1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số hình thức tổ chức hoạt động học cho học sinh môn sinh học lớp 10 SKKN sinh học

23 2K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 264,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm là cơ sở để đổi mới phương pháp dạy học một xu hướng chung của đổi mới phương pháp dạy học. Quan điểm này có cơ sở lý luận từ việc nhận thức quá trình dạy học là quá trình có 2 chủ thể: Thầy và trò. Cả hai chủ thể này đều chủ động, tích cực bằng hoạt động của mình hướng tới tri thức, thầy thì hoạt động truyền đạt tri thức, còn trò thì hoạt động chiếm lĩnh tri thức và biến nó thành vốn hiểu biết của mình để tiếp tục hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn…Hoạt động của thầy và hoạt động của trò đều là hoạt động có ý thức, dưới sự chỉ huy của ý thức mà đạt được mục tiêu của mình. Vì vậy kết quả nhận thức của học sinh là công cụ cho họ thực hiện mục đích của mình. Do vậy trong thực tế hiện nay đòi hỏi người thầy đứng lớp phải đổi mới phương pháp dạy học.

Trang 1

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

Bắt đầu từ năm học 2006 - 2007 thực hiện đổi mới chương trình và sáchgiáo khoa bậc trung học phổ thông trên toàn quốc Thực tế khách quan cho thấyviệc đổi mới sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy là một xu thế tất yếu

Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Ban chấp hành Trung ương Đảng

Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học tự nghiên cứu cho học sinh…" (Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá

VIII Đảng Cộng sản Việt Nam NXB Chính trị Quốc gia 1997 tr 41)

Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm là cơ sở để đổi mớiphương pháp dạy học- một xu hướng chung của đổi mới phương pháp dạy học.Quan điểm này có cơ sở lý luận từ việc nhận thức quá trình dạy học là quá trình

có 2 chủ thể: Thầy và trò Cả hai chủ thể này đều chủ động, tích cực bằng hoạtđộng của mình hướng tới tri thức, thầy thì hoạt động truyền đạt tri thức, còn tròthì hoạt động chiếm lĩnh tri thức và biến nó thành vốn hiểu biết của mình để tiếptục hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn…Hoạt động của thầy và hoạtđộng của trò đều là hoạt động có ý thức, dưới sự chỉ huy của ý thức mà đạt đượcmục tiêu của mình Vì vậy kết quả nhận thức của học sinh là công cụ cho họ thựchiện mục đích của mình Do vậy trong thực tế hiện nay đòi hỏi người thầy đứnglớp phải đổi mới phương pháp dạy học

Trong sách giáo khoa mới, các tài liệu bồi dưỡng đổi mới phương phápdạy học, sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng, hệ thống kênh hình, kênh chữ,

hệ thống các lệnh trong sách giáo khoa đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngườithầy khai thác khả năng độc lập tư duy, sáng tạo của học sinh, giúp học sinh tựmình nghiên cứu trên cơ sở định hướng của thầy Cấu trúc của sách giáo khoa,sách giáo viên đã định hướng tương đối rõ ràng, nhưng đó chỉ là gợi ý cho hoạtđộng của thầy Vấn đề cơ bản là khi soạn giảng người thầy phải biến sự gợi ý

đó thành hoạt động cụ thể của mình sao cho phù hợp với đối tượng mà mìnhtrực tiếp tác động để hoạt động học của học sinh đạt kết quả cao, tránh sự khôcứng, hình thức hóa và sáo rỗng Đặc biệt việc tổ chức hoạt động học tập chohọc sinh ở một số thầy cô còn tỏ ra lúng túng trong quá trình thực hiện

Trong mấy năm gần đây, vào dịp đầu năm học sở Giáo dục và đào tạo

đã tổ chức các lớp bồi dưỡng thay sách giáo khoa, hội thảo đổi mới phương

1

Trang 2

pháp trong dạy học cho các thầy cô trực tiếp đứng lớp và cán bộ quản lý Nhàtrường đã trang bị sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng theohướng đổi mới Từ kiến thức tiếp thu được qua các lớp tập huấn, khai tháctrong tài liệu, kết hợp với việc thảo luận trong sinh hoạt nhóm chuyên môn, dựgiờ thăm lớp theo chuyên đề, dạy thử nghiệm bài khó để rút kinh nghiệm Tất

cả các hoạt động đó đều giúp cho từng thầy cô rất nhiều trong việc soạn bài vàlên lớp Nhưng khi bước vào làm cụ thể lại mắc phải những băn khoăn sau:

