Tính cấp thiết của đề tài Bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao HPAI là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ lây lan rất nhanh với tỉ lệ gây chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh.. Vir
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
VŨ THỊ TUYẾT NHUNG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH CÚM GIA CẦM
VÀ SỰ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA GÀ, VỊT ĐỐI VỚI VACXIN H5N1
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN”
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VACXIN H5N1 TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN”
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2011
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao (HPAI) là một bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm, có tốc độ lây lan rất nhanh với tỉ lệ gây chết cao trong đàn gia cầm
nhiễm bệnh Bệnh do virus cúm typ A thuộc họ Orthomyxoviridae với nhiều
phân typ khác nhau gây nên Virus gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu,
các loài chim và còn gây bệnh cho cả con người Với những tính chất nguy
hiểm của bệnh, Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) xếp bệnh vào Bảng A - Bảng
danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất
Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, có
thể ảnh hưởng đến tình hình chính trị và xã hội Virus cúm gia cầm là virus
ARN phân mảnh có 2 kháng nguyên bề mặt H (từ H1 đến H16) và N (từ N1
đến N9) có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học và miễn dịch học (Tô Long
Thành và cs, 2009)[39]
Hiện nay, dịch cúm gia cầm đang là mối quan tâm và là điều đáng lo
ngại trên phạm vi toàn cầu, đến nay đã có hơn 50 nước trên thế giới xuất hiện
dịch, dịch có chiều hướng diễn biến rất phức tạp
Tại Việt Nam, dịch cúm gia cầm xuất hiện bất ngờ vào cuối năm 2003,
trong khi chăn nuôi gia cầm chủ yếu rải rác ở các nông hộ Đây là một loại
bệnh dịch mới, lây lan rất nhanh
Sau khi dịch cúm gia cầm xảy ra tại nước ta, Ban Chỉ đạo Phòng chống
dịch Quốc gia đã nghiên cứu, áp dụng nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp
tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm trong cả nước Việc áp dụng tiêm phòng
vaccine cho đàn gia cầm được coi như một giải pháp, một công cụ hỗ trợ tích
cực để ngăn chặn, khống chế và thanh toán bệnh cúm gia cầm ở những vùng
Trang 4bị nhiễm bệnh Theo quan điểm của OIE, FAO, WHO, vaccine nên sử dụng
như một biện pháp chiến lược toàn diện phòng chống bệnh cúm gia cầm Trong
năm 2010, Thái Nguyên cũng sử dụng vaccine H5N1 của Trung Quốc để tiêm
phòng cho đàn gia cầm trong toàn tỉnh
Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy, với cùng một loại vaccine nhưng
khi tiêm phòng đại trà tại các địa phương khác nhau thì cho đáp ứng miễn
dịch với đàn gia cầm cũng khác nhau Vì vậy, nghiên cứu khả năng đáp ứng
miễn dịch của gia cầm với vaccine H5N1 ngoài thực địa tại tỉnh Thái Nguyên
để biết hiệu quả phòng bệnh của vaccine, tỷ lệ bảo hộ và độ dài miễn dịch của
gia cầm, từ đó xác định thời gian tiêm nhắc lại phù hợp nhằm nâng cao hiệu
quả của vaccine là hết sức cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn sản xuất, chúng tôi tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và sự
đáp ứng miễn dịch của gà, vịt đối với vaccine H5N1 tại tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được một số đặc điểm bệnh cúm gia cầm ở tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá được khả năng đáp ứng miễn dịch của gà và vịt được tiêm
vaccine H5N1 tại tỉnh Thái Nguyên
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Các kết quả nghiên cứu tại Thái Nguyên nhằm cung cấp, bổ sung và
hoàn thiện các thông tin về bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam
- Có biện pháp tổ chức tiêm vaccine cúm gia cầm đại trà cho đàn gia cầm
của tỉnh Thái Nguyên để đạt được kết quả cao nhất Từ đó rút ra được những
kinh nghiệm tiêm phòng trong thực tế cho tỉnh nói riêng và cho cả nước nói
chung
Trang 5- Xây dựng kế hoạch tiêm phòng vaccine cúm trên địa bàn của tỉnh
trong thời gian tiếp theo
4 Địa điểm nghiên cứu
Phòng virus- Trung tâm Chẩn đoán Thú y TW, Trung tâm Thú y vùng
Hà Nội, các cơ sở và hộ chăn nuôi gia cầm của tỉnh Thái Nguyên, các Trạm
thú y của tỉnh Thái Nguyên, Chi Cục Thú y tỉnh Thái Nguyên
5 Thời gian
Từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH CÚM GIA CẦM
Bệnh cúm ở gia cầm - bệnh cúm gà (Avian influenza), là một bệnh
truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm typ A thuộc họ Orthomyxoviridae với
nhiều subtyp khác nhau (Ito và Kawoaka, 1998) [56]
Trước đây bệnh còn được gọi là bệnh dịch tả gà (Fowl plague), nhưng
từ Hội nghị Quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville (Mỹ),
năm 1981 đã thay thế tên này bằng tên bệnh cúm động lực cao ở gia cầm
(Highly Pathogenic Avian Influenza viết tắt là HPAI) để chỉ virus cúm typ A
có độc lực cao (Cục Thú y, 2004) [6]
Bệnh cúm gia cầm HPAI là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có tốc độ
lây lan rất nhanh với tỉ lệ chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh Virus gây
bệnh cúm gia cầm chủ yếu là loại H5, H7 và H9, gây bệnh cho gà, vịt, ngan,
ngỗng, đà điểu, các loại chim Virus còn gây bệnh cho cả con người và có thể
thành đại dịch, vì thế bệnh cúm gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểm
hơn bao giờ hết (Cục Thú y, 2005) [7], (Lê Văn Năm, 2004) [28]
1.2 LỊCH SỬ BỆNH CÚM GIA CẦM
Năm 412 trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả về một bệnh ở gà
như bệnh cúm hiện nay Năm 1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và
từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ
đại dịch cúm vào các năm 1889, 1918, 1957, 1968 (Cục Thú y, 2004) [6]
Năm 1878 ở Italy đã xảy ra một bệnh gây tử vong rất cao ở đàn gia cầm
và được gọi là bệnh dịch tả gia cầm (Fowl plague), bệnh lần đầu tiên được
Porroncito mô tả và ông nhìn nhận một cách sáng suốt rằng tương lai sẽ là
Trang 7một bệnh quan trọng và nguy hiểm Năm 1901, Centanni và Savunozzi đã đề
cập đến ổ dịch này và xác định được căn nguyên siêu nhỏ qua lọc (Filterable
agent) là yếu tố gây bệnh Đến năm 1955, Achafer đã xác định được căn
nguyên gây bệnh thuộc nhóm virus cúm typ A thông qua kháng nguyên bề
mặt là H7N1 và H7N7 gây chết nhiều gà, gà tây và chim hoang ở Bắc Mỹ,
Nam Mỹ, Châu Phi, Trung Cận Đông (Lê Văn Năm, 2004) [28]
Năm 1963, virus cúm typ A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài
thuỷ cầm di trú dẫn nhập virus vào đàn gà Cuối thập kỷ 60, phân typ H1N1
thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch ở gà tây Mối liên hệ giữa lợn và
gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có vú có thể lây
nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Những nghiên cứu đều cho rằng virus cúm
typ A phân typ H1N1 đã ở lợn và truyền cho gà tây, ngoài ra phân typ H1N1
ở vịt còn truyền cho lợn (Cục Thú y, 2004) [6]
Năm 1971, Beard đã mô tả khá kỹ virus gây bệnh và đặc điểm bệnh lý
lâm sàng của gà trong các ổ dịch cúm gà, gà tây khá lớn xảy ra ở Mỹ mà
chủng gây bệnh là H7N1 Từ năm 1960 - 1979 bệnh được phát hiện ở Canada,
Mehico, Achentina, Braxin, Nam Phi, Ý, Pháp, Anh, Hà Lan, Australia, Hồng Kông,
Nhật Bản, các nước vùng Trung Cận Đông, các nước thuộc liên hiệp Anh và
Liên Xô (Đào Yến Khanh, 2005) [24]
Các công trình nghiên cứu có hệ thống về bệnh cúm gia cầm lần lượt
được công bố ở Australia năm 1975, ở Anh năm 1979, ở Mỹ năm 1983 -
1984, ở Ailen năm 1983 - 1984 về đặc điểm sinh học, bệnh học và dịch tễ
học, các phương pháp chẩn đoán miễn dịch và biện pháp phòng chống bệnh
(Đào Yến Khanh, 2005) [24]
Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước
năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỉ lệ nhiễm virus cúm
cao ở một số loài thuỷ cầm di trú (Cục Thú y, 2004) [6]
Trang 8Từ sau khi phát hiện ra virus cúm typ A, các nhà khoa học thấy rằng
virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi ở những vùng khác
nhau trên thế giới Bệnh xảy ra nghiêm trọng nhất với gia cầm thuộc phân typ
H5 và H7 như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 - 1984 là
H5N2 (Cục Thú y, 2004) [6]
Đến nay, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp các châu lục với mức độ
ngày càng nguy hiểm hơn đối với các loài gia cầm và sức khoẻ của cộng
đồng, đã thôi thúc Hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm tổ chức hội thảo
chuyên đề về bệnh cúm gà Hội thảo lần đầu tiên tổ chức vào năm 1981, lần
thứ 2 tại Ailen năm 1987, lần thứ 3 cũng tại Ailen năm 1992 Từ đó đến nay
trong các hội nghị về dịch tễ trên thế giới, bệnh cúm gia cầm luôn là một
trong những nội dung được coi trọng (Lê Văn Năm, 2004) [28]
1.3 TÌNH HÌNH DỊCH CÚM GIA CẦM TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1.3.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
Virus cúm gia cầm phân bố khắp toàn cầu, vì vậy dịch bệnh đã xảy ra ở
nhiều nước trên thế giới
Năm 1983 - 1984 ở Mỹ, dịch cúm gà xảy ra do chủng virus H5N2 ở 3
bang Pensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và tiêu huỷ hơn 19 triệu gà
(Phạm Sỹ Lăng, 2004) [25] Cũng trong thời gian này tại Ireland người ta đã
phải tiêu huỷ 270 nghìn con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã
phân lập được virus cúm chủng độc lực cao (HPAI) để loại trừ bệnh một cách
hiệu quả, nhanh chóng
Năm 1977 ở Minesota đã phát hiện dịch trên gà tây do chủng H7N7
Năm 1 986 ở Australia dịch cúm gà xảy ra tại bang Victoria do chủng H5N2
Năm 1997 ở Hồng Kông dịch cúm gà xảy ra do virus cúm typ A subtyp
H5N1 Toàn bộ đàn gia cầm của lãnh thổ này đã bị tiêu diệt vì đã gây tử vong
cho con người (Cục Thú y, 2004) [6] Như vậy đây là lần đầu tiên virus cúm
Trang 9gia cầm đã vượt “rào cản về loài” để lây cho người ở Hồng Kông làm cho 18
người nhiễm bệnh, trong đó có 8 người chết
Năm 2003, ở Hà Lan dịch cúm gia cầm xảy ra với quy mô lớn do chủng
H7N7 gây ra, 30 triệu gia cầm bị tiêu huỷ, 83 người lây nhiễm và 1 người
chết, gây thiệt hại về kinh tế hết sức nghiêm trọng (Phạm Sỹ Lăng, 2004)
[26]
Từ cuối năm 2003 - 2005 đã có 11 nước và vùng lãnh thổ xuất hiện
dịch cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia,
Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông và Việt Nam Ngoài ra có
7 nước và vùng lãnh thổ khác có dịch cúm gia cầm các chủng khác là
Pakistan, Hoa Kỳ, Canada, Nam Phi, Ai Cập, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân
Triều Tiên và Đài Loan Vào cuối tháng 3/2005 tại Myanmar đã phát hiện
hàng ngàn gà chết nghi bệnh cúm gia cầm Tính đến nay, đã có tổng cộng 55
nuớc và vùng lãnh thổ bùng phát dịch cúm làm 250 triệu con gia cầm bị chết
hoặc tiêu hủy bắt buộc Bệnh cúm cũng lây sang người với 258 trường hợp
nhiễm bệnh và 154 người đã chết (Lê Văn Năm, 2004) [27]
1.3.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
Cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm phát ra tại trại gà giống của Công ty
C.P (Thái Lan) ở xã Thuỷ Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, gây ốm
và chết 8.000 gà trong 4 ngày Ngày 02/01/2004, Công ty đã tiến hành tiêu huỷ
100.000 gà Dịch đã nhanh chóng lay lan ra hầu hết các tỉnh trong cả nước
Để thuận lợi cho việc đánh giá về dịch tễ học có thể chia quá trình dịch
từ khi xuất hiện vào cuối năm 2003 đến nay thành 6 đợt dịch như sau:
* Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2003: Cuối năm 2003,
dịch cúm gia cầm thể độc lực cao với tác nhân gây bệnh là virus cúm H5N1
xảy ra ở Việt nam Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta dịch cúm gia cầm
xuất hiện ở Hà Tây, Long An và Tiền Giang, vì thế nó có thể được coi là một
Trang 10bệnh mới ở gia cầm Dịch lây lan một cách nhanh chóng cùng một lúc ở nhiều
địa phương khác nhau, đã gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi gia cầm Chỉ
trong vòng 2 tháng, đến ngày27/02/2004 dịch đã xuất hiện ở 2.574 xã,
phường (chiếm 24,6%) thuộc 381 huyện, quận, thị xã (chiếm 60%) của 57
tỉnh, thành phố trong cả nước Tổng số gia cầm bị mắc bệnh, chết và tiêu hủy
hơn 43,9 triệu con, chiếm 16,8% tổng đàn, trong đó gà là 30,4 triệu con; thủy
cầm là 13,5 triệu con Ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loại
chim khác bị chết và bị tiêu huỷ
* Đợt dịch thứ hai từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2004: Dịch cúm gia
cầm thể độc lực cao đã tái xuất hiện vào giữa tháng 4 năm 2004 ở một số tỉnh
thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Bệnh chủ yếu xuất hiện ở các hộ chăn nuôi
nhỏ lẻ và hầu như không có trại chăn nuôi qui mô lớn nào bị nhiễm bệnh
Dịch có khuynh hướng xuất hiện ở những vùng có chăn nuôi nhiều thủy cầm
Dịch đã xảy ra ở 46 xã phường của 32 quận, huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh Thời
gian cao điểm nhất là tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng 11 cả nước chỉ có 1
điểm phát dịch Tổng số gia cầm bị tiêu huỷ trong thời gian này là 84.078 con,
trong đó có 55.999 gà, 8.132 vịt và 19.947 chim cút
* Đợt dịch thứ 3 từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005: Trong thời gian
này dịch đã xuất hiện ở 670 xã của 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố (15
tỉnh phía Bắc, 21 tỉnh phía Nam) Dịch xuất hiện nhiều nhất vào tháng 1/2005
với 143 ổ dịch xảy ra trên 31 tỉnh thành phố, số gia cầm tiêu hủy là 470.495
gà, 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim cút Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh,
thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Ban chỉ đạo quốc gia
phòng chống dịch cúm, 2004-2005) [3]
* Đợt dịch thứ 4 từ 01/10/2005 đến 15/12/2005: Từ đầu tháng 10/2005
đến 15/12/2005 dịch đã tái phát ở 285 xã, phường, thị trấn thuộc 100 quận,
huyện của 24 tỉnh, thành phố Số gia cầm ốm, chết và tiêu hủy là 3.735.620 con,
Trang 11trong đó có 1.245.282 gà; 2.005.557 vịt; 484.781 chim cút, bồ câu, chim cảnh
* Trong 10 tháng đầu năm 2006 ở Việt Nam không xảy ra dịch, do sự
chỉ đạo phòng dịch quyết liệt của Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia về hiệu
quả của chiến dịch tiêm phòng Đến cuối năm lại xuất hiện các ổ dịch trên đàn
vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa tiêm phòng vaccine
Đợt dịch thứ 5 bắt đầu và kéo dài trong suốt năm 2007 Dịch không tập
trung mà rải rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và có thể chia nhiều đợt Từ ngày 6/12/2006
đến 7/3/2007 dịch xảy ra trên 83 xã, phường của 33 quận, huyện thuộc 11
tỉnh, thành gồm Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh
Long, Kiên Giang, Sóc Trăng, Hà Nội, Hải Dương và Hà Tây Tổng số gia
cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 103.094 con, trong đó có 13.622 gà; 89.472
ngan, vịt Từ 1/5/2007 đến 23/8/2007, dịch xảy ra ở 167 xã, phường của 10
huyện, thị thuộc 23 tỉnh, thành là Nghệ An, Quảng Ninh, Cần Thơ, Sơn La,
Nam Định, Đồng Tháp, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nam,
Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Quảng Nam, Thái Bình, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Cao Bằng,
Cà Mau, Điện Biên, Quảng Bình, Thái Nguyên và Trà Vinh Tổng số gia cầm
mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 294.894 con (21.525 gà; 264.549 vịt và 8.775
ngan) Sau khi bị khống chế trong vòng 1 tháng, đến tháng 10/2007, dịch lại
tái phát trên địa bàn các tỉnh Trà Vinh, Quảng Trị, Nam Định, Cao Bằng, Hà
Nam và Bến Tre
* Đợt dịch thứ 6 từ đầu năm 2008 đến nay, xảy ra lẻ tẻ, rải rác với 74
đàn gia cầm tại 57 xã, phường của 40 huyện thị thuộc 21 tỉnh phát dịch Tổng
số gia cầm tiêu hủy là 60.090 con, trong đó có 23.498 gà, 36.592 thủy cầm
(Văn Đăng Kỳ, 2008) [32]
Về phân bố địa lý: Các đợt dịch phát ra tập trung ở khu vực Đồng bằng
Sông Cửu Long và Đồng bằng Sông Hồng Những vùng này có nhiều hệ
thống sông ngòi, kênh rạch, mật độ chăn nuôi cao, tổng đàn gia cầm lớn và
Trang 12việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ gia cầm cao hơn các vùng khác
Về thời gian xảy ra dịch: Dịch phát ra nặng vào vụ Đông Xuân, cao
điểm vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 Trong thời gian này thời tiết thay đổi, độ
ẩm cao, nhiệt độ thường xuống thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho virus cúm tồn
tại, phát triển và lây lan Đồng thời giai đoạn này là lúc mật độ chăn nuôi gia
cầm và hoạt động vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm diễn ra sôi động
nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi cho sự bùng phát và lây lan dịch
Về loài mắc bệnh: Đợt dịch thứ nhất và thứ hai tỉ lệ gà mắc bệnh cao
hơn vịt, ngan Nhưng đợt dịch thứ 3 đã có sự thay đổi lớn khi các thống kê
cho thấy tỉ lệ mắc bệnh, chết và tiêu huỷ ở vịt cao gần gấp 2 lần gà Điều này
cho thấy mầm bệnh đã lây lan, tồn tại trong đàn thuỷ cầm, có thể tăng độc lực
và bột phát thành đợt dịch thứ 3 Tỉ lệ dương tính huyết thanh ở đàn thuỷ cầm
tăng từ 15% trong đợt 2 lên 39,6% trong đợt 3
Về loại hình, quy mô và mức độ dịch: Dịch phát ra ở tất cả các loại hình
chăn nuôi, tỉ lệ mắc bệnh cao nhất ở loại hình chăn nuôi hỗn hợp các loài gia
cầm (đặc biệt chăn nuôi gà lẫn với vịt) và giảm dần ở những trại chăn nuôi gà
có số lượng lớn Qui mô của dịch đợt 1 là lớn nhất, trong đợt 2, 3 và 4 mặc dù
dịch vẫn xảy ra ở nhiều tỉnh, thành phố nhưng quy mô giảm đi nhiều (Dự án
sử dụng vaccine ) [8]
* Tình hình dịch cúm gia cầm tại Thái Nguyên
Theo thống kê của Chi Cục Thú y tỉnh Thái Nguyên, dịch cúm gia cầm
xảy ra trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên bắt đầu từ ngày 27/01/2004 đến nay đã
xảy ra 6 đợt dịch
* Đợt dịch đầu tiên từ 27/01 - 08/04/2004
Đợt dịch này đã xảy ra trên 48 xã, phường thuộc 8 huyện: Phú Bình, Phổ
Yên, Phú Lương, Định Hoá, Sông Công, Đồng Hỷ, Đại Từ và Thành phố
Thái Nguyên Tổng số gà mắc bệnh là: 164.258 con, vịt, ngan là: 7.728 con và
Trang 13sản phẩm gia cầm mắc bệnh là: 13.760 quả trứng Dich cúm gia cầm xảy ra
lần đầu tiên vì vậy tổng thiệt hại cho tình là lớn nhất, làm cho người dân lao
đao vì dịch bệnh hoành hành mà chưa biết biện pháp khắc phục
* Đợt dịch thứ 2 từ ngày 17/01 đến 20/12/2005
Đợt dịch này chỉ xảy ra ở 5 xã trên địa bàn của 2 huyện là Phú Lương và
Sông Công nhưng nó kéo dài đến tận cuối năm, làm chết 323 gà và 9 vịt tổng
thiệt hại là không đáng kể so với năm đầu phát dịch
* Đợi dịch thứ 3 từ ngày 28/08 - 20/09/2007
Sau một năm dịch cúm gia cầm lại tái phát trở lại trên địa bàn tỉnh, nhưng
lần này chỉ xảy ra trên 1 hộ thuộc 1 xã của huyện Phổ Yên và đã được khống
chế kịp thời không để dịch lây lan trên diên rộng như những năm trước Lần
này thiệt hai là 35 gà và 150 vịt bị tiêu huỷ Thiệt hại ít là do tỉnh đã có công
tác tiêm phòng vaccine H5N1 trước đó
* Đợt dịch thứ 4 từ ngày 28/01 - 02/03/2008
Đợt dịch này xảy ra có 3 hộ thuộc 2 xã là Xã thịnh Đức và Phường Tân
Lập của Thành Phố Thái Nguyên, làm chết và tiêu huỷ 6.752 con
* Đợt dịch thứ 5: Từ đầu tháng 1 năm 2009, số gia cầm bị ốm chết và
buộc phải tiêu huỷ là 16.863 con
* Đợt dịch thứ 6: Tính từ cuối thang 12 năm 2009 đến tháng 6 năm 2010,
dịch đã xảy ra tại 15 hộ, 7 xóm, 4 xã thuộc huyện Đại Từ và Thành phố Thái
Nguyên Tổng số gia cầm mắc bệnh và buộc tiêu hủy là 7.089 con và 25.116
quả trứng
1.4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA VIRUS CÚM TYP A
1.4.1 Đặc điểm cấu trúc chung của virus thuộc họ Orthomyxoviridae
Họ Orthomyxoviridae gồm có 4 nhóm virus là:
+ Nhóm virus cúm A: Gây bệnh cho các loài chim, một số động vật có
vú và cả con người
Trang 14+ Nhóm virus cúm B: Chỉ gây bệnh cho người
+ Nhóm virus cúm C: Gây bệnh cho người, lợn
+ Nhóm Thogotovirus
Virus thuộc họ Orthomyxoviridae có đặc tính cấu trúc chung là hệ gen
chứa axit Ribonucleic (ARN) một sợi, có cấu trúc là sợi âm được ký hiệu là
ss (-)ARN (Negative Single Stranded RNA) Sợi âm ARN của hệ gen có độ
dài từ 10.000 - 15.000 nucleotit (phụ thuộc loại virus), mặc dù nối với nhau
thành 1 sợi ARN liên tục, nhưng hệ gen lại chia thành 6 - 8 phân đoạn
(segment), mỗi phân đoạn là một gen chịu trách nhiệm mã hóa cho mỗi loại
protein của virus (Lê Thanh Hòa, 2004 [19; Muphy, 1996 [64])
Hạt virus (virion) có cấu trúc hình khối, đôi khi có dạng hình khối kéo
dài, đường kính khoảng 80 - 120 nm
Vỏ virus có bản chất protein có nguồn gốc từ nguồn tế bào mà virus đã
gây nhiễm, bao gồm một số protein được glycosyl hóa (glycoprotein) và một
số protein dạng trần không được glycosyl hóa (non glycosylated protein)
Protein bề mặt có cấu trúc từ các loại glycoprotein, đó là những gai,
mấu có độ dài 10 - 14 nm, đường kính 4 - 6 nm
Nucleocapsid bao bọc lấy nhân virus là tập hợp của nhiều protein phân
đoạn, cấu trúc đối xứng xoắn, kích thước 130 - 150 nm, tạo vòm (loop) ở giới
hạn cuối của mỗi phân đoạn và liên kết với nhau qua cầu nối các peptit Phân
tử lượng của hạt virus vào khoảng 250 triệu dalton (Lê Thanh Hòa, 2004 [19;
Muphy, 1996 [64])
1.4.2 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus cúm typ A
Phân bố trên bề mặt của virus là loại protein gây ngưng kết hồng cầu có
tên gọi là Hemagglutinin (HA) và một loại protein có chức năng là một loại
enzim phá hủy thụ thể của virus có tên gọi Neuraminidae (NA), chúng là các
glycoptein riêng biệt (Kawoaka, 1988) [58]
Trang 15Hạt virion có cấu trúc là axit Ribonucleic sợi âm ở dạng đơn, độ dài
13.500 nucleotit chứa 8 phân đoạn kế tiếp nhau mã hóa cho 10 loại protein
khác nhau của virus là HA, NA, NP, M1, M2, BP1, BP2, PA, NS1, NS2 Tám
phân đoạn của sợi RNA có thể tách và phân biệt rõ ràng nhờ phương pháp
điện di (Muphy, 1996) [64]
- Phân đoạn 1 - 3: Mã hóa cho protein PB1, PB2 và PA là các protein
có chức năng là enzim polymerase tổng hợp axit Ribonucleic nguyên liệu cho
hệ gen và các ARN thông tin tổng hợp protein của virus (Biswas, 1996) [46]
- Phân đoạn 4: Mã hóa cho protein Hemagglutinin (HA) là một protein
bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào,
có khả năng gây ngưng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ virus với màng
tế bào nhiễm và tham gia vào phản ứng trung hòa virus (Bosch.F.X, 1979)
[47] HA là polypeptit gồm 2 chuỗi HA1 và HA2 nối với nhau bằng đoạn
oligopeptit ngắn, thuộc loại hình mô typ riêng đặc trưng cho các subtyp H
(H1 - H16) trong tái tổ hợp tạo nên biến chủng (Bosch.F.X, 1979) [47],
(Vey.M và cs, 1992) [69] Mô typ của chuỗi oligopeptit này chứa một số axit
amin cơ bản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtyp H Sự
thay đổi thành phần của chuỗi nối quyết định độc lực của virus thuộc biến
chủng mới (Lê Thanh Hòa, 2004 [19]; Bosch, 1979 [47]; Holsinger, 1994
[53]; Vey và cs, 1992 [59])
Trang 16- Phân đoạn 5: Mã hóa cho protein Nucleoprotein (NP) một loại protein
được phosphoryl hóa, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu theo nhóm
(Group - Specific), tồn tại trong hạt virion trong dạng liên kết với mỗi phân
đoạn ARN nên loại NP còn được gọi là Ribonucleo protein (Lê Thanh Hòa,
2004) [19]; (Buckler White, 1998) [48]
- Phân đoạn 6: Mã hóa cho protein enzim Neuraminidae (NA), có chức
năng là một enzim phân cắt HA sau khi virus vào bên trong tế bào nhiễm Phân
đoạn 6 là gen chịu trách nhiệm tổng hợp protein, giúp giải phóng ARN virus từ
endosome và tạo hạt virus mới (Castrucci và cs, 1993) [50]
- Phân đoạn 7: Mã hóa cho 2 tiểu phần protein đệm (Matrix protein)
M1 và M2 là protein màng không được glycosyl hóa, có vai trò làm đệm bao
bọc lấy ARN hệ gen M2 là một tetramer có chức năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ
virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm M1 có chức năng tham gia vào
quá trình tổng hợp và nẩy mầm của virus (Horimoto và cs, 1995) [53]
- Phân đoạn 8: Có độ dài ổn định (890 nucleotit) mã hóa cho 2 tiểu
phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có chức năng chuyển ARN từ nhân
ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã, chống interfron (Luong.G và cs,
1992) [61]
1.4.3 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm typ A
Các loại kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất là protein nhân
(Nucleoprotein, NP), protein đệm (matrix protein, M1), protein gây ngưng kết
hồng cầu (Hemagglutinin, HA) và protein enzim cắt thụ thể (Neuraminidase,
NA) NP và M1 là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu nhóm
(genus - specific antigen), ký hiệu là gs kháng nguyên; HA và NA là protein
thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu typ và dưới typ (typ - specific
antigen), ký hiệu là ts kháng nguyên
Một đặc tính quan trọng là virus cúm có khả năng gây ngưng kết hồng
Trang 17cầu của nhiều loài động vật Đó là sự kết hợp giữa mấu lồi kháng nguyên HA
trên bề mặt của virus cúm với thụ thể có trên bề mặt hồng cầu, làm cho hồng
cầu ngưng kết với nhau tạo thành mạng ngưng kết thông qua cầu nối virus,
gọi là phản ứng ngưng kết hồng cầu HA (Hemagglutination test)
Kháng thể đặc hiệu của kháng nguyên HA có khả năng trung hòa các
loại virus tương ứng, chúng là kháng thể trung hòa có khả năng triệt tiêu virus
gây bệnh Nó có thể phong toả sự ngưng kết bằng cách kết hợp với kháng
nguyên HA Do vậy thụ thể của hồng cầu không bám vào được để liên kết tạo
thành mạng ngưng kết Người ta gọi phản ứng đặc hiệu KN- KT có hồng cầu
tham gia là phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination
inhibition test)
Phản ứng ngưng kết hồng cầu (HA) và phản ứng ngăn cản ngưng kết
hồng cầu (HI) được sử dụng trong chẩn đoán cúm gia cầm
Theo Ito và Kawaoka (1998) [55], sự phức tạp trong diễn biến kháng
nguyên của virus cúm là sự biến đổi và trao đổi trong nội bộ gen dẫn đến sự
biến đổi liên tục về tính kháng nguyên (Horimoto và cs, 1995) [54] Có 2 cách
biến đổi kháng nguyên của virus cúm:
+ Đột biến điểm (đột biến ngẫu nhiên hay hiện tượng trôi trượt, lệch lạc
về kháng nguyên - Antigenic drift) Đây là kiểu đột biến xảy ra liên tục
thường xuyên trong quá trình tồn tại của virus mà bản chất là do có sự thay
đổi nhỏ về trình tự nucleotit của gen mã hóa, đặc biệt đối với kháng nguyên H
và kháng nguyên N Kết quả là tạo ra các phân typ cúm hoàn toàn mới có tính
thích ứng với loài vật chủ khác nhau và có mức độ độc lực gây bệnh khác
nhau Chính nhờ sự biến đổi này mà virus cúm A tạo nên 16 biến thể gen HA
(H1- H16) và 9 kháng nguyên N (N1 - N9) (Cục Thú y, 2005) [7]
+ Đột biến tái tổ hợp di truyền (hiện tượng thay ca - Antigenic Shift)
Hiện tượng tái tổ hợp gen ít xảy ra hơn so với hiện tượng đột biến điểm Hiện
Trang 18tượng này chỉ xảy ra khi 2 hoặc nhiều loại virus cúm khác nhau cùng nhiễm
vào một tế bào chủ do sự trộn lẫn 2 bộ gen của virus Điều này tạo nên sự sai
khác cơ bản về bộ gen của virus cúm đời con so với virus bố mẹ Khi hiện
tượng tái tổ hợp gen xuất hiện có thể sẽ gây ra các vụ dịch lớn cho người và
động vật với mức độ nguy hiểm không thể lường trước được Vụ dịch năm
1918 - 1819 làm chết 40 - 50 triệu người mà tác nhân gây bệnh là virus H1N1
từ lợn lây sang người kết hợp với virus cúm người tạo ra chủng virus mới có
độc lực rất mạnh (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [26]
Do hạt virus cúm A có cấu trúc là 8 đoạn gen nên về lý thuyết từ 2 virus
có thể xuất hiện 256 kiểu tổ hợp của virus thế hệ sau (Cục Thú y, 2004) [6]
Khi nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm thấy giữa các
biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtyp về huyết thanh học không hoặc rất ít
vaccine cúm để phòng bệnh cho người và động vật (Ito và cs, 1998 [56];
Kawoaka, 1991 [57])
Khi xâm nhập nhiễm vào cơ thể động vật, virus cúm A kích thích cơ
thể sản sinh ra kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể
kháng HA, chỉ có kháng thể này mới có vai trò trung hòa virus và cho bảo hộ
miễn dịch Một số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của virus,
kháng thể kháng M2 ngăn cản chức năng M2, không cho quá trình bao gói
virus xảy ra (Lu và cs, 1999 [60]; Seo và cs, 2001) 66]
1.4.4 Thành phần hóa học của virut
ARN của virus chiếm 0,8 - 1,1%; protein chiếm 70 - 75%; lipit chiếm
20 - 24%; hydratcacbon chiếm 5 - 8% khối lượng hạt virus
Lipit tập trung ở màng virus và chủ yếu là lipit có gốc phospho, số còn
lại là cholesterol, glucolipit và một ít hydrocacbon gồm các loại men
galactose, ribose, fructose, glucosamin Thành phần chính protein của virus
chủ yếu là glycoprotein (Lê Văn Năm, 2004) [27]
Trang 191.4.5 Quỏ trỡnh nhõn lờn và tỏc động gõy bệnh của virus
Virus được hấp phụ vào bề mặt tế bào nhờ cú receptor mà bản chất là
glycoprotein chứa axit Sialic, từ đó virus chui qua màng tế bào nhờ một loại
men đặc biệt để vào trong nguyờn sinh chất và nhõn tế bào Tại đú virus sinh
trưởng nhanh chúng và phỏt triển theo phương thức nhõn đụi
Theo nhiều tỏc giả sau khi vào cơ thể, virus cỳm tiếp cận với cỏc tế bào
đớch xõm nhập và giải phúng vật chất di truyền Virus sử dụng cỏc cơ quan
trong tế bào và nguồn nguyờn liệu của tế bào để tổng hợp nờn protein và RNA
đặc trưng Cỏc protein kết hợp với RNA virus tạo thành hạt virus và được giải
phúng ra ngoài Tế bào chủ khụng bị dung giải, nhưng sẽ chết đi do mất trạng
thỏi cõn bằng vốn cú, đồng thời bị đầu độc bởi cỏc sản phẩm sinh ra Số lượng
virus tăng lờn ngày càng nhanh theo cấp số nhõn Tế bào đớch bị phỏ huỷ hàng
loạt Sự suy giảm hụ hấp khiến sức đề khỏng của cơ thể giảm sỳt rừ rệt, làm
kế phỏt cỏc bệnh vi khuẩn, virus khỏc (Alexander, 1993) [44]
1.4.6 Độc lực của virus
Độc lực của virus cỳm gia cầm cú sự dao động lớn, phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, trước hết là protein HA Cỏc nghiờn cứu ở mức độ phõn tử cho
thấy khả năng lõy nhiễm của virus phụ thuộc vào tỏc động của men proteaza
vật chủ đến sự phỏ vỡ của liờn kết húa học sau khi dịch mó của phõn tử ngưng
kết, thực chất là sự cắt rời protein HA thành 2 tiểu phần HA1 và HA2 Tớnh thụ
cảm của ngưng kết tố và sự phỏ vỡ liờn kết của men protease lại phụ thuộc vào
số lượng cỏc amino axit cơ bản tại điểm bắt đầu phỏ vỡ cỏc liờn kết Cỏc enzim
giống trypsin cú khả năng phỏ vỡ liờn kết khi chỉ cú một phõn tử Arginin, trong
khi đú cỏc enzim protease khỏc lại cần nhiều amino axit cơ bản
Tại Hội thảo thế giới lần đầu tiờn về bệnh cỳm gà 1981, Bankowski và
cộng sự thụng bỏo virus cỳm gà cú khỏng nguyờn bề mặt H7 thuộc loại cú độc
lực cao Nhưng Pensyvania (Mỹ) đó chứng kiến trận dịch cỳm gà gõy chết
Trang 2075% số gà, khi phân lập virus có kháng nguyên bề mặt H5 mà không phải là
H7 Để đánh giá độc lực của virus cúm một cách khoa học, các nhà khoa học
sử dụng phương pháp gây bệnh cho gà 3 - 6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh
mạch nước trứng đã được gây nhiễm virus Sau đó đánh giá mức độ nhiễm
bệnh của gà để cho điểm (chỉ số IVPI) Điểm tối đa là 3 điểm và đó là virus
có độc lực cao nhất Theo quy định của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), virus
nào có chỉ số IVPI từ 1,2 trở lên thuộc loại có độc lực cao (Nguyễn Tiến
Dũng, 2004 [11]; OIE, 1992 [66])
Bằng cách tiêm tĩnh mạch 0,2 ml nước trứng gà đã gây nhiễm virus
được pha loãng ở nồng độ 1/10 cho gà mẫn cảm từ 3 - 6 tuần tuổi, các nhà
khoa học đã thống nhất chia độc lực của virus ra 3 loại:
- Virus có độc lực cao: Nếu sau khi tiêm tĩnh mạch 10 ngày phải làm
chết 75 - 100% số gà thực nghiệm Virus gây bệnh cúm gà (có thể là typ phụ)
phải làm chết 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm và phát triển tốt trên tế bào xơ
phôi trong môi trường nuôi cấy không có Trypsin Theo Nguyễn Tiến Dũng,
2008) [14], Protein HA gồm 2 phần HA1 và HA2 nối với nhau trong cấu trúc
bậc 1 qua 1 chuỗi axit amin kiềm được gọi là Cleavage site (điểm cắt) Khi
xâm nhập vào ký chủ có hoạt tính giống như trypsin (trypsin- like) cắt đôi cấu
trúc này ra thì virus mới bám vào thụ thể của tế bào ký chủ, xâm nhập vào nội
bào và bắt đầu quá trình tăng sinh Men trypsin và tương đương chỉ có tác
dụng vào các axit amin kiềm (Arginine và Lysine) do vậy nếu điểm cắt càng
có nhiều loại axit amin này thì khả năng HA được cắt đôi càng lớn và quá
trình xâm nhập vào nội bào càng nhanh nên virus có độc lực càng cao
- Virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây dịch cúm gà
với triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết gà không quá 15% số gà bị
nhiễm bệnh tự nhiên hoặc không gây quá 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm
- Virus có độc lực thấp (nhược độc): Là những virus phát triển tốt trong
cơ thể gà, có thể gây ra dịch nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt,
Trang 21không tạo ra bệnh tích đại thể và không làm chết gà
Trong thực tế người ta chia virus cúm gà ra làm 2 loại: Loại virus có
độc lực thấp - LPAI (Light Pathogenic Avian Influenza) Loại virus có độc
lực cao - HPAI (Highly Pathogennic Avian Influenza)
Cho đến nay người ta thừa nhận chỉ có 2 biến chủng virus có cấu trúc
kháng nguyên H5, H7 được coi là loại có độc lực cao gây bệnh ở gia cầm,
nhưng không phải tất cả các chủng mang gen H5, H7 đều gây bệnh (Horimoto
và cs, 1995) [54]
Thực tế chứng minh rằng các chủng có độc lực thấp trong quá trình lưu
hành trong thiên nhiên và trong đàn thủy cầm có thể đột biến nội gen hoặc đột
biến tái tổ hợp để trở thành các chủng có độc lực cao - HPAI (Collins RA và
cs, 2002 [51]; Mo và cs, 1997 [63])
Theo Mary Pantin-Jackwood và cs (2008) [30], tất cả các virus cúm
phân lập được của Việt Nam trong năm 2005 - 2007 không chỉ có độc lực cao
với gà, mà còn gia tăng đáng kể độc lực đối với vịt so với các virus phân lập
trước đó Sự tăng độc tính này là hệ quả của sự gia tăng virus nhân lên trong
các cơ quan nội tạng và sự tăng thích nghi ở diện rộng hơn của virus đối với
các cơ quan nội tạng Sự thay đổi độc tính của các virus đang lưu hành có ảnh
hưởng lớn tới dịch tễ học của virus vỡ công tác khống chế
1.4.7 Danh pháp
Để ký hiệu và lưu trữ một cách khoa học và đầy đủ các chủng virus
cúm phân lập được, năm 1980 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra một
hệ thống phân loại mới, được quy định ký hiệu theo trình tự: Serotyp/ loài
