Ngoài các vấn đề về thể chế và quản lý, một trong những giải pháp then chốt cho bảo tồn LSNG hiện nay tại Vườn quốc gia Tam Đảo và nhiều vùng khác được xác định là phải giúp người dân và
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ LOAN
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA GÂY TRỒNG
VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ LOAN
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA GÂY TRỒNG
VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS ĐẶNG KIM VUI
2 THS ĐỖ HOÀNG SƠN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu
và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chƣa hề đƣợc sử dụng
Trang 4Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Đặng Kim Vui, Ths Đỗ Hoàng Sơn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã dành nhiều tình cảm tốt đẹp và trực tiếp hướng dẫn khoa học giúp tác giả hoàn thành bản luận văn này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới UBND huyện Tam Đảo, UBND 2 xã Đại Đình và Hồ Sơn, Ban quản lý vườn Quốc gia Tam đảo, Lãnh đạo và tập thể cán
bộ - Hạt Kiểm lâm Tam Đảo, Lãnh đạo và đồng nghiệp Hạt Kiểm lâm Đồng
Hỷ, tập thể hội LSNG và các hộ gia đình các xã Đại Đình - Hồ Sơn,… đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã dành nhiều tình cảm động viên, cổ vũ tác giả trong suốt quá trình làm luận văn
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khái quát về kiến thức bản địa và vai trò của kiến thức bản địa 4
1.1.1 Khái quát về kiến thức bản địa 4
1.1.2 Tầm quan trọng của kiến thức bản địa 9
1.2 Một số khái niệm có liên quan 11
1.2.1 Khái niệm về tính bền vững 11
1.2.2 Định nghĩa về Lâm sản ngoài gỗ 12
1.3 Thực trạng và vai trò LSNG Việt Nam 14
1.3.1 Thực trạng nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam 14
1.3.2 Vai trò của lâm sản ngoài gỗ 16
1.3 Các nghiên cứu có liên quan đến LSNG 18
1.3.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 18
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 23
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Mục tiêu 31
2.1.1 Mục tiêu chung 31
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 31
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 32
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Phương pháp tổng quát 33
Trang 62.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 34
2.4.2.1 Nguồn thông tin và chọn địa điểm thu thập thông tin 34
2.4.2.2 Phương pháp điều tra thu thập các thông tin về thực trạng gây trồng và xác định loài cây LSNG có giá trị kinh tế 34
2.4.2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình gây trồng cây LSNG 37
2.4.2.4 Phương pháp đánh giá các biện pháp kỹ thuật gây trồng một số loài cây LSNG có giá trị kinh tế 37
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 39
3.1 Điều kiện tự nhiên 39
3.1.1 Vị trí địa lý 39
3.1.2 Đặc điểm địa hình 39
3.1.3 Điều kiện thổ nhưỡng 40
3.1.4 Đặc điểm khí hậu 40
3.1.5 Chế độ thuỷ văn 41
3.1.6 Tài nguyên thực vật 42
3.1.7 Tài nguyên động vật 42
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 43
3.2.1 Dân số, lao động và việc làm 43
3.2.2 Đặc điểm kinh tế 44
3.2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh 44
3.2.3.1 Hiện trạng sử dụng đất nông - lâm nghiệp khu vực nghiên cứu 44
3.2.3.2 Sản xuất nông nghiệp 47
3.2.3.3 Sản xuất lâm nghiệp 47
3.2.3.4 Canh tác vườn hộ 48
Trang 73.2.3.5 Chăn nuôi 48
3.2.4 Cơ sở hạ tầng 49
3.2.4.1 Hệ thống giao thông 49
3.2.4.2 Thuỷ lợi 49
3.2.4.3 Hệ thống điện 49
3.2.4.4 Hệ thống bưu chính 49
3.2.4.5 Hệ thống y tế 50
3.2.4.6 Giáo dục 50
3.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 51
3.3.1 Những thuận lợi 51
3.3.2 Khó khăn 51
3.3.3 Mức độ tác động vào Vườn quốc gia Tam Đảo 52
3.3.4 Một số định hướng cho giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển 53
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55
4.1 Kết quả khảo sát các nhóm LSNG chính và định hướng phát triển 55
4.1.1 Cây thuốc 55
4.1.2 Măng tre 57
4.1.3 Cây cảnh 59
4.1.4 Cây lấy gỗ đa mục đích và cây ăn quả 61
4.1.5 Các sản phẩm sợi 62
4.2 Đánh giá thực trạng gây trồng và phát triển các loài cây LSNG ở khu vực nghiên cứu 63
4.2.1 Thực trạng gây trồng và phát triển một số loài cây LSNG chủ yếu của khu vực nghiên cứu 63
4.2.2 Xác định cơ cấu cây trồng LSNG có giá trị và tiềm năng phát triển tại các xã nghiên cứu 67
Trang 84.2.3 Tình hình khai thác, sử dụng và thị trường tiêu thụ lâm sản
ngoài gỗ ở một số thôn trên địa bàn nghiên cứu 70
4.2.3.1 Tình hình khai thác và sử dụng 70
4.2.3.2 Thị trường tiêu thụ LSNG ở một số thôn trên địa bàn nghiên cứu 73
4.3 Đánh giá về mặt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của một số mô hình gây trồng LSNG có giá trị cao hiện nay ở địa bàn nghiên cứu 76
4.3.1 Hiệu quả kinh tế của một số mô hình 76
4.3.1.1 Mô hình gây trồng cây Sa nhân tím (Amomum longiligulare) 77
4.3.1.2 Mô hình gây trồng cây tre Bát độ (Đendrocalamus latiflours) 77
4.3.1.3 Mô hình Gối hạc dưới tán rừng 78
4.3.2 Hiệu quả xã hội của các mô hình gây trồng cây LSNG 80
4.3.3 Hiệu quả môi trường của các mô hình gây trồng cây LSNG 81
4.3.3.1 Hiệu quả theo hướng tích cực 81
4.3.3.2 Hiệu quả theo hướng tiêu cực 82
4.4 Tổng kết, đánh giá các kỹ thuật bản địa trong gây trồng một số loài cây LSNG có giá trị kinh tế 83
4.4.1 Cây Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.L.Wu) 83
4.4.2 Cây gối hạc (Leea rubra Blunne) 85
4.4.3 Cây Ba kích (Morinda officinalis How) 87
4.4.4 Cây Trám đen (Canarium tramdenum) 89
4.4.5 Kỹ thuật trồng Trám trắng (Canarium album) 91
4.4.6 Cây rau Sắng (Melientha acuminata) 91
4.5 Nghiên cứu kiến thức bản địa liên quan tới khai thác, sử dụng và phát triển lâm sản ngoài gỗ 94
4.5.1 Các quy ước về khai thác, sử dụng và phát triển lâm sản ngoài gỗ 94
Trang 94.5.2 Kiến thức, kinh nghiệm trồng một số loài LSNG có giá
trị cao 95
4.5.3 Kinh nghiệm khai thác, sử dụng một số loài lâm sản ngoài gỗ 99
4.5.4 Đánh giá chung về kiến thức bản địa của người dân 103
4.6 Đề xuất các giải pháp phát triển một số loài cây LSNG có giá trị cao tại vùng đệm VQG Tam Đảo 104
4.6.1.Giải pháp về chính sách 105
4.6.2 Giải pháp kỹ thuật 105
4.6.3 Giải pháp thực hiện và quản lý 107
Chương 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 108
5.1 Kết luận 108
5.2 Tồn tại 111
5.3 Khuyến nghị 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC: MỘT SỐ HÌNH ẢNH NHÂN GIỐNG, TRỒNG LSNG TẠI VÙNG ĐỆM VQGTĐ 120
Trang 10VQGTĐ Vườn Quốc gia Tam Đảo
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
DTTN Diện tích tự nhiên
DTLN Diện tích lâm nghiệp
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
FAO Tổ chức nông lương Liên Hiệp quốc
NTFP Non timber forest products
NWFP Non wood forest producst
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Dân số và lao động khu vực nghiên cứu 43
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu 45
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghi ệp của 2 xã Hồ Sơn và Đại Đình năm 2009 46
Bảng 3.4 Thống kê các loại cây trồng ăn quả 48
Bảng 3.5 Thống kê các loại gia súc gia cầm ở 2 xã 48
Bảng 3.6 Mạng lưới nhân viên y tế 50
Bảng 3.7 Hiện trạng giáo dục 50
Bảng 4.1 Các loài cây LSNG giá trị kinh tế được gây trồng ở 2 xã thuộc khu vực nghiên cứu 64
Bảng 4.2 Các loài LSNG phân theo công dụng được gây trồng ở 2 xã thuộc khu vực nghiên cứu 65
Bảng 4.3 Thống kê chi tiết diện tích gây trồng 1 số loài cây LSNG của 2 xã thuộc khu vực nghiên cứu, năm 2009 66
Bảng 4.4: Sản lượng khai thác một số loài LSNG chủ yếu tại 2 xã vùng đệm thuộc khu vực nghiên cứu, năm 2009 67
Bảng 4.5 Xếp hạng ưu tiên cơ cấu cây trồng LSNG ở Đại Đình 68
Bảng 4.6 Xếp hạng ưu tiên cơ cấu cây trồng LSNG ở Hồ Sơn 69
Bảng 4.7 Sự thu hút công lao động trong các mô hình trồng LSNG 81
Bảng 4.8 Kỹ thuật bản địa trong gây trồng Sa nhân tím 83
Bảng 4.9 Kỹ thuật bản địa trong gây trồng cây Gối hạc 86
