lượng khoản vay có
đảm bảo hay không tuỳ thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước
và sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình cho vay thu nợ
-Bước 1 - Thẩm định trước khi cho vay
- Khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị vay vốn, CBTD kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp,hợp lệ của hồ sơ và yêu cầu khách hàng bổ sung thông tin nếu thấy cần thiết
- Phân tích, thẩm định về khách hàng, bao gồm rất nhiều nội dung khácnhau : năng lực pháp luật, năng lực hành vi ; mô hình tổ chức ; khả năng tàichính ; hiệu quả của phương án, dự án và khả năng trả nợ ;
- Dự kiến các lợi ích mà ngân hàng thu được khi cho vay ; đánh giá phântích về các biện pháp bảo đảm tiền vay ; đánh giá uy tín của khách hàng ;
Trang 16đánh giá và xếp hạng rủi ro tín dụng ; xác định phương thức và nhu cầu vay ;xem xét khả năng nguồn vốn và điều kiện thanh toán ; tính giá khoản vay tức
là xác định lãi suất và các loại phí liên quan Nguyên tắc quan trọng nhất củatính giá là lãi suất phải tăng tương xứng với rủi ro
- Phê duyệt cho vay và ký kết các loại hợp đồng tín dụng, hợp đồng đảmbảo tiền vay và giao nhận các giấy tờ và tài sản đảm bảo ; hoàn tất các thủ tụcpháp lý khác (công chứng hợp đồng, đăng ký giao dịch bảo đảm )
Sơ đồ 1.1: Quy trình cho vay - thu nợ
Bước 2 - Giải ngân và kiểm tra, giám sát trong khi cho vay
Việc giải ngân được tiến hành sau khi ký hợp đồng tín dụng và theo điềukiện của hợp đồng tín dụng Quá trình giải ngân cũng là bước nhằm kiểm soátvốn vay có được sử dụng đúng mục đích hay không Nếu ngân hàng phát hiệnkhách hàng sử dụng vốn sai mục đích thì lập tức ngừng giải ngân để tiến hànhtheo dõi và xử lý
Bước 3 - Kiểm tra, giám sát và tổ chức thu hồi nợ sau khi cho vay
- Sau khi giải ngân, ngân hàng tiếp tục theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc vàkiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng, đánh giá hiệu quả sử dụngvốn, tình hình sản xuất kinh doanh, môi trường kinh doanh, định hạng tíndụng để sớm nhận diện các rủi ro phát sinh, đánh giá khả năng trả nợ đúnghạn của khách hàng để từ đó đưa ra các quyết định kịp thời liên quan đến tính
Giám sát thường xuyên
Trang 17an toàn của khoản vay.
- Theo dõi thu nợ gốc, lãi đến hạn và phí phát sinh
- Xử lý các vấn đề phát sinh (cơ cấu lại nợ, xử lý nợ xấu )
- Thanh lý hợp đồng, giải chấp và đánh giá lại hiệu quả khoản vay
Kiểm tra tốt qui trình cho vay - thu nợ cũng sẽ góp phần cho ngân hàngnắm bắt được nguyên nhân, diễn biến của khoản vay đó để có những biệnpháp điều chỉnh hoặc can thiệp khi cần thiết, sớm phát hiện ngăn ngừa nhữngrủi ro có thể xảy ra Trên thực tế do không thực hiện đầy đủ quy trình cho vay
đã dẫn đến việc sử dụng vốn sai mục đích, như sử dụng vốn ngắn hạn để đầu
tư vào tài sản cố định, vốn vay kinh doanh nhưng đầu tư vào bất động sản hayviệc định giá tài sản đảm bảo sai nguyên tắc và vượt giá thị trường, việc xử lýcác khoản nợ quá hạn không thích ứng với điều kiện thực tế của khách hàng Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra thiết lập đượcmột hệ thống phòng ngừa giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay góp phầncải chất lượng khoản vay
Bên cạnh đó, ngân hàng còn áp dụng biện pháp phân loại tín dụng Phânloại tín dụng nhằm xác định cấp độ rủi ro tín dụng cho một khách hàng, mộtmón vay hoặc một loại tài sản được khách hàng dùng để thực hiện nghĩa vụtrả nợ Phân loại tín dụng là một công cụ quan trọng trong quản lý khoản vay.Các khoản cho vay được phân loại tại thời điểm gốc và cần được đánh giá,phân loại lại sau một thời gian dựa trên một số tiêu chuẩn nhất định Nóichung, các tiêu chuẩn phân loại thường dựa vào khả năng trả nợ và ý thức trả
nợ của người vay (cả gốc và lãi) Cụ thể: khoản tín dụng đạt tiêu chuẩn vàkhoản tín dụng không đủ tiêu chuẩn
Khoản tín dụng đạt tiêu chuẩn: Là các khoản tín dụng mà ngân hàng
không phải nghi ngờ về khả năng hoàn trả của nó Nói chung, đó là các khoảncho vay được đảm bảo bằng tiền mặt, giấy tờ có giá thay thế tiền mặt như
Trang 18chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu kho bạc được xếp vào loại chuẩn này.