1 Hình thức hoạt động nhóm thế nào cho hiệu quả? Thực tế hình thức này

có hoạt động, được nhiều thầy cô thực hiện, nhưng hiệu quả chua cao, chưa khaithác, phát động sự nhiệt tình tham gia của tất cả các thành viên trong nhóm học sinh.Một số thành viên trong nhóm thường "ngồi dự giờ", ỉ lại vào các bạn khác Hiệntượng này lặp đi, lặp lại qua nhiều tiết học, nên sự phân hóa trong nhóm ngày càngrõ: một số thành viên hào hứng tích cực, chủ động tìm tòi kiến thức, số khác ỉ lại, bịđộng, lười tìm tòi hiểu biết nên ngày càng yếu đi Vậy làm thế nào để hoạt độngnhóm thực sự có hiệu quả? Kích thích mọi thành viên trong nhóm cùng tích cực hoạtđộng trong giờ học?

2 Còn hạn chế trong việc phát huy khả năng tư duy hoạt động cá nhân,

do vậy hạn chế kỹ năng xử lý thông tin Nguyên nhân của hạn chế này? Chính

là do khả năng tạo tình huống của người thầy

3 Hầu hết các bài trong sách giáo khoa mới có khối lượng kiến thứckhá nhiều, nên các thầy cô luôn có tâm lý sợ thiếu thời gian - đây là nỗi ámảnh của phương pháp dạy học cũ, nên thường chỉ đi vào giảng giải mà ít tổchức hoạt động tìm tòi kiến thức cho học sinh

4 Hình thức tổ chức hoạt động nhóm thường nghèo nàn nên gây sựnhàm chán đối với học sinh

Xuất phát từ thực tế hiện nay, bằng kinh nghiệm của bản thân, tôi xin đưa

ra một số hình thức tổ chức hoạt động học cho học sinh môn sinh học lớp 10

Trang 3

PHẦN II: NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận.

- Chúng ta có thể so sánh để thấy được sự khác nhau của 2 quan điểm giáo dục:

Dạy học lấy thầy làm trung tâm Dạy học lấy học sinh làm trung tâm

1 Thầy truyền đạt tri thức 1 Thầy định hướng để học sinh tìm tòi tri

5 Thầy độc quyền đánh giá cho

* Trò tự hành động, tự kiểm tra, tự điều chỉnh - Thầy làm cố vấn

- Để thực hiện được quá trình dạy học theo quan điểm lấy học sinh làmtrung tâm, người thầy phải làm gì?

Vai trò của người thầy không thể bị mờ nhạt mà trái lại còn rõ nét hơn,người thầy vẫn là "linh hồn" của giờ học sinh động và sáng tạo Bởi vì có thể làmngười hướng dẫn, cung cấp thông tin, trọng tài, cố vấn… người thầy phải hiểu biếtsâu sắc những kiến thức cơ bản của môn học mà mình đảm nhiệm, đồng thời phải

tự bổ sung vốn kiến thức của mình thường xuyên và có định hướng rõ ràng qua cáckênh thông tin

Người thầy phải nắm vững bản chất và các quy luật của quá trình dạy học để cóthể tìm ra hoặc ứng dụng những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng của mìnhnhất

Một vấn đề quan trọng là, nhiều giáo viên nhận thức được sự cần thiết phảiđổi mới phương pháp nhưng rất khó từ bỏ các phương pháp đã quen dùng Do đó,

3

Trang 4

muốn thực hiện đổi mới phương pháp, thì trước hết bản thân mỗi thầy, cô phải ý thứcđược để chủ động từ bỏ các phương pháp dạy học truyền thống đã thành thói quen vàchuyển hẳn sang phương pháp mói một cách sáng tạo, phù hợp với khả năng và sởtrường của bản thân mình.