Bảng 4.10 Kỹ thuật bản địa trong gây trồng trám đen của người dân khu vực nghiên cứu 89
Bảng 4.11 Tổng kết các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong mô hình trồng rau Sắng 92
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Kiến thức bản địa là vốn quý của cộng đồng các dân tộc nước ta, là một nguồn lực quý giá đối với quá trình phát triển Trong một số trường hợp, kiến thức bản địa có thể tương xứng hoặc ưu việt hơn kiến thức đưa từ bên ngoài vào Do vậy, trong những nỗ lực phát triển, chúng ta cần coi trọng và sử dụng đến mức tối đa kiến thức bản địa Ngày nay, mặc dù có nhiều chuyên gia về phát triển nhận thức được tiềm năng của kiến thức bản địa, song vấn đề này vẫn bị lãng quên Lý do chính là do thiếu sự chỉ dẫn về việc ghi chép lại và áp dụng kiến thức bản địa
Thật đáng tiếc là khi nhận thức về giá trị của kiến thức bản địa đang được nâng cao, đặc biệt là khả năng đóng góp của nó vào việc phát triển bền vững và xoá đói giảm nghèo, thì cũng là lúc những kiến thức này rơi vào tình trạng bị đe dọa nghiêm trọng Những kiến thức này có nguy cơ biến mất không chỉ do tác động của sự thay đổi toàn cầu với tốc độ chóng mặt, mà còn bởi sự thiếu hụt khả năng và điều kiện cần thiết để ghi nhận, đánh giá, phê chuẩn, bảo vệ, phổ biến chúng ở các quốc gia
Thực tế đã cho thấy rằng, tại các cộng đồng dân tộc sống trong và gần rừng nếu kết hợp hài hoà giữa kiến thức bản địa và kỹ thuật mới sẽ đưa đến một sự phát triển có hiệu quả và bền vững, được cộng đồng hưởng ứng tích cực Vì vậy, việc tìm hiểu, lưu giữ và phát triển kiến thức bản địa của người dân có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển kinh tế - xã hội, môi trường vùng miền núi Việc hiểu biết kiến thức bản địa là nền tảng của các phương pháp phát triển có sự tham gia của người dân Khi những ứng dụng tích cực của kiến thức bản địa trở thành một phần của nỗ lực phát triển, lấy con người làm trung tâm, có sự tham gia của người dân thì chúng ta mới có thể nhận thấy được tiềm năng của kiến thức bản địa trong phát triển
Trang 13Theo quyết định số 136/TTg ngày 06/3/1996 của Thủ tướng Chính phủ
và quyết định số 273/NN-PTLN/QĐ ngày 20/02/1977 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT: Diện tích vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo là 15.515ha., thuộc 20 xã xung quanh châm núi Tam Đảo, trong đó huyện Đại
Từ (Thái Nguyên) có 10 xã; huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) có 4 xã; 6 xã của Vĩnh Phúc gồm Lập thạch (1 xã), Tam Dương (3xã), Bình Xuyên (2 xã) Theo kết quả điều tra thống kê năm 2009, tổng dân số vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo có gần 150.000 người với 30.520 hộ thuộc 8 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh đông nhất chiếm 63 %, 7 dân tộc còn lại xếp theo thứ tự giảm gần như sau: Sán dìu, Sán chỉ, Dao, Tài, Nùng, Cao lan, Hoa Lực lượng lao động trong độ tuổi là 89.500 người, chiếm 60 % tổng số nhân khẩu
Dân cư vùng đệm giữ vai trò quan trọng và liên quan mật thiết đến sự suy giảm hay phát triển các hệ sinh thái rừng trong Vườn quốc gia Tam Đảo Mật độ dân số đông, diện tích canh tác ít, sản xuất chưa phát triển Vấn đề bức xúc hiện nay là thiếu công ăn việc làm, trình độ dân trí thấp, đời sống một
bộ phận lớn dân cư còn gặp khó khăn tạo nên một sức ép rất lớn vào Vườn quốc gia Tam Đảo Trước những khó khăn về đời sống, nhiều người dân vùng đệm sống dựa vào việc khai thác trộm gỗ, củi, măng, dược liệu, săn bắt động vật hoang dã, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy…
Trong khu vực Vườn quốc gia Tam Đảo, các sản phẩm lâm sản ngoài
gỗ (LSNG) tạo ra một nguồn sinh kế và thu nhập quan trọng cho người dân địa phương Nguồn lâm sản ngoài gỗ (LSNG) cung cấp cho người dân củi đun, tre, nứa, thực phẩm, dược liệu,
Trong tổng số hơn 600 loài LSNG đã biết đến đang được sử dụng và thu hái từ Vườn quốc gia Tam Đảo (Trần Công Khánh và cộng sự, 2000) bao gồm các cây thuốc, măng tre và mây, cây cảnh, hoa quả, rau, nấm và các loài mộc nhĩ khác Nhìn chung, những loài này được thu hái từ khu rừng được bảo
Trang 14vệ nghiêm ngặt và trong toàn bộ Vườn quốc gia Tam Đảo Việc thu hái từ rừng tự nhiên các loài LSNG diễn ra trong quá khứ khiến nhiều loài LSNG hiện nay đang trở nên khan hiếm, trong đó 46 loài LSNG tại Vườn quốc gia Tam Đảo đã được liệt vào danh sách những loài bị đe dọa (Bruce Dunn, 2005)
Ngoài các vấn đề về thể chế và quản lý, một trong những giải pháp then chốt cho bảo tồn LSNG hiện nay tại Vườn quốc gia Tam Đảo và nhiều vùng khác được xác định là phải giúp người dân và cộng đồng địa phương phát triển các chương trình gây trồng LSNG thay vì thu hái chúng từ tự nhiên Để
có thể thực hiện được điều này, cần đẩy mạnh các hoạt động sưu tầm, nghiên cứu các kiến thức bản địa của người dân vùng đệm trong gây trồng, phát triển các LSNG phục vụ cuộc sống và nâng cao thu nhập Có như vậy mới có thể hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng thu hái LSNG từ rừng của người dân LSNG được trồng bởi các hộ tạo nên một nguồn thu nhập và nguồn sản phẩm cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của các cộng đồng sinh sống trong và xung quanh rừng
Hiện nay tại vùng đệm VQG Tam Đảo, nhiều loài cây LSNG đã và đang được người dân gây trồng Một số trong những loài đó đã có những thông tin khoa học về kỹ thuật gây trồng, một số khác được phát triển trên cơ
sở các kiến thức bản địa Thực tế chưa có một nghiên cứu đánh giá, lựa chọn
và phổ biến các kiến thức bản địa có giá trị trong gây trồng một số loài LSNG
tại đây Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, đề tài: "Nghiên cứu kiến thức bản địa trong gây trồng và phát triển một số loài cây lâm sản ngoài gỗ tại vùng đệm vườn Quốc gia Tam Đảo" đặt ra là hết sức cần thiết và có ý nghĩa khoa
học lẫn thực tiễn
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về kiến thức bản địa và vai trò của kiến thức bản địa
1.1.1 Khái quát về kiến thức bản địa
Theo Warren (1991), khái niệm kiến thức bản địa hay địa phương được
sử dụng để phân biệt các kiến thức do một cộng đồng nhất định sáng tạo ra,
nó khác hệ thống kiến thức hoặc khoa học quốc tế Về sau này đôi khi người
ta nói đến hệ thống kiến thức „Phương Tây‟ do các trường đại học, trung tâm nghiên cứu của chính phủ và doanh nghiệp tư nhân sáng tạo ra Kiến thức nbản địa có thể là hiểu biết „kỹ thuật‟ sâu sắc hoặc sự thông thái do người dân
ở một vùng nhất định sáng tạo và phát triển, thông qua nhiều năm quan sát, khảo nghiệm các hiện tượng tự nhiên xung quanh họ
Dewes (1983) cho rằng kiến thức của dân địa phương là một hợp phần thúc đẩy phát triển Ông so sánh giữa kiến thức bản địa với bộ lông chim, vì
„con chim chỉ có thể bay nếu có được bộ lông‟ Thuật ngữ „kiến thức bản địa‟ đồng nghĩa với „kiến thức địa phương‟ Tuy nhiên các chuyên gia phát triển không đồng ý với việc đánh đồng truyền thống với các kiến thức riêng biệt của một người, bởi vì từ „truyền thống‟ bị gắn với một số hàm ý từ thế kỷ 19
là „đơn giản, mông muội và trì trệ‟
Người ta phân biệt hệ thống kiến thức phương Tây với hệ thống kiến thức bản địa trên cơ sở phương pháp, biểu hiện tồn tại và bối cảnh Trước tiên,
hệ thống kiến thức phương Tây là chung cho toàn thế giới, do nền giáo dục phương Tây ảnh hưởng tới rất nhiều văn hoá trên thế giới Thứ hai, nó được trải qua quá trình quan sát, khảo nghiệm và phê chuẩn, tất cả các giai đoạn đều được ghi thành tư liệu cẩn thận Điều này không có được đối với hệ thống kiến thức bản địa, nhất là khâu ghi chép thành tư liệu
Trang 16Thuật ngữ "kiến thức chính thống" (formal knowledge) dùng để chỉ những hệ thống kiến thức phát triển phần lớn dựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phương Tây Đó là những kiến thức chuẩn vì nó được xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng
kỹ thuật
Ngược lại, khái niệm kiến thức bản địa hay kiến thức địa phương dùng