Khoản tín dụng không đủ tiêu chuẩn: Là những khoản tín dụng chức chắn
chứa đựng rủi ro, gây nguy hiểm đối với khả năng trả nợ của khách hàng Trongnhững trường hợp này, các ngân hàng phải sử dụng đến các nguồn trả nợ khácnhau như thanh lý tài sản thế chấp, tài sản cố định, tái đầu tư… Những khoản nợquá hạn từ 90 ngày trở lên thường được xếp vào loại này
Thu nợ và thanh lý nợ là khâu quan trọng có tính quyết định đến sự tồntại của ngân hàng do dó ngân hàng phải chủ động, tích cực trong công tác thu
nợ, sự nhạy bén của ngân hàng trong việc phát hiện kịp thời những điều kiệnbất lợi xảy ra đối với khách hàng cùng những biện pháp xử lý chính xác đúnglúc sẽ giảm các khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ tác động tích cực đến chấtlượng khoản vay
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình cho vay sẽ tạođiều kiện cho vốn vay được luân chuyển bình thường, theo đúng kế hoạch đãđịnh, nhờ đó đảm bảo quy trình quản lý
1.2 CÁC PHƯƠNG THỨC THU NỢ CỦA NHTM
Sau khi giải ngân, cán bộ tín dụng phải tiến hành theo dõi, xử lý khoảnvay để có phương thức thu nợ hợp lý Có hai khả năng có thể xảy ra: Khoảnvay diễn ra bình thường và khoản vay có vấn đề
* Đối với các khoản vay bình thường, ngân hàng tiến hành thu nợ gốc và
lãi trực tiếp từ khách hàng theo điều khoản đã quy định cụ thể trong Hợpđồng tín dụng:
- Thu nợ một lần cả gốc và lãi vào cuối kỳ
- Thu nợ nhiều lần
* Đối với các khoản vay có vấn đề, khi phát hiện khách hàng mất khả
năng thanh toán theo các điều kiện của Hợp đồng tín dụng, ngân hàng phảilập một kế hoạch thu nợ, sau đó thận trọng cân nhắc vạch ra các phương án
Trang 19khác nhau để có thể thực hiện được điều đó Có các cách để xử lý như sau :
- Quy trách nhiệm cho cán bộ tín dụng
- Đàm phán với khách hàng: Biện pháp này được áp dụng đối với nhữngkhoản nợ có khả năng thu hồi Ngân hàng xem xét khả năng trả nợ của kháchhàng, sau đó tiến hành thương lượng với khách hàng về giải pháp thực thicũng như yêu cầu cam kết của khách hàng Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể
áp dụng các phương án sau :
+ Gia hạn nợ Đây là phương án có lợi cho cả khách hàng và ngân hàng.+ Ngân hàng có thể xem xét cấp thêm tín dụng giúp khách hàng vượtqua khó khăn đồng thời tạo khả năng thu hồi được khoản nợ trước Đâykhông phải là biện pháp tốt vì nó mang tính mạo hiểm cao
+ Chuyển các khoản nợ quá hạn thành vốn cổ phần với các doanh nghiệp
cổ phần Nếu các khoản nợ của khách hàng là cổ đông của ngân hàng thì ngânhàng có thể tạo điều kiện cho cổ đông đó bán cổ phiếu cho người thứ ba đểlấy tiền trả nợ ngân hàng
+ Chứng khoán hóa các khoản nợ: Chứng khoán hóa là việc chuyển đổimột tập hợp có chọn lọc các khoản vay có thế chấp của NHTM mà trước đókhông có trên thị trường thứ cấp để giao dịch thành chứng khoán có khả năngkinh doanh trên thị trường, có thể bán trên thị trường thứ cấp Ngân hàng cóthể dùng kỹ thuật này để xử lý các khoản nợ xấu của mình nhưng cần có sựphát triển mạnh của thị trường chứng khoán cùng giao dịch mua bán nợ
- Xử lý, khai thác tài sản bảo đảm
- Bán các khoản nợ: Biện pháp này được ngân hàng sử dụng đối với cáckhoản nợ không có tài sản bảo đảm hoặc không muốn mất thời gian đòi nợ
- Sử dụng giải pháp pháp lý để đòi nợ: Biện pháp kiện khách hàng ra tòa
Trang 20để đòi nợ được ngân hàng lựa chọn khi các biện pháp trên không khả thi.Ngân hàng có thể nhờ tòa án can thiệp buộc khách hàng trả nợ, chuyển giaotài sản bảo đảm tiền vay hoặc nếu khách hàng là doanh nghiệp không trả được
nợ thì ngân hàng với tư cách là chủ nợ chính có thể làm đơn xin tòa mở thủtục tuyên bố phá sản theo Luật phá sản
- Bù đắp bằng quỹ Dự phòng rủi ro (DPRR): Khi các biện pháp thu hồikhác không hiệu quả, ngân hàng có thể dùng nguồn quỹ DPRR để bù đắpthiệt hại của khoản nợ xấu hay hạch toán vào chi phí bất thường
- Sự trợ giúp của Chính phủ: Đối với những khoản nợ xấu do các khoảnvay theo chính sách của Chính phủ, các NHTM phải trông chờ vào nguồn bùđắp từ ngân sách nhà nước Thực chất các khoản vay theo chính sách có thểcoi như khoản vay có bảo lãnh từ Chính phủ Do vậy, khi NHTM không thểthu hồi nợ được từ khách hàng vay thuộc đối tượng này thì Chính phủ phảiđứng ra giải quyết cho các ngân hàng
1.3 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THU NỢ
1.3.1 Quan niệm về hiệu quả hoạt động thu nợ
Có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả hoạt động thu nợ song có thểhiểu một cách chung nhất hiệu quả hoạt động thu nợ phản ánh khả năng thuhồi nợ cả vốn và lãi là cao nhất Ngoài ra, hiệu quả hoạt động thu nợ còn phảnánh khả năng khai thác nợ khó đòi thông qua các biện pháp kinh tế với chi phíthấp nhất
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động thu nợ
Hiệu quả hoạt động thu nợ biểu hiện qua hai nhóm chỉ tiêu định tính vàchỉ tiêu định lượng
1.3.2.1 Các chỉ tiêu định lượng, hiệu quả hoạt động thu nợ được đo
Trang 21bằng các chỉ tiêu như sau:
* Chỉ tiêu số tiền thu nợ
Số tiền thu nợ (vốn + lãi)Hiệu suất thu nợ = - x 100%
Số tiền cho vay (vốn + lãi)Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cho vay ra thì thu về được bao nhiêuđồng (cả gốc và lãi) Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó phản ánh hiệu quả thu
nợ cũng như chất lượng khoản vay
* Chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu
Xét về bản chất, một khoản cho vay mà khả năng hoàn trả đầy đủ vàđúng hạn như đã cam kết thì được gọi là một khoản vay tốt (có hiệu quả) Khimột khoản vay không được hoàn trả một cách đầy đủ và đúng hạn như đã camkết mà không có lý do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc tín dụng quantrọng nhất của ngân hàng và khoản vay đó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn vớilãi suất áp dụng cao hơn lãi suất khi cho vay Trên thực tế, các khoản vay bịchuyển sang trạng thái quá hạn là các khoản vay có vấn đề, khách hàng không
có khả năng trả nợ ngân hàng, khả năng mất vốn của ngân hàng cao, điều đó
có nghĩa là tính an toàn của khoản vay thấp Có hai loại nợ quá hạn:
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Là những khoản nợ mà người vay vẫn
có thể trả được cho ngân hàng Lý do của các khoản chậm trả này là kháchhàng đã bán được hàng nhưng chưa thu được tiền do gặp tình trạng đột xuấtvới những lý do chính đáng Trong trường hợp này ngân hàng có thể xem xéttạo điều kiện cho doanh nghiệp trong việc trả nợ cho ngân hàng như gia hạnthêm thời gian, cùng doanh nghiệp xúc tiến việc đòi nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ số giữa nợ quá hạn đối với tổng dư nợ của ngân
hàng tính đến một thời điểm xác định Tỷ lệ nợ quá hạn được tính theo công
Trang 22- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi: Khi nợ quá hạn tồn tại đến một
thời điểm nào đó và khả năng không thu hồi được nợ cao thì khoản nợ nàyđược coi là nợ khó đòi hay nói cách khác nợ quá hạn không có khả năng thuhồi được là những khoản nợ mà người vay rất ít có khả năng trả nợ cho ngânhàng do nhiều nguyên nhân như doanh nghiệp làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sảnhay người vay cố tình lừa đảo ngân hàng
Tỷ lệ nợ khó đòi phản ánh tổng số nợ khó đòi của ngân hàng chiếm bao
nhiêu phần trăm trong tổng số dư nợ hiện có
Nợ khó đòi
Tỷ lệ nợ khó đòi = - x 100%
Dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng mất vốn phản ánh số nợ có khả năng mất
vốn của ngân hàng chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng số dư nợ hiện có
Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn có khả năng mất vốn
Có khả năng mất vốn = - x 100%
Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu hồi cao phản ánh hoạt động cho
Trang 23vay của ngân hàng kém hiệu quả và chất lượng khoản vay cũng như hiệu quảthu nợ từ khoản vay thấp.
Hiệu quả khai thác nợ phản ánh số tiền mà ngân hàng đã thu được chiếmbao nhiêu phần trăm trong tổng số dư nợ có khả năng mất vốn Chỉ tiêu nàycàng lớn chứng tỏ hoạt động của ngân hàng trong việc khai thác nợ càng cóhiệu quả
Số tiền khai thác nợHiệu quả khai thác nợ = - x 100%
Dư nợ khó đòi (nợ có khả năng mất vốn)
Các tỷ lệ này phản ánh khái quát về tình hình nợ quá hạn của ngân hàng
Tỷ lệ này càng thấp thì chất lượng khoản vay của ngân hàng càng cao vàngược lại, khi các chỉ tiêu này ở mức độ cao thì hoạt động kinh doanh củangân hàng đang gặp rất nhiều rủi ro, khả năng bảo toàn vốn thấp, có thể đedọa đến sự tồn tại của ngân hàng
Tuy nhiên trong thực tế, do những rủi ro trong hoạt động kinh doanh làkhông thể tránh khỏi nên các NHTM hiện nay thường chấp nhận một tỷ lệ nợquá hạn nhất định được coi là giới hạn an toàn tín dụng đối với ngân hàngthương mại
1.3.2.2 Các chỉ tiêu định tính:
Có những chỉ tiêu rất khó hoặc không thể định lượng được như năng lực
và kinh nghiệm của khách hàng, uy tín của khách hàng… chính vì không thểđịnh lượng được nên cán bộ cho vay chỉ có thể dựa trên sự kinh nghiệm và sựđánh giá
1 Các phương pháp cho vay - thu nợ:
Trên cơ sở nhu cầu sử dụng từng khoản vốn vay của khách hàng và khả
Trang 24năng kiểm tra, ngân hàng sẽ lựa chọn phương pháp cho vay phù hợp và từmỗi phương pháp cho vay có một phương thức thu nợ Thí dụ, đối vớiphương pháp cho vay trả góp thì ngân hàng thu nợ bằng cách phân ra nhiều
kỳ hạn trả nợ và loại cho vay này chủ yếu được áp dụng trong cho vay bấtđộng sản nhà ở thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những ngườikinh doanh nhỏ (cho vay chợ), cho vay để mua sắm thiết bị; đối với cho vayphi trả góp, ngân hàng thu nợ một lần theo thời hạn đã thoả thuận; hay có loạicho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể, mà việc trả
nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay hoặc cho vay này được
áp dụng theo kỹ thuật thấu chi
2 Các biện pháp xử lý khoản nợ xấu:
Tùy theo mức độ và nguyên nhân của khoản cho vay có vấn đề mà ngânhàng có cách thức xử lý khác nhau Ngân hàng có thể tăng thêm tài sản thếchấp hay bán tài sản thế chấp, kéo dài thời hạn trả nợ hoặc cho vay tiếp nhưngnếu phân tích thấy khoản cho vay đó không còn khả thi thì ngân hàng tiếnhành các biện pháp xử lý thu hồi nợ
3 Khả năng xử lý nợ qua thị trường:
Như ta đã biết, xử lý nợ để thu hồi nợ khó đòi là điều ngân hàng khôngmong muốn Song khi nào thì ngân hàng phải xử lý nợ? Không phải là khiphát sinh nợ khó đòi đơn thuần là quá hạn 360 ngày thì ngân hàng lập tứcphải xử lý để thu hồi nợ mà ngân hàng vẫn tiếp tục xem xét khả năng trả nợcủa khách hàng và cho gia hạn thêm nếu xem xét thấy khách hàng vẫn cònkhả năng thanh toán Bởi vì mục đích của ngân hàng không phải là bắt nợkhách hàng mà luôn cố gắng hết sức giúp khách hàng trả nợ Nhưng nếukhách hàng không trả được nợ do nguyên nhân chủ quan thì ngân hàng phải
xử lý nợ Ngân hàng có thể xử lý nợ bằng cho thuê hay sử dụng tài sản đảm
Trang 25bảo tiền vay; có thể xử lý thông qua mua bán nợ hay cũng có thể sử dụng biệnpháp chứng khoán hóa.