- Cần nhấn mạnh rằng: Vai trò hoạt động của học sinh trong mỗi giờ học làhết sức quan trọng

* Học sinh tham gia chủ động vào quá trình nhận thức, thông qua:

+ Học sinh có nhu cầu nhận thức, khao khát tìm hiểu kiến thức mới trong mỗibài học

+ Tự giác chủ động thực hiện các hoạt động học tập nhằm tìm tòi, phát hiệntri thức và học được cách tìm ra tri thức mới

+ Khuyến khích nêu thắc mắc, phát hiện vấn đề và tham gia giải đáp

+ Tự đánh giá và tham gia nhận xét đánh giá lẫn nhau

+ Tự bổ sung và hoàn thiện kiến thức

Chia nhóm theo số tự nhiên: 1, 2, 3…

Chia nhóm theo sở thích màu sắc: xanh, vàng, đỏ…

1.2 Làm thế nào để xây dựng nhóm học sinh hoạt động sôi nổi nhiệt tình ?

Như phần trên tôi đã trình bày, trong nhóm học sinh thường có 1 số emlười, ít tham gia hoạt động, ỉ lại vào một số bạn tích cực

- Người thầy nên cân nhắc khi tạo ra các nhóm (số học sinh mỗi nhóm, cácthành phần trong nhóm, vai trò của mỗi thành viên, giới tính…) để có được cácnhóm với các thành viên phối hợp hiệu quả với nhau

- Sử dụng một số bài tập, trò chơi để tạo môi trường thân thiện, trong đócác nhóm và các cá nhân cảm thấy thoải mái khi chia sẻ, trải nghiệm cùng nhau,suy ngẫm, và cùng thay đổi theo chiều hướng tốt

- Mục đích chính của các bài tập, trò chơi:

+ Học sinh chơi mà học (thư giãn trong khi học)

Trang 5

+ Kích thích giao tiếp, tạo điều kiện cho học sinh lười nhát có cơ hội hoạt động.+ Khuyến khích tất cả các thành viên trong nhóm tham gia học hỏi.

- Tạo hứng thú đầu giờ học và trong quá trình học:

+ Trong mỗi giờ học, người thầy nên nói với học sinh theo cách thân mật:Hãy nói chúng ta

+ Liên hệ những hoạt động ban dầu với những gì học sinh đã biết hoặc đãđược học Đảm bảo học sinh có cảm giác nếu mình chú ý bài hôm nay mình sẽhiểu bài

+ Gây tò mò cho học sinh về nội dung sắp học

Sau đây là một số ví dụ minh họa

Ví dụ 1: Trò chơi ghép hình với tên gọi: Chúng mình đi tìm bài học hôm nay!

- Để tạo hứng thú khi vào chương I Thành phần hóa học của tế bào

Thầy chuẩn bị sẵn: 2 tấm bìa lớn hình tế bào giống hệt nhau

* Tấm bìa lớn thứ nhất cắt thành 5 miếng nhỏ có hình dạng ngộ nghĩnh khácnhau:

Miếng bìa 1 có tên chương I: Thành phần hóa học của tế bào

Miếng bìa 2 có tên bài 3: Các nguyên tố hóa học và nước

Miếng bìa 3 có tên bài 4: Cacbohyđrat và lipit

Miếng bìa 4 có tên bài 5: Prôtêin

Miếng bìa 5 có tên bài 6: Axit nuclêic

Lưu ý: 5 miếng nhỏ đã được che kín

* Tấm bìa lớn thứ 2 được đính lên bảng

* Yêu cầu:

+ 1 học sinh đại diện cho nhóm lên bảng ghép 5 tấm bìa nhỏ lên trên tấmbìa lớn thứ 2 (đã được đính lên bảng) sao cho trùng khít các tấm bìa nhỏ với nhau

và với tấm bìa lớn thứ 2

+ Thời gian thực hiện: 10s

Nếu học sinh ghép đúng được thầy ghi tên vào danh sách biểu dương trênbảng (học sinh này vẫn đứng ở trên bảng)

* Thầy thông hỏi: Trong 5 hình, hình nào chứa thông tin tên bài hôm nay?

* Học sinh các nhóm khác xung phong chọn (mỗi nhóm học sinh chỉ chọn

1 hình), học sinh đã ghép hình sẽ bóc phần che của mỗi hình con Nhóm nào chọnđúng sẽ được ghi danh vào danh sách biểu dương trên bảng

Dựa trên cơ sở đó thầy vào bài mới theo cấu trúc sau:

Trang 6

Ví dụ 2: Khi dạy bài 8: Tế bào nhân thực

Để gây hứng thú cho học sinh: Vừa củng cố bài cũ vừa tiếp thu bài mới,

nhớ lâu kiến thức, thầy tổ chức trò chơi sau đây với tên gọi: Tiếp sức

* Thầy đính lên trên bảng 3 bức tranh câm:

