Sự phát triển của trứng giun kết hạt thành ấu trùng cảm nhiễm trong phân lợn .... Khả năng sống của ấu trùng giun kết hạt cảm nhiễm trong phân lợn ..... Khả năng sống của ấu trùng giun k
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN QUANG
Thái nguyên - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Bích Ngà
Trang 3đỡ em, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn
- Ban giám hiệu, các phòng ban và Khoa Kỹ Thuật Nông Lâm trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện về thời gian và cơ sở vật chất giúp em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- Với lòng biết ơn chân thành em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: TS Nguyễn Văn Quang đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Bích Ngà
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun kết hạt Oesophagostomum 3
1.1.1.1 Vị trí của giun kết hạt Oesophagostomum trong hệ thống phân loại động vật học 3
1.1.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giun kết hạt lợn 4
1.1.1.4 Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt lợn ở ngoại cảnh 8
1.1.1.5 Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm (L3) ở ngoại cảnh 8
1.1.2 Bệnh giun kết hạt ở lợn (Oesophagotomosis suis ) 10
1.1.2.1.Đặc điểm dịch tễ học bệnh giun kết hạt 10
1.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh của bệnh giun kết hạt lợn 11
1.1.2.3 Triệu chứng và bệnh tích bệnh giun kết hạt lợn 13
1.1.2.4 Chẩn đoán bệnh giun kết hạt lợn 15
1.1.2.5 Phòng, trị bệnh giun kết hạt cho lợn 16
Trang 51.2 Tình hình nghiên cứu bệnh giun kết hạt ở lợn 19
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 24
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 24
2.2 Vật liệu nghiên cứu 24
2.2.1 Mẫu nghiên cứu 24
2.2.2 Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.3.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun kết hạt ở lợn 25
2.3.1.1 Tình hình nhiễm giun kết hạt lợn ở một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 25
2.3.1.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm, sự tồn tại của trứng và ấu trùng giun kết hạt lợn ở ngoại cảnh 25
2.3.2 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh giun kết hạt ở lợn 26
2.3.3 Nghiên cứu phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Quy định một số yếu tố dịch tễ 26
2.4.2 Phương pháp lấy mẫu 27
2.4.3 Phương pháp xét nghiệm mẫu 28
2.4.4 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt 28
2.4.5 Phương pháp xác định loài giun kết hạt ký sinh ở lợn 29
Trang 62.4.6 Phương pháp xác định thời gian phát triển, tồn tại của trứng và ấu
trùng giun kết hạt ở ngoại cảnh 29
2.4.7 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun kết hạt 31
2.4.8 Phương pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ số huyết học của lợn khoẻ và lợn bị bệnh giun kết hạt 31
2.4.9 Phương pháp xác định mối tương quan giữa số lượng giun kết hạt ký sinh với số trứng trong một gam phân 32
2.4.10 Phương pháp xác định bệnh tích đại thể và những biến đổi vi thể ở cơ quan tiêu hoá do giun kết hạt gây ra 32
2.4.11 Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy giun kết hạt 33
2.4.12 Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn 34
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 34
2.5.1 Một số công thức tính tỷ lệ 34
2.5.2 Một số tham số thống kê 34
2.5.3 So sánh mức độ sai khác giữa 2 số trung bình 36
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Nghiên cứu mốt số đặc điểm dịch tễ bệnh giun kết hạt ở lợn 38
3.1.1 Tình hình nhiễm giun kết hạt lợn ở 3 huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 38
3.1.1.1 Thành phần loài giun tròn giống Oesophagostomum ký sinh ở lợn tại 3 huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 38
3.1.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt lợn tại 3 huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 39
3.1.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt theo tuổi lợn 42
3.1.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt theo mùa vụ 45 3.1.1.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt theo phương thức chăn nuôi 47
Trang 73.1.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm, sự tồn tại của trứng và ấu trùng giun kết
hạt lợn ở ngoại cảnh 50
3.1.2.1 Sự ô nhiễm trứng giun kết hạt lợn ở ngoại cảnh 50
3.1.2.2 Sự phát triển của trứng giun kết hạt thành ấu trùng cảm nhiễm trong phân lợn 51
3.1.2.3 Khả năng sống của ấu trùng giun kết hạt cảm nhiễm trong phân lợn 54
3.1.2.4 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun kết hạt ở lớp đất bề mặt có độ ẩm khác nhau 55
3.1.2.5 Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm trong đất có độ ẩm khác nhau 57 3.2 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh giun kết hạt ở lợn 58
3.2.1 Tỷ lệ lợn nhiễm giun kết hạt có biểu hiện lâm sàng của bệnh 58
3.2.2 Một số chỉ số máu của lợn bị bệnh giun kết hạt và lợn khoẻ 60
3.2.3 So sánh công thức bạch cầu của lợn khoẻ và lợn bị bệnh giun kết hạt 62 3.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt giữa lợn tiêu chảy và lợn khoẻ 64 3.2.4 Xác định mối tương quan giữa số lượng giun kết hạt ký sinh ở lợn và số trứng giun kết hạt trong một gam phân 65
3.2.5 Bệnh tích do giun kết hạt gây ra ở lợn 68
3.2.5.1 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá lợn nhiễm giun kết hạt 68
3.2.5.2 Những biến đổi vi thể ở cơ quan tiêu hoá lợn do giun kết hạt gây ra 69
3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn 71
3.3.1 Thử nghiệm thuốc tẩy giun kết hạt cho lợn trên diện hẹp 71
3.3.2 Sử dụng thuốc tẩy giun kết hạt cho lợn trên diện rộng 72
3.3.2 Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn 73
KẾT LUẬN 75
Tµi liÖu tham kh¶o 77
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
O dentatum : Oesophagostomum dentatum
O longicaudum : Oesophagostomum longicaudum
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Các loài giun kết hạt ký sinh ở lợn tại các địa phương nghiên cứu 38
Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt lợn tại các địa phương nghiên cứu 39
Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt theo tuổi lợn 43
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Oesophagostomum sp theo mùa vụ 46
Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt theo phương thức chăn nuôi 48
Bảng 3.6 Sự ô nhiễm trứng giun kết hạt lợn ở ngoại cảnhtrong phân lợn 52
Bảng 3.8 Khả năng sống của ấu trùng giun kết hạt cảm nhiễm trong phân lợn 54
Bảng 3.9 Sự phát triển của trứng giun kết hạt ở lớp đất bề mặt có độ ẩm khác nhau 56
Bảng 3.10 Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm trong đất có độ ẩm khác nhau 57
Bảng 3.11 Tỷ lệ lợn nhiễm giun kết hạt có biểu hiện lâm sàng 59