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thu nợ
Chúng ta biết rằng hiệu quả hoạt động thu nợ có ý nghĩa rất lớn đến sựphát triển của các NHTM Để hoạt động thu nợ đạt hiệu quả cao đòi hỏi phảihiểu rõ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến thu nợ, có thể chia các nhân
tố ảnh hưởng đến thu nợ làm hai loại: các nhân tố bên ngoài (nhân tố kháchquan) và các nhân tố bên trong (nhân tố chủ quan)
1.3.3.1 Nhóm nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế luôn ảnh hưởng đến sức mạnh
tài chính của các doanh nghiệp vì vậy cũng ảnh hưởng gián tiếp đến hoạtđộng cho vay thu nợ của ngân hàng Môi trường kinh tế thuận lợi sẽ tạo điềukiện cho hoạt động cho vay phát triển Khi chu kỳ kinh doanh thuận lợi, cácdoanh nghiệp làm ăn có lãi, họ sẽ có nhu cầu vốn nhiều và do vậy làm tănghoạt động cho vay của ngân hàng cũng như hiệu quả hoạt động cho vay Cácnhân tố môi trường kinh tế như lạm phát, các biến động về tỷ giá, lãi suất, vềtiêu thụ sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay của ngân hàng.Như lạm phát cao, lãi suất thực sẽ giảm xuống từ đó làm giảm lợi nhuận củangân hàng Lãi suất luôn biến động trong nền kinh tế thị trường, và sự biếnđộng này ảnh hưởng đến công tác tín dụng Lãi suất ở mức thấp được điềuchỉnh lên cao hơn làm cho các doanh nghiệp cố tình đưa ra các lý do trì hoãnkhông trả nợ ngay để quay vòng vốn ngoài ngân hàng Vì nếu trả ngay sẽ phảivay với lãi suất cao hơn Mặt khác lãi suất cao cũng tạo nên gánh nặng về chiphí tài chính cho các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng
Môi trường pháp lý: Mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ về mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải đảm bảo trong khuôn khổ pháp
Trang 26luật Hoạt động cho vay của ngân hàng cũng vậy, phải tuân theo các quy địnhcủa NHNN, Luật các tổ chức tín dụng, luật dân sự và các quy định khác Nếucác quy định của pháp luật không rõ ràng, đồng bộ kịp thời thì rất khó khăncho ngân hàng trong hoạt động cho vay, đồng thời cũng tạo ra khó khăn tronghoạt động của các doanh nghiệp, họ sẽ không yên tâm hoạt động trong môitrường pháp lý như vậy, điều này ảnh hưởng đến chất lượng khoản vay màtrực tiếp là ảnh hưởng đến hiệu quả thu nợ Ngược lại, những văn bản phápluật rõ ràng, đầy đủ, đồng bộ, ổn định sẽ là một hành lang pháp lý vững chắcgóp phần vào sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trọng hoạt độngcho vay Và đó là cơ sở pháp lý để ngân hàng giải quyết các khiếu nại, tố cáokhi có tranh chấp xảy ra trong hoạt động cho vay Điều đó giúp chất lượngcác khoản cho vay của ngân hàng được nâng cao, mà điều này thể hiện thôngqua hiệu quả thu nợ các khoản cho vay đó
Môi trường chính trị - xã hội: Tình hình chính trị có ảnh hưởng tới sự
phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế trong đó có hoạt động ngân hàng.Tình hình chính trị ổn định tạo điều kiện cho sự phát triển gia tăng của hoạtđộng huy động vốn, cho vay, phát triển các loại hình dịch vụ, qua đó gópphần nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả thu nợ từ các khoản cho vay củangân hàng
1.3.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan
Từ phía ngân hàng: Nếu ngân hàng có một chính sách, quy trình cho
vay đúng đắn và cán bộ tín dụng, người quyết định cho vay có năng lực, tuânthủ pháp luật, thực hiện đúng quy trình với tư cách đạo đức nghề nghiệp tốtthì sẽ giảm thiểu rủi ro, tăng hiệu quả khoản vay thì khả năng thu nợ cũngcao Đơn cử như vấn đề đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng là một trongnhững nhân tố không nhỏ gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thu nợ củangân hàng Cán bộ tín dụng có thể không trung thực trong việc thu nợ từ
Trang 27khách hàng hay có thể thông đồng với khách hàng nhằm chiếm dụng vốn haycũng có thể quyết định cho vay theo ý muốn chủ quan nhằm thu lợi bất chính.Hay trong khâu thẩm định hồ sơ vay vốn, cán bộ tín dụng chấp hành khôngnghiêm quy chế tín dụng như không kiểm tra tính đầy đủ, đúng đắn và hợppháp của hồ sơ vay vốn, không kiểm tra đánh giá tài sản thế chấp theo quyđịnh hay chưa đánh giá chính xác về vòng quay vốn, thòi hạn giải ngân khônghợp lý, bất đồng bộ với kế hoạch sản xuất kinh doanh, chu kỳ luân chuyểnvốn của dự án dẫn đến không thu được nợ hoặc không thu đủ và không thuđúng hạn.