để chỉ những thành phần kiến thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên Kiến thức bản địa là những kinh nghiệm được thử thách và đúc rút qua nhiều thế hệ ở các cộng đồng cư dân qua thực tiễn sản xuất và đời sống Trải qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng dân cư đã tích góp được lượng lớn các thông tin, các kỹ năng, tay nghề và công nghệ trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản và chế biến lương thực, quản lý tài nguyên thiên nhiên, tổ chức cộng đồng làng bản
Trên thực tế, kiến thức bản địa và khoa học hiện đại cần được hiểu là hai hệ thống kiến thức bổ trợ chứ không cạnh tranh với nhau Việc đưa ra mối liên hệ giữa kiến thức địa phương và kiến thức toàn cầu cũng rất quan trọng (trong khi vẫn phải tránh xu thế biến kiến thức địa phương thành kiến thức toàn cầu) Những cố gắng này cũng đã tạo ra sự quan tâm sâu sắc đến hệ thống kiến thức dựa trên nền tảng truyền thống và văn hoá địa phương và nhu cầu làm sao để hệ thống này có hiệu lực xét trên quan điểm giáo dục
Kiến thức bản địa được hình thành và phát triển là kết quả tương tác của nhiều yếu tố: Dân số, khoa học, kỹ thuật, phong tục tập quán, chuẩn mực đạo đức, thể chế và cơ cấu xã hội Đó là kết quả tích luỹ những kinh nghiệm
to lớn thông qua các quá trình tiếp xúc với thiên nhiên, dưới áp lực chọn lọc trong quá trình tiến hóa của sinh quyển và dần dần trở thành thói quen truyền thống Nói một cách khác, kiến thức bản địa của một cộng đồng, một dân tộc,
Trang 17phản ánh tính thích ứng với những điều kiện kinh tế xã hội và sinh thái đặc thù Như vậy, kiến thức bản địa đều là những thứ phải học, phải tiếp xúc mới
có được, là những thứ được chia xẻ, là một hệ thống các đặc thù có tính thích ứng cao
Trong nỗ lực đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau, các cộng đồng nông thôn sử dụng „thử nghiệm tò mò, thử nghiệm giải quyết vấn đề, và thử nghiệm thích nghi‟ (Rhoades & Bebbington 1995) Khi đã được khẳng định, thì kết quả được bổ sung vào khối tri thức của tổ tiên Thông qua xã hội hoá và truyền miệng, khối tri thức đó được truyền tải từ người già đến thế hệ trẻ Khó
có sự mai một trong cách lưu truyền hiểu biết sâu sắc như trên
Theo Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc [52], trong cuộc sống và trong thực tiễn sản xuất, chống đỡ và chinh phục tự nhiên, các cộng đồng đều có nhiều kinh nghiệm và được thể hiện dưới nhiều thể loại:
Ở dạng thông tin: Một vài ví dụ điển hình của dạng này là: Những cây
nào, thực vật nào có thể trồng cùng với nhau Đó phải chăng là cây muồng trồng trong nương chè để che bóng; cây keo dậu trồng che bóng cho cây cà phê; cây đậu đỗ trồng xen với nhiều loại cây trồng hoặc cây hành tỉa theo luống cải bắp, mùi của cây hành có tác dụng hạn chế sâu hại cây bắp cải Những loài cây nào là phù hợp nhất dùng cho phủ tủ mặt đất chống xói mòn, phải chăng đó là thân cây lạc, cây đậu đỗ và cây cốt khí Những thông tin này phần lớn mang tính gợi mở còn việc cụ thể hóa lại phụ thuộc vào đặc điểm cây trồng và tập quán của từng vùng
Ở dạng kinh nghiệm thực tế và công nghệ: Những kinh nghiệm thực tế
mang tính bản địa cũng rất phong phú, đa dạng Những kinh nghiệm này trải qua nhiều năm bổ sung, cải tiến và hoàn thiện phản ánh đầy đủ nội dung của một công nghệ ở Tuyên Hóa, Quảng Bình, nông dân thường dùng lá xoan khô đưa vào trong chậu vại cùng với đậu xanh, đậu đen, ngô để bảo quản
Trang 18Nông dân ở một số nơi ngâm bồ hóng có thêm vôi, lá xoan, bã trầu, nước điếu lấy nước này phun phòng chống sâu hại, sâu bị chết nhưng không gây
ô nhiễm môi trường ở Quảng Bình, nông dân thường lấy bồ hóng trộn với phân gà và vãi vào ruộng lúc buổi sáng có tác dụng rất tốt để diệt sâu hại Cách làm ruộng bậc thang san đất hay xếp đá Phương thức này rất phổ biến ở vùng cao của các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang
Ở dạng tín ngưỡng: Tín ngưỡng có thể giữ vai trò quan trọng trong
phương thức kiếm sống và duy trì môi trường sinh thái trong lành ở nhiều cộng đồng các dân tộc Rừng thần thánh, rừng linh thiêng là những loại rừng dùng để bảo vệ, xuất phát từ những nguyên nhân về tín ngưỡng Trong thực tế, những khu rừng này làm nhiệm vụ của rừng đầu nguồn, cung cấp gỗ củi, sản phẩm rừng và nước cho làng bản
Ở dạng công cụ: Công cụ thường sử dụng để gieo trồng hoặc thu hoạch
Những công cụ do người H'Mông sáng tạo như "cày Mèo" rất phù hợp cho việc canh tác trên đất dốc, "dao Mèo" tự chế sắc bén đa dụng hơn bất cứ loại dao nào
Ở dạng thí nghiệm: Đó là sự gieo trồng có tính tích hợp những giống
loài cây mới vào trong các hệ thống nông nghiệp hiện hành dưới dạng trồng xen, trồng cây che bóng; băng xanh chống xói mòn, hàng cây chắn gió Đó là những thay đổi và biến thể trong thực tiễn gieo trồng, nhưng dạng này nhiều khi đã trở thành những câu ca dao, tục ngữ để dễ truyền đạt cho các thế hệ
Ở dạng nguồn nhân lực: Trong cuộc sống và sản xuất, những kiến thức
bản địa đã đào tạo những chuyên gia giàu kinh nghiệm như những người hòa giải ở nông thôn; những người có tay nghề cao và khéo léo như thợ rèn, thợ nguội Trong các tổ chức cộng đồng như tổ chức dòng họ, tổ chức người cao tuổi hoặc các nhóm, tổ đổi công lao động
Trang 19Về sinh học: Đó là những kinh nghiệm trong chăn nuôi và chọn giống
động vật Nếu chúng ta lên miền núi phía Bắc đến với người H'Mông sẽ thấy
"lợn Mèo" và "chó Mèo" đã trở thành đỉnh cao của công tác tuyển chọn Ngoài ra những kinh nghiệm về thuần hóa trâu, bò, ngựa dùng kéo cày, kéo
xe cũng đã trở thành hình tượng văn hóa độc đáo của đông đảo các cộng đồng dân tộc Việt Nam Đó là những kinh nghiệm trong chọn giống cây trồng mà điển hình là đồng bào H'Mông ở Hà Giang thâm canh ngô trên các hốc đá đã chọn được giống ngô "chao đèn", đến mùa ngô chín các bắp ngô gập xuống
và các bẹ ngô xoè ra như cái chao đèn che cho những hạt ngô không bị ướt và
có thể để rất lâu trên nương mà không sợ thối, mục
Ở dạng vật liệu: Đó là những loại đá được tạo hình dùng xây tường nhà
và rất nhiều vật liệu khác dùng để xây dựng nhà ở, kho tàng
Những kiến thức bản địa là cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như săn bắn, hái lượm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lương thực, nước, sức khoẻ và
sự thích nghi với những thay đổi của môi trường và xã hội Hơn nữa, trái với kiến thức chính thống, những kiến thức không chính thống được truyền miệng
từ đời này sang đời khác và rất hiếm khi được ghi chép lại
Hệ thống kiến thức bản địa cần phải được duy trì, gìn giữ vì những tư tưởng phương Tây đang có xu thế thống trị hầu hết những quan điểm về chính sách phát triển Tuy nhiên, trên thực tế những cố gắng nhằm giải quyết tình trạng đói nghèo cho thấy những dự án hỗ trợ phát triển thường xuyên thất bại Tồi tệ hơn là đôi khi chúng gây ảnh hưởng bất lợi đến sinh kế của người dân Giải pháp theo phương pháp của phương Tây đã được áp dụng ngay cả trong những trường hợp mà những kiến thức bản địa có thể giải quyết được tốt hơn, nhưng lại không được lựa chọn vì một lí do nào đó [52]
Mặc dù đã chứng tỏ được giá trị trong nhiều trường hợp, song kiến thức bản địa không thể - hay không nên - được quảng bá khi chưa được
Trang 20xem xét một cách thận trọng Không phải tất cả các kiến thức bản địa đều đưa ra được những giải pháp bền vững cho những vấn đề phát sinh ngày nay Thêm vào đó, hầu hết các giải pháp mang tính địa phương đều rất đặc trưng cho từng bối cảnh
Cần tiến hành nhiều nghiên cứu hơn nữa và phát triển các phương pháp
xử lý đối với hệ thống kiến thức bản địa Có như vậy chúng ta mới có thể dùng kiến thức bản địa để đưa ra được giải pháp cụ thể cho từng vấn đề thông qua việc nâng cấp hoặc thay đổi những hệ thống kiến thức này Việc nghiên cứu cần tiến hành với sự tham gia của những người sở hữu kiến thức bản địa
và cộng đồng địa phương trong khu vực
1.1.2 Tầm quan trọng của kiến thức bản địa