nhiễm/ nơi phân lập/ số hiệu chủng/thời gian phân lập/loại hình Subtyp HA
(H) và NA (N) Ví dụ: Virus cúm có ký hiệu A/GS/HK/437/4/99/H5N1, có
nguồn thông tin là: Cúm nhóm A; loài nhiễm là ngỗng (GS = goose); nơi
phân lập là Hồng Kông (HK); số hiệu 437; thời gian phân lập tháng 4/1999;
Subtyp H5N1 (Đào Yến Khanh, 2005) [24]
Trang 221.4.8 Phân loại virus
Theo Nguyễn Tiến Dũng (2008) [14], virus cúm gia cầm được phân
loại như sau:
* Phân loại theo kháng nguyên:
Khi dùng phản ứng kết tủa trên thạch hoặc kết hợp bổ thể, người ta thấy
có 3 nhóm virus khác nhau và đặt tên cho 3 nhóm virus là A, B và C Vào
năm 1941 Hirst đã phát hiện thấy virus cúm có khả năng ngưng kết hồng cầu,
khi ông quan sát việc thu hoạch virus sau khi cấy trên trứng gà có phôi và khả
năng này bị kháng thể kháng virus cúm ngăn trở hay ức chế Dùng phản ứng
này người ta thấy virus cúm typ A lại có nhiều loại khác nhau Trên cơ sở kết
quả của phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu, khi phát hiện ra rằng kháng thể
kháng ngưng kết hồng cầu là kháng thể được tạo ra để chống lại protein HA
nhưng không ức chế toàn bộ các virus typ A Từ đó virus typ A được chia
thành các typ phụ (subtype) trên cơ sở có phản ứng HI đặc hiệu
Cho đến năm 2004, tổng số subtyp chia theo khả năng ngưng kết hồng
cầu là 16 Với protein NA, người ta phát hiện ra 9 loại NA có tính kháng
nguyên khác nhau và được đặt tên là từ N1 cho đến N9 Virus cúm typ A là
kết quả của sự tổ hợp giữa 2 loại protein này Chính vì vậy chúng ta có virus
cúm đặt tên là HxNy (x có giá trị từ 1 đến 16 và y có giá trị từ 1 đến 9) Việc
phân loại virus như trên do Ủy ban định danh quốc tế về virus tiến hành
Các loại virus cúm có cùng danh hiệu nhưng không chắc có cùng nguồn
gốc và về gen di truyền chúng có sự khác nhau, nói cách khác là rất đa dạng
Với virus cúm H5N1 đang gây bệnh đại dịch cho gia cầm, có nguồn gốc từ
Châu Á và được gọi tên đầy đủ là “virus H5N1 dòng Châu Á” nhằm phân biệt
với các loại H5N1 khác Virus H5N1 dòng Châu Á lại được phân loại chi tiết
hơn nữa Có 2 kiểu phân loại virus H5N1 dòng Châu Á (theo quy định của
WHO) đó là:
Trang 23chịu trách nhiệm tổng hợp Protein HA và NA có nguồn gốc từ virus cúm
H5N1 phân lập từ ngỗng ở Quảng Đông (Trung Quốc) vào năm 1996 Tùy
theo nguồn gốc của 6 đoạn gen còn lại mà người ta đặt tên kiểu gen cho loại
virus đó
- Phân loại theo nhóm kháng nguyên (clade): do sự biến đổi di truyền
liên tục nên protein HA của virus cúm H5N1 dòng Châu Á có tính kháng
nguyên thay đổi
Thí dụ: làm phản ứng HI (ức chế ngưng kết hồng cầu) giữa virus chủng
A/Goose/Guangdong/1/96 với kháng thể kháng chính nó, ta có hiệu giá kháng
thể HI là 8 log2 chẳng hạn Lấy một virus khác (H5N1 dòng Châu Á) làm
phản ứng với kháng thể này, hiệu giá kháng thể là 7 log2 người ta vẫn cho
virus đó là cùng nhóm kháng nguyên Tuy nhiên, nếu hiệu giá kháng thể lệch
2log trở lên thì virus sẽ thuộc nhóm kháng nguyên khác
1.4.9 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà
Virus cúm gà phát triển tốt trên phôi gà 9 - 11 ngày tuổi, trong nước
phôi gà tập trung khá nhiều virus và có thể lưu giữ virus được vài tuần ở điều
kiện 40C Khả năng tồn tại và gây bệnh của virus rất cao nếu ta bảo quản nước
phôi đó ở - 700C hoặc cho đông khô (Lê Văn Năm, 2004) [27]
Virus cúm gà cũng phát triển tốt trong tế bào xơ phôi gà (CEF) và tế
bào thận chó MDCK (Madin- Darby Canine Kidney cell) với điều kiện môi
trường nuôi cấy tế bào không chứa trypsin (Lê Văn Năm, 2004) [27]
1.4.10 Miễn dịch chống bệnh cúm gia cầm
Miễn dịch là trạng thái đặc biệt của cơ thể không mắc phải tác động có
hại của yếu tố gây bệnh, trong khi đó các cơ thể cùng loài hoặc khác loài lại bị
tác động trong điều kiện sống như nhau Cũng như các động vật khác, miễn
dịch chống virus cúm của gia cầm có 2 loại là miễn dịch đặc hiệu và không
đặc hiệu
Trang 24* Miễn dịch không đặc hiệu:
Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, gia cầm bảo vệ trước hết bằng
miễn dịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng
gây bệnh của chúng Miễn dịch không đặc hiệu có vai trò quan trọng khi miễn
dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu của
gia cầm rất phát triển bao gồm:
- Hàng rào vật lý như da, niêm mạc và các dịch tiết có tác dụng bảo vệ
cơ thể ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể
- Khi mầm bệnh qua hàng rào da và niêm mạc nó gặp phải hàng rào
hóa học là kháng thể dịch thể tự nhiên không đặc hiệu
+ Bổ thể: Bổ thể có tác dụng làm tan màng vi khuẩn, làm tăng khả năng
thực bào của đại thực bào (opsonin hóa), ngoài ra bổ thể cũng có vai trò nhất
định trong cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (nhiều trường hợp sự tương tác
giữa kháng nguyên và kháng thể cần sự có mặt của bổ thể) (Nguyễn Như Thanh,
1997) [29]
+ Interferol (IFN): Do nhiều loại tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế
bào diệt tự nhiên (NK) Khi Interferol được sản sinh ra, nó gắn vào tế bào bên
cạnh và cảm ứng tế bào đó sản sinh ra protein AVP (anti virus protein), do đó
khi virus xâm nhập vào tế bào nhưng không nhân lên được
- Hàng rào tế bào gồm:
+ Tiểu thực bào, quan trọng nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm
60 - 70% tổng số bạch cầu ở máu ngoại vi, nó thực bào những phân tử nhỏ và
vi khuẩn ngoài tế bào
+ Đại thực bào là các tế bào lớn có khả năng thực bào, khi được hoạt
hóa nó sẽ nhận biết và loại bỏ các vật lạ, ngoài ra nó còn giữ vai trò quan
trọng trong sự trình diện kháng nguyên tới tế bào T và kích thích tế bào T sản
sinh ra IL - 1 Đại thực bào còn tiết ra interferol có hoạt tính kháng virus,
lysozyme và các yếu tố khác có tác dụng kích thích phản ứng viêm
Trang 25+ Các tế bào diệt tự nhiên (NK) là một quần thể tế bào lâm ba cầu có
nhiều hạt với kích thước lớn Các tế bào này có khả năng tiêu diệt các tế bào
đã bị nhiễm virus và các tế bào đích đã biến đổi, nó còn tiết ra interferol làm
tăng khả năng thực bào của đại thực bào
* Miễn dịch đặc hiệu:
Khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể, cơ thể sẽ sản sinh ra kháng thể
đặc hiệu để loại trừ kháng nguyên đó Kháng thể đặc hiệu có thể là dịch thể
hoặc có thể là tế bào, đó là các limphô T mẫn cảm Vì vậy người ta chia miễn
dịch đặc hiệu ra miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào
- Miễn dịch đặc hiệu dịch thể: Do tế bào limphô B đảm nhiệm, nó tiết
ra các loại globulin miễn dịch (Ig) gồm có 3 lớp chính là IgM, IgG, IgA IgG
của gia cầm lớn hơn của động vật có vú nên thường được gọi là IgY
Các limphô bào bắt nguồn từ tế bào nguồn ở tủy xương đi tới túi
Fabricius, ở đây chúng được huấn luyện để trở thành các limphô B, sau đó di
tản đến các cơ quan limphô ngoại biên, chúng khu trú ở các tâm điểm mầm và
vùng tủy của lách, hạch bạch huyết
Mỗi và mọi tế bào B đều có một kháng thể khác nhau trên bề mặt của
nó Khi tế bào B đã có thể sản sinh IgM trên bề mặt thì nó cũng có thể có khả
năng sản sinh một kháng thể khác lớp khác, nhưng dù là lớp nào thì tất cả
kháng thể do tế bào đó sản sinh ra đều có khả năng nhận biết cùng loại kháng
nguyên ấy mà thôi Tức là vùng Fab của phân tử kháng thể không thay đổi mà
chỉ có vùng Fc là khác nhau tùy vào lớp kháng thể
Trong hạch lâm ba các limphô B có thể gặp một kháng nguyên và được
nhận biết bởi các kháng thể có trên bề mặt của chúng Sau khi đã nhận biết
kháng nguyên và được kích thích bởi các cytokines do tế bào T tiết ra, chúng
được biệt hóa thành tương bào (plasma) để sản sinh kháng thể
Đáp ứng của kháng thể khi gặp kháng nguyên lần đầu tiên được gọi là
Trang 26đáp ứng tiên phát (sơ cấp) Sau khi xuất hiện vài ngày, hàm lượng kháng thể
trong máu mới tăng và các kháng thể đầu tiên chủ yếu là IgM Đáp ứng tiên
phát cũng có thể có IgG nhưng với hàm lượng thấp
Kháng thể dịch thể chỉ có tác dụng với virus khi nó còn ở ngoài tế bào,
lớp IgM và IgG kết hợp với virus với sự tham gia của bổ thể làm tiêu diệt
virus, 2 lớp kháng thể này còn ngăn virus không cho kết hợp với Recepter của
tế bào tương ứng, ngăn cản sự hòa màng giữa vỏ virus và màng tế bào
Lớp IgA có trong niêm mạc, nó diệt virus ngay trong hàng rào niêm
mạc, không cho virus xâm nhập vào trong Khi virus sinh ra kháng thể thì
kháng thể có tính đặc hiệu cao giúp ta định typ virus gây bệnh bằng các phản
ứng huyết thanh học
Một số limphô B sau khi nhận biết kháng nguyên sẽ thành thục thành
limphô B nhớ, hiệu quả làm cho đáp ứng miễn dịch lần 2 đối với kháng
nguyên nhanh hơn, mạnh hơn lần 1 và lớp kháng thể thường là IgG
- Miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào: Quá trình đáp ứng miễn
dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào do tế bào limphô T đảm nhiệm Các
limphô bào bắt nguồn từ tủy xương di chuyển đến tuyến ức, tại đó chúng
được huấn luyện, biệt hóa thành tiền limphô T, rồi thành limphô T chưa chín,
rồi thành limphô T chín Từ tuyến ức chúng di tản đến các cơ quan limphô
ngoại vi như các hạch lâm ba, các mảng Payer ở ruột hoặc tới lách Khi đại
thực bào đưa thông tin đến các limphô T, chúng tiếp nhận, biệt hóa trở thành
nguyên bào limphô T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức
năng như một kháng thể đặc hiệu và gọi là kháng thể tế bào
Các tế bào limphô T thực hiện 2 chức năng quan trọng:
- Chức năng hỗ trợ: Do các limphô T có dấu ấn CD4 đảm nhiệm (TH)
+ Giúp đỡ các tế bào limphô B phát triển thành tương bào để sản xuất
kháng thể
Trang 27+ Giúp các tế bào TCD8 trở thành tế bào TC gây độc Tế bào TC được
hoạt hóa và tiêu diệt tế bào đích
+ Thực hiện phản ứng quá mẫn muộn
+ Sản xuất ra các cytokines có tác dụng điều khiển sự phát triển của các
dòng tế bào bạch cầu và các tế bào mầm của hệ thống tạo máu
+ Sản xuất các cytokines có tác dụng hoạt hóa các tế bào đại thực bào
+ Thúc đẩy quá trình sản xuất các phân tử glycoprotein MHC trên các
tế bào trình diện kháng nguyên
Đa số các tế bào T hỗ trợ thể hiện dấu ấn CD4 nhận biết kháng nguyên
được trình diện trên bề mặt của các tế bào trình diện kháng nguyên với các
phân tử MHC lớp II Chức năng này do 2 tiểu quần thể TH đảm trách: TH1
tham gia phản ứng quá mẫn muộn, sản xuất IL - 2 và interferol , TH2 hỗ trợ tế
bào B và sản xuất chủ yếu IL - 4, IL-5
- Chức năng thực hiện: Do các limphô T mang dấu ấn CD8 đảm
nhiệm có 2 loại:
+ Limphô T gây độc (TC): Chúng gây độc đối với tế bào bị nhiễm virus,
tế bào ung thư và mảnh ghép dị loài Chúng có khả năng nhận biết các mảnh
peptit của kháng nguyên tế bào đích gắn với các phân tử MHC lớp I
+ Limphô T ức chế (TS): Chúng triệt thoái quá trình sản xuất imunoglobulin
của tế bào B và triệt thoái hoặc ức chế các phản ứng quá mẫn muộn và miễn
dịch tế bào
* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể
Sự hình thành kháng thể và quá trình đáp ứng miễn dịch phụ thuộc rất
nhiều yếu tố như trạng thái sức khoẻ của cơ thể, điều kiện ngoại cảnh, sự
chăm sóc nuôi dưỡng Nhưng quan trọng hơn cả là phụ thuộc vào bản chất
kháng nguyên Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể như sau:
Bản chất kháng nguyên: Kháng nguyên có bản chất là protein và có
Trang 28tính kháng nguyên cao sẽ kích thích sinh kháng thể tốt
Đường xâm nhập của kháng nguyên: Thường đường xâm nhập tốt nhất
là dưới da và trong bắp thịt
Liều lượng kháng nguyên: Lượng kháng nguyên đưa vào vừa đủ sẽ
kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch ở mức tối đa mà không gây ức chế và tê
liệt miễn dịch
Số lần đưa kháng nguyên vào cơ thể: Tiêm nhắc lại vaccine có tác
dụng tốt, kháng thể sinh ra nhiều hơn và được duy trì trong thời gian lâu hơn
Chất bổ trợ: Chất bổ trợ cho vào khi chế vaccine với mục đích giữ và
duy trì lượng kháng nguyên lâu trong cơ thể nhờ đó tạo kích thích liên tục,
đều đặn các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch tạo ra kháng thể ở mức cao và
duy trì được lâu hơn Những chất bổ trợ thường dùng là keo phèn, nhũ tương,
dầu khoáng, dầu thực vật, saponin
1.5 DỊCH TỄ HỌC BỆNH CÚM GIA CẦM
1.5.1 Phân bố dịch
Virus cúm gia cầm phân bố khắp thế giới trong các loài gia cầm, dã
cầm, động vật có vú Sự phân bố và lưu hành của virus cúm khó xác định
chính xác và chịu ảnh hưởng bởi cả loài vật nuôi, hoang dã, tập quán chăn
nuôi gia cầm, đường di trú của dã cầm, mùa vụ và hệ thống báo cáo dịch
bệnh, phương pháp nghiên cứu (Cục Thú y, 2004) [6]
1.5.2 Động vật cảm nhiễm
Tất cả các loài gia cầm (gà, vịt, ngan, chim cút, vẹt, bồ câu), chim
hoang dã (đặc biệt thủy cầm di trú) đều mẫn cảm với virus Phần lớn các
loài gia cầm non đều mẫn cảm với virus cúm typ A Ngoài ra virus cúm typ
A còn gây bệnh cho nhiều loài động vật có vú như: lợn, ngựa, chồn, hải
cẩu, thú hoang dã và cả con người Lợn mắc bệnh cúm thường do phân typ
H1N1 và H3N2 Vịt nuôi bị nhiễm virus nhưng ít phát thành bệnh do vịt có
Trang 29sức đề kháng với virus gây bệnh Tuy nhiên, năm 1961 ở Nam Phi đã phân
lập được virus cúm typ A (H5N1) gây bệnh cho cả gà và vịt (Bùi Quang Anh
và cs, 2004 [1]; Cục Thú y, 2004 [6])
1.5.3 Động vật mang virus
Virus cúm đã phân lập được ở hầu hết các loài chim hoang dã như vịt
trời, thiên nga, hải âu, mòng biển, vẹt, vẹt đuôi dài, vẹt mào, chim thuộc họ
sẻ, diều hâu Tần suất và số lượng virus phân lập được ở thủy cầm (đặc biệt
vịt trời) đều cao hơn các loài khác (Bùi Quang Anh và cs, 2004) [1]
Kết quả điều tra thủy cầm di trú ở Bắc Mỹ cho thấy trên 60% chim non
bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú
Sự kết hợp các kháng nguyên bề mặt H và N của các phân typ virus
cúm A diễn ra ở chim hoang dã Những virus này không gây độc đối với vật
chủ, được nhân lên ở đường ruột những chim này khiến cho các loài này
mang virus là nguồn gieo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt là gia cầm
(Alexander, 2000) [45]
Đã có nghiên cứu phát hiện nhiều virus cúm từ những loài vịt đi đầu
trong mùa di trú, sau khi xuất hiện đã gây ra dịch ở gà tây Vịt từ khi bị
nhiễm đến khi bắt đầu thải virus trong vòng 30 ngày Dường như virus được
duy trì trong số đông vịt trời cho tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền cho
các con non theo đường tiêu hóa do virus bài thải theo phân, gây ô nhiễm ao,
hồ (Bùi Quang Anh và cs, 2004 [1]; Cục Thú y, 2004 [6])
Đối với các ký chủ khác, mỗi virus cúm cụ thể có thời gian lưu giữ
trong cơ thể khác nhau và có khả năng gây bệnh khác nhau, không theo một
quy luật nào cả Với virus cúm gia cầm có 3 loại ký chủ:
- Ký chủ lưu giữ (Reservoir host): Là loại ký chủ chỉ cho phép virus nhân
lên với lượng thấp và virus gây ra bệnh rất nhẹ Ví dụ như vịt và một số thủy
cầm vẫn được coi là ký chủ lưu giữ H5N1 Nhờ đó virus có khả năng tồn tại
Trang 30- Ký chủ hứng chịu (Spillover host): Là loại ký chủ cho phép virus
nhân lên với lượng lớn và bệnh mà nó gây ra cũng rất nặng, thường là bệnh
toàn thân và thường gây tử vong (ví dụ gà, gà tây và chim cút đối với H5N1)
- Ký chủ lệch (Aberrant host): Là loại ký chủ mà virus chỉ nhân lên với
số lượng nhỏ nhưng bệnh do chúng gây ra lại rất nghiêm trọng và thường gây
tử vong Ví dụ: người, hổ, chó mèo hiện đang là ký chủ lệch của virus
H5N1 (Nguyễn Tiến Dũng, 2008) [14]
1.5.4 Sự truyền lây
Khi gia cầm nhiễm virus cúm, virus được nhân lên trong đường hô hấp và
đường tiêu hóa Sự truyền lây của bệnh được thực hiện theo 2 phương thức
- Lây trực tiếp: Do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh
thông qua các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức
ăn, nước uống bị nhiễm virus
- Lây gián tiếp: Qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần
hoặc những dụng cụ chăn nuôi, phân, thức ăn, nước uống, quần áo, giầy dép,
phương tiện vận chuyển, lồng nhốt, chim, thú, côn trùng có mang mầm bệnh
Như vậy, virus cúm dễ dàng truyền tới vùng khác do con người,
phương tiện vận chuyển, dụng cụ và thức ăn chăn nuôi Bệnh chủ yếu truyền
ngang (do tiếp xúc), chưa có bằng chứng cho thấy bệnh có thể truyền dọc
(qua phôi thai) vì những phôi bị nhiễm virus thường chết mà không phát triển
được (Lê Văn Năm, 2004) [27] Đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên
thường thấy là: Từ các loài gia cầm nuôi khác nhau trong cùng một trang trại
hoặc các trang trại khác liền kề như vịt lây sang gà; từ gia cầm nhập khẩu; từ
chim di trú đặc biệt thuỷ cầm được coi là đối tượng chính dẫn nhập virus vào
quần thể đàn gia cầm nuôi
Tỷ lệ lưu hành bệnh cao hơn đối với các đàn gia cầm nằm trên đường di
trú của các loài thủy cầm, các đàn gia cầm nuôi nhốt trong các trang trại, vịt
Trang 31được nuôi vỗ béo tại các cánh đồng gần trang trại
Các ổ dịch cúm thường có nguy cơ xuất hiện cao ở các mùa có hoạt
động của thủy cầm di trú Phần lớn các ổ dịch đều ghi nhận có sự tiếp xúc với
thủy cầm tại thời điểm phát dịch đầu tiên
Từ người và các động vật có vú khác, phần lớn các ổ dịch cúm gia cầm
gần đây đã có sự lây lan thứ cấp thông qua con người (Bùi Quang Anh và cs,
2004) [1]; (Cục Thú y, 2004) [6]
1.5.5 Sức đề kháng của virus cúm
Virus không bền vững với nhiệt độ, ở 56 - 600C chỉ vài phút virus mất
độc lực Tuy nhiên virus tồn tại khá lâu trong các vật chất hữu cơ như phân gà
(ít nhất 3 tháng) 30 - 35 ngày ở nhiệt độ 40C, 7 ngày ở nhiệt độ 200C Trong thức
ăn, nước uống bị ô nhiễm virus có khả năng tồn tại hàng tuần Đây chính là
nguồn bệnh nguy hiểm và tiềm tàng để làm lây lan dịch bệnh (Lê Văn Năm,
2004) [27]
Trong nước ao hồ virus vẫn có thể duy trì đặc tính gây bệnh tới 4 ngày ở
nhiệt độ 220C và trên 30 ngày ở nhiệt độ 00
C (Webster.R.G và cs, 1992) [70]
Theo Đỗ Ngọc Thúy, (2008) [43], ở nhiệt độ mùa đông, lớp vỏ của vi
rut trở nên cứng thành một dạng gel có khả năng co dãn như cao su có thể bảo
vệ virus Tuy nhiên ở nhiệt độ ấm hơn thì lớp gel bảo hộ này bị tan chảy ra
thành pha lỏng Nhưng pha lỏng này là không đủ độ cứng để bảo vệ virus
chống lại các yếu tố khác Như vậy, thường về mùa hè sức đề kháng của virus
kém nên tỷ lệ gia cầm mắc bệnh vào mùa hè và mùa thu thường ít hơn vào
mùa đông và mùa xuân Dịch cúm gia cầm thường hay xảy ra vào tháng 3,
tháng 4 và tháng 10, tháng 11
Do cấu trúc vỏ ngoài của virus là lipit nên chúng mẫn cảm với các chất
dung môi và chất tẩy rửa như formalin, axit, ete, - propiolacton Sau khi tẩy
vỏ, các hóa chất như phenolic, NH4+
, axit loãng, natrihypochlorit và
Trang 32hydroxylanine có thể phá hủy virus cúm gia cầm Người ta thường dùng các
hóa chất này như các chất sát trùng hữu hiệu để tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và
các thiết bị chăn nuôi (Ilaria Capua và cs, 2004) [21]
1.5.6 Mùa vụ phát bệnh
Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm, nhưng thường tập trung vào vụ
đông xuân từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau Khi có những biến đổi
bất lợi về điều kiện thời tiết như nhiệt độ lạnh, độ ẩm cao, thời tiết có những
thay đổi đột ngột, làm giảm sức đề kháng tự nhiên của con vật Mặt khác thời
điểm này có mật độ chăn nuôi cao nhất trong năm, các hoạt động vận chuyển,
giết mổ gia cầm diễn ra cao nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi để
dịch bệnh phát sinh lây lan
1.6 TRIỆU CHỨNG, BỆNH TÍCH CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM
1.6.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm
Các biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh diễn biến rất đa dạng và
phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực, số lượng virus, loài nhiễm
bệnh, mật độ chăn nuôi, tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời gian ủ bệnh ngắn thường chỉ vài giờ đến 21 ngày, theo Tổ chức
Thú y thế giới thời gian này có thể tới 28 ngày (Nguyễn Tiến Dũng, 2004) [11]
Các triệu chứng về hô hấp thường xuất hiện đầu tiên và khá điển hình như
khẹc, lắc đầu, vẩy mỏ, khó thở, chảy nước mũi, nước mắt Tiếp theo là mí mắt
viêm, sưng mọng, phù mặt, phù đầu Mào và tích dầy lên do phù thũng, tím
tái, xuất huyết Thịt gà bị bệnh thâm tím Xuất huyết dưới da chân là đặc điểm
đặc trưng của bệnh cúm gia cầm
Ngoài các triệu chứng trên còn thấy các triệu chứng về thần kinh như đi
lại không bình thường, siêu vẹo, run rẩy, mệt mỏi, nằm li bì tụm đống Gia cầm
tiêu chảy mạnh, phân loãng trắng, trắng xanh Gia cầm đang đẻ thì tỉ lệ đẻ giảm
rất nhanh Bệnh lây lan nhanh, gia cầm chết đột ngột Với chủng virus độc lực
cao (HPAI) tỉ lệ chết từ 15 - 100%, với chủng virus độc lực thấp (LPHI) tỉ lệ
Trang 33chết thấp hơn và mức độ biểu hiện triệu chứng cũng nhẹ hơn Tuy nhiên, khi có
sự bội nhiễm hoặc điều kiện chăn nuôi bất lợi, tỉ lệ tử vong có thể tới 60 - 70%
với các biểu hiện triệu chứng nặng hơn (Lê Văn Năm, 2004) [27]
1.6.2 Bệnh tích đại thể của bệnh cúm gia cầm
Theo Lê Văn Năm (2004) [27], mức độ biến đổi bệnh tích đại thể bệnh
cúm gia cầm cũng đa dạng và rất khác nhau trong cùng một đàn, phụ thuộc rất
nhiều vào độc lực virus, quá trình diễn biến của bệnh Những biến đổi mang
tính tổng quan như sau:
Mào và tích thâm tím, phù nề, xuất huyết dưới da và rìa tích Xuất
huyết dưới da ống chân thành vệt, nốt
Khí quản viêm xuất huyết, chứa nhiều đờm Túi khí phù nề, thành túi
khí dầy và có nhiều fibrin bám dính Phổi viêm cata, xuất huyết đến viêm
fibrin làm phổi dính vào lồng ngực
Viêm xuất huyết đường ruột, đặc biệt vùng hậu môn, van hồi manh
tràng, dạ dày tuyến và niêm mạc tá tràng
Bao tim tích nước vàng, xuất huyết màng bao tim, mỡ vành tim, cơ tim
Lách biến màu lốm đốm vàng, rắn chắc hơn bình thường Tụy khô ròn,
xuất huyết
Viêm xuất huyết buồng trứng, ống dẫn trứng, nhiều trường hợp trứng
non dập vỡ, xoang bụng tích nước vàng lợn cợn
Xuất huyết màng treo ruột, màng bao dạ dày tuyến, dạ dày cơ, màng xương
lồng ngực có thể coi là đặc điểm riêng của bệnh cúm gia cầm (Lê Văn Năm,
2004) [28]
1.6.3 Bệnh tích vi thể
Các biến đổi đặc trưng về tổ chức học bao gồm: Phù nề, xung huyết,
xuất huyết và thâm nhập bạch cầu đơn nhân ở cơ vân, cơ tim, lách, phổi, mào,
tích, gan, thận, mắt và thần kinh Ngoài tế bào bạch cầu đơn nhân còn có tế
bào đặc trưng cho phản ứng viêm hoại tử (Lê Văn Năm, 2004) [27]
Trang 341.7 CHẨN ĐOÁN BỆNH
Để chẩn đoán bệnh do nhiễm virus cúm gia cầm typ A phải phân lập,
định danh được virus thông qua các xét nghiệm phi lâm sàng kết hợp chẩn
đoán lâm sàng (triệu chứng, bệnh tích, dịch tễ)
* Phân lập virus
Bệnh phẩm có thể là dịch ngoáy hầu họng, dịch ổ nhớp hoặc các tổ
chức phổi, khí quản, não, gan, lách, tim Mẫu sau khi lấy được bảo quản trong
dung dịch PBS ở 40C và phải phân lập trong vòng 48 giờ, nếu muốn bảo quản
dài hơn phải giữ ở - 700
C
Theo Bùi Quang Anh và cs (2004) [1], phương pháp phân lập virus
thường sử dụng là tiêm truyền qua phôi trứng 9 - 11 ngày hoặc môi trường tế
bào dòng thận chó MDCK
Tiêm 0,1- 0,2 ml mẫuvào túi niệu của phôi gà 9-11 ngày tuổi Phôi
được ấp ở nhiệt độ 370
C trong 2-3 ngày Một số ít chủng virus có độc lực cao
có thể gây chết phôi khoảng 18- 24 giờ, nước trứng thu hoạch được để ở nhiệt
độ 40C qua một đêm Virus nhân lên trong nước trứng có hiện tượng gây
ngưng kết hồng cầu gà Nếu không có hiện tượng gây ngưng kết hồng cầu gà
thì có thể lấy nước trứng thu được tiêm lần sau cho phôi gà Mẫu nước trứng
lấy ra từ phôi gà được kiểm tra bằng phản ứng HA để xác định virus
Để giám định virus phân lập được, dùng phản ứng HI với kháng huyết
thanh chuẩn của các phân typ virus cúm gia cầm
Để phát hiện virus cúm typ A, có thể dùng phản ứng miễn dịch khuếch
tán với các kháng huyết thanh dương tính đặc hiệu với virus cô đặc để phát
hiện một hoặc nhiều typ kháng nguyên có các protein vỏ hoặc nhân
Cô đặc virus được tiến hành bằng ly tâm với tốc độ cao, cho thêm dung
dịch axit hydrochloric 1M vào dung dịch niệu mô đến khi pH xấp xỉ 4 để kết
tủa virus Làm lạnh dung dịch ở 00C trong 1 giờ, tiếp đó ly tâm nhẹ để dung
Trang 35dịch được làm trong và loại bỏ phần dịch váng ở trên bề mặt Virus đã cô đặc
được làm treo trong dung dịch đệm bằng muối Sodium lauryl sarcosinate với
pH = 9 và glyxerin 0,5M
* Định danh virus
Để định danh virus phân lập được có thể dùng phản ứng HI, NI hoặc
dùng phản ứng RT - PCR với các cặp mồi chuẩn để xác định kháng nguyên H
và N
Để xác định kháng thể kháng virus cúm trong huyết thanh, có thể dùng
phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI, ELISA, phản ứng khuyếch tán
trong thạch (AGP)
1.8 KIỂM SOÁT BỆNH
Bệnh cúm gia cầm cũng như các bệnh truyền nhiễm nói chung, quá
trình sinh dịch có 3 khâu quan trọng là nguồn bệnh, yếu tố truyền lây, động
vật cảm nhiễm và có sự liên hệ giữa 3 khâu Nếu thiếu 1 trong 3 khâu, đặc
biệt là khâu thứ nhất thì bệnh không thể xảy ra Nếu có đủ 3 khâu nhưng
không có sự liên hệ giữa 2 trong 3 khâu thì bệnh cũng không thể xảy ra Để
kiểm soát, khống chế bệnh cúm gia cầm có hiệu quả, cần tác động vào cả 3
khâu của quá trình sinh dịch
Đối với nguồn bệnh: Tiêu hủy triệt để gia cầm nhiễm bệnh, thực hiện tốt
công tác vệ sinh khử trùng để tiêu diệt mầm bệnh Tăng cường công tác giám
sát phát hiện bệnh Khi phát hiện thấy gia cầm mang virus phải tiêu hủy ngay
Đối với yếu tố truyền lây: Thực hiện tốt kiểm dịch vận chuyển, kiểm
dịch gia cầm nhập khẩu, không vận chuyển gia cầm từ các nước hoặc các khu
vực có dịch vào địa phương Thực hiện nuôi nhốt, nuôi cách ly, hạn chế người
và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi Không nuôi chung các loại gia cầm
(gà, vịt, ngan) trong cùng chuồng nuôi Ngăn chặn sự xâm nhập và tiếp xúc
của dã cầm với gia cầm Quản lý chặt chẽ việc buôn bán, giết mổ gia cầm,
Trang 36quy hoạch khu vực buôn bán, giết mổ gia cầm riêng Thực hiện tốt công tác
vệ sinh, khử trùng, tiêu độc Tuyên truyền hướng dẫn các biện pháp chăn nuôi
an toàn sinh học, các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm để người chăn
nuôi và nhân dân tự giác, chủ động thực hiện