Khả năng xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi các khoản nợ có vấn đề còn hạnchế Đối với NHTM nhất là các NHTM của nhà nước, việc xử lý tài sản đảm bảo
để thu hồi nợ chưa được làm dứt điểm khiến cho các khoản nợ quá hạn có nguy
cơ trở thành mất trắng do khách hàng không lo lắng cho việc trả nợ
Khả năng và các phương thức thu hồi nợ còn kém hiệu quả, chủ yếu dựavào quyết định hành chính, cưỡng chế thu hồi nợ qua thị trường
Từ phía khách hàng:
Khách hàng không thể trả được nợ: Khách hàng không thể trả được nợ
có thể do họ gặp những rủi ro trong hoạt động kinh doanh như thiên tai, hỏahoạn, chiến tranh, khủng bố hay những biến động trên thị trường làm chongười vay mất đi khả năng trả nợ
Một lý do nữa khiến khách hàng không thể trả được nợ đó là việc quản
lý sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, sử dụng vốn vay không đúng mục đích,tiền vay về không có tác dụng thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh Mộtkhoản vay được coi là có hiệu quả, khách hàng có thể trả nợ ngân hàng cả gốc
và lãi tiền vay đúng thời hạn thì người quản lý phải có trình độ nghiệp vụ, cónăng lực điều hành quản lý nhất là trong một nền kinh tế mở, cạnh tranh trên
Trang 28thị trường ngày càng gay gắt Nói đơn cử, người quản lý không dự đoán đúngthị trường, mức bán hàng và doanh số, quyết định mua một khối lượng hànghóa và dịch vụ quá lớn, thanh toán trả chậm nhưng không thể bán được hànghoặc các nguyên nhân khác làm ứ đọng hàng hóa dẫn đến không thể thanhtoán được các khoản nợ khi đến hạn.
Khách hàng không muốn trả nợ: Có không ít khách hàng vay vốn là
những người không những kém về năng lực mà còn kém về tư cách đạo đức
Họ không có ý thức trong vấn đề sử dụng vốn vay hoặc thiếu ý thức trong vấn
đề trả nợ, không lo lắng quan tâm đến nợ ngân hàng mặc dù khả năng tàichính của họ là có
Khách hàng cố tình lừa đảo vay vốn ngân hàng không nhằm mục đíchsản xuất kinh doanh mà nhằm chiếm dụng vốn ngân hàng cho mục đích cánhân Đây là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng và hiệu quả thu nợ mà ngânhàng khó đoán biết trước được và các khoản vay này thường gây ra các khoản
nợ khó đòi hoặc nợ có khả năng mất trắng không thể thu hồi được
1.4 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG TẠI THÁI LAN TRONG HOẠT ĐỘNG THU NỢ
Như đã trình bày ở phần trên, hoạt động cho vay có hiệu quả luôn là hoạtđộng đem lại lợi nhuận rất lớn cho các ngân hàng nên bất cứ một ngân hàngnào cũng quan tâm đến hiệu quả thu được từ các khoản cho vay (số tiền thuhồi nợ gốc và lãi) Dưới đây là kinh nghiệm xử lý thu nợ của các ngân hàngThái Lan
* Tách bạch, phân công rõ chức năng của các bộ phận và tuân thủ các khâu trong quy trinh giải quyết các khoản vay.
- Tại Bangkok Bank, ngân hàng tách độc lập bộ phận tiếp nhận giải quyết
hồ sơ và bộ phận thẩm định Trong đó bộ phận thẩm định phải báo cáo thẩm
Trang 29định tín dụng gồm: chiến lược và kế hoạch kinh doanh, báo cáo xếp hạng rủiro điều này nhằm đảm bảo tính độc lập khách quan trong quá trình làm việc.
- Tương tự tại Siam Commercial Bank (SCB) cũng xây dựng mô hình tổchức triển khai dịch vụ tín dụng theo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm của
4 bộ phận: bộ phận Marketing khách hàng, bộ phận thẩm định, bộ phận quyếtđịnh cho vay và bộ phận theo dõi thu nợ khoản vay Trong đó bộ phậnMarketing khách hàng đã phân loại khách hàng theo từng nhóm khác nhaunhư khách hàng tiêu dùng, khách hàng kinh doanh, khách hàng cá nhân từ
đó nhận rõ tính chất khác nhau làm cơ sở cho các bộ phận khác xác định đúngđối tượng vay và áp dụng phương thức trả nợ hợp lý từ đó có thể thu nợ mộtcách dễ dàng
- Kasikorn Bank đã tổng kết quy trình cho vay - thu nợ cần được tuân thủnhư sau:
Tiếp xúc khách hàng
Phân tích tín dụng
Thẩm định tín dụng
Đánh giá rủi ro tín dụng
Quyết định cho vay
Thủ tục giấy tờ hợp đồng, giải ngân
Giám sát khoản vay và thực hiện thu nợ theo Hợp đồng tín dụng
Đánh giá chất lượng, xem lại khoản vay
Trong quy trình nói trên, bộ phận thu nợ và bộ phận quyết định tín dụnghầu như độc lập với nhau
Cũng với quy trình tương tự, trong khâu phân tích tín dụng, Siam CityBank (SCIB) cũng dựa trên các phương pháp sau:
Trang 30+ Phương pháp phân tích truyền thống: đánh giá doanh nghiệp dựa vàodanh tiếng, mối quan hệ và tài sản đảm bảo.
+ Phương pháp 5Cs: Uy tín (Character), năng lực trả nợ (Capacity), vốn(Capital), tài sản bảo đảm (Collateral), điều kiện (Conditions), phân tíchSWOT (Strength-Weakness/Opportunity-Threat) và dự báo dòng tiền, phântích các chỉ số tài chính chủ yếu
* Tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng.