- Tranh 1: Hình 7.2 sgk sơ đồ cấu trúc điển hình của một trực khuẩn (đạidiện cho cấu trúc của tế bào nhân sơ

- Tranh 2: Hình a 8.1 sgk cấu trúc tổng thể của tế bào nhân thực (tế bào động vật)

- Tranh 3: Hình b 8.1 sgk cấu trúc tổng thể của tế bào nhân thực (tế bào thực vật)

* Hình thức chơi:

- Các nhóm có 2 phút nghiên cứu các hình nói trên trong sgk

- Mỗi đội cử lần lượt từng thành viên lên bảng điền chú thích vào 1 cấu tạocủa tế bào (thành viên này thực hiện xong thành viên khác mới được lên thực hiện)

- Thời gian thực hiện: 3 phút

- Nhóm hoàn thành tốt nhất sẽ được thầy ghi danh và danh sách biểu dương trênbảng

Ví dụ 3: Bài 19 Giảm phân

Phần II Quá trình nguyên phân

- Đây là nội dung kiến thức học sinh đã được học ở cấp II (kiến thức theochu kỳ đồng tâm), vì vậy để tạo hứng thú trong học tập thầy tổ chức trò chơi sau

đây với tên gọi: Bạn hỏi - mình trả lời.

và so sánh với kỳ phân bào tương đương của lần phân bào kia Ví dụ:

Một thành viên của nhóm 1 đưa cho 1 thành viên của nhóm 2 mô hình kỳgiữa của giảm phân I và hỏi:

Trang 7

1 Bạn hãy mô tả diễn biến của NST ở kỳ này

2 Bạn hãy so sánh với kỳ giữa của giảm phân II

Nếu thành viên của đội bạn không trả lời được thì chính người ra câu hỏi phảitrả lời

- Thành viên nào trả lời tốt sẽ được ghi danh trên bảng

2 Sử dụng câu hỏi trong giờ lên lớp.

2.1 Các loại câu hỏi

Loại câu hỏi Định nghĩa, mục đích, ví dụ, lưu ý

1 Câu hỏi đóng - Là câu hỏi yêu cầu trả lời Có/Không hoặc lựa chọn 1

trong 2

VD 1: Tế bào nhân sơ có nhân không?

VD 2: Tế bào thực vật và tế bào động vật giống nhauhay khác nhau?

VD 3: Phân bào nguyên phân và giảm phân II có giốngnhau không?

- Câu hỏi đóng tốn ít thời gian, nhưng không chứa đựngnhiều thông tin

- Câu hỏi này có thể chuyển thành câu hỏi mở bằng

cách sử dụng từ để hỏi, hoặc thêm tại sao/ bằng cách nào…

2 Câu hỏi mở - Là câu hỏi sử dụng từ để hỏi: Đối tượng, Cơ chế, Diễn

biến, …

VD 1: Những loại tế bào nào thực hiện phân bàonguyên phân?

VD 2: Trình bày diễn biến của phân bào giảm phân I

VD 3: Cơ chế tác động của enzim lên cơ chất?

- Mục đích yêu cầu đưa thông tin, giúp người nghe mởrộng suy nghĩ, khơi gợi ý kiến, dẫn dắt thảo luận…

3 Câu hỏi khơi gợi - Là câu hỏi trong đó bao hàm thông tin dẫn đến câu trả

lời cụ thể Câu hỏi này được sử dụng để khai thác thêmthông tin nếu câu trả lời chưa đầy đủ

4 Câu hỏi hùng biện - Là câu hỏi đặt ra nhưng không cần câu trả lời

- Dùng để lôi cuốn sự chú ý của học sinh vào một chủ

đề nào đó

- Chú ý:

+ Không nên dừng lâu sau câu hỏi hùng biện, nếukhông học sinh sẽ trả lời và câu hỏi sẽ không còn là câuhỏi hùng biện nữa

+Thường được dùng để vào bài mới hoặc chuyển ýtrong giờ dạy

VD 1: Sau khi học xong bài 7 "Tế bào nhân sơ" để vàobài 8 chúng ta đặt câu hỏ hùng biện như sau:

7

Trang 8

Vậy tế bào nhân thực khác gì so với tế bào nhân sơ?

VD 2: Để chuyển ý từ mục "Vận chuyển thụ động"sang mục "Vận chuyển chủ động" chúng ta có thể hỏi:Vậy những chất có kích thước lớn hơn lỗ màng có điqua màng được không? Nếu được thì chúng đi qua bằngcách nào, theo cơ chế nào? để hiểu được điều đó chúng

ta sang phần …vận chuyển chủ động

5 Câu hỏi cho cá nhân - Là câu hỏi dành cho 1 học sinh cụ thể

- Mục đích: đối thoại trực tiếp, lôi kéo sự chú ý, khuyếnkhích sự đóng góp ý kiến

VD 1: Em hãy cho biết cấu tạo màng của tế bào nhânthực

VD 2: khi học sinh đang trả lời câu hỏi thì ngập ngừngrồi dừng lại, giáo viên có thể dùng loại câu hỏi này đểgợi ý, định hướng giúp học sinh trả lời tiếp Ví dụ: emhãy cho biết enzim có vai trò như thế nào trong quátrình chuyển hóa vật chất?

Thầy gợi ý: Nếu không có enzim thì điều gì sẽ xảy ra?Tại sao?

6 Câu hỏi cho tập thể - Là câu hỏi cho cả nhóm, không hướng tới cá nhân cụ

thể nào

- Mục đích đối thoại và trao đổi mở

VD: Bài bài 14 " Enzim và vai trò của enzim trong quátrình chuyển hóa vật chất", phần "Cơ chế tác động củaenzim" thầy ra câu hỏi:

Hãy hoàn thành phiếu học tập sau:

EnzimCác tác độngKết quảYêu cầu:

+ Cá nhân nghiên cứu sgk trang 57 và hình 14.1+ Thảo luận trong nhóm thống nhất ý kiến để hoànthành nội dung của phiếu học tập

2.2 Kỹ thuật đưa ra câu hỏi

- Đưa ra câu hỏi cho cả lớp/cả nhóm

- Ngừng

+ Cho các học sinh có thời gian suy nghĩ

+ Thời gian ngừng phụ thuộc vào độ khó dễ của câu hỏi

- Gọi học sinh bằng tên (dựa vào sơ đồ lớp)

- Đánh giá câu trả lời

Trang 9

+ Khen những câu trả lời chính xác, trả lời hay.

+ Nếu cần, chỉ rõ phần chính xác của câu trả lời

- Tránh thói quen lặp đi lặp lại 1 loại câu hỏi

- Nhắc lại và nhấn mạnh những câu trả lời đúng để tăng mức độ tiếp thu củahọc sinh

- Không nên tự trả lời câu hỏi của mình - trừ đó là câu hỏi hùng biện

- Giữ giọng nói bình thường, thân thiện

- Tránh việc học sinh trả lời đồng thanh

2.3 Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng câu hỏi

2.3.1 Đặc điểm của một câu hỏi tốt

- Ngắn gọn, rõ ràng

- Diễn đạt 1 ý/1 nội dung (hỏi)

- Phù hợp với nội dung đang cần truyền đạt cho học sinh

- Phù hợp với trình độ của học sinh

- Tạo được sự quan tâm của học sinh

- Ngôn ngữ thông dụng, dễ hiểu phù hợp với học sinh

- Nhấn mạnh vào điểm chính

2.3.2 Lưu ý khi đặt câu hỏi

- Nói to, rõ

- Đảm bảo học sinh nghe và hiểu câu hỏi

- Dành thời gian cho học sinh suy nghĩ

- Đặt câu hỏi tiếp theo để khai thác thêm thông tin

- Thái độ người thầy phải vui vẻ cởi mở, khuyến khích học sinh suy nghĩ để trả lời

3 Nên kiểm tra miệng thế nào? (lấy điểm miệng)

3.1 Hình thức truyền thống: câu hỏi tự luận

- Thầy thông báo nội dung câu hỏi trước lớp và gọi 1 học sinh lên trả lời

- Gọi học sinh dưới lớp bổ sung câu trả lời

- Thầy nhận xét và cho điểm công khai

3.2 Hình thức trả lời câu hỏi trắc nghiệm

- Thầy soạn sẵn các câu hỏi trắc nghiệm: chia thành 2 nhóm câu hỏi

+ Nhóm câu hỏi dành cho học sinh trung bình

+ Nhóm câu hỏi dành cho học sinh khá giỏi

- Sau khi học sinh chọn đáp án nên hỏi bổ sung: Vì sao? Tại sao? để đánh giáchính xác nhận thức của học sinh (tránh trường hợp học sinh chọn đúng ngẫu nhiên)

3.2 Hình thức trò với trò

9

Trang 10

- Thầy giao cho 2 học sinh: mỗi học sinh một nhóm cụm từ (tùy theo nộidung cần kiểm tra của mỗi bài học)

- Học sinh lần lượt căn cứ vào nhóm cụm từ mà tìm câu gợi ý cho bạn đểbạn nói đúng cụm từ đó

- Có thể một học sinh chuyên gợi ý và 1 học sinh chuyên trả lời (áp dụngtrong trường hợp khả năng nhận thức, tiếp thu trong học tập của cặp học sinhkhông đều nhau: 1 khá, 1 trung bình hoặc yếu)

Lưu ý:

- Thầy giao cụm từ phù hợp với khả năng học tập của học sinh:

+ Nên gọi ngẫu nhiên cặp học sinh (trung bình - trung bình; khá - khá)+ Nếu cặp học sinh: yếu - khá thì nên để học sinh khá là người gợi ý, học sinhyếu là người trả lời (hình thức này khuyến khích tạo sự tự tin cho học sinh yếu)

- Lời gợi ý phải trong nội dung bài học

- Thầy căn cứ vào chất lượng câu gợi ý và câu trả lời để đánh giá điểm cho từnghọc sinh

Sau đây là ví dụ minh học cho 3 hình thức kiểm tra trên

BÀI 19 GIẢM PHÂN

(Sinh học lớp 10)

3.1 Hình thức truyền thống: Câu hỏi tự luận

Câu hỏi dành cho học sinh trung bình:

Câu 1 Mô tả tóm tắt diễn biến các kỳ của giảm phân I

Câu hỏi dành cho học sinh khá, giỏi:

Câu 2 Hiện tượng cá NST tương đồng bắt đôi có ý nghĩa gì?

Câu 3 Nêu sự khác biệt giữa nguyên phân và giảm phân.

3.2 Hình thức trả lời câu hỏi trắc nghiệm

Câu hỏi dành cho học sinh trung bình:

Câu 1 Giảm phân là hình thức phân bào xảy ra ở loại tế bào nào?

A Tế bào sinh dưỡng B *Tế bào sinh dục chín

C Tế bào giao tử D Tế bào sôma

Câu 2 Giảm phân có mấy lần phân bào?

Câu 3 Ở kỳ đầu I có hiện tượng

A NST tự nhân đôi

B Các NST kép bắt đôi với nhau theo từng cặp tương đồng

C Có thể xảy ra trao đổi đoạn giữa các crômatit của cặp NST kép tương đồng

D *B và C

Câu 4 Ở kỳ sau I có hiện tượng

Trang 11

A Hai NST kép trong cặp tương đồng di chuyển về cùng 1 cực của tế bào.

B *Mỗi NST kép trong cặp tương đồng di chuyển về 1 cực của tế bào

C Mỗi NST kép tách thành 2 NST đơn rồi di chuyển về 2 cực của tế bào

D Các NST tồn tại ở dạng đơn, mảnh

Câu 5 Sau giảm phân II, các tế bào con sẽ

A Biến đổi thành các giao tử đực hoặc cái

B Ở động vật mỗi tế bào mẹ giao tử đực hình thành nên 4 giao tử đực

C Ở động vật quá trình phát sinh giao tử cái chỉ tạo ta 1 trứng và 3 thể cực

từ 1 tế bào sinh dục chín

D *Cả A, B và C đều đúng

Câu hỏi dành cho học sinh khá, giỏi:

Câu 1 Đặc điểm có ở giảm phân mà nguyên phân không có là

A *Xảy ra sự biến đổi cấu trúc NST B Có sự phân chia tế bào chất

C Hình thành thoi phân bào D NST tự nhân đôi

Câu 2 Điểm giống nhau giữa nguyên phân và giảm phân là

A Đều xảy ra ở tế bào sinh dưỡng

B Đều xảy ra ở tế bào sinh dục chín

C *Đều có một lần nhân đôi của NST

D Đều hình thành các tế bào con có bộ NST giống nhau

Câu 3 Ở kỳ đầu của giảm phân I, các NST có hoạt động khác với ở quá trình nguyên phân là

A NST co xoắn dần lại B *NST tiếp hợp

Câu 5 Số tinh trùng được sinh ra so với số tế bào sinh tinh thì

Ngày đăng: 20/09/2014, 08:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w