Tham gia hoạt động kinh doanh thẻ từ những ngày đầu tiên tại Việt Nam,Ngân hàng Ngoại thương Việt nam luôn chú trọng ứng dụng công nghệ mới, pháttriển sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch
Trang 1Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chính xác.
Trang 3Amex American Express
ATM Automated Teller Machine
(Máy rút tiền tự động) Banknet Công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia Việt Nam BCEL Ngân hàng thương mại ngoại thương Lào
BIN Bank Identification Number
ĐƯTM Điểm ứng tiền mặt
ĐVCNT Đơn vị chấp nhận thẻ
EDC Electric Data Capturer
(Máy thanh toán thẻ tự động) MSC MasterCard SecureCode
NHNNVN Ngân hàng nhà nước Việt Nam
NHPH Ngân hàng phát hành
NHTMVN Ngân hàng Thương mại Việt Nam
NHTT Ngân hàng thanh toán
PIN Personal Identification Number
POS Point of sales (máy tính tiền cao cấp)
TCTQT Tổ chức thẻ quốc tế
TMCP Thương mại cổ phần
VbV verified by Visa
Vietcombank Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
VNBC Công ty cổ phần thẻ thông minh
Trang 41 DANH MỤC CÁC BẢNG
2 DANH MỤC HÌNH VẼ
3 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong thời đại ngày nay, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tếđang diễn ra mạnh mẽ, thị trường thế giới trở thành một sân chơi chung cho tất cảcác nước trên thế giới Trong xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đã gia nhập tổ chứckinh tế thế giới WTO đem đến nhiều thời cơ và thách thức đan xen trên nhiều lĩnhvực kinh tế, trong đó có lĩnh vực tài chính ngân hàng Nắm bắt được xu thế đó, cùngvới toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổphần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã và đang không ngừng đưa ra cácsản phẩm dịch vụ tiên tiến trên nền tảng của khoa học công nghệ cao, mở rộng tiệních cho khách hàng đặc biệt là trong lĩnh vực thẻ ngân hàng
Tham gia hoạt động kinh doanh thẻ từ những ngày đầu tiên tại Việt Nam,Ngân hàng Ngoại thương Việt nam luôn chú trọng ứng dụng công nghệ mới, pháttriển sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, tiện ích sử dụng thẻ cho khách hàng.Doanh số phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ của Vietcombank luôn đạt tốc độtăng trưởng cao, chiếm hơn 50% doanh số trên thị trường Bên cạnh những thànhtựu đạt được, Vietcombank cũng phải đối mặt với những rủi ro trong quá trình kinhdoanh thẻ, sự tấn công của các tổ chức tội phạm thẻ quốc tế khi chúng chuyển
hướng sang thị trường Việt nam Từ năm 2002 đến nay, tình hình giả mạo, gian lận trong phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ ngân hàng Ngoại thương đang tăng với tốc độ đáng ngại Các rủi ro trong hoạt động thẻ ngày càng đa dạng và phức tạp như lấy cắp thông tin làm thẻ giả, bẫy thẻ, bẫy tiền, đảo ngược giao dịch…gây tổn thất cho ngân hàng, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, đòi hỏi ngân hàng cần có
sự quan tâm thích đáng đến hoạt động quản lý rủi ro trong quá trình kinh doanh thẻ
Là một cán bộ Trung Tâm Thẻ ngân hàng Ngoại thương, qua thực tiễn côngtác và với mong muốn hoạt động kinh doanh thẻ của Vietcombank ngày càng antoàn, hiệu quả, tôi đã chọn đề tài : "Quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại ngânhàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu củamình
Trang 62 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu gồm các nội dung chính sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản trị rủi ro
- Phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại ngân hàngVietcombank để tìm ra những nguyên nhân của các rủi ro ở Vietcombank
- Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh thẻ ởVietcombank
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại Vietcombank
* Thời gian nghiên cứu:
- Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2006 đến nay
- Số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2011
* Phạm vi nghiên cứu: tại các Ngân hàng trên địa bàn Hà Nội và tại Hội sởchính ngân hàng Vietcombank
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Quá trình nghiên cứu
Trang 74.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các Báo cáo thường niên, Bản công bốthông tin, từ các cơ quan thống kê, tạp chí…và được xử lý trên máy tính Mục đíchnhằm thu thập các số liệu thực tế về tình hình rủi ro trong phát hành và thanh toánthẻ từ đó phân tích, đánh giá các rủi ro về thẻ tại Vietcombank
4.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Các số liệu sơ cấp được thu thập từ các bài phỏng vấn trực tiếp, các phiếucâu hỏi:
- Tiến hành phỏng vấn trực tiếp giám đốc Trung tâm thẻ, phụ trách phòngQuản lý rủi ro tại trung tâm Thẻ ngân hàng Vietcombank
Báo cáo
thường niên,
tạp chí
Điều tra bằng phiếu câu hỏi
Phỏng vấn lãnh đạo Trung tâm thẻ Vietcombank
Thực trang quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ Vietcombank
Các loại rủi ro trong kinh doanh thẻ tại Vietcombank
Yêu cầu đối với quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại Vietcombank
Giải pháp quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại Vietcombank
Trang 8+ Phỏng vấn Giám đốc trung tâm Thẻ: Dự kiến các giải pháp nhằm quản trịrủi ro về thẻ trong thời gian tới của Vietcombank?
+ Phỏng vấn phụ trách phòng Quản lý rủi ro: Tình hình rủi ro hiện nay tạiVietcombank? Các giải pháp hiện đang sử dụng để quản trị rủi ro? Đề xuất để hoạtđộng quản trị rủi ro ngày càng hiệu quả?
- Lập các phiếu câu hỏi để điều tra công tác quản lý rủi ro tại các ngân hàng:+ Lập phiếu điều tra khoảng 20 ngân hàng: Bao gồm các ngân hàng trên địabàn Hà Nội
+ Cách phát phiếu: Lập phiếu câu hỏi và đến trực tiếp các ngân hàng đề gửiphiếu điều tra
4.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh để phân tích dữ liệu
Các số liệu sau khi được thu thập sẽ được phân tích bằng phần mềm Excel vàSPSS
- Sử dụng các bảng biểu, sơ đồ, mô hình để phân tích và minh họa
Trên cơ sở nghiên cứu kỹ các dữ liệu và kết quả phân tích để xác định cácnguyên nhân và đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro về thẻ cho ngân hàng
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kinh doanh thẻ và quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH THẺ
VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH
Tuy nhiên, ngân hàng không phải là ngành đầu tiên phát hành thẻ Thẻ thanhtoán xuất hiện đầu tiên ở Mỹ Nó ra đời năm 1914, khi đó Tổng công ty xăng dầuCalifornia cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình Thẻ chỉ nhằmkhuyến khích bán sản phẩm của công ty chứ không kèm theo việc gia hạn tín dụng.Sau đó, các hệ thống cửa hàng bán lẻ tiếp tục phát triển hình thức tài trợ khách hàngnày thông qua việc phát hành thẻ, theo hình thức tiêu trước trả tiền sau, cho cáckhách hàng phù hợp với những tiêu chuẩn thẩm định của họ để khuyến khích tiêudùng, tăng doanh thu Tuy nhiên, việc phát hành thẻ (hay các phiếu bán hàng) cónhiều hạn chế với các cửa hàng: khả năng tài trợ có hạn, chi phí quản lý cao ảnhhưởng đến lợi nhuận, thẻ của mỗi hệ thống chỉ sử dụng được trong hệ thống đó nêntính tiện lợi của thẻ không cao, nhiều đại lý nhỏ không đủ điều kiện và khả năngcung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ Nhu cầu có một loại thẻ chung để cóthể sử dụng thanh toán tại các điểm bán hàng trở nên rất cấp thiết và chính nó đã tạođiều kiện cho các tổ chức tài chính vào cuộc
Năm 1946, dạng thẻ đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charge-It của ngân hàngJohn Biggins xuất hiện tại Mỹ, cho phép các khách hàng thực hiện các giao dịch nộiđịa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành Các đại lý nộp các phiếu giao
Trang 10dịch cho ngân hàng Biggins, ngân hàng sẽ thanh toán các giao dịch đó cho các đại
lý và thu lại tiền từ các khách hàng
Những năm sau đó, ngày càng có nhiều tổ chức tài chính tham gia vào thịtrường thẻ Thẻ Charge-It đã mở đường cho sự ra đời của thẻ vào năm 1951 do ngânhàng Franklin National, New York phát hành Tại đây, khách hàng xin cấp hạn mứctín dụng và được thẩm định khả năng thanh toán, tình hình tài chính thông qua hoạtđộng tín dụng trước đó của họ với ngân hàng Những khách hàng đủ tiêu chuẩn sẽđược cấp thẻ để thực hiện giao dịch tại các đại lý chấp nhận thẻ Các cơ sở này khinhận được giao dịch sẽ liên hệ với ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thựchiện giao dịch và đòi tiền sau đối với ngân hàng Các chủ thẻ phải trả toàn bộ dư nợvào cuối tháng Năm 1955, hàng loạt thẻ mới như Trip Charge, Golden Key,Gourmet Club rồi đến Carte Blanche và American Express (1958), JCB (1961) rađời Năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng củariêng mình, the Bank Americard, và đã đạt được nhiều thành công Với những lợiích của hệ thống thanh toán này, ngày càng có nhiều tổ chức tín dụng tham giathanh toán Nhiều tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu liên kết để cạnh tranh vớiBank of America Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ chức Interbank(Interbank Card Association-ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi thông tincác giao dịch thẻ tín dụng Năm 1967, bốn ngân hàng California đổi tên từCalifornia Bankcard Association thành Western States BankCard Association(WSBA) và mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tâynước Mỹ Sản phẩm thẻ của tổ chức này là Master Charge Tổ chức này cũng cấpphép cho Interbank sử dụng tên và thương hiệu Master Charge Vào cuối thập niên
1960, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của Master Charge và đủ sứccạnh tranh với Bank Americard
Tuy nhiên, để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút được khách hàng cầnphải có một mạng lưới thanh toán lớn, không chỉ trong phạm vi một địa phương,một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu Đứng trước đòi hỏi đó, Inter Bank (MasterCharge) và Bank of American (Bank Americard) đã xây dựng một hệ thống các quy
Trang 11tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ toàn cầu Năm 1977, Bank Americard trởthành Visa USA và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế Visa Năm 1979, MasterCharge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là Master Card 4 tổ chứcthẻ quốc tế lớn nhất hiện nay là Visa, Master Card, Amex, JCB.
Do thẻ ngày càng được sử dụng rộng rãi, các công ty và các ngân hàng liênkết với nhau để khai thác lĩnh vực thu lợi nhuận này Thẻ dần dần được xem nhưmột công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán Các loại thẻMaster Card, Visa, Amex, JCB được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và cùng phânchia những thị trường rộng lớn
1.1.2 Khái niệm và phân loại thẻ:
1.1.2.1 Khái niệm:
Đối với thẻ thanh toán có nhiều khái niệm để diễn đạt nó, mỗi một cách diễnđạt nhằm làm nổi bật một nội dung nào đó Sau đây là một số khái niệm về thẻthanh toán:
- Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hànghoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặccác máy rút tiền tự động
- Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi Ngânhàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty
- Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thôngqua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổchức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant) Nó cho phép thực hiện thanhtoán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán
Tóm lại: các cách diễn đạt trên đều phản ánh lên đây là một phương thứcthanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch
vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động
Thẻ ngân hàng là một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt hiện đại.Theo quy chế phát hành, thanh toán và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻngân hàng – ban hành kèm theo quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 5
Trang 12năm 2007 của Thống đốc NHNN), thẻ ngân hàng được định nghĩa: là phương tiện
do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện vàđiều khoản được các bên thỏa thuận
sử dụng vì công nghệ in quá thô sơ, tính bảo mật kém, dễ bị làm giả
- Thẻ từ (magnetic stripe): là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa đượcdập nổi ở mặt trước của thẻ vừa được mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ Cácthông tin này phải đảm bảo chính xác và khớp với nhau Đây là loại thẻ phổ thôngnhất thế giới Nó được ra đời ngay từ ngày đầu của nền tảng của nền công nghiệpthẻ và đến nay vẫn tỏ ra hữu hiệu Cùng với kĩ thuật in hình chìm nhiều lớp biểutượng và hologram, cộng thêm in ảnh và chữ kí của khách hàng trên thẻ, các Tổchức thẻ và các Nhà phát hành thẻ đã làm cho loại thẻ này tăng thêm tính bảo mật
và an toàn trong sử dụng thẻ
- Thẻ thông minh (Smart card ): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tínhbảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chipđiện tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo Thông thường một tấm thẻ thôngminh được gắn chip điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ Cũng có trường hợpthẻ thông minh có cả Chip điện tử và băng từ Chip điện tử độc lập với thẻ và đượcgắn trên bề mặt của thẻ, về bản chất gồm 2 loại chip: chip bộ nhớ và chip xử lý dữliệu Trong đó, chip bộ nhớ lưu trữ toàn bộ các thông tin cần thiết có thể cung cấpcho thẻ trong mỗi lần sử dụng; còn chip xử lý dữ liệu có khả năng bổ sung, xóa bỏhoặc điều chỉnh các thông tin trong bộ nhớ Thẻ thông minh gắn chip xử lý dữ liệu
có khả năng vừa lưu trữ các thông tin về chủ thẻ, điểm thưởng thích lũy đồng thời
Trang 13lưu giữ số liệu về những lần giao dịch tại ĐVCNT Tính năng vượt trội này của thẻthông minh giúp cắt giảm chi phí xử lý đối với ngân hàng và các trung gian thanhtoán bởi việc đối chiếu thông tin tài khoản và thông tin của chủ thẻ cũng như việccập nhập thông tin liên quan tới thẻ giờ đây được thực hiện ngay tại ĐVCNT ThẻChip khắc phục nhiều nhược điểm của thẻ khắc chữ nổi và thẻ từ do hạn chế việc sửdụng thẻ giả mạo, đảm bảo tính an toàn cao Tuy nhiên, do sử dụng công nghệ mớinên giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận thanh toán thẻ này cũng đắt nên sửdụng còn chưa phổ biến như thẻ từ Việc phát hành và chấp nhận thanh toán thẻ nàymới chỉ phổ biến ở các nước phát triển dù các tổ chức thẻ quốc tế vẫn khuyến khíchcác ngân hàng thành viên phát hành và thanh toán loại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi
từ khi thẻ đuợc dùng để thanh toán hàng hoá dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền chongân hàng có độ dài tuỳ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của từng tổ chức thẻ khácnhau Chủ thẻ phải thanh toán ít nhất mức trả nợ tối thiểu khi đến hạn quy đinh Nếuchủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn, thời gian này sẽ trở thànhthời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toàn được miễn lãi đối với số dư nợ cuối kỳ Tuyvậy nếu hết thời gian này mà chủ thẻ vẫn chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán hết
dư nợ cuối kỳ cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ phải chịu những khoản phí và lãi chậmtrả trên số dư nợ còn lại Sau khi thanh toán hết dư nợ phát sinh trong kỳ, hạn mức
Trang 14tín dụng của chủ thẻ sẽ được khôi phục như ban đầu Đây chính là tính chất “tuầnhoàn” (revolving) của thẻ tín dụng.
Ngân hàng và các tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng cho khách hàngdựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng Khả năng đảmbảo chi trả được xác định dựa trên các tiêu chí như: thu nhập, tình hình chi tiêu, uytín, mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tài chính, tài sản thế chấp … của kháchhàng Khi sử dụng thẻ, thay bằng tiền mặt, chủ thẻ xuất trình thẻ của mình tại cácđiểm cung ứng hàng hóa dịch vụ có chấp nhận thẻ để thanh toán Hiện nay các sảnphẩm thẻ tín dụng rất đa dạng:, ví dụ: thẻ tín dụng Visa, Master Card có thẻ Vàng(Gold) và thẻ Chuẩn (Classic/Standard)…
- Thẻ ghi nợ (debit card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻtrong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổchức cung ứng dịch vụ thanh toán và được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn
Đối với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra quá trìnhcho vay tín dụng, không có việc phân loại khách hàng nên mọi khách hàng chỉ cần
có tài khoản tại ngân hàng đều có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ ghi nợ của ngânhàng Chính vì vậy về mức độ có thể thay thể tiền mặt, thẻ ghi nợ chiếm ưu thế vượttrội so với thẻ tín dụng
Thẻ ATM là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép kháchhàng có thẻ tiếp cận trực tiếp tới tài khoản tại ngân hàng từ máy rút tiền tự động.Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau tại máy ATM bao gồm: rút tiền,chuyển khoản, xem số dư tài khoản, in sao kê, xem các thông tin quảng cáo, thanhtoán hóa đơn… Hệ thống ATM hiện đại còn cho phép chủ thẻ gửi tiền vào tàikhoản của mình ngay tại các máy ATM, đổi séc qua máy rút tiền tự động, thực hiệnnộp hồ sơ cho một khoản vay cũng như tự mình thực hiện nhiều dịch vụ ngân hàngkhác Sự tiện lợi là đặc điểm quan trọng nhất của thẻ ATM Bằng cách nhập mã các
số PIN, chủ thẻ có thể tiếp cận tài khoản cá nhân của mình tại ngân hàng, mọi nơi,mọi lúc 24/24h một ngày và 7 ngày trong tuần Điều này có nghĩa là cùng với số thẻATM, hệ thống ATM đã cung cấp cho khách hàng sử dụng thẻ khả năng giao dịch
Trang 15ngoài giờ làm việc, ngoài trụ sở của ngân hàng và khả năng tự phục vụ (any where,any time).