- Tại Kasikorn Bank, trước đây chỉ quan tâm đến tài sản thế chấp, khôngquan tâm đến dòng tiền của khách hàng vay Vì thế hậu quả là hiệu quả thu nợchỉ đạt 60% (năm 1997-1999) Ngân hàng đã tìm ra nguyên nhân là khôngtuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc trong quá trình cho vay Giờ đây, ngân hàng
đã quan tâm và thực hiện triệt để các nguyên tắc tín dụng, đặc biệt là cácthông tin về khách hàng Cụ thể khi khách hàng đến vay vốn, các bộ phận liênquan trong ngân hàng phải giải đáp được các vấn đề như tư cách người vay,hiệu quả kinh doanh, mục đích khoản vay, khả năng kiểm soát khoản vay,thực trạng tài chính của khách hàng mới quyết định cho vay Vì đó chính lànhững điều kiện cần cho một khoản vay tốt cũng như hiệu quả thu nợ từkhoản vay đó
- Tại SCIB, cũng tương tự các tiêu chí khi quyết định cho vay nhưng đặcbiệt quan tâm các vấn đề như vay để làm gì? Nguồn vốn cần trong bao lâu:Lấy nguồn nào để trả nợ? Trả trong bao lâu? đây là các tiêu chí quan trọngđánh giá khách hàng có thể trả nợ tốt hay không
* Cho điểm khách hàng
Siam City Bank đã áp dụng việc cho điểm khách hàng để quyết định chovay đối với tín dụng doanh nghiệp và tín dụng tiêu dùng
Trang 31Uy tín của tín dụng được xếp theo các hạng từ AAA (chất lượng cao, rủi
ro thấp, khả năng trả nợ cao nhất) đến D (nguy cơ vỡ nợ) Trong đó, hạng đểxét cho vay được xếp từ AAA+, AAA, AAA-, A+, A, A-, BBB+, BBB, BBB-;không xem xét cho vay là các hạng còn lại BB+ , BB, BB -, C, D Các hạng tíndụng này được xếp theo tiêu chuẩn của S&P (Standard and Poor)
Kasikorn Bank thì ứng dụng xếp loại tín dụng như một công cụ quyếtđịnh tự động đối với các khoản cho vay tiêu dùng, cho vay cầm cố thế chấp,cho vay cá nhân, cho vay doanh nghiệp nhỏ Ngân hàng đã sử dụng mẫu giaodịch của khách hàng hiện có về lịch sử pháp lý, lịch sử giao dịch, lịch sửthanh toán và lịch sử số liệu khác để dự báo rủi ro, đồng thời ứng dụng chấmđiểm Họ sử dụng các dữ liệu từ các chương trình ứng dụng tín dụng như: giớitính, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, kinh nghiệm làm việc, số dư tiền gửi củakhách hàng
* Tuân thủ thẩm quyền phán quyết tín dụng
* Giám sát khoản vay:
Sau khi cho vay, các ngân hàng này rất coi trọng việc kiểm tra giám sátcác khoản vay bằng cách tiếp tục thu thập thông tin về khách hàng; thườngxuyên giám sát và đánh giá xếp loại khách hàng; có biện pháp xử lý kịp thờicác tình huống rủi ro
Ngoài các vấn đề quan trọng nói trên, các ngân hàng của Thái Lan đềurất coi trọng việc thực hiện chuyên môn hóa, cập nhật hiểu biết về nghềnghiệp cho nhân viên, liên tục đào tạo theo từng loại công việc để nâng caotrình độ, kỹ năng và khả năng thực thi độc lập nhiệm vụ được phân công
Trang 32Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ THU NỢ TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT LÁNG HẠ
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH NHNo&PTNT LÁNG HẠ
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ
Cùng với sự ra đời của một số Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp tại cácthành phố, khu đô thị và trung tâm kinh tế trên mọi miền đất nước trong giai đoạn1996-1997, ngày 01/08/1996 tại Quyết định số 334/QĐ-NHNo-02 của Tổng giámđốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) Việt Nam,Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ đã được thành lập và chính thức đi vàohoạt động từ 17/03/1997 Những ngày đầu thành lập, tổng số cán bộ viênchức của Chi nhánh chỉ có 13 người, cơ cấu tổ chức bao gồm Ban giám đốc,Phòng kế hoạch kinh doanh và Kế toán ngân quỹ với nguồn vốn hơn 10 tỷđồng nhận bàn giao từ Ngân hàng phục vụ người nghèo (nay là Ngân hàngChính sách Xã hội Việt Nam), tài liệu phục vụ cho hoạt động kinh doanh cònthiếu rất nhiều, sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vựcĐông Nam Á bắt đầu từ Thái Lan đã ảnh hưởng không nhỏ đến thị trườngnước ta Tuy nhiên Chi nhánh đã nhanh chóng vượt qua những khó khăn banđầu và đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ, được thể hiện bằng những
số liệu cụ thể sau:
Số lượng vốn huy động từ 202 tỷ đồng năm 1997, 2.043 tỷ đồng năm
2000, lên đến 5.905 tỷ đồng năm 2006, 7.275 tỷ đồng năm 2007 và lên đến
Trang 339.094 tỷ đồng năm 2008.