Kiến thức bản địa đã và đang đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề của địa phương Trong những năm gần đây, các nước đang phát triển cung cấp ngày càng nhiều thông tin về vai trò của kiến thức bản địa trong nhiều lĩnh vực tại các quốc gia phía Nam bán cầu như: nông nghiệp (kỹ thuật xen canh, chăn nuôi, quản lý sâu bệnh, đa dạng cây trồng, chăm sóc sức khoẻ vật nuôi, chọn giống cây trồng); sinh học (thực vật học, kỹ thuật nuôi cá); chăm sóc sức khoẻ con người (bằng các phương thuốc truyền thống); sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên (bảo vệ đất, thuỷ lợi và các hình thức quản lý nước khác); giáo dục (kiến thức truyền miệng, các ngôn ngữ địa phương) và xoá đói giảm nghèo nói chung [52]
Kết quả của dòng thông tin lớn mạnh đó là các học giả, những nhà hoạch định chính sách và những người đang hoạt động trên lĩnh vực phát triển ngày càng quan tâm đến kiến thức bản địa Hơn hai thập kỷ trước, họ đã thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức bản địa và khoa học, và thừa nhận tính hợp lý của kiến thức bản địa đối với hệ thống giáo dục và các vấn đề phát triển
Hơn nữa, kiến thức bản địa đã đóng góp cho khoa học trong nhiều lĩnh vực liên quan đến việc quản lý tài nguyên thiên nhiên qua các nghiên cứu về
Trang 21thực vật dân tộc học hiện đại Cụ thể là kiến thức bản địa đã giúp các nhà khoa học nắm được những vấn đề về đa dạng sinh học và quản lý rừng tự nhiên Kiến thức bản địa cũng đóng góp vào khoa học những hiểu biết sâu sắc
về thuần hoá cây trồng, gây giống, quản lý và giúp các nhà khoa học nhận thức đúng đắn về nguyên tắc, thói quen đốt nương làm rẫy, nông nghiệp sinh thái, nông lâm kết hợp, luân canh cây trồng, quản lý sâu hại, đất đai và nhiều kiến thức khác về khoa học nông nghiệp Thêm nữa, các nhà khoa học cũng thường quen với kiến thức bản địa và ứng dụng vào trong các dự án về hợp tác phát triển và trong nhiều bối cảnh hiện tại khác
Nông dân ở các nước đang phát triển có nhiều kiến thức phức tạp về nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên Kiến thức đó dựa trên cơ sở hiểu biết sâu sắc qua nhiều thế hệ bởi tương tác gần gũi của họ với thiên nhiên và môi trường tự nhiên vi mô (Amusan & Warren 1996; Osunade 1988; Atte 1991; Rajasekaran et al 1991) Sự khác nhau về điều kiện môi trường từ năm này qua năm khác đòi hỏi hệ thống canh tác cũng phải linh động để bảo đảm tính bền vững Thí dụ, „thử nghiệm của người trồng trọt là một việc bình thường trong sự thay đổi canh tác‟ ( Box 1999 ) Hệ thống kiến thức với các quyết định canh tác phải đảm bảo tính phản hồi và chủ động, trên cơ sở thử nghiệm bản địa và đổi mới, cũng như các công nghệ có sẵn, để đương đầu và thích nghi với những thay đổi (Warren 1996)
Sự quan tâm ngày càng lớn đến kiến thức bản địa được thể hiện rõ trong những báo cáo của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ ở nhiều quốc gia Các tổ chức này cũng như các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức Lao động Thế giới, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO) và Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) đều thừa nhận rõ ràng về những đóng góp của kiến thức bản địa trong phát triển bền vững Kết quả là một số chính phủ của các quốc gia như Uganda, Nam Phi và Philippin cũng thể hiện sự quan tâm ngày càng lớn đến kiến thức bản địa trong các chính sách và chương trình của mình [52]
Trang 22Chúng ta có thể kết luận rằng những đánh giá về kiến thức bản địa ngày càng đúng đắn Kiến thức bản địa đã được chấp nhận, được thích nghi và được ứng dụng trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, sinh thái của địa phương tại nhiều quốc gia trên thế giới
Bất luận trong hoàn cảnh nào, kể cả khi hệ thống kiến thức này được công nhận hay không, thì việc thử nghiệm và chứng minh trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, sinh thái của địa phương vẫn nổi trội hơn so với các quan điểm bên ngoài Khẳng định sử dụng các kiến thức công nghệ bản địa bắt nguồn từ khái niệm của Ogburn (1950) về „văn hoá chậm trễ‟ Điều này khẳng định rõ rằng sự thay đổi văn hoá phi vật thể (ý tưởng và tổ chức xã hội) luôn luôn chậm hơn so với văn hoá vật chất (công nghệ và phát minh) Mặc
dù có mức độ chấp nhận hiện đại nhất định, người dân địa phương vẫn muốn duy trì kiến thức cụ thể của họ theo không gian và thời gian, và những yếu tố phù hợp với các mục đích nhất định của họ Đối với những người sống trên cơ
sở truyền thống và phong tục tập quán, thay đổi sẽ chứa đựng rủi ro; họ tin tưởng những gì đã được thử nghiệm, kiểm tra với truyền thống lâu đời (Landis 1940)
1.2 Một số khái niệm có liên quan
1.2.1 Khái niệm về tính bền vững
- "Bền vững" là một thuật ngữ đang được thảo luận một cách rộng rãi trong các chủ đề của tất cả các hệ thống sử dụng đất hiện nay Đây là một đề tài tập hợp được cả hai nhóm các nhà khoa học môi trường và các nhà khoa học sản xuất "Bền vững" là một khái niệm mà khái niệm này kết hợp được những quan tâm dài hạn về xã hội với những nhu cầu cơ bản, ngắn hạn đối với thế giới thứ ba (Thomas, 1990)
- Bởi tính phức tạp và tính thời gian của khái niệm này, những định nghĩa về "tính bền vững" thường xuyên được hiểu một cách mơ hồ và đôi khi
Trang 23mâu thuẫn Đã có nhiều định nghĩa về "tính bền vững" như của BIFAD - 1990, TAC of CGIAR, CIMYT - 1989 Hiện nay định nghĩa của Uỷ ban thế giới
về môi trường và phát triển WCED - 1987 (The World Commission on Environment and Devolopment) được sử dụng rộng rãi và phổ biến Theo định nghĩa này "Bền vững" là sự phát triển để thoả mãn những nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại tới những khả năng phát triển để thoả mãn những nhu cầu trong tương lai
- Trong các hệ thống sản xuất, bền vững có thể được xác nhận như là khả năng duy trì sức sản xuất lâu dài, không làm tổn hại đến môi trường tự nhiên mà sản xuất phụ thuộc vào
- Đánh giá về tính bền vững trong lâm nghiệp nói chung và trong việc
sử dụng khai thác và phát triển lâm sản ngoài gỗ nói riêng cũng đã bắt đầu được chú ý trong mấy năm trở lại đây Nhưng những đánh giá bước đầu này mới chỉ dựa trên khả năng phòng hộ của hệ thống chống xói mòn và nâng cao
độ phì của đất rừng, mà ít chú ý tới bền vững về mặt kinh tế và những lợi thế khác về các nhân tố sinh thái Vấn đề mới mẻ cần phải được xem xét và nghiên cứu tiếp, để từ đó đưa ra được các tiêu chí và phương pháp đánh giá có tính thuyết phục nhất
1.2.2 Định nghĩa về Lâm sản ngoài gỗ
Đã có nhiều những tên gọi khác nhau về lâm sản ngoài gỗ đang được
sử dụng rộng rãi hiện nay như: lâm sản phụ, lâm sản phi gỗ, sản phẩm rừng không phải là gỗ Hầu hết mọi người đều có cùng quan điểm coi các khái niệm trên là đồng nhất, để chỉ các sản phẩm của rừng không phải là gỗ như: động vật rừng, các cây dược liệu, các sản phẩm từ cây rừng không phải là gỗ, các sản phẩm phụ từ khai thác gỗ (cành, lá, gốc, rễ )
Có nhiều tài liệu viết về lâm sản ngoài gỗ, nhưng chỉ ở những phạm vi hẹp của một loài hoặc một nhóm loài nhất định Nhưng chưa có một công trình nào đưa ra được một khái niệm chính xác về lâm sản ngoài gỗ này
Trang 24+ Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ được đề cập chính thức vào năm
1989 do W.W.F Theo khái niệm này: “Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi” (The Economic value of Non-timber
Forest products in Southeast asia - W.W.F - 1989)
Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG nhưng thông dụng hơn cả là định nghĩa do Hội đồng Lâm nghiệp Tổ chức Lương
Nông Liên Hiệp quốc (FAO) thông qua năm 1999: “Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest products- NTFP, hoặc Non wood forest products- NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”
Như vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa dầu, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, song mây, tre nứa, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi
Phân loại lâm sản ngoài gỗ
Có rất nhiều loại lâm sản ngoài gỗ khác nhau đã được điều tra, phát hiện và khai thác sử dụng, chính vì vậy việc phân loại chúng là rất cần thiết Trên thế giới tồn tại nhiều cách phân loại LSNG, song chưa có hệ thống phân loại nào thực sự hợp lý Trong cuốn “ Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” của Dự án
Hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam - Pha II đã phân loại LSNG theo 6 nhóm tổng hợp dựa vào công dụng và nguồn gốc của các LSNG, tuy nhiên đây cũng chỉ là cách phân loại mang tính chất tương đối vì công dụng của lâm sản luôn có sự thay đổi, một số sản phẩm có thể phân vào nhiều nhóm khác nhau tuỳ nơi, tuỳ lúc, không cố định và biến đổi theo địa phương Cách phân loại này được giới thiệu như sau:
Trang 25(1) Sản phẩm cây có sợi: tre nứa, song mây, các loại cây thân lá có sợi… (2) Thực phẩm:
a/ Những sản phẩm có nguồn gốc thực vật như: thân, chồi non, rễ, lá, hoa, quả, hạt, các loại gia vị, hạt có dầu, nấm…có thể dung làm thực phẩm
b/ Những sản phẩm có nguồn gốc động vật như: mật ong, thịt thú rừng,
cá, tổ yến, trứng chim, các loài côn trùng ăn được
(3) Dược liệu chất thơm và cây có chất độc
(4) Những sản phẩm chiết suất như: các loại nhựa, tanin, chất màu, dầu béo và tinh dầu…
(5) Động vật và những sản phẩm từ động vật không dùng làm thực phẩm như các loại thú rừng, chim, côn trùng sống, da, sừng, ngà, xương, cánh kiến đỏ…
(6) Những sản phẩm khác như: cây cảnh, lá để gói,v.v…
1.3 Thực trạng và vai trò LSNG Việt Nam
1.3.1 Thực trạng nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
Ước tính, Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật Hiện nay đã thống
kê được hơn 7.000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm lớn Có 2.300 loài được sử dụng với mục tiêu kinh tế (Lê Trọng Cúc, 1989)
Hệ động vật cũng rất đa dạng, hiện nay đã phát hiện được 273 loài thú,
773 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư và nhiều loài động vật không xương sống khác (Võ Quý, 1992) Hầu như sự đa dạng sinh học này tập trung chủ yếu ở vùng đồi núi Trước đây, hầu như toàn bộ vùng đồi núi được che phủ bởi một thảm thực vật nhiệt đới giàu có năm 1943 có khoảng 50% diện tích rừng che phủ trong cả nước (Maurand, 1993) hiện nay chỉ còn khoảng 24%
Rừng bị tàn phá nhiều loại động vật mất nơi sinh sống và cư trú Mấy năm gần đây, cộng thêm sự buôn bán động vật phi pháp (qua biên giới) làm cho nhiều loài trở nên rất hiếm và có nguy cơ bị tiêu diệt, cũng như nhiều loài
gỗ quỹ, các loại cây thuốc bị khai thác quá mức (trang 8 - Đa dạng sinh học)
Trang 26Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam rừng nhiệt đới ở địa hình thấp không còn nguyên vẹn nữa vì phần lớn các khu rừng thấp này đã bị biến đổi do các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và định cư, làm cho sự giàu có vốn có về tài nguyên sinh học ở đây đã bị suy thoái nghiêm trọng Cũng vì thế mà các khu rừng nguyên vẹn phần lớn chỉ còn sót lại ở các vùng núi cao, những nơi hiểm trở Đó là những nơi cư trú cuối cùng của các loài đặc hữu và các loài có nguy cơ bị tiêu diệt
Nguyên nhân gây nên sự suy giảm tài nguyên rừng, nhất là lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam cũng đúng như hầu hết các nước khác trên thế giới: đó
là sự mâu thuẫn giữa cung và cầu Tài nguyên thiên nhiên thì có hạn mà nhu cầu của nhân dân thì ngày càng tăng, một mặt là để đáp ứng cuộc sống cho số dân tăng thêm một cách nhanh chóng, mặt khác là mức độ tiêu dùng của người dân cũng tăng thêm không ngừng
Việc nối lại thông thương qua biên giới với Trung Quốc đã gây những sức ép mới về khai thác tài nguyên thiên nhiên Giá của nhiều thú hoang đã tăng lên 5 đến 10 lần Trước khi mở cửa biên giới, 1kg mà giá bằng 1kg thịt lợn Bây giờ mà được bán với giá 130.000đ/kg so với giá thịt lợn 20.000 - 30.000đ Ếch giá 70.000 - 80.000đ/kg một bộ da rái cá 600.000 - 700.000đ/bộ, đuôi loài thú có vẩy ăn kiến (kỳ đà) 800.000đ/kg (Đặng Phong,
1995, trang 174) Vì nhu cầu của Trung Quốc về các tài nguyên rừng, đặc biệt
là thú rừng và cây thuốc là rất lớn và hầu như không bao giờ được thoả mãn, nên các loài đang bị thu hút với tốc độ không bền vững và triển vọng -bảo vệ tính đa dạng sinh học về lâu dài là không thuận lợi Về mặt tích cực, các cơ hội để xuất khẩu hoa quả, sản phẩm gỗ và gia súc vùng cao sang Trung Quốc
có thể rất lớn Nếu điều kiện chuyên trở được cải thiện và sự kiểm soát hành chính bị nơi lỏng, việc buôn bán qua biên giới có thể trở thành nguồn ảnh hưởng chính đến tài nguyên trong vùng
Trang 27Trong những năm gần đây việc buôn bán và xuất khẩu các sản phẩm sinh vật, các động vật và thực vật, kể cả các loài được bảo vệ, phát triển rất nhanh chóng Vì thiếu kế hoạch hợp lý, hoặc thiếu sự kiểm tra chặt chẽ trong việc khai thác các tài nguyên rừng mà ở nhiều vùng đã dẫn đến sự quy thoái của rừng nhiệt đới và nhiều hoạt động thực vật rừng như: tê giác, voi, khỉ, vượn, voọc, pơmu, trầm hương, gõ đỏ ngày càng trở nên rất hiếm Nhiều loại động vật thông thường như tê tê, các loài rùa, rắn, kỳ đà, ếch, ba ba đang được xuất khẩu một cách nhộn nhịp sang Thái Lan, Hồng Kông và nhất là Trung Quốc trong thời gian gần đây là mối đe dọa lớn đối với sự tổn thất về tài nguyên rừng Giá trị xuất khẩu các loài nói trên đã thúc đẩy người dân tìm
đủ mọi cách săn bắt chung ở khắp mọi nơi
1.3.2 Vai trò của lâm sản ngoài gỗ
- LSNG là một bộ phận quan trọng của rừng nhiệt đới, quan hệ tới sự duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng Phần lớn cây LSNG nằm dưới tán rừng,
có tác dụng giảm tác động của nước mưa xuống mặt đất, ngăn chặn dòng chảy mặt, chống xói mòn cho đất rừng Gây trồng LSNG trong rừng là tăng độ che phủ và nâng cao giá trị phòng hộ của các khu rừng
- Phát triển Lâm sản ngoài gỗ là một phương thức làm tăng giá trị kinh
tế của rừng góp phần khôi phục, nâng cao giá trị của các khu rừng nghèo, động viên người dân địa phương tham gia tích cực hơn vào công cuộc bảo vệ rừng và đa dạng sinh học, chống lại việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang mục đích sử dụng khác Lâm sản ngoài gỗ có vai trò quan trọng đối với các cộng đồng dân cư và các hộ dân (nhất là dân tộc thiểu số) miền núi trong việc đảm bảo an toàn lương thực, chăm sóc sức khoẻ, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ đời sống
- Việc khai thác LSNG thường ít ảnh hưởng đến cấu trúc tầng cây gỗ
và vai trò bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học của rừng Tuy nhiên, muốn
Trang 28có LSNG để khai thác phải bảo vệ hệ sinh thái rừng, vì vậy, khai thác LSNG đúng kỹ thuật cũng là một biện pháp tích cực bảo vệ rừng
- Trong những năm gần đây, LSNG đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người, do nhận thức rõ hơn về LSNG trong sự đóng góp vào kinh tế hộ
và an toàn lương thực, vào nền kinh tế quốc dân, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học
- Các loài lâm sản ngoài gỗ còn có ý nghĩa trong các lĩnh vực đa dạng sinh học, duy trì tính phong phú của hệ sinh thái rừng
Lâm sản ngoài gỗ có nhiều giá trị đối với kinh tế, xã hội và môi trường của đất nước ta:
- Giá trị về mặt kinh tế: Giá trị kinh tế của lâm sản ngoài gỗ được thể hiện thông qua giá trị sử dụng của chúng Lâm sản ngoài gỗ được khai thác sử dụng, chế biến hoặc bán để phục vụ sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập cho người dân Bao gồm các lĩnh vực:
• Cung cấp nguyên liệu sản xuất hàng thủ công, mỹ nghệ
• Cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến
• Cung cấp dược liệu
• Cung cấp thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
• Cung cấp cây hoa, cây cảnh
- Giá trị về mặt xã hội: Từ lâu đời việc gây trồng, khai thác, thu hái, chế biến và tiêu thụ LSNG đã mang lại công ăn việc làm cho hàng chục triệu người dân ở các cộng đồng dân cư sống trong và ngoài khu vực có rừng Điều