Theo thời gian, các tổ chức thẻ đã chủ động kết nối hệ thống ATM với nhautạo nên một mạng ATM khu vực, cho phép khách hàng có thể thực hiện giao dịchtại nhiều máy ATM hơn Hiện nay hai hệ thống ATM lớn nhất trên thế giới làCirrus của MasterCard và Plus của Visa, sẵn sàng cho phép thẻ của ngân hàng vànhững tổ chức tín dụng khác kết nối, tạo nên một mạng lưới rộng khắp toàn cầu
- Thẻ liên kết (Co-Branded Card): Là sản phẩm của một ngân hàng hay tổchức tài chính kết hợp với một bên thứ ba và thông thường tên, nhãn hiệu thươngmại hoặc logo của bên thứ ba này cũng đồng thời xuất hiện trên tấm thẻ Ngoàinhững đặc điểm sẵn có của thẻ ngân hàng thông thường, thẻ liên kết có sức hấp dẫnhơn với khách hàng bởi chính những lợi ích phụ trội do bên thứ ba đem lại Ví dụthẻ Visa co-brand do ngân hàng Standard Chartered và tập đoàn thời trang Espiritphát hành mang lại cho chủ thẻ những tiện ích phụ trội riêng biệt như được chăm sócsắc đẹp miễn phí, giảm giá 20% cho tất cả các mặt hàng hiệu Espirit trong 3 thángđầu tiên, chương trình điểm thưởng tích luỹ theo lượng tiền thanh toán bằng thẻ…
- Thẻ trả trước (Prepaid card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịchthẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đãtrả trước cho tổ chức phát hành thẻ Chủ thẻ trả trước không nhất thiết phải có quan hệtài khoản với ngân hàng Thẻ trả trước bao gồm: Thẻ trả trước xác định danh tính (thẻtrả trước định danh) và thẻ trả trước không xác định danh tính (thẻ trả trước vô danh)
* Nếu căn cứ vào phạm vi lãnh thổ có thể chia thành thẻ nội địa và thẻ quốc tế
- Thẻ nội địa: Là thẻ được tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành đểgiao dịch trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Thông thường đó là thẻ ghi nợ nội địa của các ngân hàng thương mại phát hành
sử dụng tại hệ thống máy ATM và mạng lưới các ĐVCNT của ngân hàng phát hành vàngân hàng đại lý, ngân hàng liên kết với ngân hàng phát hành đó trong một nước
- Thẻ quốc tế: Là thẻ được tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành đểgiao dịch trong và ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoặc
Trang 16là thẻ được tổ chức nước ngoài phát hành và giao dịch trong lãnh thổ nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thẻ quốc tế có thể được sử dụng trên phạm vi trong nước và quốc tế, tại bất
kỳ các ĐVCNT hoặc máy ATM có mang biểu tượng chấp nhận thanh toán thẻ đó
Để phát hành thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ phải đăng ký và được chấp nhậnlàm thành viên của Tổ chức thẻ quốc tế, tuân thủ chặt chẽ các quy định trong việcphát hành và thanh toán thẻ do Tổ chức thẻ quốc tế đó ban hành Có 2 loại thẻ quốc
tế là thẻ ghi nợ quốc tế và thẻ tín dụng quốc tế
1.1.3 Các chủ thể tham gia hoạt động thẻ:
Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng trong nước có sựtham gia của 4 thành phần cơ bản là: ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toánthẻ, chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) Đối với thẻ quốc tế còn thêmmột thành phần nữa là các Tổ chức thẻ quốc tế Mỗi chủ thể đóng vai trò quan trọngkhác nhau trong việc phát huy tối đa tính năng phương tiện thanh toán hiện đạikhông dùng tiền mặt của thẻ ngân hàng
1.1.3.1 Tổ chức thẻ quốc tế:
Tổ chức thẻ quốc tế là Hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn, có mạnglưới hoạt động rộng khắp và đạt được sự nổi tiếng với thương hiệu và các loạt sảnphẩm đa dạng, ví dụ tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ MasterCard, công ty thẻAmerican Express, công ty thẻ JCB, công ty Diners Club, công ty Mondex … Tổchức thẻ quốc tế là đơn vị đầu não, quản lý và đưa ra những quy định cơ bản vềhoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, đóng vai trò trung gian giữa các tổchức và các công ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiềnthanh toán giữa các công ty thành viên
1.1.3.2 Ngân hàng phát hành
Ngân hàng phát hành là thành viên chính thức của các Tổ chức thẻ quốc tế,
là ngân hàng tự mình phát hành thẻ mang thương hiệu riêng hoặc được tổ chức thẻquốc tế, công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của những tổ chức
và công ty này Ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ,
Trang 17xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc thanhtoán cuối cùng với chủ thẻ.
Ngân hàng phát hành có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba là mộtngân hàng hoặc một tổ chức tài chính tín dụng khác trong việc thanh toán và pháthành thẻ tín dụng Trong trường hợp này, ngân hàng phát hành tận dụng được ưuthế của bên thứ ba về kinh nghiệm, khả năng thâm nhập thị trường và những ưu thế
về vị trí địa lý Tuy nhiên cũng phải chịu chấp nhận rủi ro về tài chính bởi ngânhàng đứng ra bảo lãnh cho bên thứ ba làm ngân hàng đại lý của mình trong việcphát hành thẻ Bên thứ ba khi ký kết hợp đồng đại lý với ngân hàng phát hành đượcgọi là ngân hàng đại lý phát hành Nếu tên của ngân hàng đại lý xuất hiện trên tấmthẻ của khách hàng thì nhất thiết ngân hàng đại lý đó phải là thành viên chính thứccủa tổ chức thẻ hoặc công ty thẻ quốc tế
1.1.3.3 Ngân hàng thanh toán
Là Ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với cơ sở tiếp nhận và thanh toán cácchứng từ giao dịch do cơ sở chấp nhận thẻ xuất trình Một ngân hàng có thể vừađóng vai trò thanh toán thẻ vừa đóng vai trò phát hành thẻ Với tư cách là ngân hàngphát hành, khách hàng của họ là chủ thẻ còn với tư cách là ngân hàng thanh toán,khách hàng là các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ
Ngân hàng thanh toán sẽ cung cấp cho các ĐVCNT thiết bị phục vụ cho việcthanh toán thẻ, hướng dẫn đơn vị cách thức vận hành, chấp nhận thanh toán thẻcũng như quản lý và xử lý những giao dịch thẻ tại các đơn vị này Thông thườngngân hàng thanh toán sẽ thu từ các ĐVCNT một mức phí chiết khấu cho việc chấpnhận thanh toán thẻ của đơn vị, nó có thể tính phần trăm trên giá trị mỗi giao dịchhoặc tính theo tổng giá trị giao dịch thẻ Mức chiết khấu cao hay thấp phụ thuộc vàotừng ngân hàng và vào mối quan hệ chiến lược của ngân hàng với ĐVCNT
1.1.3.4 Chủ thẻ
Là người có tên ghi trên thẻ được dùng thẻ để chi trả thanh toán tiền muahàng hoá, dịch vụ Chỉ có chủ thẻ mới có thể sử dụng thẻ của mình mà thôi Mỗi khithanh toán cho các cơ sở chấp nhận thẻ về hàng hoá dịch vụ hoặc trả nợ, chủ thẻ
Trang 18phải xuất trình thẻ để nơi đây kiểm tra theo qui trình và lập biên lai thanh toán Chủthẻ có thể là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền (nếu là thẻ do công ty uỷquyền sử dụng) Thông thường, mỗi chủ thẻ chính có thể phát hành thêm thẻ phụ, cảthẻ chính và thẻ phụ cùng chi tiêu chung một tài khoản Chủ thẻ phụ cũng có tráchnhiệm thanh toán các khoản phát sinh trong kỳ nhưng chủ thẻ chính là người cótrách nhiệm thanh toán cuối cùng đối với ngân hàng Chủ thẻ sử dụng thẻ của mình
để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ có chấpnhận thẻ ( ĐVCNT), các điểm ứng tiền mặt thuộc hệ thống ngân hàng hoặc sử dụngthẻ để thực hiện các giao dịch tại máy rút tiền tự động Đối với thẻ tín dụng, sau mộtkhoảng thời gian nhất định tuỳ theo quy định của từng ngân hàng phát hành, chủ thẻ
sẽ nhận được sao kê (statement) thông báo chi tiết các giao dịch chi tiêu sử dụng thẻcủa chủ thẻ trong kỳ sao kê, số dư nợ cuối kỳ, ngày đến hạn thanh toán cũng như sốtiền thanh toán tối thiểu mà khách hàng phải thanh toán trong kỳ cho ngân hàng vàcác thông báo liên quan đến việc sử dụng thẻ Căn cứ vào các thông tin trên sao kê,nếu không có gì thắc mắc chủ thẻ sẽ thực hiện việc thanh toán sao kê cho ngân hàngphát hành thẻ, ngược lại chủ thẻ có quyền khiếu nại đối với các thông tin, các giaodịch không chính xác hoặc không thực hiện gửi tới ngân hàng yêu cầu được giảiđáp
1.1.3.5 Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT)
Là các thành phần kinh doanh hàng hoá và dịch vụ có ký kết với Ngân hàngthanh toán về việc chấp nhận thanh toán thẻ như: nhà hàng, khách sạn, cửa hàng Các đơn vị này phải trang bị máy móc kỹ thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán tiền muahàng hoá, dịch vụ, trả nợ thay cho tiền mặt
Để trở thành ĐVCNT của một ngân hàng nhất thiết đơn vị đó phải có tìnhhình tài chính tốt và có năng lực kinh doanh Cũng như các ngân hàng phát hànhthẩm định khách hàng trước khi phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán cũng tiến hànhđánh giá lựa chọn ĐVCNT Chỉ có những đơn vị có hiệu quả kinh doanh cao, cókhả năng thu hút được nhiều giao dịch thanh toán thẻ thì ngân hàng mới có thể thuhồi được vốn đầu tư cho các đơn vị đó và có lãi
Trang 191.1.4 Các hoạt động kinh doanh thẻ tại NHTM
1.1.4.1 Hoạt động phát hành thẻ
Hoạt động phát hành thẻ của ngân hàng bao gồm các việc quản lý và triểnkhai toàn bộ quá trình phát hành thẻ, sử dụng thẻ và thu nợ khách hàng Cả ba quátrình này đều quan trọng và không được coi nhẹ Mỗi một phần đều liên quan rấtchặt chẽ đến việc phục vụ khách hàng và quản lý rủi ro cho ngân hàng Các tổ chứctài chính, ngân hàng phát hành thẻ phải xây dựng các quy định về việc sử dụng thẻ
và thu nợ: số tiền thanh toán tối thiểu, ngày sao kê, ngày đến hạn, các loại phí và lãi,hạn mức tín dụng tối đa, tối thiểu, các chính sách ưu đãi …
Về cơ bản hoạt động phát hành thẻ được thực hiện bao gồm:
- Tổ chức các hoạt động tiếp thị để đưa sản phẩm vào thị trường
- Thẩm định khách hàng phát hành thẻ
- Cấp hạn mức tín dụng thẻ đối với thẻ tín dụng
- Thiết kế và tổ chức mua thẻ trắng
- In nổi và mã hóa thẻ
- Cung cấp mã số cá nhân (PIN) cho chủ thẻ
- Quản lý thông tin khách hàng
- Quản lý hoạt động sử dụng thẻ của khách hàng
- Quản lý tình hình thu nợ của khách hàng
- Cung cấp dịch vụ khách hàng
- Tổ chức thanh toán bù trừ với các Tổ chức thẻ quốc tế
Triển khai hoạt động phát hành thẻ, ngoài việc hưởng phí phát hành thẻ thuđược từ chủ thẻ, các ngân hàng còn được hưởng khoản phí trao đổi do đây là phầnlợi nhuận cơ bản của các tổ chức tài chính, ngân hàng phát hành thẻ Trên cơ sởnguồn thu này, các tổ chức tài chính, ngân hàng phát hành thẻ đưa ra được nhữngchế độ miễn lãi và ưu đãi khác cho khách hàng nhằm thu hút khách hàng sử dụngthẻ cũng như tăng doanh số sử dụng thẻ
Trang 201.1.4.2 Hoạt động thanh toán thẻ
Việc triển khai hoạt động thanh toán thẻ của một ngân hàng không chỉ là thulợi nhuận từ nguồn phí chiết khấu tính trên giá trị giao dịch thanh toán bằng thẻ từcác ĐVCNT mà còn là mong muốn cung cấp cho khách hàng một dịch vụ hoànchỉnh, một cơ sở lợi nhuận cho sử dụng thẻ Đối với TCTQT và các thành viên, việckhuyến khích hoạt động thanh toán thẻ thông qua mở rộng mạng lưới ĐVCTN có ýnghĩa rất quan trọng
Hiện nay, hoạt động thanh toán trên thị trường thẻ thế giới đã phát triển ởmức độ rất cao với hàng trăm nghìn ĐVCNT tại hơn 200 quốc gia, chấp nhận thẻmang các thương hiệu nổi tiếng thế giới như Visa, MasterCard, Diners Club,American Express, JCB và nhiều loại thẻ ngân hàng quốc tế và nội địa khác TạiViệt Nam, tuy thẻ ngân hàng còn là mới mẻ nhưng nhằm đáp ứng nhu cầu thanhtoán của một lượng lớn khách nước ngoài cũng như thị trường nội địa ngày càngphát triển, số lượng các ngân hàng thanh toán thẻ tính tới năm 2010 đạt khoảng 49ngân hàng với mạng lưới hơn 50.000 ĐVCNT trên toàn quốc Hoạt động thanh toánthẻ của các ngân hàng chủ yếu là:
- Xây dựng và quản lý hệ thống thông tin khách hàng ĐVCNT
- Quản lý hoạt động của mạng lưới ĐVCNT
- Tổ chức thanh toán các giao dịch sử dụng thẻ cho các ĐVCNT
- Cung cấp dịch vụ khách hàng
- Tổ chức tập huấn kiến thức thanh toán thẻ cho nhân viên các ĐVCNT
- Cung cấp trang thiết bị, vật tư phục vụ cho công tác thanh toán thẻ
1.1.4.3 Hoạt động quản lý rủi ro và tra soát khiếu nại
Hoạt động kinh doanh thẻ phải đối mặt với khá nhiều loại rủi ro khác nhaunhư: thực hiện giao dịch giả mạo, việc các tổ chức, cá nhân cố ý sử dụng thẻ mộtcách không hợp pháp, các ĐVCNT không tuân thủ quy trình đã được hướng dẫn,cung cấp các thông tin về thẻ cho bên thứ ba hoặc việc các ĐVCNT không thôngbáo việc chấm dứt hoạt động kinh doanh trong khi vẫn còn nợ tiền ngân hàng …Tất cả những hành vi trên đều gây ra những rủi ro và tổn thất đối với ngân hàng
Trang 21Chính vì vậy, một trong những lĩnh vực quan trọng của kinh doanh thẻ ngân hàng làhoạt động quản lý rủi ro Các ngân hàng sẽ xây dựng một bộ phận quản lý rủi ronhằm kiểm soát, hạn chế rủi ro và giải quyết các tra soát khiếu nại liên quan đến rủi
ro về thẻ
Bộ phận quản lý rủi ro tại các ngân hàng có kinh doanh thẻ được coi là bộphận xương sống (backbone) trong hoạt động thẻ, thực hiện các chức năng:
- Ngăn ngừa và điều tra các hành vi sử dụng thẻ giả mạo;
- Quản lý danh mục các tài khoản liên quan tới những thẻ đã được thông báomất, thất lạc;
- Xây dựng các kế hoạch theo dõi việc bảo mật phôi thẻ, thẻ đã in và thẻhỏng, thẻ thu hồi;
- Cập nhật thông tin trên các danh sách thẻ mất cắp, thất lạc;
- Hợp tác với cơ quan có thẩm quyền liên quan trong việc điều tra, xử lý cáchành vi vi phạm hợp đồng, giả mạo;
- Theo dõi và quản lý hoạt động của Trung tâm Thẻ, bao gồm cả hoạt độngcủa các cán bộ;
- Tổ chức tập huấn cho nhân viên ĐVCNT và chủ thẻ về các biện phápphòng ngừa giả mạo;
Kinh doanh thẻ ngân hàng càng phát triển thì lĩnh vực quản lý rủi ro càngđược đầu tư nhiều hơn Các chuyên gia trong lĩnh vực này thường là những người
có kinh nghiệm và thực sự am hiểu về thẻ và công nghệ vì chỉ có vậy họ mới có thểngăn ngừa, dự doán và phát hiện các hành vi giả mạo trong lĩnh vực thẻ
Tra soát khiếu nại là hoạt động quan trọng của ngân hàng nhằm bảo vệ quyềnlợi khách hàng và uy tín của ngân hàng Bất kì 1 ngân hàng nào khi cung cấp cácdịch vụ về thẻ đều không thể tránh khỏi các rủi ro do lỗi thiết bị, lỗi hệ thống… dẫnđến việc khách hàng đã thực hiện giao dịch, đã bị trừ tiền tài khoản nhưng giao dịchkhông thành công Khi đó khách hàng sẽ đến ngân hàng và thực hiện tra soát Bộphận tra soát khiếu nại sẽ kiểm tra giao dịch tra soát và thực hiện hoàn tiền hoặcthực hiện dịch vụ cho khách hàng
Trang 221.1.4.4 Marketing và dịch vụ khách hàng
Bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào cũng đòi hỏi chú trọng đáng kể vào côngtác marketing và dịch vụ khách hàng Về lý thuyết, marketing và dịch vụ kháchhàng trong kinh doanh thẻ là khái niệm tương đối rộng, bao gồm toàn bộ cácphương thức để tìm kiếm khách hàng (ĐVCNT và chủ thẻ), giúp họ tiếp cận và đưa
ra quyết định lựa chọn phương thức thanh toán phi tiền mặt này và trở thành kháchhàng lâu dài của ngân hàng
Trên thực tế, marketing và dịch vụ khách hàng trong kinh doanh thẻ bao gồmcác hoạt động như:
- Tiếp xúc với các khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp có tiềm năng sửdụng thẻ, thuyết phục họ ký kết hợp đồng sử dụng thẻ thông qua những tiện ích củathẻ ngân hàng nói chung và các ưu thế, những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp
- Duy trì mối liên hệ với chủ thẻ, khuyến khích tiêu dùng thẻ của chủ thẻthông qua việc xây dựng các chương trình khuyến mại, điểm thưởng …
- Tiếp xúc với các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ có tiềm năng cho hoạtđộng thẻ, thuyết phục họ ký kết hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ thông quanhững lợi ích về thẻ ngân hàng và các ưu thế của các ngân hàng riêng biệt
- Cung cấp dịch vụ cho các ĐVCNT như: lắp đặt các thiết bị đọc thẻ, hướngdẫn quy trình nghiệp vụ, thao tác cần thiết cho hoạt động chấp nhận thẻ, tiếp nhậnnhững yêu cầu về duy trì, bảo dưỡng máy móc thiết bị từ ĐVCNT
- Tiến hành việc quảng cáo cho các ĐVCNT nói chung hoặc các ĐVCNTtiềm năng cùng với chương trình quảng cáo, khuếch trương thẻ
- Nâng cao tính trung thành của các ĐVCNT bằng cách xếp hạng, tính điểmphục vụ hoặc lượng giá trị giao dịch tại đơn vị để từ đó có thể giảm phí chiết khấu …
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng và đóng vai trò quyết định trong hoạt độngmarketing chính là con người Các cán bộ marketing đòi hỏi vừa vững kiến thức vềthẻ, vừa nắm rõ thị trường, nhanh nhạy, linh hoạt với các thông tin và có khả năngnghiệp vụ marketing
Trang 231.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ:
1.2.1 Khái niệm về rủi ro
Rủi ro gắn liền vớí khả năng xảy ra của 1 biến cố ko lường trước đó là biến cố màhoàn toàn ko chắc chắn
Quản trị rủi ro trong kinh doanh là một quán trình bao gồm các hoạt độngnhằm nhận diện, xác định mức độ ưu tiên xử lý các rủi ro, áp dụng các nguồn lực đểhạn chế, loại bỏ các rủi ro hoặc khắc phục các hậu quả mà rủi ro gây ra đối với hoạtđộng kinh doanh
1.2.2 Quy trình quản trị rủi ro
Nhận diện và kiểm soát tốt rủi ro chỉ bằng kỹ năng và kinh nghiệm cá nhânkhông chưa đủ, việc kiểm soát rủi ro phải được thực hiện theo một quy trình chặtchẽ và phụ hợp với đặc thù, mục tiêu của đơn vị
Nguồn: Putting Risk Management into Practice của
Software Engineering Íntitute
Hình 1.1 Quy trình cơ bản quản lý rủi ro
Ở mức chi tiết hơn, quy trình quản lý rủi ro gồm các bước với trình tự xử lý
Trang 24T h ô øi ñ i e åm x a ûy r a r u ûi r o
P h a ân l o a ïi r u ûi r o
S a ép x e áp r u ûi r o
t h e o ñ o ä ö u t i e ân
C a ùc y e áu t o á ñ a àu v a øo
K h a ûo s a ùt r u ûi r o K i e åm s o a ùt r u ûi r o
Nguồn: Putting Risk Management into Practice của
Software Engineering Íntitute
Hình 1.2: Trình tự các bước trong quy trình quản lý rủi ro
Quá trình quản trị rủi ro có thể được khái quát qua 5 bước sau:
Bước 1: Nhận diện rủi ro: là việc sử dụng các kỹ thuật như xem xét tài liệu,
hỏi ý kiến chuyên gia… nhằm xác định các khả năng có thể phát sinh rủi ro từ đónhận diện các rủi ro có thể xảy ra
Bước 2: Phân tích rủi ro: là phân tích tất cả những rủi ro trong danh sách các
rủi ro, đánh giá khả năng xảy ra và tác động dự kiến của các rủi ro, để xác địnhnhững rủi ro hàng đầu cần phải được quản lý
Bước 3: Xác định rủi ro: là việc sắp xếp rủi ro theo các mức độ ưu tiên
Bước 4: Kiểm soát rủi ro: là việc lựa chọn chiến lược và phương pháp đối
phó rủi ro
Bước 5: Giám sát và điều chỉnh: Bao gồm hoạt động giám sát để đảm bảo
chiến lược đối phó rủi ro được lên kế hoạch và thực thi chặt chẽ Việc giám sát cũngnhằm mục đích điều chỉnh các chiến lược hoặc kế hoạch đối phó nếu chúng tỏ rakhông hiệu quả, không khả thi hoặc để đáp ứng rủi ro mới xuất hiện
Trang 251.2.3 Các loại rủi ro trong kinh doanh thẻ
1.2.3.1 Rủi ro trong hoạt động phát hành thẻ
Ngân hàng phát hành phải đối mặt với nhiều rủi ro khác nhau trong suốt quátrình phát hành thẻ:
* Đơn phát hành thẻ giả mạo (Fraudulent Applications): Ngân hàng có thể
phát hành thẻ cho khách hàng có đơn xin phát hành thẻ với các thông tin giả mạo dokhông thẩm định kỹ các thông tin khách hàng cung cấp trên hồ sơ xin phát hành thẻ
* Thẻ giả: Thẻ giả là thẻ do các tổ chức hoặc cá nhân làm giả dựa vào các
thông tin có được từ việc đánh cắp các dữ liệu trên băng từ của thẻ thật, từ các thẻmất cắp, thất lạc Thẻ giả được sử dụng sẽ gây tổn thất cho NHPH bởi vì theo quyđịnh của tổ chức thẻ quốc tế, NHPH chịu hoàn toàn trách nhiệm với mọi giao dịchmang mã số BIN của NHPH Đây là loại hình rủi ro đặc biệt nguy hiểm và khó quản
lý vì nằm ngoài sự tiên liệu của các NHPH
- Thẻ bị dập nổi lại: là loại thẻ giả mà các thông tin trên thẻ được dập lại
bằng công nghệ đơn giản trên nền phôi thẻ bị mất cắp, thất lạc Các thông tin anninh trên thẻ giống như thẻ thật nhưng có thể dễ dàng kiểm tra và phát hiện bằngmắt thường Có thể phát hiện thẻ giả khi đối chiếu thông tin in nổi ở mặt trước thẻvới các thông tin in chìm trên băng chữ ký mặt sau của thẻ hoặc với dữ liêu trênbăng từ khi đọc thẻ qua máy EDC
- Thẻ bị thay đổi thông tin trên thẻ: Tội phạm dùng thẻ thật không còn giá trị
lưu hành để thay đổi các thông tin trên thẻ Thường sử dụng các công nghệ đơngiản, có thể dễ dàng kiểm tra bằng mắt thường Phát hiện giả mạo bằng cách kiểmtra so sánh thông tin in nổi trên thẻ với các thông tin được in trên băng chữ ký mặtsau của thẻ hoặc với dữ liệu trên băng từ khi đọc thẻ qua máy EDC
- Thẻ giả mạo: Tội phạm làm thẻ giả dựa trên các thông tin lấy được từ việc
đánh cắp các dữ liệu của thẻ thật bằng các thủ đoạn khác nhau Loại giả mạo nàythường liên quan đến tội phạm có tổ chức (vì yêu cầu công nghệ cao hơn) Các giaodịch giả mạo được thực hiện từ thẻ giả khó phát hiện và có thể được NHPH hoặc Tổ
Trang 26chức thẻ quốc tế cấp phép chuẩn chi giao dịch NHPH chỉ phát hiện ra khi kháchhàng thật đến khiếu nại về những giao dịch không được thực hiện
- Thẻ chỉ giả mạo băng từ: Là loại thẻ giả chỉ có băng từ được mã hoá dựa
trên dữ liệu của thẻ thật nhưng không có các thông tin dập nổi và những đặc điểmbảo mật trên thẻ Tội phạm sử dụng thẻ tại các ĐVCNT thông đồng có EDC, hoặctại các điểm bán hàng tự động không được kiểm soát chặt chẽ Loại hình thẻ giảmạo này thường có liên quan đến tội phạm có tổ chức vì yêu cầu sử dụng công nghệhiện đại hơn Chúng ta có thể phát hiện được thẻ giả bằng cách so sánh dữ liệu trênbăng từ khi đọc thẻ qua máy EDC với các thông tin dập nổi trên thẻ
- Thẻ bị làm giả hoàn toàn: Là loại thẻ giả hoàn chỉnh với băng từ được mã
hoá và trên phôi thẻ có đầy đủ những yếu tố như thẻ thật Phát hiện giả mạo bằngcách kiểm tra theo đúng quy trình chấp nhận thẻ Thẻ bị làm giả hoàn toàn là sảnphẩm thẻ giả tinh vi nhất, là hoạt động của tội phạm thẻ có tổ chức Thẻ rất hoànchỉnh với băng từ được mã hóa dựa trên việc lấy cắp dữ liệu trên băng từ của thẻthật và trên phôi thẻ có đầy đủ những yếu tố như thẻ thật Thẻ giả chỉ bị phát hiệnnếu thực hiện đầy đủ chính xác quy trình chấp nhận thanh toán thẻ
- Thẻ trắng: là loại thẻ mô phỏng đầy đủ chức năng của một thẻ ghi nợ, thẻ
tín dụng, được sử dụng tại ĐVCNT cấu kết với tội phạm thẻ hoặc tại các điểm bánhàng tự động không được kiểm soát chặt chẽ Do loại hình này thực hiện với sự cấukết thông đồng chặt chẽ của đơn vị chấp nhận thẻ nên rất khó phát hiện Thẻ trắngcũng đã được mã hóa nhưng không hề dập nổi các thông tin lên mặt trước của thẻnhư: ngân hàng phát hành, số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ……
* Thẻ mất cắp, thất lạc (Lost – Stolen Card): Rủi ro xảy ra khi thẻ bị mất
cắp, thất lạc và bị sử dụng trước khi chủ thẻ thông báo cho ngân hàng phát hành để
có các biện pháp chấm dứt sử dụng hoặc thu hồi thẻ Thẻ bị mất cắp thất lạc cũng cóthể bị tội phạm thẻ sử dụng làm thẻ giả như trường hợp thẻ giả (dập nổi, mã hóa lạibăng từ bằng các thông tin giả mạo) Đôi khi giả mạo có liên quan đến chủ thẻ cốtình báo mất thẻ và sau đó sử dụng thẻ
Trang 27* Chủ thẻ không nhận được thẻ do ngân hàng phát hành gửi (Never Received Issue): Là trường hợp thẻ bị đánh cắp hoặc bị lợi dụng thực hiện giao dịch
trong quá trình chuyển từ ngân hàng phát hành đến chủ thẻ Việc xác định thẻ bịmất cắp trên đường mất nhiều thời gian do khoảng thời gian chủ thẻ nhận được thẻ
và gửi xác nhận cho ngân hàng thường kéo dài, đôi khi chủ thẻ khiếu nại là khôngnhận được thẻ thì ngân hàng mới phát hiện được
* Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng (Account Takeover): Rủi ro này phát
sinh khi ngân hàng phát hành nhận được những yêu cầu thay đổi thông tin của chủthẻ, đặc biệt là thay đổi địa chỉ của chủ thẻ Do không xác minh kỹ nên ngân hàngphát hành đã gửi thẻ về địa chỉ như yêu cầu mà không đến tay chủ thẻ thật, tàikhoản của chủ thẻ thật đã bị người khác lợi dụng sử dụng
* Rủi ro tín dụng: là rủi ro khi chủ thẻ không thực hiện thanh toán hoặc
không đủ khả năng thanh toán các khoản đã chi tiêu bằng thẻ tín dụng Khi ngânhàng đồng ý phát hành thẻ tín dụng cũng có nghĩa là cam kết cho chủ thẻ vay tiền,nếu như chủ thẻ không thanh toán hoặc không đủ khả năng thanh toán các khoảnchi tiêu đó ngân hàng sẽ bị mất vốn
1.2.3.2 Rủi ro trong hoạt động thanh toán thẻ
Hoạt động Thanh toán thẻ cũng tiềm tàng rất nhiều rủi ro, trong đó có sựtham gia của Ngân hàng, chủ thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ và các thiết bị đầu cuối(ATM, POS ) Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động thanh toán thẻ bao gồm:
* Đơn vị chấp nhận thẻ giả mạo: Đơn vị chấp nhận thẻ cố tình đăng ký các
thông tin không chính xác với ngân hàng thanh toán Ngân hàng thanh toán sẽ chịutổn thất khi không thu được những khoản đã tạm ứng cho những ĐVCNT này trongtrường hợp ĐVCNT thông đồng với chủ thẻ hoặc cố tình tạo ra các hóa đơn hoặcgiao dịch giả mạo để chiếm dụng vốn của ngân hàng
* Đơn vị chấp nhận thẻ thông đồng với chủ thẻ: Có hai hình thức thông
đồng của đơn vị chấp nhận thẻ:
Trang 28- CPP – Common Purchase Point: Là hiện tượng một đơn vị chấp nhận thẻ
hoặc một địa điểm được xác định là lưu trữ dữ liệu thẻ và sử dụng vào mục đích tạocác thẻ giả hoặc thực hiện các giao dịch giả mạo Đơn vị chấp nhận thẻ có thể nhậnthức hoặc không nhận thức được hành vi này
- POC – Point of Compromise: Đơn vị chấp nhận thẻ thông đồng với chủ thẻ
chấp nhận thanh toán những thẻ giả (thẻ bị sửa đổi, thẻ trắng, thẻ skimming…)
* Thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng thẻ qua thư, điện thoại (Mail order, telephone order): Đơn vị chấp nhận thẻ cung cấp hàng hóa dịch vụ theo yêu cầu của
chủ thẻ qua thư hoặc điện thoại và thanh toán trên các thông tin như: loại thẻ, số thẻ,ngày hiệu lực, tên chủ thẻ… Đơn vị chấp nhận thẻ và ngân hàng thanh toán có thểchịu tổn thất nếu như chủ thẻ thực không phải là khách đặt mua hàng của đơn vịchấp nhận thẻ và giao dịch đó bị từ chối thanh toán
* Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ sửa đổi thông tin trên các hóa đơn thẻ hoặc in nhiều hóa đơn thanh toán của một thẻ (Multiple imprint): Trong trường
hợp này nhân viên khi thực hiện giao dịch đã cố tình in nhiều hóa đơn thanh toánthẻ nhưng chỉ giao một bộ cho chủ thẻ ký để hoàn thành giao dịch Sau đó nhânviên sẽ mạo nhận chủ thẻ hoàn tất giao dịch và nộp các hóa đơn thanh toán còn lại
để đòi tiền, chiếm đoạt tiền của ngân hàng Ngoài ra nhân viên tại đơn vị chấp nhậnthẻ cũng có thẻ sửa đổi hoá đơn giao dịch, ghi tăng giá trị giao dịch mà không được
sự đồng ý của chủ thẻ để lấy tiền tạm ứng của ngân hàng
* Sao chép và tạo băng từ giả (Skimming, Line Tapping):
- Skimming: Trên các thiết bị đọc thẻ tại ĐVCNT có thể bị cài thêm thiết bị
để thu thập các thông tin trên băng từ của thẻ thật thanh toán tại các Đơn vị chấpnhận thẻ hoặc nhân viên Đơn vị chấp nhận thẻ có thể cấu kết với các tổ chức tộiphạm đọc dữ liệu thẻ thật bằng các thiết bị chuyên dùng riêng Các thiết bị đọc thẻtại ĐVCNT có thể bị cài thêm thiết bị để thu thập các thông tin trên băng từ của thẻthanh toán tại các ĐVCNT; hoặc nhân viên tại ĐVCNT có thể cấu kết với các tổchức tội phạm đọc dữ liệu thẻ thật bằng thiết bị chuyên dùng riêng Để phòng
Trang 29chống, cần niêm phong EDC và kiểm tra thường xuyên hoạt động của ĐVCNTcũng như tình trạng của máy EDC
- Line Tapping: Tổ chức tội phạm có thể gắn các thiết bị ghi âm vào đường
dây điện thoại truyền dữ liệu từ máy EDC, máy ATM về hệ thống của ngân hàng đểđánh cắp dữ liệu, sau đó giải mã để tạo thẻ giả
* Các ĐVCNT có tỷ lệ rủi ro cao (High Risk Merchants)
Các ĐVCNT có tỷ lệ rủi ro cao là các ĐVCNT kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
có giá trị lớn, có tính chất dễ chuyển đổi sang tiền mặt – nơi tội phạm hoặc các tổchức tội phạm thường sử dụng thẻ giả mạo
Các ĐVCNT thuộc loại hình có tỷ lệ rủi ro cao bao gồm:
- Điểm ứng tiền mặt
- Các hàng hoá dịch vụ đặc biệt như tiền mặt (sòng bạc, xổ số…)
- Kinh doanh hàng hóa dịch vụ có giá trị lớn như vàng bạc, đá quý, đồ trangsức, đồng hồ cao cấp, phòng tranh
- Kinh doanh điện thoại di động, thiết bị viễn thông
- Kinh doanh máy tính, thiết bị điện tử, tin học
- Kinh doanh hàng hoá, dịch vụ qua mạng, điện thoại, thư tín
1.2.3.3 Rủi ro về kỹ thuật
Rủi ro kỹ thuật là các rủi ro liên quan đến hệ thống quản lý thẻ như: các
sự cố về nghẽn mạng, các trục trặc về xử lý thông tin , bảo mật… Do hoạt độngthẻ có tính chất liên tục và online 24/24h nên bất kỳ một sự cố kỹ thuật nào cũngảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện giao dịch, đến tính chính xác trong côngtác thanh toán cũng như quyền lợi của khách hàng Khi hệ thống có sự cố nókhông chỉ ảnh hưởng đến riêng một khách hàng, một ngân hàng hay tổ chức tàichính mà ảnh hưởng hoạt động của cả hệ thống thẻ Do đó nếu tổn thất xảy ra sẽrất lớn và khó kiểm soát được, chính vì vậy đảm bảo hệ thống vận hành một cáchchính xác liên tục là yêu cầu hàng đầu đối với các thành viên khi tham gia kinhdoanh thẻ
Trang 301.2.3.4 Rủi ro về đạo đức
Rủi ro đạo đức là các rủi ro liên quan đến cán bộ ngân hàng trong lĩnh vựckinh doanh thẻ Trong hoạt động tác nghiệp hàng ngày, cán bộ thẻ lợi dụng vị trícông tác, những hiểu biết về nghiệp vụ thẻ, những lỗ hổng trong quy trình tácnghiêp để tự mình hoặc cấu kết với người khác tiến hành các hành vi gian lận, giảmạo gây tổn thất cho ngân hàng Rủi ro có thể xảy ra khi cán bộ đó lợi dụng thôngtin thẻ của người khác để thanh toán mua sắm hàng hoá dịch vụ qua mạng, lấy cắpthẻ mới phát hành để sử dụng hoặc thay đổi các thông số hệ thống, thông tin kháchhàng để trục lợi Các hành vi gian lận này thường khó phát hiện gây tổn thất lớncho ngân hàng Ngân hàng có thể hạn chế rủi ro đạo đức khi có một cơ chế quản lýgiám sát một cách chặt chẽ trong toàn bộ quá trình hoạt động Tuy nhiên mọi giảipháp chỉ có hiệu quả nếu ngân hàng gắn chặt quyền lợi, trách nhiệm của cán bộ thẻvới quyền lợi của ngân hàng
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong kinh doanh thẻ
- Sự phát triển của khoa học công nghệ
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt ra đời trên cơ
sở áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại Khoa học càng phát triển tínhbảo mật của sản phẩm thẻ càng được nâng cao Tuy nhiên khoa học công nghệ pháttriển cũng kéo theo sự xuất hiện của nhiều phương tiện, máy móc, thủ đoạnskimming thẻ hiện đại hơn, tinh vi hơn Cuộc chiến đấu giữa quá trình nghiên cứu
Trang 31phát triển sản phẩm thẻ mới an toàn hơn với quá trình nghiên cứu máy móc thủđoạn ăn cắp làm giả thẻ mới của các tổ chức tội phạm thẻ là cuộc chiến đấu vô cùngkhắc nghiệt, không ngừng nghỉ có tác động rất lớn đến rủi ro trong hoạt động kinhdoanh thẻ ngân hàng.
- Nguyên nhân từ phía người sử dụng thẻ
Bản thân những người sử dụng thẻ mặc dù sử dụng thẻ nhưng lại thiếu hiểubiết về thẻ, có sự quan tâm không đúng mức đến những quy định, những khuyếncáo cần thiết trong quá trình sử dụng thẻ, dẫn đến rủi ro và bản thân họ phải gánhchịu tổn thất Chỉ khi mọi người có được nhận thức đầy đủ, chính xác về thẻ và thẻthanh toán được chấp nhận với tư cách là một phương tiện thanh toán rộng rãi trongnền kinh tế thì mới hạn chế được rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ
1.2.4.2 Các nhân tố chủ quan
- Chất lượng công tác thẩm định khách hàng
Thẩm định khách hàng trong kinh doanh thẻ là việc ngân hàng phân tíchđánh giá năng lực pháp lý, năng lực tài chính của khách hàng để quyết định đồng ýhay từ chối phát hành thẻ cho khách hàng hay trở thành đơn vị chấp nhận thanh toánthẻ của ngân hàng Như đã biết phát hành thẻ tín dụng tức là ngân hàng chấp nhậncho khách hàng vay, đồng ý cho khách hàng làm đơn vị chấp nhận thanh toán thẻcũng là ngân hàng đồng ý tạm ứng thanh toán trước cho khách hàng Thẩm địnhkhách hàng là nhân tố đầu tiên trong hạn chế rủi ro, chất lượng công tác thẩm địnhcao tức là ngân hàng đã lựa chọn được cho mình những khách hàng tốt, từ chốinhững khách hàng có ý định lừa đảo, hạn chế được rủi ro chủ thẻ không thanh toán
nợ cho khách hàng, ĐVCNT lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng
- Nhân lực của ngân hàng trong kinh doanh thẻ:
Con người là trung tâm của mọi hoạt động, là yếu tố quyết đinh sự thànhcông hay thất bại trong các lĩnh vực của nền kinh tế Đội ngũ cán bộ thẻ là nhữngngười trực tiếp hàng ngày tiếp xúc với hoạt động kinh doanh thẻ, nắm được nghiệp
vụ về thẻ và hiểu về những hành vi lừa đảo trong lĩnh vực thẻ Kinh nghiệm, ý thứccảnh giác, tuân thủ chặt chẽ các quy định của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh
Trang 32thẻ của cán bộ thẻ sẽ góp phần phát hiện, ngăn chặn, hạn chế những rủi ro, nhữngtổn thất cho ngân hàng trong quá trình kinh doanh Mặt khác là những người trựctiếp làm thẻ, hiểu biết về thẻ nên những giả mạo thẻ do cán bộ thẻ gây ra lại lànhững giả mạo tinh vi nhất, khó phát hiện nhất và cũng gây tổn thất lớn cho ngânhàng Chính vì vậy, đạo đức, kinh nghiệm, trình độ của đội ngũ cán bộ thẻ có tácđộng rất lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, đến rủi ro trong hoạt động kinhdoanh thẻ của ngân hàng.
- Công nghệ trong kinh doanh của ngân hàng
Công nghệ sản xuất thẻ càng tiến bộ cũng đồng nghĩa với việc công nghệlàm giả thẻ cũng tiến bộ không kém Vì vậy các ngân hàng cần phải không ngừngcập nhật công nghệ hiện đại để có thể phát hiện nhanh chóng thẻ giả, cũng như pháttriển công nghệ hiện đại để làm ra các loại thẻ mới như thẻ chip để tội phạm làm giảthẻ khó lòng có cơ hội phạm tội
- Tổ chức công tác quản trị rủi ro về thẻ của ngân hàng
Rủi ro là điều không thể tránh khỏi trong bất cứ hoạt động kinh doanh nào vàhoạt động kinh doanh thẻ cũng không phải ngoại lệ Nhận thức được điều này cácngân hàng cần tổ chức công tác quản trị rủi ro về thẻ thật hiệu quả để nhận biết vàhạn chế rủ ro một cách tốt nhất Công tác quản trị rủi ro sẽ ảnh hưởng rất lớn đếnmức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại Nếu côngtác này được tổ chức tốt sẽ giúp cho ngân hàng nhận biết, đo lường tương đối chínhxác các loại rủi ro, từ đó đề ra các biện pháp để ngăn ngừa và phòng tránh các rủi ro
đó, hoặc có thể có những phương án dự phòng tối ưu để chủ động đối phó với cácrủi ro có thể xảy ra Ngược lại, nếu công tác này không được tổ chức tốt sẽ khiếncho ngân hàng luôn trong tình trạng gặp phải những rủi ro không ngờ tới
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Quá trình hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
2.1.1 Giới thiệu khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Ngoại Thương Việt Nam:
Ngày 1/4/1963 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập theoquyết định 115/CP ngày 30/10/1962 trên cơ sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hốiNgân hàng Trung ương (nay là Ngân hàng nhà nước), hoạt động dưới sự lãnh đạotrực tiếp của Ngân hàng nhà nước (NHNN) với chức năng là ngân hàng duy nhấtphục vụ kinh tế đối ngoại và cho vay xuất nhập khẩu của cả nước
Vietcombank là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủlựa chọn để thực hiện thí điểm cổ phần hóa, Ngân hàng TMCP Ngoại thương ViệtNam đã chính thức hoạt động ngày 2 tháng 6 năm 2008, sau khi thực hiện thànhcông kế hoạch cổ phần hóa thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra côngchúng ngày 26/12/2007
Khi mới thành lập, Vietcombank chỉ có một cơ sở tại Hà nội, đến nay đã pháttriển thành một hệ thống ngân hàng hoàn chỉnh gồm Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sởgiao dịch, gần 400 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc, 3 công ty con tạiViệt Nam, 2 công ty con tại nước ngoài, 1 văn phòng đại diện tại Singapore, 4 công
ty liên doanh, 2 công ty liên kết Vietcombank có quan hệ đại lý với hơn 1300 ngânhàng thuộc 100 quốc gia và vũng lãnh thổ
Năm 2010 đánh dấu sự thành công của Vietcombank trong việc thay đổichiến lược kinh doanh chuyển từ một ngân hàng bán buôn thành một ngân hàng đanăng trên cơ sở vừa phát huy lợi thế, vừa củng cố, giữ vững vị thế của ngân hàng
Trang 34bán buôn đồng thời đẩy mạnh hoạt động bán lẻ đa dạng hóa hoạt động, tối đa hóalợi nhuận, Vietcombank đã liên tục nghiên cứu, đưa ra thị trường các sản phẩm đadạng với tiện ích cao cho các hoạt động: huy động vốn, tín dụng thể nhân, dịch vụngân hàng điện tử, dịch vụ chuyển tiền… nhiều sản phẩm bán lẻ đã thu hút đượclượng khách hàng lớn như: dịch vụ ngân hàng điện tử VCB-ib@Banking, VCB-SMSB@nking , từng bước khẳng định Vietcombank đang tiến dần vào vị thế mụctiêu là một trong 5 ngân hàng hàng đầu về dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
Các giải thưởng quốc tế Vietcombank đã đạt được trong năm 2010:
- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam – do tạp chí Asiamoney bình chọn trong 5năm liên tiếp (2006-2010) trên nhiều lĩnh vực hoạt động
- Ngân hàng cung cấp dịch vụ quản lý tiền mặt tốt nhất Việt Nam – do cácdoanh nghiệp quy mô lớn, trung bình và nhỏ bình chọn
- Ngân hàng nội địa kinh doanh ngoại hối tốt nhất Việt Nam – do các doanhnghiệp bình chọn
- 3 năm liên tiếp (2008 - 2010) Vietcombank được trao giải thưởng “ngânhàng cung cấp dịch vụ thanh toán thương mại tốt nhất Việt Nam” do tạp chí TradeFinance Magazine bình chọn
Các giải thưởng trong nước Vietcombank đã đạt được trong năm 2010:
- Giải thưởng “thương hiệu quốc gia” – do Hội đồng Thương hiệu Quốc giatrao tặng Thương hiệu Vietcombank được bình chọn là “thương hiệu dẫn đầu”trong lĩnh vực dịch vụ tài chính
- Ngân hàng nộp thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam – do Vietnam Report phốihợp với Tạp chí Thuế (Tổng cục Thuế) và Hội đồng cố vấn VNR500 bình chọn vàcông bố
- Giải thưởng “thương hiệu bền vững toàn quốc 2010” – do Hội Sở hữu trítuệ Việt Nam, Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam trao tặng
- Giải thưởng “thương hiệu chứng khoán uy tín 2010” – do Hiệp hội kinhdoanh chứng khoán Việt Nam (VASB), Trung tâm thông tin tín dụng – Ngân hàng
Trang 35Nhà nước Việt Nam (CIC), Tạp chí chứng khoán – Ủy ban chứng khoán bình chọn
Dịch vụ thanh toán thẻ ngân hàng được đưa vào thị trường Việt Nam bắt đầu
từ năm 1990 xuất phát từ nhu cầu thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ bằng thẻ củakhách du lịch và đầu tư nước ngoài Với đặc thù là ngân hàng thanh toán quốc tếnên ngay từ đầu Vietcombank đã nắm bắt được nhu cầu này của khách hàng Tuyvậy, đây là thời kỳ Mỹ cấm vận Việt Nam nên rất khó khăn cho Vietcombank triểnkhai thanh toán thẻ trực tiếp với các Tổ chức Thẻ quốc tế do đồng tiền thanh toángiữa các thành viên bằng Đô la Mỹ Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng,Vietcombank phải đi vòng bằng cách thiết lập quan hệ đại lý thanh toán thẻ thôngqua các ngân hàng và công ty tài chính nước ngoài
Vào năm 1990, Vietcombank trở thành đại lý thanh toán thẻ Visa đầu tiên tạiViệt Nam của ngân hàng BFCE Singapore, sau đó là đại lý thanh toán thẻMastercard của Công ty tài chính MBF Malayxia và đại lý thanh toán thẻ JCB củacông ty JCB Nhật Có thể nói Vietcombank là ngân hàng đã đặt ra những viên gạchđầu tiên cho dịch vụ thẻ ngân hàng tại thị trường Việt Nam
Đến năm 1994, một ngày sau khi Mỹ bỏ cấm vận, Vietcombank ký hợp đồngđại lý thanh toán thẻ American Express với Công ty American Express Hongkong.Vietcombank giữ vị thế độc quyền trong việc cung ứng dịch vụ thanh toán thẻ tíndụng quốc tế đến gần hết năm 1995
Năm 1995, Vietcombank thực hiện dự án thẻ ATM với công nghệ thẻ từ vàđược NHNNVN chọn là ngân hàng triển khai thí điểm với hai máy ATM được đặttại trụ sở chính Thẻ được phát hành để trả lương cho cán bộ nhân viênVietcombank và một số cán bộ nhân viên NHNNVN Vào thời điểm đó hạ tầng cơ
sở viễn thông Việt Nam còn lạc hậu, hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu của
Trang 36Vietcombank còn thực hiện trên Foxpro trong khi phần mềm quản lý ATM đượcxây dựng trên hệ điều hành Novell Vì vậy để kết nối cho hệ thống hoạt động,Vietcombank phải xây dựng thêm nhiều giao diện giữa các chương trình dẫn đến hệthống hoạt động không ổn định và khó khăn khi phát triển mở rộng Tuy dự ánkhông thành công như mong muốn song đã mang lại cho Vietcombank những kinhnghiệm trong việc triển khai hệ thống giao dịch tự động sau này.