Dư nợ tăng trưởng từ 51 tỷ đồng năm 1997, 661 tỷ đồng năm 2000, lên đến2.057 tỷ đồng năm 2006, 2.841 tỷ đồng năm 2007 và đạt 2.727 tỷ đồng năm 2008.Tính đến 31/12/2008, Chi nhánh có 06 Phòng giao dịch đang hoạt động trênkhắp địa bàn Hà Nội Số lượng nhân viên là 221 người, trong đó trình độ trên đạihọc là 13 người (chiếm 5,9%), trình độ đại học cao đẳng là 208 người
Đến nay qua hơn 10 năm hoạt động với những thành tựu đã đạt được,Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ đã từng bước khẳng định được vị thế và
uy tín của mình trên địa bàn thủ đô với nhiều đối thủ cạnh tranh có tiềm lực
và kinh nghiệm kinh doanh lâu đời hơn
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý hoạt động của Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ
Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ là Chi nhánh cấp I loại 1, là thànhviên của NHNo&PTNT Việt Nam Đến 31/12/2008 Chi nhánh có mô hình tổchức thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1 Mô tổ chức Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ
Phßng kÕ ho¹ch
Phßng dÞch vô Market -ting
C¸c phßng giao dÞch trùc thuéc
Phßng tÝn dông
Phßng thanh to¸n quèc tÕ
Trang 34Các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ bao gồm:
- Phòng giao dịch số 02 (Số 179 Phùng Hng, Q Hoàn Kiếm, Hà Nội)
- Phòng giao dịch số 03 (Số 36 Doãn Kế Thiện, Q Cầu Giấy, Hà Nội)
- Phòng giao dịch số 05 (C2 phố Trung Kính, Q Cầu Giấy, Hà Nội)
- Phòng giao dịch số 07 (Số 106 Đào Tấn, Q Ba Đình, Hà Nội)
- Phòng giao dịch số 08 (Số 22 đờng Hồng Liên, Q Thanh Xuân, Hà Nội)
- Phòng giao dịch số 11 (D5 Khu đô thị Cầu Giấy, Q Cầu Giấy, Hà Nội)
(Ghi chú: Năm 2008 Chi nhánh Mỹ Đình và Chi nhánh Bách Khoa đã tách ra thành chi nhánh cấp I loại II)
Cỏc Phũng chuyờn mụn nghiệp vụ, và Phũng giao dịch trực thuộc Chinhỏnh NHNo&PTNT Lỏng Hạ thực hiện cỏc chức năng, nhiệm vụ theo quyđịnh của NHNN và của NHNo&PTNT Việt Nam Việc phõn định chức năngnhiệm vụ rừ ràng giữa cỏc phũng ban và sự mở rộng mạng lưới Chi nhỏnh,Phũng giao dịch đó gúp phần rất lớn vào sự thành cụng của Chi nhỏnhNHNo&PTNT Lỏng Hạ trong thời gian qua
2.1.3 Tỡnh hỡnh hoạt động kinh doanh của Chi nhỏnh NHNo&PTNT Lỏng Hạ
2.1.3.1 Tỡnh hỡnh hoạt động chung của NHNo&PTNT Lỏng Hạ:
Những năm qua, Chi nhỏnh NHNo&PTNT Lỏng Hạ đó đạt được nhữngthành tựu đỏng kể Giai đoạn 2006 - 2008 là giai đoạn Chi nhỏnhNHNo&PTNT Lỏng Hạ đó tự khẳng định được vị thế và uy tớn của mỡnhtrong hệ thống Ngõn hàng nụng nghiệp và đặc biệt là trờn địa bàn Thủ đụ Điều này được biểu hiện qua hệ thống số liệu sau:
Bảng 2.1: Tỡnh hỡnh hoạt động kinh doanh của Chi nhỏnh
NHNo&PTNT Lỏng Hạ năm 2006-2008
Trang 357.275 6.210 1.065
9.094 7.669 1.425
1.370 1.357 13
23 28 1
1.819 1.459 360
25 23 34
2 Sử dụng vốn
-Nội tệ
-Ngoại tệ
2.057 978 1.079
2.841 1.452 1.389
2.727 1.942 785
784 474 310
38 48 29
-114 490 -604
-4 34 -43
Mặc dù hoạt động trên địa bàn có số lượng lớn ngân hàng thương mại và
có sự cạnh tranh gay gắt cả về lãi suất tiền gửi cũng như công nghệ ngân hànghiện đại nhưng với quyết tâm và nỗ lực phấn đấu tăng trưởng nguồn vốn, Chinhánh NHNo&PTNT Láng Hạ đã đẩy mạnh công tác huy động vốn trong đócoi trọng nguồn tiền gửi của dân cư Nguồn vốn huy động biến đổi qua cácnăm, nhưng nhìn chung công tác tạo lập vốn của Chi nhánh đã có nhữngthành công đáng và 09 Phòng giao dịch kể thông qua mạng lưới huy động vốn
từ 02 Chi nhánh cấp II (trước năm 2008) Tính đến 31/12/2008 tổng nguồnvốn huy động được đạt 9.094 tỷ động, tăng 1.819 tỷ đồng so với năm 2007,vượt 19% kế hoạch năm 2008 (kế hoạch: 6.307.870 tỷ đồng) Số liệu phảnánh tình hình huy động của Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ được trình bày
cụ thể như sau:
Bảng 2.2: Hoạt động huy động vốn
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Trang 36Chỉ tiêu 2006 2007 2008
Tỷ trọng (%)
2006 2007 2008
Tổng nguồn vốn 5.90 5 7.27 5 9.09 4 100% 100% 100%
I Quy mô vốn theo kỳ hạn nguồn
- Tiền gửi không kỳ hạn 1.278 1.982 1.364 21,6 27,2 15
- Tiền gửi kỳ hạn dưới 12
- Tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng
trở lên
3.768
5.00
2 7.093
2 Quy mô vốn theo thành phần kinh tế
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ
năm 2006 - 2007
* Quy mô vốn theo kỳ hạn nguồn:
Ta thấy cơ cấu nguồn vốn còn chưa hợp lý, tỷ trọng tiền gửi không kỳhạn năm 2007 cao hơn năm 2006 nhưng lại giảm vào năm 2008, nguồn tiềngửi có kỳ hạn chủ yếu với lãi suất cố định tuy ổn định nhưng dễ dẫn đến rủi
ro về mặt lãi suất Đặc biệt là trong năm 2008, lãi suất biến động mạnh đã tácđộng không nhỏ tới việc huy động vốn của ngân hàng: tăng mạnh trong 9tháng đầu năm và giảm dần vào những tháng cuối năm Việc ngân hàng chủyếu huy động nguồn trung và dài hạn để thực hiện cho vay và đầu tư vào
Trang 37những dự án ngắn hạn sẽ bị ảnh hưởng bởi yếu tố lãi suất Điều này khiến chongân hàng quản lý rủi ro khó hơn, lợi nhuận không được đảm bảo Do đó,trong năm tới, Chi nhánh cần có những chính sách cụ thể để quản lý việc huyđộng vốn tốt hơn.