Đối với động vật cảm thụ: Tích cực tuyên truyền để thay đổi dần tập
quán chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp Quy
hoạch khu vực chăn nuôi gia cầm ra xa khu dân cư Xây dựng chuồng trại
đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, không gây ô nhiễm môi trường Thực hiện tốt quy
trình vệ sinh thú y Chăm sóc nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng tự
nhiên cho gia cầm
Trong điều kiện chăn nuôi gia cầm của Việt Nam hiện nay, để kiểm
soát dịch cúm gia cầm, một biện pháp rất quan trọng là tạo miễn dịch chủ
động bằng cách tiêm vaccine cho đàn gia cầm
Như vậy, để kiểm soát dịch cúm gia cầm có hiệu quả, cần thực hiện
đồng bộ các biện pháp để tác động vào cả 3 khâu của quá trình sinh dịch,
trong đó có biện pháp tiêm vaccine cho đàn gia cầm
1.9 VACCINE PHÒNG BỆNH CÚM GIA CẦM
Để khống chế dịch cúm gia cầm, chúng ta đã áp dụng hàng loạt các
biện pháp như giết hủy đàn gia cầm nhiễm bệnh, thực hiện kiểm dịch vận
chuyển, kiểm soát giết mổ và vệ sinh, khử trùng tiêu độc Tuy nhiên, dịch
cúm gia cầm vẫn liên tiếp xảy ra, trước tình hình đó, ngày 14/7/2005 Bộ Nông
nghiệp & PTNT đã có quyết định số 1715 QĐ/BNN - TY ban hành Quy định
tạm thời về sử dụng vaccine phòng bệnh cúm gia cầm
Phòng hộ chống lại bệnh cúm gia cầm là kết quả của đáp ứng miễn dịch
chống lại protein Haemaglutinin (HA) Hiện nay đã xác định được 16 subtyp
khác nhau từ H - H16 Ở mức độ nào đó chống lại protein Neuraminidae
(NA) đã xác định được 9 subtyp từ N1 - N9 Các đáp ứng miễn dịch kháng lại
Trang 37protein bên trong như Nucleoprotein (NP) và protein Matrix (M) của virus đã
được chứng minh là không đủ để tạo phòng hộ trên thực địa Vì vậy, không có
loại vaccine nào chung cho tất cả các virus cúm gia cầm Trong thực tế, sự
phòng hộ được tạo ra nhờ các subtyp Haemagglutinin có trong vaccine (Tô
Long Thành, 2006) [36]
Cũng theo Nguyễn Tiến Dũng (2008) [14], khi virus nhân lên trong tế
bào ký chủ sẽ có sự sai lệch trong sao chép, dẫn đến thay đổi một hay nhiều
nucleotit, làm thay đổi cấu trúc của mã di truyền và protein HA Sự biến đổi
(đột biến) ở Gen HA quan trọng nhất Để phòng bệnh, người ta phải chế tạo
vaccine Vaccine chống cúm dựa chủ yếu vào kháng nguyên HA Do vậy, hàng
năm nhóm chuyên gia về cúm của WHO thường xuyên phải xem xét và chọn
ra loại virus mới để sản xuất vaccine thay thế cho chủng virus năm trước
* Vaccine được sử dụng đúng sẽ đạt được một số mục đích:
Bảo hộ cho con vật không xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và chết
Giảm bài thải virus cường độc nếu gia cầm bị nhiễm virus đó > 1000 lần so
với gia cầm không được tiêm, ngừng hẳn sự bài thải virus vào ngày 13 -18
sau tiêm
Phòng được sự lây lan virus cường độc do tiếp xúc
Phòng hộ chống lại công cường độc bằng virus thực địa, dù liều gây
nhiễm cao hay thấp
Phòng hộ chống lại virus luôn thay đổi
Tăng sức đề kháng của gà chống lại sự nhiễm virus cúm gia cầm
(Bùi Quang Anh và cs, 2004 [1]; Ilaria Capua và cs, 2004 21; Tô Long
Thành, 2006 36])
* Các loại vaccine phòng bệnh hiện nay:
Vaccine vô hoạt đồng chủng: Ban đầu được sản xuất như các vaccine tự
phát (autogenous), nghĩa là vaccine chứa cùng những virus cúm giống như
Trang 38chủng gây bệnh trên thực địa Loại vaccine này được sử dụng rộng rãi ở
Mehico và Pakistan (Ilaria Capua và cs, 2004 [21; Swayne và cs, 2000 68])
Nhược điểm của vaccine này là không phân biệt gia cầm được tiêm chủng với
gia cầm nhiễm virus thực địa qua kiểm tra kháng thể
Vaccine vô hoạt dị chủng: Vaccine này được sản xuất tương tự như
vaccine vô hoạt đồng chủng Điểm khác biệt là chủng virus sử dụng trong
vaccine có kháng nguyên H giống chủng virus trên thực địa, còn kháng
nguyên N dị chủng Khi nhiễm virus trên thực địa, bảo hộ lâm sàng và giảm
thải trừ virus ra ngoài môi trường được đảm bảo bằng phản ứng miễn dịch sản
sinh bởi kháng nguyên nhóm H đồng chủng, trong khi kháng thể chống N sản
sinh bởi virus thực địa có thể sử dụng như chất đánh dấu sự lây nhiễm trên
thực địa (Ilaria Capua và cs, 2004 [21; Ilaria Capua và cs, 2000 [49])
Đối với vaccine vô hoạt dị chủng, mức độ bảo hộ không tỷ lệ chặt chẽ
với mức độ đồng chủng giữa vaccine và chủng trên thực địa (Swayne và cs,
2000) [68] Đây là một ưu điểm lớn cho phép thành lập ngân hàng vaccine,
bởi vì giống gốc không chứa virus có mặt trên thực địa
Vaccine tái tổ hợp: Một vài loại vaccine tái tổ hợp virus đậu gà chứa
kháng nguyên H5, H7 đã được sử dụng, trong đó virus đậu gà được sử dụng
như một vecter dẫn truyền Ngoài ra người ta cũng đã sử dụng virus viêm
thanh khí quản truyền nhiễm làm vecter dẫn truyền (Luschow, 2001) [63]
Các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Cáp Nhĩ Tân đã sản xuất
thành công vaccine tái tổ hợp phòng chống bệnh cúm gia cầm và Niucatxơn,
vaccine có thể dùng theo đường tiêm, đường miệng, đường mũi hoặc theo
phương pháp khí dung Đến cuối tháng 12/2005 Trung Quốc đã sản xuất được
một tỉ liều (Tô Long Thành, 2006) [36] Sử dụng vaccine tái tổ hợp có vecter
dẫn truyền cho phép phân biệt được con vật nhiễm bệnh tự nhiên và con vật
được tiêm chủng
Trang 39Trước khi sử dụng một loại vaccine mới trên diện rộng, cần đánh giá
tính an toàn ở con vật được dùng vaccine, vấn đề an toàn của môi trường, độ
tinh khiết và hiệu lực của vaccine (Tô Long Thành, 2006) [36]
* Một số loại vaccine phòng bệnh cúm gia cầm và cách sử dụng:
Theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007), các
loài gia cầm trong diện tiêm bao gồm: các loại gà giống thương phẩm, gà thịt,
gà chọi Các loại vịt như vịt giống, vịt đẻ trứng thương phẩm, vịt thịt Các loại
ngan như ngan giống, ngan đẻ trứng thương phẩm và ngan thịt, kể cả ngỗng
Một số loại vaccine đang sử dụng hiện nay là vaccine Trovac- AIVH5,
vaccine chết chủng H5 của Trung Quốc, vaccine H5N1 của Trung Quốc,
vaccine H5N9 của Trung Quốc
Đối với gà và vịt: Gà 1 ngày tuổi sử dụng vaccine Trovac- AIVH5 nhỏ
mắt, mũi Vaccine chết chủng H5N1 của Trung Quốc tiêm cho gà và vịt từ 15
ngày tuổi trở lên Gà tiêm 1 mũi và sau 4 tháng tiêm nhắc lại, gà từ 15 đến 34
ngày tuổi tiêm 0,3 ml vào da cổ, gà từ 35 ngày tuổi trở lên tiêm 0,5 ml vào cơ
ngực Vịt tiêm 2 mũi cách nhau 4 tuần và 4 tháng sau tiêm nhắc lại, vịt 15-34
ngày tuổi tiêm 0,5 ml vào da cổ, vịt 35 ngày tuổi trở lên tiêm 1ml vào cơ
ngực Riêng ngỗng tiêm mũi hai 1,5ml
Đối với ngan: Sử dụng vaccine H5N9 tiêm cho ngan từ 21 ngày tuổi trở
lên, mũi 2 cách mũi 1 sau 4 tuần và 4 tháng sau tiêm nhắc lại
Đối với vaccine TROVAC-ALVH5 ở dạng đông khô, tiêm dưới da 0,2
ml cho gà 1 ngày tuổi nuôi thịt theo phương thức nuôi công nghiệp có tác
dụng tạo miễn dịch phòng bệnh cúm trong 20 tuần và miễn dịch chống bệnh
đậu gà trong 10 tuần kể từ sau khi tiêm (Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông
thôn, 2007) 3
Vaccine được bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ từ 2- 8oC (không để
trong ngăn đá), vận chuyển trong hộp xốp hoặc bình bảo ôn lạnh Trước khi
Trang 40tiêm phải để chai vaccine ra ngoài để đảm bảo nhiệt độ vaccine bằng nhiệt độ
môi trường (khoảng 250C) và lắc kỹ chai vaccine trước khi tiêm
* Khuyến cáo của OIE về việc sử dụng vaccine phòng chống cúm gia cầm:
Theo quan điểm của OIE và FAO, vaccine cần được sử dụng trong một
chiến lược toàn diện phòng chống bệnh cúm gia cầm, bao gồm 5 công đoạn là
an toàn sinh học, nâng cao nhận thức người dân, chẩn đoán và giám sát, loại
bỏ gia cầm nhiễm bệnh và sử dụng vaccine
- Trước khi sử dụng vaccine cần phải lưu ý được chứng minh trên bản
động vật là có đủ khả năng bảo hộ chống lại sự xâm nhập của virus thực địa
Vaccine cần phải được sản xuất theo công nghệ đã tiêu chuẩn hoá để đảm bảo
có một vaccine hiệu quả và phù hợp về chủng virus
- Cần có các hoạch định trước về bảo quản tốt vaccine, phân phối và sử
dụng vaccine
- Đảm bảo được việc giám sát huyết thanh học và virus học để xác định
virus cường độc có lưu hành trong đàn gia cầm được dùng vaccine hay không
- Phải có một kế hoạch loại trừ (exit strategy) để phòng tránh việc sử
dụng vĩnh viễn vaccine
* Ưu điểm của tiêm chủng:
- Giảm đáng kể virus bài xuất trong đàn gia cầm nhiễm bệnh
- Giảm thiểu nhu cầu loại thải những đàn gia cầm khỏe mạnh
- Là phương án thay thế khả thi đối với những đàn gia cầm có giá trị
cao và gia cầm chăn nuôi gia đình, chim cảnh
- Giảm thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm công nghiệp
* Nhược điểm của tiêm chủng:
- Không phù hợp với quy định thương mại quốc tế Tiêm chủng được
chấp nhận như một biện pháp khống chế dịch cúm gà của OIE