Bảng 3.12 So sánh số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố của lợn bị bệnh giun kết hạt và lợn khoẻ 60
Bảng 3.13 So sánh công thức bạch cầu của lợn khoẻ và lợn bị bệnh giun kết hạt 62
Bảng 3.14 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt giữa lợn tiêu chảy và lợn khoẻ 65
Bảng 3.15 Mối tương quan giữa số lượng giun kết hạt ký sinh ở lợn và số trứng giun kết hạt trong một gam phân 66
Bảng 3.16 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá lợn nhiễm giun kết hạt 68
Bảng 3.17 Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể trong số tiêu bản nghiên cứu 69
Bảng 3.18 Thử nghiệm thuốc tẩy giun kết hạt cho lợn trên diện hẹp 71
Bảng 3.19 Thử nghiệm thuốc tẩy giun kết hạt cho lợn trên diện rộng 72
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Loài O dentatum 5
Hình 1.2 Loài O longicaudum 5
Hình 1.3 Giun O dentatum 5
Hình 1.4 Trứng giun O dentatum 5
Hình 1.5 Sơ đồ vòng đời giun kết hạt lợn 7
Hình 1.6 Các dạng ấu trùng cảm nhiễm của bộ Strongylida 15
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở lợn tại 3 huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 40
Hình 3.2 Biểu đồ cường độ nhiễm giun kết hạt tại các địa phương 41
Hình 3.3 Đồ thị tỷ lệ nhiễm giun kết hạt lợn theo tuổi 45
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo mùa vụ 47
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo phương thức chăn nuôi 49
Hình 3.6 Biểu đồ so sánh số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố giữa lợn bị bệnh giun kết hạt và lợn khoẻ 61
Hình 3.7 Biểu đồ so sánh công thức bạch cầu giữa lợn khoẻ và lợn bị bệnh giun kết hạt 62
Hình 3.8 Đường biểu diễn tương quan giữa số lượng giun kết hạt ký sinh ở lợn và số trứng giun kết hạt trong một gam phân 67
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, chăn nuôi lợn vẫn chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế của nước ta, là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Chăn nuôi lợn tạo ra sản phẩm có tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt Chăn nuôi lợn kết hợp với trồng trọt, thủy sản tạo nên mô hình VAC mang lại hiệu quả kinh tế cao và có ý nghĩa lớn trong việc cải thiện môi trường sinh thái
Thái Nguyên là tỉnh có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển Trong những năm qua, số lượng đàn lợn của tỉnh không ngừng tăng lên, nhiều trang trại được xây dựng mới, người dân đầu tư cho con lợn và xem đó là nghề ổn định của gia đình mình Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở nhiều địa phương, chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chăn nuôi còn thấp: lợn chậm lớn, còi cọc, tiêu chảy Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đó là bệnh
ký sinh trùng Đây là bệnh khá phổ biến đối với gia súc, gia cầm; bệnh gây ra những thiệt hại đáng kể, làm giảm năng suất chăn nuôi, tạo điều kiện cho các
bệnh khác kế phát Giun kết hạt (Oesophagostomum) là ký sinh trùng gây
bệnh cho nhiều loài động vật khác nhau Giun trưởng thành ký sinh ở xoang ruột, ấu trùng ký sinh ở thành ruột tạo nên những u kén ở ruột gia súc Súc vật khi nhiễm giun kết hạt nặng có thể bị chết Căn bệnh này đã được biết đến từ những năm đầu của thế kỷ XX, nhưng ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu sâu về bệnh do giun kết hạt gây ra ở lợn
Để có thêm những dẫn liệu về bệnh giun kết hạt ký sinh ở lợn, làm cơ sở
đề xuất các biện pháp phòng trị có hiệu quả cho đàn lợn ở Thái Nguyên,
chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng
Trang 12và biện pháp phòng trị bệnh giun kết hạt (Oesophagostomosis) ở lợn tại một
số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên"
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị
bệnh giun tròn Oesophagostomum spp cho lợn
3 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ và bổ sung thêm những thông tin về bệnh giun kết hạt ở lợn, có
cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ của bệnh giun kết hạt ở lợn tại một số địa phương của tỉnh Thái Nguyên, về đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề ra biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả, hạn chế sự nhiễm giun kết hạt từ môi trường ngoại cảnh vào cơ thể lợn, từ đó hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 13
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun kết hạt Oesophagostomum
1.1.1.1 Vị trí của giun kết hạt Oesophagostomum trong hệ thống phân loại động vật học
Oesophagostomum dentatum và Oesophagostomum longicaudum thuộc giống Oesophagostomum, là tác nhân gây ra bệnh giun kết hạt (Oesophagostomatosis) ở lợn
Theo Skrjabin và cs (1963) [44], Phan Thế Việt và cs (1977) [41], giun kết
hạt Oesophagostomum ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Trang 141.1.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giun kết hạt lợn
Đề cập đến hình thái và cấu tạo giun kết hạt, Skrjabin và cs (1963) [44] cho biết :
Loài O dentatum : dài từ 7 – 14 mm, đầu được giới hạn với thân rõ rệt
bởi ngăn bụng sâu Bao miệng dài tới thực quản hình đinh ghim Con đực có túi đuôi, hai gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 – 0,94 mm Con cái âm hộ nằm gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 – 0,265 mm
Loài O longicaudum : con đực dài 8,8 – 9,6 mm, lái dạng cái xẻng
Con cái dài 8 – 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn Hậu môn nằm cách mút đuôi 0,453 – 0,543 mm Âm hộ cách đuôi 0,906 – 0,951 mm
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết : các loài thuộc giống
Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là, túi miệng hình ống rất nhỏ,
quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ ; phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực
có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn
Loài O dentatum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn nhỏ, không có
cánh đầu, có 9 rua ngoài và 18 rua trong Túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản Giun đực dài 8 - 9 mm, rộng 0,14 - 0,37 mm, có túi đuôi, có 2 gai giao hợp bằng nhau dài 1,0 - 1,14 mm Giun cái dài 8 - 11,2 mm, âm đạo dài 0,1 - 0,15 mm, nằm gần hậu môn, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng Trứng hình bầu
dục, dài 0,060 - 0,088 mm, rộng 0,035 - 0,050 mm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [19]: giun O dentatum là loài giun tròn
nhỏ, không có cánh đầu Giun đực có kích thước 7,6 – 8,8 x 0,35 – 0,38mm, có túi đuôi, có hai gai giao hợp dài 0,792 – 1,037 mm Giun cái dài 7,8 – 12,5 x 0,38 – 0,43 mm ; đuôi dài 0,405 – 0,430 mm Âm hộ ở trước hậu môn, cách hậu môn 0,208 – 0,388 mm, dài 0,1 – 1,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng Trứng hình ovan, kích thước 0,056 – 0,071 x 0,032 – 0,045 mm
Trang 15Hình 1.1 Loài O dentatum
(Rudolphi, 1803)
1, 2 Phần đầu cơ thể; 3 Phần đuôi cá
thể cái; 4 Mút và gốc gai giao phối;
5 Cơ quan điều chỉnh; 6 Túi đuôi cá
thể đực; 7 Nón sinh dục
(Nguồn: Phan Thế Việt và cs, 1977) [41]
Hình 1.2 Loài O longicaudum
(Goodey, 1925)
1 Đầu; 2 Đuôi của con cái;
3 Đuôi của con đực; 4 Phần cuối gai giao hợp; 5 Lái; 6 Nón sinh dục của con đực
(Nguồn: Phan Thế Việt và cs, 1977) [41]
1.1.1.3 Vòng đời của giun kết hạt lợn
Hagsten (1999) [43] cho rằng: thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết Do vậy, hiểu
Trang 16được chu kỳ (vòng đời) phát triển của giun sán có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng chống các bệnh giun sán nói chung và bệnh giun kết hạt nói riêng
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12]: toàn bộ quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của đời sống ký sinh trùng, kể từ khi nó là mầm sinh vật đầu tiên, cho đến khi nó lại có khả năng sản sinh ra mầm sinh vật mới, tạo ra một thế hệ mới thì toàn bộ quá trình đó được gọi là chu kỳ
Skrjabin và cs (1963) [44] đã mô tả chi tiết về chu kỳ phát triển của giun kết hạt lợn như sau: trứng bài xuất ra ngoài ở giai đoạn phân chia 8 - 16 phôi bào Người ta đã xác định được rằng, khi nhiệt độ thích hợp (30oC), ở trong trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ ấu trùng đã nở ra khỏi trứng Ấu trùng giai đoạn 1 ra khỏi trứng phát triển trong môi trường bên ngoài, đến ngày thứ tư thì lột xác lần thứ nhất Sau đó 24 giờ ấu trùng lột xác lần thứ 2, tức là tách lớp vỏ và trở thành ấu trùng giai đoạn 2, rồi lột xác lần
thứ hai thành ấu trùng giai đoạn 3 Ấu trùng giai đoạn 3 là ấu trùng cảm
nhiễm, tức là có khả năng gây bệnh đối với ký chủ
Tác giả cũng cho biết, khi gây nhiễm thực nghiệm trên lợn bằng ấu
trùng cảm nhiễm O longicaudum, thấy có sự tạo thành các hạt ký sinh trong
thành ruột sau hai ngày nhiễm bệnh Sau 17 ngày, đa số ấu trùng chui ra khỏi hạt, ký sinh trong ống ruột ở giai đoạn phát triển thứ 4 Sau 35 ngày cảm nhiễm thấy có hiện tượng mất các hạt ký sinh, ở chỗ hạt đó chỉ thấy mô niêm
mạc dày lên Giun O longicaudum đạt đến giai đoạn trưởng thành sau 50
Trang 17trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén, lột xác lần thứ ba, tới ngày 6 – 8 thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột và lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời của
giun O longicaudum là 50 ngày, giun O dentatum là 45 – 60 ngày
Phan Lục (2006) [26] cho biết: ấu trùng O dentatum khi vào ruột lợn
chui sâu vào niêm mạc ruột già và hình thành hạt (u kén), trong có ấu trùng Sau 23 ngày, ấu trùng chui ra khỏi kén, vào xoang ruột và phát triển thành giun trưởng thành sau 1,5 – 2 tháng Tuổi thọ của giun từ 8 – 10 tháng
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20]: giun trưởng thành ký sinh trong ruột già lợn, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trường Trứng gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27oC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng Ấu trùng I sau 24
giờ, ở nhiệt độ 22 - 24oC phát dục thành ấu trùng II, dài 0,44 – 0,64 mm Ấu trùng II phát triển được hai ngày thì thành ấu trùng gây nhiễm III Ấu trùng này lẫn trong thức ăn, nước uống vào cơ thể ký chủ Khi tới ruột, ấu trùng chui sâu vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén và phát triển thành giun trưởng thành ở ruột già
Vòng đời giun kết hạt có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Ký chủ nuốt phải Ruột
Lột xác lần 3
Ấu trùng
kỳ IV Lột xác lần 4
Trang 181.1.1.4 Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt lợn ở ngoại cảnh
Việc nghiên cứu sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt ở ngoại cảnh có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun kết hạt lợn, đồng thời là cơ sở khoa học đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn
Theo Skrjabin và cs (1963) [44]: Ở nhiệt độ thích hợp (30oC), trong trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ nở ra và vào môi
trường bên ngoài Ở nhiệt độ cao 45 - 50o
C trứng bị chết, còn ở nhiệt độ thấp
3oC trứng không phát triển
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết: ở nhiệt độ 5 - 9oC trứng ngừng phát triển, nhiệt độ 35oC trứng bị chết, gặp điều kiện thích hợp trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm sau trên dưới một tuần
Archie (2000) [42] nhận xét: sự phát triển, khả năng sống sót của trứng
và ấu trùng cảm nhiễm ở môi trường trước hết phụ thuộc vào khí hậu Gặp nhiệt độ và ẩm độ thích hợp, sau 5 - 6 ngày trứng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm Khi nhiệt độ thấp trứng giun nở và phát triển chậm hơn
Thí nghiệm ủ xilô phân lợn có nhiễm trứng giun đũa, trứng giun kết hạt
và ấu trùng cảm nhiễm L3 của giun kết hạt; kiểm tra sau 7, 14, 28, 56 ngày ủ, kết quả cho thấy: trứng giun đũa không bị tiêu diệt, mặc dù khả năng sống suy giảm; trứng giun kết hạt và ấu trùng cảm nhiễm L3 bị phá huỷ trong 7 - 14 ngày đầu của quá trình ủ xilô (Caballero-Hernádez A.I và cs , 2004 [45])
Theo Phan Địch Lân và cs (2002) [21], Phan Lục (2006) [26], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20]: trứng giun kết hạt theo phân ra ngoài môi trường, gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27o
C, sau 10 – 17 giờ nở thành ấu trùng
1.1.1.5 Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm (L 3 ) ở ngoại cảnh
Theo Oparin P.G (1958): ấu trùng gây nhiễm của giun kết hạt có thể duy trì khả năng sống ở môi trường bên ngoài 13 tháng (dẫn theo Phan Địch Lân và cs, 2002 [21])
Trang 19Skrjabin (1963) [44] cho biết: ấu trùng cảm nhiễm Oesophagostomum
sống lâu hơn ở môi trường ẩm thấp, súc vật nhiễm bệnh này chủ yếu trên đồng cỏ ẩm ướt và khi uống nước ở những ao, đầm nhỏ cũng như máng nước lâu ngày không cọ rửa Những ấu trùng cảm nhiễm có sức đề kháng với nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp, với sự làm khô và với tác động của các nhân tố hoá học tốt hơn so với ấu trùng của các giai đoạn trước Ngoài ra, ấu trùng cảm nhiễm
có khả năng di chuyển theo hướng thẳng đứng hay nằm ngang
Nghiên cứu về ấu trùng cảm nhiễm của giun kết hạt, người ta thấy sức
đề kháng của nó với nhiệt độ khá cao: ở -15o
C, 93% ấu trùng cảm nhiễm sau 24 giờ có khả năng hoạt động trở lại khi đưa về nhiệt độ môi trường xung quanh Các ấu trùng này cũng có thể sống sót trong môi trường axit được tổng hợp nhân tạo tương tự như môi trường axit trong dạ dày (Pit D.S.S và cs 2000 [48])
Stromberg B.E (1997) [51] cho biết: nhiệt độ quá cao sẽ tác động bất lợi đến sự phát triển cuả ấu trùng và ấu trùng có thể bị chết Mưa có ảnh hưởng quan trọng đến sự phân tán của ấu trùng, làm ấu trùng cảm nhiễm di chuyển
xa 90 cm so với vị trí ban đầu và di chuyển vào trong đất ở độ sâu 15 cm Có
lẽ khả năng này giúp ấu trùng sống sót được trong những điều kiện bất lợi và tránh được sức nóng mặt trời
Archie (2000) [42] nhận xét: ấu trùng trên đồng cỏ chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu Điều kiện tối ưu cho ấu trùng cảm nhiễm phát triển là ẩm độ tương đối cao và nhiệt độ môi trường trong khoảng 18 - 26oC Điều kiện khô
và nóng diệt ấu trùng, điều kiện lạnh làm chậm lại quá trình nở của trứng và
sự phát triển của ấu trùng
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20] cho biết: Ấu trùng có sức đề kháng tốt với nhiệt độ thấp, để ở - 19oC đến - 29oC qua 10 ngày ấu trùng vẫn sống; để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống một năm
Trang 201.1.2 Bệnh giun kết hạt ở lợn (Oesophagotomosis suis )
1.1.2.1.Đặc điểm dịch tễ học bệnh giun kết hạt
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [33], Phan Thế Việt (1977) [41], Bùi Lập (1979) [22], Phạm Văn Khuê (1982) [9], Nguyễn Đăng Khải (1996) [7], Vũ
Tứ Mỹ (1999) [29], Phan Lục (2006) [26], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20]: Bệnh giun kết hạt là một trong các bệnh giun tròn phổ biến gây hại cho lợn, phân bố rộng trên toàn thế giới Ở Việt Nam, bệnh có ở tất cả các vùng sinh thái từ Bắc đến Nam
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo tuổi lợn như sau:
Phan Lục và cs (2000) [25] nhận xét: lợn nuôi thả rông nhiễm hầu hết các loại ký sinh trùng Đối với lợn nuôi nhốt, gần như rất ít nhiễm những ký
sinh trùng có vật chủ trung gian Loài giun Oesophagostomum sp có thể hoàn
thành vòng đời ngay trong chuồng đối với lợn nuôi nhốt, nhưng khả năng này phụ thuộc trực tiếp vào mức độ vệ sinh sạch sẽ của chuồng trại
Tác giả cho biết, giun tròn Oesophagostomum sp có nhiều ở lợn trưởng
Trang 21Qua nghiên cứu các tác giả cho biết, lợn bị nhiễm giun sán khi được nuôi
ở cả ba tình trạng vệ sinh thú y tốt, trung bình và kém Tuy nhiên, tỷ lệ và cường độ nhiễm tăng lên rõ rệt trong tình trạng vệ sinh thú y kém Vệ sinh thú
y kém là điều kiện thuận lợi để ký sinh trùng và vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hoá nhiễm vào cơ thể lợn, gây tiêu chảy (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs,
2009 [16])
1.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh của bệnh giun kết hạt lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], tác động của ký sinh trùng lên cơ thể ký chủ có nhiều mặt:
- Tác động cơ giới: hầu hết các ký sinh trùng đều gây lên những biến
loạn cơ giới, ngăn trở ít hay nhiều khí quan mà nó xâm nhập; hoặc làm tắc, hoặc chèn ép và phá hoại các tổ chức, hoặc làm thủng, làm rách hoặc do khí quan bám hút của ký sinh trùng mà làm tróc niêm mạc, xuất huyết Thường thấy gây viêm cấp tính, thứ cấp tính, mạn tính Viêm dẫn tới sản sinh một cái
vỏ bằng tổ chức liên kết bọc lấy ký sinh trùng; cái vỏ và ký sinh trùng bọc bên trong chết đi biến thành một cái hạt, thành vữa rồi thành vôi
- Tác động chiếm đoạt: ký sinh trùng tự nuôi dưỡng bằng ăn tổ chức
của ký chủ, cướp một phần thức ăn của ký chủ đã tiêu hoá, hút máu ký chủ Tác động này tiếp diễn liên tục bởi rất nhiều ký sinh trùng, gây nên tổn hại rất lớn cho ký chủ (thiếu máu, gầy rộc…)
- Tác động đầu độc: ký sinh trùng bài tiết các chất độc hàng ngày, ký
chủ hấp thụ chất độc, sinh ra những biến loạn khác nhau, nhưng thường thấy nhất là biến loạn thần kinh và tuần hoàn Nói chung, chất độc do ấu trùng bài tiết mạnh hơn so với chất độc của ký sinh trùng trưởng thành
- Tác động truyền bệnh: giun sán bám vào các niêm mạc, gây thương
tích, phá vỡ phòng tuyến thượng bì, mở đường cho các vi khuẩn trong môi
Trang 22trường xâm nhập cơ thể, vi khuẩn gây bệnh khác ghép với bệnh ký sinh trùng
Ký sinh trùng và vi khuẩn thường kết hợp làm tổn hại thêm cho ký chủ
Skrjabin và cs (1963) [44] đã mô tả chi tiết cơ chế sinh bệnh của giun kết hạt như sau:
Bệnh lý do Oesophagostomum phụ thuộc trực tiếp vào giai đoạn phát triển của ký sinh vật Ở giai đoạn ấu trùng, Oesophagostomum là nguyên nhân
gây “bệnh hạt ruột”, còn giai đoạn trưởng thành, chúng gây ra bệnh giun kết
hạt (Oesophagostomatosis) đường ruột Nếu như gia súc tái nhiễm bệnh này
thì ở gia súc đó cùng một lúc thấy có cả giai đoạn hạt và giai đoạn giun trưởng thành ở ruột
Giai đoạn hạt được coi là giai đoạn bệnh nguy hiểm hơn cả Sau khi ấu trùng được nuốt cùng với thức ăn và nước uống vào ruột, chúng nhanh chóng chui sâu vào niêm mạc, tới hạ niêm mạc Ở chỗ ấu trùng chui vào tạo thành những hạt mà mắt thường có thể nhìn thấy được Niêm mạc ở chỗ này sưng, sung huyết, trên mặt có những hạt nhỏ, chính giữa có nhân màu vàng Trong các hạt, ấu trùng hoặc ở trạng thái tự do (chui vào chưa được bao lâu), hoặc trong những kén (già hơn); những hạt này có thể ăn sâu vào lớp cơ của ruột Qua thời gian nhất định, ấu trùng từ hạt chui vào ruột Sau khi ấu trùng chui
ra khỏi hạt, ở chỗ chúng cư trú tạo thành những chấm sẹo
Trong thời gian phát triển hạt, ở thành ruột xuất hiện triệu chứng bệnh (cơn đau do loét) Cùng với sự thối rữa các hạt (vào ngày thứ 7 sau khi cảm nhiễm), ấu trùng chui ra khỏi hạt để vào ruột, lợn bị đau ở vùng bụng, gầy còm, bỏ ăn, ỉa chảy Nếu có số lượng lớn ấu trùng ra khỏi kén thì đôi khi lợn
tự khỏi bệnh Trường hợp ngược lại, bệnh chuyển sang thể mạn tính Một số hạt có thể bị vỡ ra từ phía tương mạc ruột, trong những trường hợp này bệnh trở nên phức tạp hơn do viêm xơ hoá, hay có mủ ở màng bụng, có thể làm lợn
bị chết
Trang 23Sức gây bệnh của giun trưởng thành sống trong ruột ít hơn Chúng có khả năng gây viêm cata, niêm mạc ruột phủ kín chất nhầy đặc, bên trong là
giun Oesophagostomum Ở vật mắc bệnh do Oesophagostomum trưởng thành
thấy có hiện tượng ỉa chảy xen lẫn từng thời gian
1.1.2.3 Triệu chứng và bệnh tích bệnh giun kết hạt lợn
* Triệu chứng bệnh giun kết hạt
Skrjabin và cs (1963) [44] cho biết: Oesophagostomosis tiến triển ở thể
cấp tính và mạn tính Theo dẫn liệu của Oparin, thể thứ cấp có liên quan tới
sự xâm nhập của hàng loạt ấu trùng vào thành ruột, và sau đó lại quay về ruột Thể mạn tính có liên quan tới sự ký sinh của giun trưởng thành Tuy nhiên,
thường Oesophagostomosis xuất hiện ở thể ghép vì có cả ấu trùng và giun
trưởng thành ký sinh trong cơ thể súc vật
Bệnh lý do Oesophagostomum phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của giun Ở giai đoạn ấu trùng, Oesophagostomum là nguyên nhân gây “bệnh hạt ruột”, còn giai đoạn trưởng thành chúng gây Oesophagostomosis đường ruột
Giai đoạn hạt được coi là giai đoạn nguy hiểm hơn cả Ấu trùng chui vào ruột tạo thành những hạt mà mắt thường có thể nhìn thấy được Trong thời gian phát triển hạt, con vật đau bụng, gầy còm, bỏ ăn, ỉa chảy Giai đoạn trưởng thành sức gây bệnh ít hơn, ruột viêm cata, phủ chất nhày đặc và giun kết hạt Con vật thỉnh thoảng bị ỉa chảy (Soulsby E.J.L và cs, 1982 [50]; Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982 [36]; Urquhart G.M và cs, 1996 [52])
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], Phan Lục (2006) [26], Chu Thị Thơm và cs (2006) [37], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20], lợn bị bệnh giun kết hạt thể hiện hai giai đoạn:
- Giai đoạn ấu trùng chui vào niêm mạc ruột gây triệu chứng cấp tính: ỉa chảy, phân có chất nhầy, đôi khi có máu tươi, có một số ít con nhiệt độ tăng
Trang 24cao, bỏ ăn, gầy còm, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy kéo dài làm con vật gầy dần rồi chết
- Giai đoạn giun trưởng thành gây triệu chứng mạn tính, có từng thời kỳ con vật kiết lị, chậm lớn, gầy còm Các triệu chứng khác không rõ lắm
* Bệnh tích
Skrjabin và cs (1963) [44] đã gây nhiễm thực nghiệm cho lợn ấu trùng
cảm nhiễm O longicaudum, thấy có sự tạo thành các hạt ký sinh trong thành
ruột sau 2 ngày nhiễm bệnh Sau 17 ngày, đa số ấu trùng chui ra khỏi hạt và vào ruột ở giai đoạn phát triển thứ tư Sau 35 ngày cảm nhiễm, thấy có hiện
tượng mất các hạt, ở chỗ hạt chỉ thấy mô niêm mạc ruột dày lên Giun O
longicaudum đạt đến giai đoạn trưởng thành sau 50 ngày cảm nhiễm
Miaxnikova (1946) khi nghiên cứu gây nhiễm thực nghiệm cho lợn con
bằng ấu trùng O dentatum đã cho biết, sự tạo thành các hạt ký sinh trong
thành ruột xảy ra vào hai ngày sau khi cảm nhiễm Đến ngày thứ 20, những ấu trùng này ra khỏi hạt và vào ruột, ở đây chúng phát triển thành giun trưởng thành vào ngày thứ 43 (dẫn theo Skrjabin và cs, 1963 [44])
Theo Phan Lục (2006) [26], Chu Thị Thơm và cs (2006) [37]: ở ruột có những u kén nhỏ bằng đầu đinh ghim hay hạt đậu, có điểm màu vàng, bên trong có ấu trùng giun Kết tràng thường bị viêm và đôi khi thấy vài nghìn u kén ở ruột Có khi u kén bị hoại tử, bên trong có mủ Có những u kén đã thành chấm sẹo Niêm mạc ruột già sung huyết, xuất huyết, trong xoang ruột
có nhiều giun kết hạt trưởng thành
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20] cho biết: sau khi nhiễm giun 5 ngày, ở niêm mạc ruột già lợn thấy những u kén nhỏ Ở giữa kén này có điểm màu vàng, bên trong có ấu trùng giun Tới ngày thứ 7 – 8 thì kết tràng bị viêm có
mủ Có khi có tới vài nghìn u kén ở trong một đoạn ruột, u kén to bằng hạt đậu, có khi chỉ dài 0,1 cm
Trang 251.1.2.4 Chẩn đoán bệnh giun kết hạt lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12]: chẩn đoán bằng phương pháp xét nghiệm phân kiểm tra trứng giun kết hạt Tuy nhiên,
phương pháp này ít ý nghĩa vì trứng giun Oesophagostomum giống trứng các
loài giun xoăn dạ dày, ruột nên rất khó phân biệt Vì vậy, phải nuôi trứng nở thành ấu trùng cảm nhiễm, sau đó phân ly ấu trùng theo phương pháp Baerman và kiểm tra hình thái, cấu tạo của ấu trùng cảm nhiễm dưới kính hiển vi để định loài Có thể phân biệt một số ấu trùng cảm nhiễm thuộc bộ
Strongylida như sau:
+ Ấu trùng giun tròn Dictyocalus: mút
đuôi hình nón, ruột chứa đầy các hạt
màu sáng
+ Ấu trùng giun tròn Haemonchus: mút
đuôi không có gai, thực quản dài khoảng
1/5 chiều dài cơ thể
+ Ấu trùng giun tròn Trichostrongylus:
mút đuôi có gai, thực quản dài khoảng
1/4 chiều dài cơ thể
+ Ấu trùng giun tròn Osophagostomum:
có 20 - 32 tế bào ruột, mút đuôi vút dài
+ Ấu trùng giun tròn Bunostomum: ruột
là một ống dài không phân chia thành
những tế bào riêng biệt
(Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008) [15]
Hình 1.6 Các dạng ấu trùng cảm
nhiễm của bộ Strongylida
1 Haemonchus contortus; 2 Cooperia;
Trang 26Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [2] cho biết: lợn rất mẫn cảm với bệnh
ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau bèo khi đã rửa sạch sẽ và định kỳ tẩy giun sán bằng các thuốc đặc hiệu Thức ăn, nước uống phải luôn luôn sạch
Biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh giun sán ở gia súc là biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển của giun sán, ở môi trường cũng như trong cơ thể vật chủ (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [23]
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], biện pháp phòng bệnh tổng hợp đối với các bệnh giun tròn nói chung ở lợn gồm:
- Diệt căn bệnh trong cơ thể lợn: định kỳ tẩy giun cho lợn Mỗi năm
tẩy mấy lần là tuỳ điều kiện của từng vùng và từng loại lợn
- Diệt căn bệnh bên ngoài: trứng giun khuếch tán ra bên ngoài là
nguyên nhân chủ yếu làm căn bệnh lan tràn, cần thực hiện các biện pháp sau:
+ Có thể diệt trứng giun bằng cách ủ phân hoặc các biện pháp lý hoá Các loại thuốc hoá học diệt trứng giun có hiệu quả như: Creolin, axit cacbonic kiềm tính
+ Thường xuyên quét dọn phân và rơm rác ở chuồng lợn, thay ổ cho lợn, máng ăn, dụng cụ chăn nuôi cần định kỳ sát trùng Đối với sân chơi có thể hót lớp đất bề mặt rồii phủ một lớp đất mới và rắc vôi bột ở trên Ngoài ra, cần chú ý vệ sinh thức ăn, nước uống
Trang 27Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết: phòng bệnh ký sinh trùng có nhiều biện pháp, nhưng đều nhằm mục đích không cho mầm bệnh ký sinh trùng phát triển và thực hiện tốt các giai đoạn trong vòng đời của nó, để
nó không thể tạo ra ký sinh trùng trưởng thành mới được Các phương pháp tấn công ký sinh trùng ở từng giai đoạn như sau:
- Chống giai đoạn thứ nhất: ký sinh trùng trưởng thành đẻ trứng ở ký
chủ cuối cùng Có thể tiêu diệt nó bằng hai phương pháp: dùng thuốc đặc hiệu diệt ký sinh trùng (việc tẩy ký sinh trùng này có tính chất dự phòng, tức là thực hiện trước khi súc vật phát ra triệu chứng bệnh và trước khi súc vật reo rắc mầm bệnh ra bên ngoài môi trường), tiêu diệt ký sinh trùng bằng cách giết tất cả những vật mắc bệnh (phương pháp này triệt để nhưng tốn kém mặc dù thịt súc vật vẫn sử dụng được)
- Chống giai đoạn thứ hai: trứng Có thể dùng hai phương pháp: tiêu
diệt hầu hết trứng bằng cách thu nhặt hết phân của gia súc ốm trong chuồng
và đem chôn (biện pháp này phải làm đi làm lại nhiều lần để trứng không có thời gian phát triển thành phôi thai) hoặc có thể ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học
- Chống giai đoạn thứ ba và thứ tư: diệt phôi thai và ấu trùng tự do
ngoài thiên nhiên bằng hai cách: diệt toàn bộ phôi thai và ấu trùng ngoài đồng
cỏ và ao tù bằng vôi bột, sunfat sắt, sunfat đồng với lượng dùng 400 kg cho 1
ha đồng cỏ, 5 kg cho 100 m3 nước ao Không cho phôi thai hay ấu trùng xâm nhập vào cơ thể ký chủ (cách ly súc vật ốm, tiêu độc dụng cụ và chuồng nuôi,
vệ sinh thức ăn, nước uống, diệt ký chủ trung gian)
Theo tác giả, cần thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp để phòng bệnh giun kết hạt như: định kỳ tẩy trừ giun, phân gia súc phải ủ để diệt trùng, giữ vệ sinh thức ăn, nước uống Nếu cơ sở chăn nuôi có bệnh thì cần cho gia
súc uống thuốc phòng bệnh Uống liên tục liều nhỏ Phenothiazin có thể hạn
chế giun kết hạt đẻ trứng
Trang 28Phan Lục (2006) [26], Chu Thị Thơm và cs (2006) [37] cho biết: để phòng bệnh giun kết hạt phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi Phân, rác ủ đúng kỹ thuật để diệt trứng giun Định kỳ tẩy giun Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng để gia súc có sức đề kháng cao với bệnh tật
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20], để phòng bệnh giun kết hạt cho lợn, cần áp dụng các biện pháp như: tẩy giun định kỳ 3 – 4 lần/năm cho đàn lợn bằng một trong các thuốc Levamisole, Ivermectin, Phenothiazin; giữ vệ sinh chuồng trại và môi trường; ủ phân diệt trứng giun
- Phải ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, đưa ngay con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi cho súc vật vào lại
- Phải làm cho súc vật ốm hồi sức: cho ăn nhiều, đủ dinh dưỡng, vitamin và muối Có khi dùng thuốc bổ thuốc kích thích, tiếp máu Giữ vệ sinh tốt, chữa các triệu chứng
Có nhiều loại thuốc có tác dụng phòng trị giun tròn đường tiêu hoá Thuốc có tác dụng làm cho giun bị tê liệt, làm tăng co bóp ruột, làm ngưng sự phát triển của trứng và ấu trùng, ức chế phong toả quá trình trao đổi chất và tạo ATP, từ đó làm cho ký sinh trùng bị tê liệt, cộng với tác động kích thích nhu động ruột của thuốc, từ đó đẩy giun ra ngoài Phạm Đức Chương và cs (2003) [1] cho biết, các thuốc thường được dùng để điều trị bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá là:
Trang 29Levamisole: là thuốc chống giun tròn phổ tác dụng rộng, trên nhiều loài vật chủ Ưu điểm của thuốc là có tác dụng tốt để điều trị các bệnh giun tròn đường tiêu hoá, nó có thể ở dạng viên, cho uống hay bổ sung vào thức ăn Thuốc có tác dụng đối với cả ấu trùng và giun trưởng thành Hiệu lực tẩy giun kết hạt là 72 - 99%
Ivermectin: tác dụng trên phổ rộng đối với nhiều loại giun tròn Ưu điểm của Ivermectin là tẩy được cả nội ngoại ký sinh trùng Tiêm dưới da liều 0,3 mg/kg TT cho lợn có tác dụng làm giảm 94 – 100% các giai đoạn chưa trưởng thành của giun kết hạt
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [27]: Mebendazol là thuốc chủ yếu tẩy giun tròn Thuốc có tác dụng rộng, diệt cả ấu trùng và giun trưởng thành thông qua sự ức chế, sự hấp thu Glucoza, Glucozen, giảm ATP và gây liệt các
hệ cơ của ký sinh trùng Liều dùng cho lợn là 2 gam/10 kg TT
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20] cho biết, có thể điều trị bệnh giun kết hạt lợn bằng một trong các loại hoá dược đặc hiệu sau:
Levamisole: dùng liều 12 – 15 mg/kg TT, cho uống hoặc tiêm
Phenothiazin: dùng liều 0,2 – 0,3 g/kg TT, cho uống 2 lần vào hai buổi sáng Ivermectin: dùng liều 0,2 mg/kg TT, tiêm thuốc cho lợn 2 lần với liều trên, cách nhau 1 ngày
1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh giun kết hạt ở lợn
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Trịnh Văn Thịnh (1978) [35], lợn nhiễm các loài giun tròn nặng nhất
là từ 2 - 4 tháng tuổi, trên một tỷ lệ nhiễm chung là 49 – 65,9% Qua mổ
khám cho thấy, các loại giun sán chính ở lợn là Ascaris suum,
Metastrongylus, O dentatum, Trichocephalus suis
Bùi Lập (1979) [22] cho biết, lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm 7 loài giun sán
trong đó có giun kết hạt Các loài nhiễm tăng theo tuổi lợn là: Fasciolopsis
buski, Stephanurus dentatus và O dentatum
Trang 30Lương Văn Huấn (1994) [5] nghiên cứu mức độ nhiễm giun sán ở 3 khu vực miền Trung, Đông và đồng bằng Sông Cửu Long cho biết tỷ lệ nhiễm giun
O dentatum ở 3 vùng tương ứng là: 32,1%; 34,9% và 28,6%
Đăng Khải (1996) [7] đã mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hoá của 900 lợn ở 6 tỉnh, thành thuộc miền Tây Nam Bộ và miền Đông Nam Bộ, kết quả
cho thấy tỷ lệ nhiễm các loài giun sán ở lợn khá cao: Ascaris suum 31,04%;
O dentatum 23,88% và Trichocephalus suis 10,99%
Nghiên cứu hiệu lực của các thuốc tẩy giun tròn trên lợn, Phan Lục và cs (2000) [25] đánh giá: thuốc Levamisole, Pyrantel, Dichlorvos, Febendazole, Ivermectin có hiệu quả rất mạnh (++++) đối với giun kết hạt; thuốc Piperazine có hiệu quả một phần (+) và thuốc Thiabendazole không có hiệu quả trong điều trị bệnh giun kết hạt lợn (-)
Phạm Đức Chương và cs (2003) [1] cho biết: thuốc Thiophanate dùng liều một lần 50 – 100 mg/kg TT có tác dụng khá tốt với các giai đoạn trưởng thành và ấu trùng giun kết hạt, giun tóc, giun dạ dày và giun lươn ký sinh ở lợn Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [14] về tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên như sau: lợn trạng thái phân bình thường có 68/326 lợn nhiễm giun kết hạt với tỷ lệ là 20,86%; trong đó ở mức nhẹ có 55/68 lợn nhiễm, chiếm tỷ lệ 80,88%; ở mức trung bình 13/68 lợn nhiễm, chiếm tỷ lệ 19,12%; không có lợn nào nhiễm ở mức nặng Ở lợn bị tiêu chảy có 83/348 lợn nhiễm với tỷ lệ là 23,85%; trong đó ở mức nhẹ có 52/83 lợn nhiễm, chiếm
tỷ lệ 62,65%; ở mức trung bình 31/83 lợn nhiễm, chiếm tỷ lệ 37,35%; không
có lợn nào nhiễm ở mức nặng Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả nhận xét: tuy không có lợn tiêu chảy nào nhiễm giun kết hạt nặng nhưng mức độ nhiễm trung bình cao hơn rõ rệt so với lợn phân bình thường
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [19]: lợn con có tỷ lệ nhiễm giun kết hạt thấp, ngược lại sau khi ấu trùng nhiễm vào lợn lớn thì gây ra bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén
Trang 31Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2010) [38] cho biết: tỷ lệ lợn nhiễm giun kết hạt ở Cần Thơ là 53,33% với cường độ nhiễm nhẹ và trung bình Thuốc Albendazole với liều 5 mg/kg TT và thuốc Ivermectin 0,3 mg/kg TT cho hiệu quả tẩy giun kết hạt lợn là 100% sau một lần tẩy duy nhất
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vấn đề điều trị bệnh giun kết hạt đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ lâu Klexov và Kulikov (1931) cho rằng, phương pháp có hiệu lực để trị bệnh giun kết hạt tốt hơn cả là dùng dung dịch iot pha loãng (0,8 – 1 g iot trong 1000 ml nước) Miaxnikova (1937) đã chứng minh hiệu
quả thụt 0,5% Focmalin với liều 2000 ml cho lợn nặng 124 – 140 kg Chữa bằng Focmalin nên tiến hành ở chỗ nhốt đặc biệt, nền chuồng nghiêng 30 -
400, để đầu lợn thấp hơn phần sau thân Như vậy, thuốc ngấm nhiều nhất trong ruột già, tức là ngấm nhiều ở chỗ giun ký sinh Chebotarev và cs (1945),
Serbovit (1948) và Noxik (1949) đã chứng minh, Phenothiazin có hiệu lực cao trong việc dùng chữa Oesophagostomosis cho lợn Nên dùng
Phenothiazin với liều 0,1 – 0,3 g/1kg TT Noxik khuyên, nên cho Phenothiazin riêng từng con với một ít thức ăn, liều 0,1 g/1 kg TT, hai lần và
cách nhau một ngày (dẫn theo Skrjabin và cs, 1963) [44]
Skrjabin và cs (1963) [44] cho biết: khi gây nhiễm thực nghiệm trên
lợn bằng ấu trùng cảm nhiễm O longicaudum, thấy có sự tạo thành các hạt ký
sinh trong thành ruột sau 2 ngày nhiễm bệnh Sau 17 ngày, đa số ấu trùng chui
ra khỏi hạt, ký sinh trong ống ruột ở giai đoạn phát triển thứ 4 Sau 35 ngày cảm nhiễm thấy có hiện tượng mất các hạt ký sinh, ở chỗ hạt đó chỉ thấy mô
niêm mạc dày lên Giun O.longycaudum đạt đến giai đoạn trưởng thành sau
50 ngày cảm nhiễm
Kyobekga (1979) đã dùng Piperazin cho 86 lợn con ở 2 tuần tuổi, trộn với thức ăn liều 26 mg/kg TT bằng cách chia nhóm mỗi ngày Trong lô đối
Trang 32chứng, tác giả đã dùng 103 lợn có độ tuổi và khối lượng tương đương ở các điều kiện chăm sóc tương tự Kiểm tra giun sán trong phân của lợn con 2,5 –
3 tháng tuổi và những con non ở trên sân chơi mà đất bị nhiễm trứng giun kết hạt, giun đũa, giun tóc và các loại giun khác Tác giả nhận định, hiệu lực phòng bệnh của thuốc Piperazin đối với giun kết hạt là 30%, giun đũa 67,2%, giun tóc 16,4% Mức độ an toàn của những lợn con ở nhóm thí nghiệm 4 tháng tuổi là 74,7% (dẫn theo Skrjabin và cs, 1963) [44]
Tác giả Hagsten (2000) [43] cho rằng: thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng cũng là cần thiết Điều này phụ thuộc trước hết vào sự ô nhiễm ở nơi đó Mức độ ô nhiễm
có thể chia ra theo các loại cao, trung bình, thấp và rất thấp
+ Mức độ ô nhiễm cao là những nơi lợn sống rất bẩn hoặc trên các bãi chăn Trong điều kiện như vậy, lợn nái và lợn hậu bị cần được tẩy giun sán vào giữa thời kỳ mang thai và trước khi đẻ Lợn đực nên thực hiện theo từng quý, các lợn khác nên điều trị 3 lần vào lúc 20 kg, 50 kg, 75 kg
+ Mức độ ô nhiễm trung bình là, gia súc được kết hợp nuôi nhốt trong chuồng có nền ván gỗ hoặc nền bê tông, đã được dùng nhiều năm Trong trường hợp này cần tẩy giun cho lợn nái trước khi đẻ, lợn đực nên tẩy 3 tháng
1 lần Các loại lợn khác nên tẩy vào lúc khoảng 20 kg, 50 kg
+ Lợn nuôi trên sàn lưới thép có độ ô nhiễm thấp hơn Ở loại ô nhiễm này, lợn nái cần tẩy giun trước khi đẻ, 6 tháng tẩy một lần cho lợn đực Với lợn khác chỉ cần tẩy giun khi lợn có khối lượng 50 kg là đủ
Archie (2000) [42] nhận xét : Ấu trùng trên đồng cỏ chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu Điều kiện tối ưu cho ấu trùng giai đoạn 3 phát triển là ẩm độ tương đối cao và nhiệt độ môi trường 18 - 26oC Điều kiện khô và nóng diệt
ấu trùng, điều kiện lạnh làm chậm lại quá trình nở và phát triển của ấu trùng
Trang 33Rose J H và cs (2009) [49] nhận xét: Ở nhiệt độ 40C, trứng của giun kết hạt không nở thành ấu trùng; từ 10 - 25°C trứng nở thành ấu trùng và phát triển đƣợc đến giai đoạn cảm nhiễm, tỷ lệ nở của trứng tăng khi nhiệt độ tăng
Ở ngoài tự nhiên, ấu trùng cảm nhiễm của giun kết hạt có thể sống 1 năm Trong phòng thí nghiệm, ở nhiệt độ từ 4 - 270C, ấu trùng sống khá lâu
Lai M và cs (2010) [47] cho biết: trong tổng số 2971 mẫu phân lợn lấy
từ các trang trại lợn ở Trùng Khánh – Trung Quốc đƣợc xét nghiệm có: 362
mẫu (12,18%) nhiễm Ascaris suum, 301 mẫu (10,13%) nhiễm Trichuris suis,
301 mẫu (10,13%) nhiễm Oesophagostomum spp., 491 mẫu (16,53%) nhiễm
Eimeria spp., 149 mẫu (5,02%) nhiễm Isopora suis, 677 mẫu (22,79%) nhiễm Balantidium coli và 196 mẫu (6,60%) nhiễm Cryptosporidium spp
Kagira J.M và cs (2010) [46] đã xét nghiệm phân của 360 lợn từ 135
trang trại ở Kenya cho biết: tỷ lệ nhiễm giun Oesophagostomum spp là 75%,
Strongyloides ransomi là 37% và Ascris suum là 18%
Trang 34
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lợn các lứa tuổi ở 3 huyện: Định Hoá, Phú Lương và Phổ Yên
- Bệnh giun kết hạt ở lợn
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm triển khai: Huyện Định Hoá, Phú Lương và Phổ Yên – Thái Nguyên
- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Phòng thí nghiệm Khoa chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
- Địa điểm xét nghiệm mẫu máu, làm tiêu bản vi thể: Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8/2009 đến tháng 8/2010
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Mẫu nghiên cứu
- Mẫu phân tươi của lợn các lứa tuổi nuôi tại một số địa phương của huyện Định Hoá, Phú Lương và Phổ Yên – Thái Nguyên
- Mẫu cặn nền chuồng, mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng nuôi, mẫu đất bề mặt vườn trồng cây thức ăn cho lợn
- Lợn bị bệnh giun kết hạt
- Trứng giun kết hạt phân lập từ phân lợn ở tỉnh Thái Nguyên
- Mẫu máu của lợn khoẻ và lợn mắc bệnh giun kết hạt
- Mẫu bệnh phẩm lợn bị bệnh giun kết hạt
Trang 352.2.2 Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm
- Kính hiển vi quang học, buồng đếm Mc Master, máy ảnh
- Dụng cụ thuỷ tinh: cốc, lọ, đũa thuỷ tinh, lam kính, lamen
- Dụng cụ mổ khám: kéo, dao, khay mổ và một số vật dụng khác
- Hoá chất: dung dịch muối NaCl bão hoà, dung dịch Barbagallo (gồm: Formol 38%: 30ml, NaCl tinh khiết: 7,5 g; nước cất: 1000 ml)
- Thuốc tẩy giun kết hạt:
+ Thuốc Nova – Levasol, đóng gói 100g, trong 1000g thương phẩm có chứa 100.000 mg Levamisol HCl và tá dược vừa đủ (sản phẩm của Công ty ANOVA)
+ Thuốc Hanmectin – 25, đóng lọ 10ml, trong 1ml thương phẩm có chứa 2,5mg Ivermectin và tá dược vừa đủ (sản phẩm của Công ty cổ phần thuốc thú y Trung ương I)
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun kết hạt ở lợn
2.3.1.1 Tình hình nhiễm giun kết hạt lợn ở một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên
- Thành phần loài giun tròn giống Oesophagostomum ký sinh ở lợn tại
3 huyện Định Hoá, Phú Lương và Phổ Yên
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt lợn ở các địa phương
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt theo tuổi lợn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt theo mùa vụ
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt theo phương thức chăn nuôi
2.3.1.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm, sự tồn tại của trứng và ấu trùng giun kết hạt lợn ở ngoại cảnh
- Sự ô nhiễm trứng giun kết hạt ở nền chuồng, xung quanh chuồng nuôi
và vườn trồng cây thức ăn cho lợn
Trang 36- Sự phát triển của trứng giun kết hạt thành ấu trùng cảm nhiễm trong
phân lợn
- Khả năng sống của ấu trùng Oesophagostomum sp cảm nhiễm trong
phân lợn
- Sự phát triển của trứng giun kết hạt ở lớp đất bề mặt có độ ẩm khác nhau
- Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm trong đất bề mặt có độ ẩm khác nhau
2.3.2 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh giun kết hạt ở lợn
- Tỷ lệ lợn nhiễm giun kết hạt có biểu hiện lâm sàng của bệnh
- Một số chỉ số máu của lợn bị bệnh giun kết hạt và lợn khoẻ
- So sánh công thức bạch cầu của lợn khoẻ và lợn bị bệnh giun kết hạt