đó đã góp phần giúp cho họ ổn định cuộc sống, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, tạo nên các kênh giao lưu, tiêu thụ lành mạnh thúc đẩy sản xuất, một số LSNG được sử dụng trong các lễ hội truyền thống tạo ra các sản phẩm
có ý nghĩa bảo tồn góp phần phát triển đời sống văn hoá, tinh thần, vật chất cho từng cộng đồng Theo Jenne de Beer ( IUCN - 1996) ước tính có ít nhất
Trang 2930 triệu người ở Đông Nam Á sống phụ thuộc vào rừng và sử dụng LSNG nhằm đáp ứng nhu cầu về mặt sức khoẻ và dinh dưỡng Ngoài ra còn có những người nhờ vào các sản phẩm này để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày hoặc tạo ra thu nhập như những người thợ thủ công và nghệ nhân
- Giá trị về mặt môi trường, sinh thái: Các loài LSNG tham gia tạo nên cấu trúc rừng cùng với các loài cây gỗ và thực vật, động vật Hệ sinh thái ở đây đa dạng, khép kín và bền vững Duy trì, bảo vệ và khai thác hợp lý (bền vững) tài nguyên LSNG hoặc tổ chức gây trồng LSNG dưới tán rừng góp phần bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen các loài động thực vật, tăng khả năng giữ nước phòng hộ của rừng, bảo vệ được hệ sinh thái rừng nói chung Tuy nhiên, lâm sản ngoài gỗ cũng như lâm sản nói chung là đối tượng của sản xuất, cần khai thác sử dụng, nên việc bảo tồn lâm sản ngoài gỗ không thể giống như bảo vệ da dạng sinh học
1.3 Các nghiên cứu có liên quan đến LSNG
1.3.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG, Hội nghị môi trường và phát triển của Liên hợp quốc (UNCED), họp tại Rio de Janero năm 1992, đã thông qua Chương trình nghị sự 21 và các nguyên tắc về rừng, đã xác định LSNG là một đối tượng quan trọng, một nguồn lợi môi trường cho phát triển lâm nghiệp bền vững cần được chú nhiều hơn nữa Từ đó đến nay, việc phát triển LSNG được các nhà khoa học bàn luận sôi nổi, cả trong lĩnh vực nghiên cứu l luận lẫn thực tiễn sản xuất từ việc phân tích và tổng luận các quan điểm, quan niệm của hàng loạt tác giả trên thế giới về LSNG, Đề tài hình thành nhận thức về LSNG như sau:
LSNG đã được người dân gây trồng, khai thác sử dụng cách đây hàng nghìn năm, đặc biệt ở một số nước có nhiều rừng nhiệt đới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia,… Theo Mendelsohn (1989) cho rằng hiện nay
Trang 30các nhà khoa học, các nhà kinh doanh trên thế giới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu, gây trồng và phát triển LSNG gắn với bảo tồn và phát triển rừng Đây cũng là mốc đánh dấu sự chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó được coi là nguồn tạo thu nhập quan trọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó được coi là nguồn tạo thu nhập quan trọng, nâng cao đời sống kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội cho người dân miền núi, vừa góp phần vào quá trình bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng
Về sự cần thiết phát triển LSNG, các nghiên cứu chỉ ra rằng, hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới là một hệ hoàn hảo và đầy đủ với khu hệ động thực vật phong phú và đa dạng vào bậc nhất trên hành tinh, làm cho nhiều nhà khoa học
phải sững sờ và ngỡ ngàng Đúng như Van Steenis (1956) đã viết: “Dưới con mắt của những nhà thực vật học ôn đới, những cây cỏ ở miền nhiệt đới được xem là những kỳ quan, những quái dị, những sinh vật sai quy cách mà đáng lẽ
ra phải xem chúng như là những sinh vật bình thường, đại diện cho bộ phận to lớn của thế giới thực vật trên trái đất” Vì vậy, việc tận dụng triệt để mọi tiềm
năng của rừng nhiệt đới ẩm để kinh doanh toàn diện, lợi dụng tổng hợp, trong
đó có kinh doanh và lợi dụng thực vật ngoài gỗ là hết sức cần thiết
Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình theo các vấn đề khác nhau
* Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG
Công trình “Nghiên cứu về tre trúc” của Munro (1868) được coi là một
trong những nghiên cứu về tre trúc đầu tiên (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) [1], [2] Trong công tác này tác giả đã khái quát được một cách tổng quan về họ phụ tre trúc trên thế giới
Khi nghiên cứu về “Các loại tre trúc” Gamble (1896) đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) [1], [2] có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Miến Điện, Malaysia và Indonesia
Trang 31I.T Haig, M.A Hubermen và U Aung Din de F.A.D (1963) [19] với công trình “Rừng tre nứa” đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của tre trúc nứa Ấn Độ, Pakistan liên quan đến thổ nhưỡng, khí hậu và một số biện pháp xử lý lâm học, tái sinh, khai thác
S.Dransfield and E.A Widjaja (1995) [47] đã tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có giá trị ở vùng Đông Nam Á
Nhìn chung, các nghiên cứu phân loại hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào các loài LSNG có diện tích phân bố với số lượng lớn là Tre trúc, các nghiên cứu về Song mây và một số cây thuốc, cay lấy dầu nhựa,… hầu như chưa được đề cập đến
* Nghiên cứu về chọn giống và nhân giống
Zhou Fangchun (2000) [50] có đề cập đến nhân giống của một số loài tre trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc gây trồng phát triển tre trúc
Vũ Văn Dũng, Lê Huy Cường (1996) [13] cho biết Malaysia bước đầu
đã nghiên cứu tạo giống mây bằng phương pháp nuôi cây mô, đã tiến hành thí nghiệm trồng song mây dưới tán các loại rừng với các mật độ khác nhau Malaysia và Indonesia đã xây dựng rừng mây giống phục vụ cho gieo trồng trên quy mô lớn
* Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Xiao Jianghua (1996) [46] đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh măng, sinh trường và phát triển của thân khí sinh là độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh
Zhou Fangchun (2000) [50] đã cho thấy nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm
có ảnh hưởng khá rõ đến quá trình phát sinh, phát triển măng,… của nhiều
Trang 32loài tre trúc khác nhau, đó là những cơ sở để áp dụng các biện pháp thâm canh nhằm thúc đẩy sinh măng trái vụ ở Trung Quốc
Theo J.Dransfield và N.Manokaran, 1998 [16] việc trồng mây nếp đã phát triển trên quy mô lớn ở Trung Quốc, phổ biến là trồng theo phương thức nông lâm kết hợp, trồng xen trong các khu rừng phục hồi và rừng trồng, cây non được trồng 1 hoặc 2 cây/cụm Tại Quảng Đông, mây nếp được trồng thử nghiệm ở sườn đồi, thu hoạch vào năm thứ 7 cho năng suất khoảng 1,2 tấn/ha
Những năm gần đây, một số nhà khoa học đã nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học, kỹ thuật gây trồng, chế biến và tổng kết đánh giá kết quả trồng một số loài LSNG có giá trị ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, Trung Quốc, Brazils,… (Peter Zuidema, 2001;… Marinus J.A Werger, 2000; FAO, 2000;…)
Nhìn chung, việc nghiên cứu về phân loại, mô tả hình thái, sinh thái, công dụng, tầm quan trọng cũng như đánh giá các mô hình gây trồng và phát triển LSNG trên thế giới đã có nhiều kết quả Các kết quả đều khẳng định việc gây trồng, phát triển, sử dụng hợp lý và bền vững thì LSNG sẽ có vai trò to lớn trong việc tạo thu nhập cho người dân miền núi, nhiều nơi còn làm nguồn thu nhập chính, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội đồng thời đóng góp rất lớn trong quá trình bảo vệ và phát triển rừn
* Nghiên cứu giá trị kinh tế - xã hội của LSNG
Giá trị kinh tế - xã hội của LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau,
từ cung cấp lương thực,thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu thủ công
mỹ nghệ, dược phẩm, đến giải quyết công ăn việc làm, phát triển ngành nghề, bảo tồn và phát huy kiến thức bản địa, tôn tạo nét đẹp văn hóa, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhiều mặt cho người dân, đặc biệt là những dân nghèo (FAO, 1994; Sharma,1995)
Thông tin về các loài cho LSNG có giá trị kinh tế cao còn rất tản mạn
và ít ỏi, nên chưa phát huy đầy đủ các chức năng có lợi của LSNG Đề LSNG
Trang 33đóng góp quan trọng vào sự phát triển miền núi hơn nữa, cần tập trung nghiên cứu xác định đặc điểm sinh thái học cũng như kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng chúng gắn với quản lý rừng bền vững; đồng thời cần xây dựng và truyền bá những mô hình rừng trình diễn về cung cấp LSNG để người dân học tập và làm cơ sở cho chuyển giao công nghệ phát triển LSNG
* Nghiên cứu về thị trường LSNG
Các nghiên cứu chỉ ra rằng , mặc dù LSNG có giá trị to lớn , nhưng nhiều người sản xuất LSNG lại thu được hiệu quả rất thấp là do sự hạn chế
trong việc tiếp cận thông tin thị trường một cách có tổ chức hoặc thiếu những giải pháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao chất lượng sản phẩm theo đòi hỏi của thị trường Để góp phần giải quyết những vấn đề trên , vào năm 1992, chương
trình rừng, cây và con người (FTPP) đã phát triển các bản hưỡng dẫn cho việc tạo ra các hệ thống thông tin thị trường LSNG ở mức địa phương và giới thiệu một số kinh nghiệm về kỹ thuật nuôi trồng , canh tác và phát triển thực vật ngoài gỗ, như phát triển rừng cung cấp dược thảo ở Nepan , rừng cung cấp cây
họ dầu, Tanin, cau rừa ở vùng Amazon - Brazil, rừng cung cấp song mây ở Malaixia
* Các nghiên cứu khác
Trong quá trình nghiên cứu về lâm sản vùng nhiệt đới J.H de Beer (1992) [48] chuyêngia lâm sản ngoài gỗ của FAO, L.S de Padua, N Bunyapraphatsar, R.H.M.J Lemmen (1999) [49] đã cho thấy giá trị to lớn của Thảo quả trong việc tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho người dân sinh sống ở vùng cao
Từ những nhận thức về tầm quan trọng của LSNG, nên chúng đã được chú ý phát triển trong các chiến lược phát triển ở nhiều Quốc gia như Trung quốc, Ấn Độ, Pêru, Indonesia,… và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện ở nhiều nước đặc biệt là các nước có nguồn tài nguyên rừng
Trang 34nhiệt đới để làm cơ sở cho việc định hướng phát triển trong tương lai Tuy nhiên, các công trình tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như phân loại LSNG, đánh giá vai trò, giá trị kinh tế, xã hội và môi trường, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thị trường,… như các công trình của Mendelsohn (1989); Heinzman (1990); Falconer (1993)… Đa số các công trình đều khẳng định LSNG có vai trò quan trọng, cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng… đồng thời là nguồn thu nhập lớn (khoảng 20 - 30% cơ cấu thu nhập) của các
hộ gia đình miền núi ở các nước này Theo số liệu của FAO, ước tính có khoảng 80% dân số trong các nước đang phát triển sử dụng LSNG nhằm đáp ứng nhu cầu về sức khoẻ và dinh dưỡng Vài triệu hộ gia đình trên toàn thế giới sống nhờ vào các sản phẩm này để đáp ứng các tiêu dùng thiết yếu hàng ngày hay là tạo thu nhập LSNG được những người thợ thủ công và nghệ nhân làng bản sử dụng trên khắp thế giới Hiện nay, có ít nhất 150 loài LSNG đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thương mại quốc tế (mật ong, nấm, hương liệu, sâm, dầu nhựa, song mây…), ước tính tổng giá trị thương mại quốc tế của LSNG hàng năm khoảng 5 - 11 tỷ USD (Mohammad Iqbal - 1993) International trade in NWFPs : an overview )
Nhìn chung , những nghiên cứu về LSNG trên thế giới đã cho thấy tiềm năng to lớn của LSNG ở các nước nhiệt đới , đã khẳng định được vai trò quan trọng của LSNG trong đời sống kinh tế - xã hội nông thôn miền núi , coi đây
là một trong những nhân tố triển vọng nhất cho bảo tồn và phát triển rừng , góp phần giải quyết mục tiêu quản lý rừng bền vững của các nước nhiệt đới
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Các tư liệu, tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan đến LSNG hiện nay phần lớn giới thiệu về sự đa dạng, khái niệm, phân loại, vai trò, giá trị sử dụng và kỹ thuật gây trồng cho một số loài cây LSNG chủ yếu, điển hình là một số công trình nghiên cứu phân theo các vấn đề sau đây:
Trang 35* Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG
Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG, ngay từ những năm đầu thế
kỷ XX, Lecomte - một nhà nghiên cứu của Pháp đã đề cập, xác định được nhiều loài LSNG có giá trị trong cuốn “Thực vật chí đại cương Đông Dương” trong đó có ở Việt Nam
Đỗ Tất Lợi (1977) [27] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”
- tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài cây LSNG làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay từ những loài LSNG này
Theo Vũ Văn Dũng và Lê Huy Cường (1996) [13] tới nay Việt Nam đã thống kê được 5 chi và 30 loài cây song bao gồm: Chi mây nếp (Calamus) có
19 loài và 1 loài phụ; chi hèo (Daemonrops) có 4 loài; chi phướn (Korthalsia)
có 2 loài; chi mây rúp (Myriapis) có 1 loài; chi song lá bạc (Plectocomia) có 2 loài và chim song voi (Plecomomiopsis) có 1 loài
Vũ Văn Dũng và cộng sự (2002) [14], các tác giả đã đưa ra định nghĩa, phân loại LSNG, giới thiệu về một số nhóm LSNG có giá trị ở Việt Nam, tổ chức và quản lý LSNG, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển LSNG,…
Theo Lê Viết Lâm và cộng sự (2005) [26] ở Việt Nam có thể có đến
200 loài tre trúc, bước đầu xác định có 22 chi với 122 loài đã được giảm định tên, trong đó có rất nhiều loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao cần được nghiên cứu phát triển Tác giả đã giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng về phân bổ, đặc điểm hình thái, sinh thái và công dụng để làm cơ sở tham khảo cho nghiên cứu và sản xuất
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) [29] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái phân bổ và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống: Bát
độ, Điềm trúc và Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc
Năm 2006, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt đề án “Bảo tồn và phát triển LSNG trong giai đoạn 2006 - 2020” [8] Năm 2007, Bộ NN&PTNT tiếp tục phê duyệt Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển LSNG ở Việt Nam [9]
Trang 36Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [23], đã mô tả hình thái, phân bố, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của
299 loài LSNG Trong đó phân ra thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loài mây và 8 loài khác); Nhóm cây làm thực phẩm (40 loài cây ăn được, 12 loài nấm); Nhóm cây thuốc (76 loài); Nhóm cây cho dầu nhựa (60 loài); Nhóm Tanin, thuốc nhuộm (19 loài); Nhóm cây bóng mát (23 loài cây hoa, 13 loài cây cảnh, 11 loài cây cảnh và cây bóng mát thân gỗ)
* Nghiên cứu về chọn giống và nhân giống
Nhân giống Hồi bằng phương pháp giâm hom với thuốc kích thích ra rễ
là IBA (1%), hom lấy từ cây 2 tuổi có tỷ lệ ra rễ khá cao đạt từ 66 - 69%; Phương pháp ghép nêm và ghép áp cho hồi cũng có tỷ lệ sống khá cao, sau 3 tháng đạt hơn 79%, sau 5 tháng còn gần 74% và sau 14 tháng có thể xuất vườn còn gần 46% Tỷ lệ sống của cây ghép hầu như không phụ thuộc vào tuổi cây mẹ cho cành ghép mà phục thuộc rất rõ rệt vào từng dòng cây mẹ cho cành ghép (Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Tuấn Hưng - 2003) [23]
Xử lý bằng IBA (1%) trong thời kỳ đầu hè để giâm hom Quế đạt tỷ lệ
ra rễ cao và sử dụng phương pháp ghép nêm ngọn Quế cho tỷ lệ sống cao nhất
so với ghép mắt và ghép cành (70 - 77%) (Phạm Văn Tuấn, 2005) [41]
Khi nghiên cứu chọn tạo giống Quế có năng suất tinh dầu cao Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn (2006) [33] đã chọn được 122 cây trội theo các chỉ tiêu sinh trưởng, 79 cây theo sinh trưởng và hàm lượng tinh dầu, 45 cây theo
cả sinh trưởng, hàm lượng và chất lượng tinh dầu ở Yên Bái, Quảng Nam và Quảng Ngãi Về nhân giống, đề tài cũng đã chỉ ra được tuổi cây lấy hom, giá thể và loại hom có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom, tốt nhất là lấy hom cành hay hom chồi vượt ở cây dưới 7 năm tuổi, giâm hom trong giá thể cát vào đầu vụ hè là tốt nhất Đối với ghép, đề tài cũng đưa ra 3 phương pháp nhưng đạt hiệu quả cao nhất vẫn là ghép nêm ngọn, cành ghép tốt nhất là lấy
Trang 37ở cây dưới 7 năm tuổi và nên ghép vào vụ thu Các tác giả đã dùng cây ghép
để xây dựng vườn giống kết hợp khảo nghiệm hậu thế đối với loài cây này
* Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Nguyễn Ngọc Bình (1964) [3] đã chỉ ra rằng Luồng sinh trưởng tốt nơi đất chua pH(KC1): 4,2 - 5,0 Cũng theo Nguyễn Ngọc Bình (2001) [4] khi nghiên cứu đặc biệt đất trồng rừng Tre Luồng và ảnh hưởng của các phương thức trồng rừng tre Luồng đến đất cho rằng trồng Luồng theo phương thức hỗn giao, thích hợp nhất là hỗn giao với cây họ đậu như Keo để tránh cho đất
bị suy thoái
Ngô Quang Đê (1994) [18] cũng đã giới thiệu kỹ thuật gây trồng tre trúc cho 3 loài: Luồng, Mạy sang và Vầu đắng gồm các khâu ươm giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác và sử dụng
Triệu Văn Hùng, Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương (2002) [22] đã giới thiệu điều kiện gây trồng, nguồn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến cho một số loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị
Nguyễn Tử Kim, Lê Thu Hiền, Lưu Quốc Thành (2004) [25] đã trồng Song mật và Mây nếp dưới tán một số trạng thái rừng phục hồi ở Phú Thọ và Hoà Bình kết quả cho thấy: Mây nếp sau 42 tháng tuổi ở Cầu Hai (Phú Thọ), với phương pháp xử lý thực bì theo lỗ trống, trồng theo cụm (250 cụm/ha), mỗi cụm 3 hố, 1 cây/hố đã cho sinh trưởng về chiều cao và tỷ lệ đẻ nhánh cao nhất (h = 136cm, 65,3% số cây đẻ từ 1 - 3 nhánh) Cũng với phương pháp xử
lý như ở Cầu Hai (Phú Thọ), Mây nếp sau 30 tháng tuổi tại Hoà Bình đã cho sinh trường về chiều cao và tỷ lệ đẻ nhánh cao nhất (h = 201cm, 68,1% số cây
đẻ từ 1 - 3 nhánh)
Đỗ Văn Bản và các cộng sự (2005) [1] đã tuyển chọn 3 loài tre nhập
nội trồng để lấy măng: Điềm trúc (Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii) và Tạp giao với 13,5 ha mô hình thực nghiệm tại Phú
Trang 38Thọ và Thanh Hoá Đề tài đã đưa ra được một số biện pháp thâm canh cho mô hình trồng thuần loài: Mật độ trồng, phân bón, điều chỉnh cây mẹ, đồng thời
đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm canh, kỹ thuật khai thác măng và một số biện pháp sơ chế bảo quản măng
Trong một công trình nghiên cứu khác Đỗ Văn Bản (2005) [2] cũng đã thống kê được hiện nay nước ta có 4 loài tre nhập nội lấy măng đang được gây trồng gồm Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao và Mạnh tông Đề tài đã thống
kê được diện tích trồng Điềm trúc tính đến năm 2003 là 2.700 ha Ngoài ra, đề tài còn cung cấp những thông tin về đặc tính sinh thái, hình thái, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và kinh nghiệm gây trồng của nhân dân
Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn (2006) [33] đã chỉ ra mật độ trồng rừng ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng của Quế, các tác giả cũng đưa ra mật
độ từ 300 cây/ha đến 5000 cây/ha là mật độ thích hợp cho Quế 18 tháng tuổi
Ngoài một số công trình điển hình ở trên, còn rất nhiều công trình của các nhà khoa học khác thuộc các ngành Y tế, môi trường,… đã tham gia nghiên cứu và có kết quả đáng chú ý như công trình của Viện Dược liệu (2005), Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (2001); Trần Công Khánh (2000); Nguyễn Ngọc Lân (1999); Nguyễn Văn Tập (2001), Trần Văn Ơn (2002), các công trình của các địa phương;… Đặc biệt là các công trình nghiên cứu về kỹ thuật trồng Giổi xanh của Nguyễn Bá Chất (1984), kỹ thuật trồng Hồi của Nguyễn Thị Bích (1998), Kỹ thuật trồng Trám trắng của Phạm Đình Tam (1998),…
* Nghiên cứu về chế biến, bảo quản
Đỗ Tất Lợi (1985) [28] cho rằng tinh dầu Quế được cất từ lá, vỏ Trong
đó, tinh dầu từ vỏ có chất lượng cao nhất Hàm lương tinh dầu trong vỏ Quế thay đổi từ 0,5 đến 5%, trung bình là 1 - 2%; trong lá là 0,5 - 0,6%; trong cành là 0,3 - 0,33% Theo tác giả thì thành phần chủ yếu của tinh dầu Quế là aldehyd cinnamic với hàm lượng từ 65 - 95%
Trang 39Trần Quốc Tuý và các cộng tác viên (1987) [42] đã thành công trong việc chế biến nhựa cánh kiến đỏ bằng phương pháp nồi hấp và cơ giới hoá công đoạn cô cán cánh kiến đỏ, công trình đã phát huy hiệu quả thực sự trong việc áp dụng cho sản xuất
Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2001) [31] đã nghiên cứu bảo quản hạt Quế ở 3 tháng nhiệt độ là nhiệt độ phòng, 50C và 150C Kết quả cho thấy với hạt Quế có độ ẩm ban đầu từ 30,91 đến 40,23% bảo quản ở nhiệt độ phòng sau 1 tháng tỷ lệ nảy mầm còn lại từ 87% đến 89,5%, tuy nhiên sau 3 tháng hạt hoàn toàn mất sức nảy mầm Bảo quản ở nhiệt độ 150C thì sau 1 tháng tỷ
lệ nảy mầm còn 35,5% đến 49,7%, sau 3 tháng tỷ lệ nảy mầm còn 0% Độ ẩm ban đầu có ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm khi bảo quản ở 50
C, nếu độ ẩm ban đầu của hạt là 40,23% thì tỷ lệ nảy mầm sau 9 tháng còn 25%, tương tự với
độ ẩm hạt là 36,23%, 30,91% có tỷ lệ nảy mầm là 14% và 1,5% Tiếc rằng tài liệu không cho biết tỷ lệ nảy mầm ban đầu là bao nhiều để đánh giá mức độ giảm tỷ lệ nảy mầm trong quá trình bảo quản Như vậy, có thể kết quả là để bảo quản được hạt lâu hơn cần có độ ẩm ban đầu lớn hơn 40% và bảo quản ở nhiệt đội 50C
* Các nghiên cứu khác
Christian Rake và cộng sự (1993) khi nghiên cứu về LSNG tại ba tỉnh Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu đã cho rằng LSNG có vai trò rất quan trọng trong đời sống người dân ở 3 tỉnh này Trong đó, tre nứa, sa nhân, trẩu và song mây là những loài có tiềm năng phát triển Tuy nhiên, hiện nay người dân chủ yếu là khai thác tự nhiên nên nguồn tài nguyên này ngày càng cạn kiệt
Phan Văn Thắng và cộng sự (2000) [39] khi nghiên cứu đánh giá vai trò của LSNG ở tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn cho rằng LSNG ở đây có vai trò rất quan trọng, chúng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình, chiếm trung bình 20 - 30% tổng thu nhập kinh tế của hộ/năm Đặc biệt một số
Trang 40nơi, người dân sống chủ yếu dựa vào LSNG như ở Nguyên Bình - Cao Bằng thu nhập chủ yếu từ cây trúc sào
Theo Nguyễn Tử Ương (2000), Việt Nam có 1.489.068 ha tre trúc chiếm 4,53% diện tích toàn quốc với tổng trữ lượng là 8.400.767.000 cây Rừng tre trúc tự nhiên có 1.415.552ha chiếm 14,99% diện tích rừng tự nhiên Trong đó, rừng thuần loài là 789.221 ha chiếm 8,36% diện tích rừng tự nhiên; Rừng hỗn giao tre gỗ có 626.331ha chiếm 6,63% diện tích rừng tự nhiên Rừng tre trúc đồng có 73.516ha bằng 4,99% diện tích rừng tự nhiên Diện tích
và trữ lượng tre trúc đáng quan tâm nhất là vùng Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, Đông Nam Bộ và Tây Bắc
Dự án LSNG pha II (2006) khi nghiên cứu, tổng kết và đánh giá một số
mô hình nhận thấy rằng các mô hình LSNG đều mang lại hiệu quả kinh tế cao
và đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng của người dân nếu loài được chọn có tiềm năng thì trường, phù hợp đất đai và được chuyển giao kỹ thuật tốt Các loài LSNG có giá trị, đang được gây trồng và phát triển mạnh như mây, thảo quả, sa nhân,… đang có xu hướng mở rộng diện tích ở nhiều vùng sinh thái
Tóm lại: LSNG có vai trò rất quan trọng đối với người dân miền núi
sống ở gần rừng và trong rừng Ở một số địa phương, LSNG là nguồn thu nhập chủ yếu để nâng cao đời sống, góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân Phát triển LSNG dưới tán rừng tự nhiên vừa tăng thêm thu nhập vừa bảo
vệ được tầng cây gỗ của rừng, đồng thời bảo vệ được môi trường sống cho loài người Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu còn tản mạn chưa tập trung
và chưa hệ thống, chú yếu tập trung thống kê, phân loại các loài LSNG; một
số công trình khác cũng chỉ tập trung nghiên cứu về nhân giống, điều kiện gây trồng, chế biến và bảo quản cho một hay một số loài cụ thể Vì thế chưa thể phát triển các loài LSNG trên quy mô lớn để tạo thành hàng hoá và chưa tạo được thị trường Để thực hiện tốt chương trình phát triển LSNG nói riêng và