Đến năm 1996, thị trường thẻ Việt Nam bắt đầu trở nên sôi động với sự thamgia của các ngân hàng thương mại trong nước và các chi nhánh ngân hàng nướcngoài tại Việt Nam Nhận thấy Việt Nam là thị trường tiềm năng cho dịch vụ thẻphát triển với dân số hơn 70 triệu và là đất nước thu hút tương đối lượng khách dulịch và đầu tư quốc tế, đại diện các Tổ chức thẻ quốc tế đã vào thăm dò thị trườngViệt Nam Tháng 4 năm 1996, NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam cùng vớiNHTMCP Á Châu, NHTMCP Eximbank và ngân hàng liên doanh FirstVina trởthành 4 thành viên đầu tiên của tổ chức thẻ quốc tế Mastercard tại Việt Nam Đây làđiểm mốc đánh dấu sự tiến triển đầu tiên của thị trường thẻ Việt nam và cũng làđiểm mốc chấm dứt tư cách ngân hàng đại lý thanh toán thẻ Mastercard củaVietcombank cho công ty tài chính MBF Malayxia Cũng vào tháng 4 năm 1996,thẻ tín dụng quốc tế Mastercard đầu tiên được Vietcombank phát hành Vào quý IIInăm đó, NHTMCP Á Châu đưa sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế Mastercard vào thịtrường
Năm 1997, Vietcombank và NHTMCP Á Châu được Tổ chức thẻ quốc tếVisa kết nạp là thành viên Trong năm 1997 và 1998, hai ngân hàng này tiếp tục đưavào thị trường sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế Visa
Năm 1998 thương hiệu thẻ Diner Club được ngân hàng liên doanh Indovinađưa vào thanh toán tại thị trường Việt Nam và sau đó ngân hàng Ngoại thương ViệtNam cũng trở thành ngân hàng chấp nhận thanh toán loại thẻ này
Trong những năm từ năm 2000 trở lại đây, thị trường thẻ Việt nam càng cónhững biến đổi tích cực, hoạt động kinh doanh thẻ của Vietcombank ngày càng mở
Trang 37rộng và phát triển, đặc biệt từ năm 2005 đến nay Vietcombank đã triển khai nhiều
đề án phát triển các dịch vụ thẻ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường
Năm 2005: Vietcombank kết hợp với Vietnam Airlines phát hành thẻ liên kếtVietcombank Vietnam Airlines American Express (Bông Sen Vàng)
Năm 2006, Vietcombank kết hợp với Kênh truyền hình nổi tiếng MTV pháthành thẻ ghi nợ Vietcombank MTV Mastercard
Năm 2007, Vietcombank đã tạo ra bước đột phá lớn trên thị trường thanhtoán thẻ tại Việt Nam khi trở thành ngân hàng đầu tiên cung cấp dịch vụ thanh toánthương mại điện tử bằng thẻ quốc tế với việc triển khai thành công dịch vụ đặt vémáy bay online với Pacific Airlines Cho đến nay Vietcombank cung cấp dịch vụthanh toán này với hơn 200 đối tác
Cũng trong năm 2007, Vietcombank đã phát hành thẻ ghi nợ quốc tếVietcombank Connect 24 Visa Vietcombank đã hoàn thành việc triển khai chấpnhận thanh toán theo chuẩn EMV cho 2 thương hiệu thẻ Visa và Master
Tháng 10 năm 2008, Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chính thức
trở thành Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ China Union Pay (CUP), theo đó thẻ
mang thương hiệu CUP được thanh toán và chấp nhận trên hệ thống ATM và POScủa Vietcombank Như vậy tất cả các thương hiệu thẻ quốc tế thông dụng nhất:Visa, Mastercard, American Express, JCB, Diner Club và China UnionPay đềuđược chấp nhận thanh toán tại các cơ sở chấp nhận thẻ của Vietcombank
Năm 2009 Vietcombank là ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam chính thức pháthành và thanh toán thẻ chip chuẩn EMV cho 2 thương hiệu Visa và MasterCard.Cũng trong năm này Vietcombank chính thức triển khai dịch vụ thanh toán thẻ trựctuyến qua internet cho thẻ ghi nợ nội địa Vietcombank Connect 24
Từ đầu năm 2011 Vietcombank và China UnionPay cũng đã bắt đầu phốihợp để triển khai đề án phát hành thẻ CUP tại Việt Nam
Hoạt động thẻ của Vietcombank ngày càng khẳng định được vị thế dẫn đầutrên thị trường góp phần tích cực trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng thanh toán hiệnđại, tạo thói quen và nâng cao nhận thức của người dân về thanh toán thẻ, đồng thời
Trang 38góp phần giảm bớt lượng tiền mặt trong lưu thông, thực hiện tốt chủ trương thúcđẩy thanh toán không dùng tiền mặt của Chính phủ.
2.2 Tình hình rủi ro trong kinh doanh thẻ tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
2.2.1 Tình hình rủi ro thẻ tại Việt Nam
Trong thời gian gần đây, thị trường thẻ ngày càng phát triển, số lượng thẻphát hành và doanh số thanh toán ngày càng tăng nhanh Cùng với đó là các rủi rothẻ ngày càng tăng Theo số liệu thống kê, đối với nghiệp vụ thanh toán, tỷ lệ gianlận tại Việt Nam trong năm 2009 tương đối cao, gấp 3,1 lần so với thế giới, 9,94 lần
so với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và đối với nghiệp vụ pháthành, tỷ lệ này gấp đôi so với các nước trong khu vực
Trong những tháng đầu năm 2010, tỷ lệ gian lận thẻ tại Việt Nam tiếp tụccao hơn so với thế giới và gấp khoảng 3 lần so với tỷ lệ trung bình của khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương Trong đó, các loại hình gian lận phát sinh chủ yếu dogian lận, giả mạo trong thanh toán thẻ, hoạt động trộm cắp thông tin thẻ tín dụngcủa người nước ngoài để mua hàng trực tuyến về Việt Nam tiêu thụ kiếm lời, đơn vịchấp nhận thẻ cấu kết gian lận, gian lận tài khoản…
Thị trường thẻ non trẻ tại Việt Nam đầy tiềm năng nhưng cũng đã tiềm ẩnmột số rủi ro Tính đến cuối tháng 8/2010, đã có 49 tổ chức phát hành thẻ phát hànhtổng cộng gần 27 triệu thẻ, trên 200 thương hiệu thẻ khác nhau
Các ngân hàng cũng tăng cường mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ thanhtoán với khoảng 11.000 ATM và 42.000 POS Ở Việt Nam, thẻ giả mạo và gian lậntài khoản thẻ là hai loại rủi ro phổ biến nhất và gây tổn thất nhiều nhất cho các ngânhàng có hoạt động kinh doanh thẻ
Để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động thẻ được hiệu quả, ngày 30/9/2010,Hiệp hội thẻ Việt Nam và các ngân hàng thành viên đã ra mắt Tiểu ban quản lý rủi
ro trực thuộc Hội thẻ Việt Nam
Tiểu ban quản lý rủi ro được thành lập với tư cách là một đơn vị trong cơ cấu
tổ chức của Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam, chuyên trách về công tác quản lý rủi ro ở
Trang 39cấp độ liên ngân hàng nhằm đảm bảo các hoạt động quản lý rủi ro thẻ được cập nhật
và chia sẻ thường xuyên giữa các ngân hàng, góp phần hạn chế rủi ro, tăng cườnghiệu quả kinh doanh thẻ
Chức năng chính của tiểu ban là tư vấn cho các thành viên công tác quản lýrủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ theo các quy định hiện hành của pháp luật, vàcác tổ chức thẻ quốc tế; đề xuất, đóng góp ý kiến liên quan đến các quy ước chung
về quản lý rủi ro; theo dõi định kỳ, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và các biệnpháp phòng ngừa rủi ro
2.2.2 Tình hình rủi ro thẻ tại Vietcombank
2.2.2.1 Rủi ro trong hoạt động phát hành thẻ
Hoạt động phát hành thẻ tại Vietcombank đang tồn tại một số rủi ro trong đógiả mạo trong phát hành thẻ là chủ yếu
Trang 40Bảng 2.1: Doanh số gian lận và tỷ lệ gian lận thẻ do Vietcombank phát hành
(Đơn vị: Doanh số gian lận: USD, Tỷ lệ gian lận/doanh số: %)
Tỷ lệ NHVNPH/Thế giới 0,0118% 0,0032% 0,0027% 0,0049% 0,0053% 0,0035% 0,0041% 0,0047%
Nguồn:Báo cáo RADAR của Tổ chức thẻ Visa và chương trình Fraud Reporter của tổ chức thẻ Master