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt giữa lợn tiêu chảy và lợn khỏe
- Xác định mối tương quan giữa số lượng giun kết hạt ký sinh ở lợn và số trứng giun kết hạt trong một gam phân
- Bệnh tích đại thể và vi thể ở cơ quan tiêu hoá của lợn bị bệnh giun kết hạt
2.3.3 Nghiên cứu phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn
- Thử nghiệm thuốc tẩy giun kết hạt cho lợn trên diện hẹp
- Thử nghiệm thuốc tẩy giun kết hạt cho lợn trên diện rộng
- Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 37- Mùa vụ: nghiên cứu ở 2 mùa vụ trong năm
+ Vụ Hè - Thu: từ tháng 5/2009 đến tháng 10/2009
+ Vụ Đông - Xuân: từ tháng 11/2009 đến tháng 4/2010
- Phương thức chăn nuôi: nghiên cứu ở 2 phương thức chăn nuôi lợn + Phương thức truyền thống: hộ gia đình chăn nuôi với số lượng ít, thức ăn cho lợn chủ yếu là các phế phụ phẩm tận dụng của ngành trồng trọt (khoai, sắn, bột ngô, cám xát, rau xanh)
+ Phương thức công nghiệp: chăn nuôi với số lượng lớn, thức ăn cho lợn là thức ăn tổng hợp, hệ thống chuồng trại khá hiện đại, điều kiện vệ sinh thú y tốt
2.4.2 Phương pháp lấy mẫu
Mẫu được thu thập theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc (mẫu được thu thập ở ba huyện, mỗi huyện thu thập ở 3 xã), mẫu được lấy ngẫu nhiên ở các hộ và các trang trại chăn nuôi lợn
Kết quả xét nghiệm mẫu được tổng hợp, mô tả và phân tích
- Mẫu phân: Lấy mẫu phân mới thải của lợn ở các lứa tuổi với lượng
20 – 30 g/mẫu Để riêng mỗi mẫu phân vào một túi nilon sạch, mỗi túi đều có nhãn ghi: tên chủ hộ, thời gian, địa điểm lấy mẫu, tuổi lợn, trạng thái phân, phương thức chăn nuôi, trạng thái cơ thể và biểu hiện lâm sàng (nếu có) Những thông tin này được ghi vào nhật ký đề tài Mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày hoặc bảo quản trong điều kiện lạnh 2 – 80
C (không quá 3 ngày)
- Mẫu cặn nền chuồng: Tại mỗi ô chuồng lấy mẫu cặn ở 4 góc và ở
giữa ô chuồng, trộn đều được một mẫu xét nghiệm (khoảng 80 – 100g/mẫu) Mỗi mẫu được để riêng trong túi nilon có ghi nhãn: tên chủ hộ, địa điểm, thời gian lấy mẫu Mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày
- Mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng nuôi: Trong khoảng bán kính 5 m
xung quanh chuồng lợn, cứ 10 – 15 m2
lấy một mẫu đất bề mặt Một mẫu có
Trang 38khối lượng từ 80 – 100 g, được trộn đều bởi 4 mẫu ở 4 góc và 1 mẫu ở giữa Mỗi mẫu được để riêng trong túi nilon có ghi nhãn: tên chủ hộ, địa điểm, thời gian lấy mẫu
- Mẫu đất ở vườn, bãi trồng cây thức ăn cho lợn: Cứ 10 – 15 m2 lấy một mẫu đất bề mặt Một mẫu có khối lượng từ 80 – 100 g, được phối hợp bởi
4 mẫu ở 4 góc và 1 mẫu ở giữa Mỗi mẫu được để riêng trong túi nilon có ghi nhãn: tên chủ hộ, địa điểm, thời gian lấy mẫu
- Mẫu máu: Lấy mẫu máu lợn khoẻ và lợn bị bệnh giun kết hạt, mỗi lợn
lấy 1 ml máu ở hốc mắt
- Mẫu bệnh phẩm: Lấy những đoạn ruột già của lợn bị bệnh giun kết hạt có
bệnh tích điển hình, sau đó cố định bệnh phẩm bằng dung dịch Formol 10 %
2.4.3 Phương pháp xét nghiệm mẫu
Chúng tôi tiến hành xét nghiệm mẫu phân lợn theo phương pháp
Fulleborn:
+ Cách pha nước muối bão hoà: Đun sôi nước, cho 380 gam muối NaCl vào, khuấy đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên mặt có lớp muối kết tinh Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn
+ Cách làm: Lấy 5 – 10 gam phân cho vào một cốc nhỏ, dùng đũa thuỷ tinh nghiền nát, cho khoảng 40 – 50 ml dung dịch nước muối bão hoà vào, dùng đũa thuỷ tinh khuấy tan, sau đó lọc qua lưới thép, bỏ cặn Cho dung dịch vừa lọc vào các lọ nhỏ đầy đến miệng lọ, đậy phiến kính lên miệng lọ cho tiếp xúc với dung dịch muối bão hoà, để yên 20 - 30 phút, trứng giun sẽ nổi lên và bám vào phiến kính, soi phiến kính dưới kính hiển vi tìm trứng giun kết hạt
2.4.4 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt
- Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun kết hạt
Tất cả các mẫu phân, mẫu cặn nền chuồng, mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng và vườn trồng cây thức ăn cho lợn đều được xét nghiệm bằng phương
Trang 39pháp Fulleborn với dung dịch muối NaCl bão hoà, tìm trứng giun kết hạt dưới kính hiển vi, độ phóng đại 100 lần, Những mẫu có trứng giun kết hạt được đánh giá là có nhiễm, ngược lại là không nhiễm
- Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun kết hạt
Đếm số trứng giun kết hạt trong 1g phân bằng buồng đếm Mc.Master
Cường độ nhiễm được xác định bằng số trứng/gam phân
Cách làm: Lấy 2 gam phân cho vào 58ml dung dịch nước muối bão hoà, khuấy tan phân, lọc bỏ cặn Khuấy đều nước lọc rồi dừng lại đột ngột, dùng pipep hút và bơm vào đầy buồng đếm Mc.Master (gồm 2 buồng đếm) Hai buồng đếm có 6 ô, kích thước mỗi buồng 1 cm x 1 cm Sau 15 phút, trứng được đẩy lên bề mặt dung dịch buồng đếm Đếm tất cả số trứng giun kết hạt trong buồng đếm (0,15ml/1 buồng)
2.4.5 Phương pháp xác định loài giun kết hạt ký sinh ở lợn
Mổ khám lợn bị bệnh giun kết hạt, thu thập giun kết hạt ký sinh, bảo quản trong dung dịch Barbagallo Định loài theo khoá định loại của Skrjabin
và cs (1963) [44], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [23]
2.4.6 Phương pháp xác định thời gian phát triển, tồn tại của trứng và ấu trùng giun kết hạt ở ngoại cảnh
- Trong phân lợn
Lấy phân của những lợn bị nhiễm giun kết hạt nặng cho vào 20 chậu nhựa
có đường kính 15 cm và chiều cao 10 cm (mỗi chậu được coi là một mẫu,
Trang 40khoảng 400 – 500 g phân), trong đó 10 mẫu được theo dõi ở mùa hè với t0
trùng giun kết hạt và thời gian phát triển của ấu trùng
Vẫn duy trì theo dõi lô thí nghiệm trên trong điều kiện như đã trình bày Tuy nhiên, do thời gian tồn tại của ấu trùng có sức gây bệnh có thể kéo dài
Vì vậy, kể từ khi tất cả trứng đã nở và phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh, cứ 5 ngày xét nghiệm một lần để xác định chỉ tiêu này
Cách xét nghiệm: Mỗi lần lấy 3 - 5g phân/mẫu, xét nghiệm bằng phương
pháp ly tâm lấy cặn tìm ấu trùng có sức gây bệnh, đếm số ấu trùng/3 vi trường và đếm số ấu trùng chết, từ đó tính được tỷ lệ ấu trùng chết theo thời gian theo dõi
- Trong đất
Lấy các mẫu đất không bị nhiễm trứng giun tròn kết hạt (qua kết quả xét
nghiệm) ở khu vực khác nhau và các mẫu đất có khả năng giữ ẩm khác nhau cho vào chậu nhựa đường kính 35 cm, chiều cao 18 cm, các chậu đất được xác định độ ẩm bằng phương pháp:
- Phương pháp xác định ẩm độ của đất
Theo Lê Văn Khoa và cs (1996) [8], độ ẩm của đất được tính theo công thức:
Wt (%) = (a/b) x 100 Trong đó: a - lượng nước mất sau khi sấy (g)
b - khối lượng đất trước khi sấy
Wt (%) - ẩm độ của đất (%) Lấy một lượng 20 – 30 g đất sấy 105o
C cho đến khi khối lượng giữa các lần cân không đổi thì dừng lại và tính ẩm độ của đất theo công thức trên