* Quy mô vốn theo thành phần kinh tế
Như vậy, năm 2008 Chi nhánh Láng Hạ đã đạt được kết quả khả quan tronghoạt động huy động vốn: Với mức tăng trưởng ở mức cao đạt 125% so với năm
2007, vượt 10,2% so với kế hoạch Trung ương giao (kế hoạch: 8.250 tỷ đồng).Theo số liệu này, nguồn vốn từ dân cư năm 2008 tăng 543 tỷ đồng so với năm
2007, tuy nhiên tỷ trọng còn khá khiêm tốn (32%) so với tổng nguồn vốn huyđộng, Chi nhánh cần có những biện pháp để nâng tỷ lệ này cao hơn (theo kếhoạch của Trung ương là 42%) Bên cạnh đó, Chi nhánh cũng thu hút được mộtlượng vốn không kỳ hạn lớn từ việc ngân hàng giải ngân các dự án ODA do WB,ADB tài trợ tại các Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Bộ Tài nguyên & Môitrường Làm tốt các đợt huy động vốn như tiết kiệm dự thưởng, phát hành chứngchỉ tiền gửi dài hạn, trái phiếu Agribank 2008 của Trung ương đã tạo ưu thế choChi nhánh trong cạnh tranh huy động vốn với các TCTD khác trên địa bàn
2.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn
Huy động vốn là điều kiện cần thiết để tiến hành các hoạt động kinhdoanh, còn sử dụng vốn là hoạt động mang lại thu nhập, bảo đảm sự tồn tại vàphát triển của NHTM Với một ngân hàng thương mại vẫn còn mang tínhtruyền thống thì hoạt động sử dụng vốn chủ yếu là từ hoạt động cho vay Hầuhết các khoản thu nhập của Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ là từ lãi tiềnvay (95%-97%), ý thức rõ vai trò và tầm quan trọng của hoạt động nên trongthời gian qua Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ đã có nhiều biện pháp nhằm
mở rộng quy mô tín dụng gắn liền với nâng cao chất lượng tiền vay thể hiệnqua hiệu quả thu nợ Những kết quả đạt được trong hoạt động cho vay của
Trang 38Chi nhánh được thể hiện dưới đây:
* Về dư nợ cho vay:
Dư nợ cho vay là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho vay vào thờiđiểm cuối kỳ Nó phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng cho nềnkinh tế
Tỷ trọng
Số tiền
Tỷ trọng
Trang 39về quy mô nhưng dư nợ ngoại tệ lại giảm Điều này có thể được lý giải bằngviệc năm 2008 là năm biến động lớn về lãi suất, nền kinh tế toàn cầu rơi vàokhủng hoảng: lãi suất huy động vốn tăng mạnh có lúc lên tới 18,7%/năm,đồng thời lãi suất cho vay cũng tăng khiến các DNVVN không dám vay vốn.Tuy nhiên, tình hình biến động lãi suất đã nguội dần vào những tháng cuốinăm nên dư nợ cho vay của Chi nhánh phần nào được cải thiện Việc hạ mứclãi suất đã kích thích nền kinh tế trong nước, góp phần tăng sức cạnh tranh
trong nền kinh tế hội nhập
- Dư nợ theo thành phần kinh tế:
Biểu 2.1: Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế
Qua bảng trên ta thấy, tổng dư nợ của Chi nhánh không đều qua các năm
Dư nợ tín dụng của Chi nhánh chủ yếu là dư nợ cho vay doanh nghiệp lớn, tỷtrọng cho vay doanh nghiệp lớn luôn chiếm trên 50% tổng dư nợ cho vay củatoàn Chi nhánh, năm 2008 tỷ trọng này tăng lên tới 61,3%, tuy nhiên, tỷ trọngcho vay DNVVN và cho vay tiêu dùng, cá nhân lại giảm Đó là do Chi nhánhđang gặp khó khăn trong phương thức tiếp cận với các DNVVN Trong tươnglai, ngân hàng cần có những chính sách tiếp thị mới nhằm tiếp cận sâu rộnghơn nữa số lượng khách hàng, chiếm thị phần cao thông qua việc nâng cao
Trang 40doanh số cho vay Bên cạnh đó, cần tăng doanh số thu nợ đối với các DN lớn
để hướng tới các khách hàng là DNVVN vì lãi suất cho vay DN lớn luôn thấphơn cho vay đối với DNVVN và cho vay tiêu dùng Việc cho vay hướng đếncác thành phần DNVVN cũng là đi theo xu thế chung (phát triển kinh tế theohướng mở rộng, khuyến khích kinh tế tư nhân, hộ gia đình, theo chủ trươngchính sách của Đảng)
- Dư nợ theo thời gian:
Biểu 2.2: Dư nợ cho vay theo thời gian
Qua bảng trên ta thấy, cơ cấu của dư nợ cho vay là tương đối ổn định trongnhững năm gần đây Mặc dù năm 2008 là năm nền kinh tế toàn cầu gặp khókhăn nhưng Chi nhánh vẫn duy trì được mức dư nợ cho vay ở mức 96% năm
2007 Điều đó chứng tỏ, trong những năm vừa qua Chi nhánh đã có những nỗlực rất lớn trong công tác tín dụng Dư nợ cho vay ngắn hạn luôn chiếm trên50% tổng dư nợ cho vay, điều này đã góp phần tăng lợi nhuận cho ngân hàng
vì cho vay trong thời hạn ngắn thì sẽ thu hồi và bảo toàn vốn hơn là cho vaytrong thời hạn dài, khó thu được nợ mà rủi ro về lãi suất và tỷ giá là rất lớn
* Các hoạt động tín dụng khác: