Phương pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ số huyết học của lợn khỏe và lợn bị bệnh giun Trichocephalus suis do gây nhiễm.... Việt Nam là một nước nằm trong vùng Đông Nam Á có khí
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN HUY
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH TRICHOCEPHALUS SUIS Ở
LỢN TẠI MỘT SỐ HUYỆN THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN
2 TS NGUYỄN VĂN QUANG
3 PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM LAN
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Huy
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp, em xin trân trọng cảm ơn:
- Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
- Lãnh đạo, cán bộ Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, cán bộ Trạm thú y các huyện Định Hóa, Phú Lương, Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
- Với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
TS Hoàng Văn Dũng, TS Nguyễn Văn Quang, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn
Xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Huy
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Giun tròn Trichocephalus suis ký sinh ở lợn 4
1.1.2 Bệnh do Trichocephalus suis gây ra ở lợn 9
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 31
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 31
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 32
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 36
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 36
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 36
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 36
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 37
2.3 Nội dung nghiên cứu 37
2.3.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn Trichocephalus suis ở lợn 37
2.3.2 Nghiên cứu bệnh do Trichocephalus suis gây ra ở lợn 37
2.3.3 Biện pháp phòng trị bệnh giun tròn Trichocephalus suis cho lợn 38
2.4 Phương pháp nghiên cứu 38
2.4.1 Phương pháp lấy mẫu 38
2.4.2 Phương pháp xét nghiệm mẫu 39
2.4.3 Phương pháp xác định thời gian phát triển và khả năng sống của trứng giun Trichocephalus suis trong phân lợn ở ngoại cảnh 40
2.4.4 Phương pháp xác định thời gian phát triển và khả năng sống của trứng giun Trichocephalus suis trong đất 41
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
với trứng giun T suis 43
2.4.6 Phương pháp gây nhiễm cho lợn 44
2.4.7 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng bệnh Trichocephalus suis ở lợn gây nhiễm 47
2.4.8 Phương pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ số huyết học của lợn khỏe và lợn bị bệnh giun Trichocephalus suis do gây nhiễm 47
2.4.9 Phương pháp xác định bệnh tích đại thể và vi thể 47
2.4.10 Phương pháp theo dõi hiệu lực tẩy giun T suis của thuốc Hanmectin - 25; Ivocip và Levamisol 48
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 49
2.5.1 Một số công thức tính tỷ lệ (%) 49
2.5.2 Một số tham số thống kê 49
2.5.3 So sánh mức độ sai khác giữa 2 số trung bình 50
2.5.4 Phương pháp xác định mối tương quan giữa số giun T suis ký sinh/lợn và số trứng giun/gam phân 52
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 53
3.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh Trichocephalus suis ở lợn tại một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 53
3.1.1 Tình hình nhiễm Trichocephalus suis ở lợn tại một số địa phương 53
3.1.2 Nghiên cứu sự phát triển và khả năng sống của trứng giun Trichocephalus suis ở môi trường ngoại cảnh 62
3.1.3 Thử nghiệm tác dụng của một số chất sát trùng đối với trứng giun T suis 71
3.2 Bệnh lý và lâm sàng bệnh Trichocephalus suis ở lợn 74
3.2.1 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích bệnh Trichocephalus suis ở lợn gây nhiễm 74
3.2.2 Một số chỉ số huyết học của lợn ở lô đối chứng và lô gây bệnh Trichocephalus suis 87
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
với số trứng giun trong 1 g phân 92
3.2.4 Triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh Trichocephalus suis ở các địa phương 93
3.3 Biện pháp phòng trị bệnh giun Trichocephalus suis cho lợn 94
3.3.1 Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun T suis cho lợn 94
3.3.2 Độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn 96
3.3.3 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn Trichocephalus suis cho lợn 97
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Đề nghị ………….100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm T suis ở lợn tại các địa phương 53
Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm T suis theo tuổi lợn 57
Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm T suis theo mùa vụ 59
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm T suis theo phương thức chăn nuôi 61
Bảng 3.5 Sự phát triển của trứng giun T suis trong phân lợn ở ngoại cảnh 63
Bảng 3.6 Khả năng sống của trứng giun T suis có sức gây bệnh trong phân lợn ở ngoại cảnh 66
Bảng 3.7 Sự phát triển của trứng giun T suis trong đất bề mặt 68
Bảng 3.8 Khả năng sống của trứng giun T suis có sức gây bệnh trong đất bề mặt 70
Bảng 3.9 Thử nghiệm tác dụng của một số chất sát trùng đối với trứng giun T suis 72
Bảng 3.10 Kết quả gây nhiễm giun T suis cho lợn 74
Bảng 3.11 Biểu hiện lâm sàng và khối lượng của lợn gây nhiễm 75
Bảng 3.12 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hóa lợn bị bệnh giun T suis do gây nhiễm 78
Bảng 3.13 Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể trong số tiêu bản nghiên cứu 82
Bảng 3.14 Số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố của lợn đối chứng và lợn gây nhiễm 87
Bảng 3.15 Công thức bạch cầu của lợn đối chứng và lợn gây nhiễm 89
Bảng 3.16 Xác định tương quan giữa số giun T suis ở lợn gây nhiễm với số trứng giun trong 1 g phân 92
Bảng 3.17 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh giun T suis ở các địa phương 93
Bảng 3.18 Hiệu lực của thuốc tẩy giun T suis cho lợn 94
Bảng 3.19 Độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn 96
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Ảnh giun Trichocephalus suis 5
Hình 2.1 Ảnh xét nghiệm phân tìm trứng giun T suis bằng phương pháp Fullerborn 39
Hình 2.2 Ảnh thí nghiệm theo dõi sự phát triển và khả năng sống của trứng giun T suis trong phân lợn ở ngoại cảnh 40
Hình 2.3 Ảnh thí nghiệm theo dõi sự phát triển và khả năng sống của trứng giun T suis trong đất ở các ẩm độ khác nhau 42
Hình 2.4 Ảnh thử nghiệm tác dụng của chất sát trùng đối với trứng giun T suis 44
Hình 2.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm gây bệnh giun T suis cho lợn 45
Hình 2.6 Ảnh gây nhiễm trứng giun T suis cho lợn 46
Hình 2.7 Ảnh đàn lợn gây nhiễm 46
Hình 2.8 Ảnh thuốc tẩy giun T suis cho lợn 49
Hình 3.1 Ảnh trứng giun T suis mới theo phân ra ngoài 55
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun T suis ở một số địa phương 56
Hình 3.3 Biểu đồ cường độ nhiễm giun T suis ở một số địa phương 56
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun T suis theo mùa vụ 60
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun T suis theo phương thức chăn nuôi 62
Hình 3.6 Ảnh trứng giun T suis có sức gây bệnh 65
Hình 3.7 Ảnh trứng giun T suis có sức gây bệnh bị chết 67
Hình 3.8 Ảnh trứng giun T suis bị chết dưới tác dụng của NaOH - 2%, Formaline 10% 73
Hình 3.9 Ảnh lợn số 1 biểu hiện lâm sàng sau gây nhiễm 77
Hình 3.10 Ảnh lợn số 2 biểu hiện lâm sàng sau gây nhiễm 77
Hình 3.11 Ảnh mổ khám lợn gây nhiễm 79
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hình 3.13 Ảnh một số giun T suis cắm sâu đầu vào niêm mạc ruột già 80
Hình 3.14 Ảnh thu nhận giun T suis từ lợn gây nhiễm 81
Hình 3.15 Ảnh giun T suis sau khi để chết tự nhiên trong nước 81
Hình 3.16 Ảnh bệnh tích đại thể ở ruột già lợn gây nhiễm (Niêm mạc kết tràng xuất huyết) 82
Hình 3.17 Ảnh biểu mô ruột bị phá hủy (Độ phóng đại 150 lần) 83
Hình 3.18 Ảnh biểu mô ruột bị phá hủy (Độ phóng đại 400 lần) 83
Hình 3.19 Ảnh niêm mạc ruột sung huyết (Độ phóng đại 400 lần) 84
Hình 3.20 Ảnh xuất huyết trong niêm mạc ruột (Độ phóng đại 400 lần) 84
Hình 3.21 Ảnh tế bào bạch cầu ái toan thâm nhiễm ở hạ niêm mạc (Độ phóng đại 600 lần) 85
Hình 3.22 Ảnh tế bào bào viêm - Bạch cầu đơn nhân lớn (Độ phóng đại 600 lần) 85
Hình 3.23 Ảnh ổ viêm trong niêm mạc ruột (Độ phóng đại 150 lần) 86
Hình 3.24 Ảnh hạ niêm mạc thấm nước phù, cấu trúc tế bào lỏng lẻo (Độ phóng đại 400 lần) 87
Hình 3.25 Biểu đồ số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố của lợn đối chứng và lợn sau gây nhiễm 89
Hình 3.26 Biểu đồ công thức bạch cầu của lợn ở lô đối chứng và lô gây nhiễm 91
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi nước ta đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung Chăn nuôi với những hình thức phong phú, đa dạng đã góp phần giải quyết công ăn, việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị xuất khẩu
Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam Chăn nuôi lợn cung cấp một khối lượng lớn thực phẩm có giá trị cho con người Ở nước ta thịt lợn tiêu thụ chiếm từ 75 - 80% tổng lượng thịt tiêu thụ còn trên thế giới tỷ lệ này khoảng 40% và đang có xu hướng tăng lên (Vũ Đình Tôn, 2009 [43]) Chăn nuôi lợn phát triển không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm cho xã hội mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và phân bón cho ngành trồng trọt Phân lợn là loại có chất dinh dưỡng cao đối với cây trồng (5 - 25% chất khô; 1,6 - 1,8% nitơ; 0,6 - 2,1% phospho và 1,7 - 3,6% kali) Hiện nay, phân lợn còn được dùng làm nguyên liệu để sản xuất khí đốt (bioga) vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa có tác dụng chống ô nhiễm môi trường, đặc biệt là những khu vực đông dân cư
Vì vậy trong những năm gần đây, nước ta đã có nhiều kế hoạch, chương trình nhằm phát triển mạnh đàn lợn cả về quy mô và chất lượng, đáp ứng ngày càng lớn nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước
Tuy nhiên, thực tế cho thấy dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra, gây nên những thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi Vì vậy, ngành chăn nuôi muốn tiếp tục phát triển thì bên cạnh việc thực hiện tốt công tác giống, thức ăn… còn phải quan tâm nhiều hơn đến công tác thú y, đặc biệt với xu hướng chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại như hiện nay
Trang 13Việt Nam là một nước nằm trong vùng Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, có rất nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh
cho vật nuôi, trong đó có loài giun tròn Trichocephalus suis ký sinh và gây bệnh ở lợn Trichocephalus suis ký sinh đã gây ra các tổn thương và viêm
nhiễm kế phát do vi khuẩn xâm nhập vào các nội quan của lợn, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, đặc biệt là tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 - 20%
so với lợn không bị bệnh (Phạm Sỹ Lăng và cs 2006 [22])
Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về tình
hình nhiễm giun Trichocephalus suis và vai trò của Trichocephalus suis trong
hội chứng tiêu chảy ở lợn con Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [17], đã
nghiên cứu và cho biết: Giun Trichocephalus suis có vai trò trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con Tỷ lệ nhiễm giun Trichocephalus suis ở lợn con tiêu chảy
là 27,01%; lợn mắc bệnh giun Trichocephalus suis ở cường độ nặng biểu hiện
còi cọc, chậm lớn, tiêu chảy, ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi Lợn có phân bình thường tỷ lệ nhiễm thấp hơn (23,01%) và thường nhiễm nhẹ Tuy nhiên,
những công trình nghiên cứu về bệnh giun Trichocephalus suis ở lợn còn rất ít
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, phần lớn dân số làm nông nghiệp, trong đó chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng Tuy nhiên, công tác
phòng chống bệnh giun Trichocephalus suis chưa được chú ý nhiều, chưa có
quy trình phòng bệnh hiệu quả
Từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất
chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đặc điểm dịch tễ,
bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh Trichocephalus suis ở lợn tại một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và biện pháp
phòng trị bệnh giun tròn Trichocephalus suis cho lợn
Trang 143 Mục đích nghiên cứu
Bổ sung thêm một số thông tin khoa học về bệnh giun tròn
Trichocephalus suis ở lợn, từ đó có cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng trị bệnh giun tròn Trichocephalus suis cho lợn có hiệu quả cao, góp
phần thúc đẩy chăn nuôi lợn của tỉnh Thái Nguyên phát triển
4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về
đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn Trichocephalus suis ở lợn tại một số huyện
thuộc tỉnh Thái Nguyên, về một số đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng và trị bệnh có hiệu quả, từ đó hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 15Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Giun tròn Trichocephalus suis ký sinh ở lợn
1.1.1.1 Vị trí của Trichocephalus suis trong hệ thống phân loại động vật
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26], Phan Thế Việt và cs (1977)
[45], vị trí của Trichocephalus suis (T suis) trong hệ thống phân loại động vật
như sau:
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933
Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928
Họ Trichocephalidae Baird, 1953
Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788
1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26] đã mô tả giun T suis như sau:
Con đực: Dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn Bao gai phủ đầy gai nhỏ Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi
Con cái: Cơ thể dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm Ống sinh dục đơn Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm
Trang 16Hình 1.1 Ảnh giun Trichocephalus suis
a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực
(Nguồn: Phan Địch Lân và cs 2005 [24])
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [14], T suis có hình thái giống roi
ngựa hoặc sợi tóc, màu trắng, cơ thể chia làm hai phần rõ rệt, thực quản có các
tế bào xếp thành chuỗi hạt, dài tới 2/3 cơ thể Phần sau ngắn và to, bên trong
là ruột và cơ quan sinh sản
Phan Địch Lân và cs (2005) [24] cho biết: Giun đực dài 20 - 52 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại, chỉ có một gai giao hợp dài 5 - 7 mm, được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ Lỗ sinh tiết thông với ngoài ở phần cuối của giun Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng Hậu môn ở đoạn cuối cùng,
âm hộ ở đoạn cuối thực quản
Trang 17Trứng T suis hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 - 0,061
x 0,027 - 0,03 mm Hai cực có hai nút trong, vỏ dày có 2 lớp
Theo Skrjabin K.I (1979) [48], con đực có chiều dài thân trung bình là 40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối đa là 48,0 mm Chiều dài của phần trước trung bình là 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1 mm (12 - 19 mm) Tỷ lệ chiều dài của phần trước với phần sau là 1,68 : 1 Thân con đực phủ lớp cutin được vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữa phần mỏng và dày của thân Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,44 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân theo dạng móc xích Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi Hệ thống sinh dục của con đực gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân
Đuôi con đực vòng xoắn ốc Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn Chiều dài gai xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm Có bao gai bọc chung quanh và cùng với gai lồi ra khỏi lỗ huyệt Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là 24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56 Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm Chiều rộng của bao gai ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên
về kích thước: Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình
cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; rộng là 0,290
- 0,352 mm
Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa
53 mm Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35
Trang 18mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm) Như vậy tỷ lệ giữa phần trước và phần sau là 2,04:1 Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có
âm hộ Âm hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,061 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm) Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µm) Ngay trước âm hộ, tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng Đuôi con cái tù Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm
Theo Trịnh Văn Thịnh (1966) [38], trứng màu vàng thẫm, vỏ dày, có nút ở mỗi cực, kích thước 50 - 56 x 21 - 25 µm Tuy nhiên, những trứng tác giả đo được thấy tương đối to hơn (66 x 30 - 37 µm) Trứng không phân chia khi đẻ
1.1.1.3 Vòng đời của giun T suis
Skrjabin K.I (1979) [48] cho rằng, giun T suis phát triển vòng đời
không cần vật chủ trung gian Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoại cảnh Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm nhiễm từ 3 đến 4 tuần Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [24], giun cái đẻ trứng trong ruột già
ký chủ, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng có sức gây nhiễm
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22] cho rằng, điều kiện thuận lợi nhất cho
sự phát triển của trứng giun T suis thành trứng có sức cảm nhiễm ở ngoài môi
trường là nhiệt độ từ 18 - 30oC, ẩm độ 80 - 85%
Trịnh Văn Thịnh (1985) [41] cho biết, chu kỳ sinh học của giun T suis
gồm 2 giai đoạn: Một giai đoạn ở ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến ấu trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, ấu trùng cảm nhiễm phát triển thành giun trưởng thành Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ
Trang 19Lợn nhiễm bệnh giun T suis là do nuốt phải trứng cảm nhiễm Trứng
này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa của ký chủ, ấu trùng được nở
ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già (Nguyễn Thị Kim Lan và cs 1999 [15])
Bonner Stewart T, Bert E Stromberg, Bruce Lawhorn D (2000) [46] cho biết: Những ấu trùng này nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành trong khi bám vào niêm mạc ruột già
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1976) [12], Phan Địch Lân và cs (2005)
[24], thời gian hoàn thành vòng đời của giun T suis là 30 ngày
Trịnh Văn Thịnh (1985) [41], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5] cho rằng,
tuổi thọ của giun T suis ở lợn là từ 4 - 5 tháng Theo Lương Văn Huấn và cs (1990) [8], giun T suis sống được trong cơ thể lợn 114 ngày
1.1.1.4 Sức đề kháng của trứng giun T suis
Sức đề kháng là khả năng chống lại những tác nhân ngoại cảnh tác động
đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của trứng giun T suis Việc nghiên cứu về sức đề kháng của trứng T suis ở môi trường ngoại cảnh có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun T suis, đồng thời là cơ sở khoa học để đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun T suis có hiệu quả
Ở môi trường ngoại cảnh, trứng giun T suis phát triển thuận lợi nhất ở
nhiệt độ từ 18 - 30oC, ẩm độ 80 - 85% Đặng Văn Ngữ và cs (1965) [32] cho
biết: Nhiệt độ phát triển thuận lợi nhất của trứng giun Trichuris trichiura
(giun tóc người) ở ngoại cảnh là 25 - 30oC Thời gian 17 - 30 ngày tỷ lệ trứng
có ấu trùng gần 90% Nhiệt độ lên quá 50o
C làm hỏng phần lớn trứng trước
khi tới giai đoạn ấu trùng Như vậy, trứng giun T suis và trứng giun Trichuris trichiura có giới hạn nhiệt độ phát triển thuận lợi ở ngoại cảnh tương tự nhau
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22], các chất sát trùng như dung dịch
NaOH - 2%, Cresyl 3%, nước vôi 10% diệt được trứng T suis Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26], trứng giun T suis bị diệt dưới tác dụng của ủ phân
nhiệt sinh học Sau 3 - 4 tuần, nhiệt độ hố ủ tăng lên tới 45oC sẽ làm hủy trứng
Trang 20giun T suis Tuy nhiên, trứng non có khả năng chịu đựng các điều kiện nhiệt
độ cao hơn trứng ở giai đoạn ấu trùng
Đỗ Dương Thái và cs (1975) [33] cho rằng, trứng giun T suis và trứng giun Trichuris trichiura bị hủy hoại nếu ẩm độ dưới 30% kéo dài Mặt khác, trứng giun T suis có thể bị diệt bởi những tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời
(Chicobanlova và Garo - dilova, 1950) Ở Việt Nam số giờ nắng rất nhiều, độ
nắng mạnh nên trong mùa hè trứng T suis dễ bị hủy hoại ở ngoại cảnh Trong
cùng một thời gian dưới tác dụng của tia tử ngoại thì trứng đã phát triển thành
ấu trùng bị diệt nhanh hơn trứng non
1.1.2 Bệnh do Trichocephalus suis gây ra ở lợn
1.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh giun Trichocephalus suis gây ra
Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng
ở đường tiêu hóa lợn nói riêng không tạo thành các ổ dịch lớn như những bệnh truyền nhiễm do virut, vi khuẩn gây ra Nhưng bệnh thường kéo dài âm
ỉ, ảnh hưởng đến thể trạng và sức khỏe vật chủ, làm hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của lợn, tăng tiêu tốn thức ăn và các chi phí khác như thuốc điều trị, thuốc sát trùng, công chăm sóc, nuôi dưỡng và đặc biệt là yếu tố mở đường cho các mầm bệnh khác xâm nhập Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [40], bệnh ký sinh trùng thường là những bệnh mãn tính, làm giảm mức sinh trưởng
và sinh sản của gia súc, ảnh hưởng đến sản phẩm chăn nuôi Mức độ sinh
trưởng của lợn con khi bị nhiễm Ascaris suum, Trichocephalus suis, Strongyloides ransomi có thể giảm 30% so với bình thường Lợn nuôi lấy thịt
chậm lớn, sụt cân, phẩm chất thịt giảm
Bonner Stewart T, Bert E Stromberg, Bruce Lawhorn D (2000) [46] cho biết: Tại Mỹ, nội ký sinh trùng ở lợn hàng năm gây thiệt hại ước tính khoảng 538 triệu đô la Ước tính gồm thiệt hại do lợn chết, tiêu hủy, giảm thu
và chi phí để tẩy giun sán Ngoài ra, những ký sinh trùng ở dạ dày, ruột và các
Trang 21cơ quan khác còn tranh giành trực tiếp thức ăn với ký chủ, vì thế làm giảm tăng trọng và tăng tiêu tốn thức ăn Các tổ chức tế bào bị thương do di chuyển
của giun cũng giúp các mầm bệnh khác như Serpulina hyodysenteriae, Mycoplasma hyopneumoniae xâm nhập và gây bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22], Trichocephalus suis ký sinh là
một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất chăn nuôi và tạo điều kiện
cho các bệnh khác xâm nhập Lợn bị bệnh giun T suis giảm tăng trọng từ 15 - 20%
Phan Địch Lân và cs (1974) đã điều tra trên các giống Yorkshire, Berkshire, Landrace nhập nội, lợn lai F1 (ngoại x nội) và giống lợn nội ở vùng đồng bằng (Hà Nội, Hà Tây) cho biết: Thành phần các loài giun sán chính ở lợn ngoại, lợn lai và lợn nội không khác nhau nhiều; các loài giun sán phổ biến ở lợn
ngoại và lợn lai cũng là: T suis, A suum, O ransomi…
Bùi Quý Huy (2006) [10] cho biết, giun T suis ở lợn và Trichuris trichiura
ở người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hoá học và kháng nguyên, do đó
bệnh giun T suis ở lợn dễ lây sang người Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [44], người nhiễm bệnh khi nuốt phải trứng giun T suis lẫn trong nước hay
trong thức ăn thực vật chưa được nấu chín Sau khi vào ruột người, ấu trùng
phát triển thành giun T suis trưởng thành, khu trú ở ruột thừa và gây bệnh cho
người Giun đẻ trứng, trứng này được bài xuất ra ngoài qua phân người, sau
Trang 22khi phát triển và chứa ấu trùng thì có khả năng gây nhiễm lại cho lợn (tuy
nhiên tỷ lệ trứng phát triển chỉ là 11%, trong khi trứng của giun T suis ở lợn
có tỷ lệ phát triển là 86%)
* Tuổi mắc bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22], bệnh giun T suis ở lợn phân bố
trên toàn thế giới Tại Việt Nam, bệnh cũng đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh
miền Bắc, miền Trung và miền Nam Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm T suis từ 4,3 -
30% (ở lứa tuổi từ 2 - 6 tháng) và 0,56 - 7,8% (ở lứa tuổi trên 6 tháng)
Lương Văn Huấn và cộng sự (1990) [8] cho biết, tỷ lệ nhiễm T suis
theo tuổi lợn như sau:
Dưới 3 tháng tuổi nhiễm 20,4%
Từ 3 - 4 tháng tuổi nhiễm 21,2%
Từ 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 8,5%
Trên 6 tháng tuổi nhiễm 6,4%
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5], lợn ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi
nhạy cảm nhất với giun T suis Kết quả điều tra tại hợp tác xã Tiền Phong (Hà Nội) nuôi lợn Ỉ lai Yorkshire, Berkshire tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn dưới 2 tháng
tuổi là 16%, trong khi lợn 5 tháng tuổi nhiễm 13,5% và lợn 7 tháng tuổi nhiễm 6,2% Tại hợp tác xã Đông Mỹ (Hà Nội) tỷ lệ lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm
giun T suis là 20,8% Ngày tuổi bình quân lần đầu tiên phát hiện trứng giun T suis trong phân lợn nội là 74 ngày (từ 58 - 89 ngày), lợn lai Landrace 56 ngày
(43 - 64 ngày), lợn lai Berkshire 61 ngày (56 - 75 ngày), lợn lai Yorkshire 76 ngày và lợn ngoại 62 ngày (38 - 81 ngày)
Nguyễn Thị Lê (1966) [25] cho biết: Qua điều tra giun sán ký sinh ở lợn tại nông trường Cửu Long vào tháng 2 - 1962 thấy lợn con 1,5 - 2 tháng
nhiễm rất nặng các loại giun Physocephalus (75%) Ngoài ra, nhiều lợn nhiễm Trichocephalus suis và Oesophagostomum dentatum
Trang 23Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [39], kết quả điều tra ở 37 nông trường quốc doanh (1965 - 1968) trên 372 lợn mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm một số
loài giun sán là: Ascaris suum 55 - 100% (22 - 88 giun/lợn); Trichocephalus suis
cao nhất 100% (từ 155 đến vô số giun trên một lợn)
Bùi Lập (1967) mổ khám 140 lợn và xét nghiệm phân của 1032 lợn ở các vùng khác nhau, nhận xét: Số lợn con chưa cai sữa (dưới 2 tháng tuổi) đã
nhiễm nhiều loài giun sán như Fasciolopsis buski, Ascaris suum, Trichocephalus suis, Oesophagostomum dentatum, Stephanurus dentatus Trong
đó, tỷ lệ nhiễm Trichocephalus suis là 53,3% (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs
1978 [39]) Lợn nhiễm T suis cao nhất ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi (51,7 - 75%)
Bộ môn Ký sinh trùng thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp (1966) mổ khám
48 lợn ở Hà Nội và vùng phụ cận, thấy tỷ lệ nhiễm Trichocephalus suis 31,2%
Tại Hải Phòng, Ngô Quang Tuyến, Trần Lâm Quang (1972) mổ khám
40 lợn và xét nghiệm phân của 2000 lợn, thấy tỷ lệ nhiễm Trichocephalus suis
là 27,5% (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [39])
Bùi Lập, Nguyễn Đăng Khải (1978 - 1980) mổ khám 782 lợn ở vùng
Trung Trung bộ thấy tỷ lệ nhiễm Trichocephalus suis ở vùng đồng bằng Trung
Trung bộ là 17,58%; vùng núi Trung Trung bộ là 34,78% và Tây Nguyên là
48,95% Trong đó, tỷ lệ nhiễm Trichocephalus suis cao nhất ở lứa tuổi 2 - 4
tháng, sau đó có xu hướng giảm dần
Theo Nguyễn Đăng Khải (1996) [11], tỷ lệ nhiễm Trichocephalus suis
ở 7 vùng kinh tế như sau:
1 Trung du và miền núi Bắc bộ
+ Trung du: 29,8%
+ Miền núi: 27,8%
2 Đồng bằng sông Hồng: 24,8%
3 Bắc Trung bộ: 13,9%
Trang 24Tác giả cho biết Trichocephalus suis phân bố đều khắp các vùng, tỷ
lệ nhiễm cao nhất ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi, sau đó giảm, ít gây tác hại đối với lợn lớn
Phạm Văn Khuê (1982) [13] nghiên cứu biến động nhiễm giun sán theo tuổi lợn tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long; theo tác giả điều này rất quan trọng vì qua đó có thể nắm được lứa tuổi nào nhiễm giun sán cao, lứa tuổi nào nhiễm thấp để có cơ sở khoa học xây dựng các biện pháp phòng trừ Qua kiểm tra 289 lợn ở 4 lứa tuổi (dưới 2 tháng, 3 - 4 tháng, 5 - 7 tháng và trên 8 tháng), kết quả cho thấy: Lợn con dưới 2 tháng tuổi đã nhiễm tới 12 loài trong số
13 loài giun sán, có một số loài có sức gây bệnh mạnh, tỷ lệ nhiễm cao như
A suum (48,7%); A dentata (12,8%) và T suis (30,7%) Trong 13 loài giun sán
có một số loài có chiều hướng tăng dần theo tuổi của vật chủ như T hydatigena,
M elongatus, M salmi, O dentatum Ngược lại A suum và đặc biệt T suis có tỷ
lệ cao giới hạn ở lứa tuổi từ 2 - 5 tháng, sau đó giảm dần
* Đường lây nhiễm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [23], bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa do lợn nuốt phải trứng có sức cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống
* Mùa vụ
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [23], bệnh giun T suis lây nhiễm
quanh năm nhưng tập trung từ mùa xuân tới mùa thu Mùa đông, thời tiết lạnh, độ ẩm thấp, không thích hợp cho trứng phát triển thành dạng trứng cảm nhiễm nên tỷ lệ nhiễm giun trong đàn lợn giảm đi
Trang 25Nguyễn Đăng Khải, Nguyễn Đăng Nhượng (1975) mổ khám 89 lợn ở vùng đồng bằng và miền núi thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Bình
Định cho biết: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis có sự khác nhau giữa các
vùng, trong đó sự khác nhau này có liên quan tới khí hậu của mỗi vùng Vùng đồng bằng, do mùa khô hạn kéo dài, nhiều ánh sáng (tổng số giờ nắng 2000 -
2300 giờ/năm) nhiệt độ những tháng nóng có thể lên tới 38 - 40oC nên tỷ lệ nhiễm các loài giun sán nói chung đều thấp, đặc biệt là các loài giun sán
nhiễm trực tiếp như T suis (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [39])
* Phương thức chăn nuôi
Phương thức chăn nuôi là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh
hưởng tới khả năng nhiễm giun T suis của lợn Phạm Sỹ Lăng và cs (2009)
[23] cho rằng các cơ sở chăn nuôi mà điều kiện vệ sinh kém, lợn bị nhiễm bệnh với tỷ lệ cao, gây thiệt hại đáng kể cho đàn lợn con
Phạm Văn Khuê (1967) đã mổ khám 141 lợn và xét nghiệm 619 mẫu phân ở tỉnh Hà Bắc, thấy 13 loài giun sán Trong đó, những loài phổ biến là:
Fasciolopsis buski, Ascaris suum, Trichocephalus suis, Taenia hydatigena Những loài giun tròn phát triển trực tiếp như Trichocephalus suis thì tỷ lệ
nhiễm đến 100% Những loài giun sán phải qua ký chủ trung gian như sán lá ruột, giun đầu gai thì tỷ lệ nhiễm khác nhau tùy theo điều kiện đất đai, thức ăn (trồng ở nước hay ở cạn), sự tồn tại hay không của các ký chủ trung gian và điều kiện vệ sinh chăn nuôi (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [39])
Phan Văn Lan (1970) mổ khám 57 lợn và xét nghiệm 1000 mẫu phân tại xã Yên Nguyên (Tuyên Quang) cho thấy tỷ lệ nhiễm các loài giun tròn ở
lợn nuôi thả rông là 96,5% Trong đó, tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn nuôi nhốt
là 30%; lợn nuôi thả rông là 47% (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [39])
Trang 26Bornay F.J và cs (2003) [56] cho biết: Kiểm tra 5 trại lợn chăn nuôi theo phương thức công nghiệp tại tỉnh Alicante (Tây Ban Nha) thấy tỷ lệ
nhiễm T suis là 11%
Andrzej Połozowski, Jan Zielinski, Ewa Zielinska (2005) [55] đã nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến tỷ lệ và cường độ nhiễm ký sinh trùng lợn Kiểm tra 100 lợn từ 11 trang trại nhỏ ở vùng Wielkopolskie, tùy điều kiện chăn nuôi số trang trại trên được chia thành 2 nhóm: Nhóm A (4), nhóm B (7) Ở nhóm A: Phân và chất thải được xử lý hàng ngày, máng ăn được cọ rửa sạch sẽ, lượng ánh sáng và chế độ thông gió được đảm bảo Ngoài ra, chuồng trại được vệ sinh, khử trùng tiêu độc thường xuyên Nhóm B: Phân lợn và các chất thải được xử lý sau 3 ngày hoặc lâu hơn Máng ăn ít được cọ rửa, chuồng trại ẩm thấp và tối, vấn đề khử trùng chuồng nuôi không được chú ý
Kết quả cho thấy, lợn nhóm A chỉ nhiễm Oesophagostomum spp và Ascaris suum, trong khi đó lợn nhóm B ngoài 2 loài trên còn xuất hiện Trichocephalus suis, Strongyloides ransomi và coccidia Tỷ lệ nhiễm ở lợn nhóm A là 21,4% (Oesophagostomum spp 21,4% và A suum 7,1%) Lợn ở
nhóm B nhiễm ký sinh trùng với tỷ lệ cao hơn (91,4%) trong đó:
Oesophagostomum spp 67,2%; Coccidia 50,00%; A suum 39,7%; Strongyloides ransomi 1,7% và Trichocephalus suis 5,2% Tác giả nhận xét:
Phương thức chăn nuôi ảnh hưởng đến sự xuất hiện thành phần loài cũng như
tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng lợn
* Yếu tố Stress
Các yếu tố Stress (chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh dưỡng, nhiệt
độ và ẩm độ môi trường thay đổi…) đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ
lây lan bệnh giun T suis ở lợn
Trang 271.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh
* Đường bài xuất mầm bệnh
Lợn mắc bệnh, sau một thời gian thì bài xuất trứng theo phân ra ngoại cảnh Vì vậy trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo thành các trứng có sức gây bệnh (trứng có chứa ấu trùng bên trong)
* Đường xâm nhập vào cơ thể
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [15] cho biết: Bệnh lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian Trứng có sức gây bệnh xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải thức ăn, nước uống có lẫn trứng giun
- Tác hại mang trùng: Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5], giun
T suis ký sinh gây tổn thương, tạo điều kiện cho các nhân tố khác xâm
nhập Nhân tố gây bệnh kế phát là xoắn khuẩn và phẩy khuẩn
- Tác hại tiết độc tố: Độc tố là những sản phẩm mà giun bài tiết ra làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, gây rối loạn tiêu hóa
Trang 281.1.2.4 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của lợn bị bệnh giun Trichocephalus suis
* Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh thay đổi tùy thuộc vào tuổi con vật, số lượng giun ký sinh trong từng cơ thể lợn Ở những lợn trưởng thành không thấy biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhưng khi kiểm tra phân mới thấy lợn
nhiễm giun T suis
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2001) [20], Phan Địch Lân và cs (2005) [24], khi lợn nhiễm nhẹ thì triệu chứng không rõ Khi nặng thì con vật gầy yếu, thiếu máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, có khi con vật bị kiết lỵ Nếu nhiễm bệnh nhân tạo với lượng trứng lớn (20.000 - 200.000 trứng), thì triệu chứng biểu hiện rất nặng: Ỉa chảy, hô hấp khó, lợn có thể chết Lợn bị bệnh mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [23] cho biết: Lợn ở lứa tuổi 2 - 4 tháng nhiễm bệnh xuất hiện các dấu hiệu như ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng, sau phân sệt có nhiều chất nhày, có lẫn máu Mỗi lần thải phân, lợn bệnh phải cong lưng rặn nhưng lượng phân thải ra ít Nếu không được điều trị, lợn bệnh sẽ kiệt sức và chết sau 6 - 10 ngày
Theo Trần Thị Dân (2008) [3], ruột già khác ruột non ở chỗ: Không có nhung mao nhưng có vi nhung mao Về tổng quát, ruột non là nơi tiết nước còn ruột già là nơi hấp thu nước Ruột già nguyên vẹn có thể hấp thu bù trừ nước khi ruột non tiết nhiều Tuy nhiên, những tổn thương ở ruột già do tác
động của giun T suis ký sinh sẽ làm giảm khả năng tái hấp thu nước, dẫn đến
tiêu chảy
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5], lợn bị bệnh giun T suis có những
biểu hiện lâm sàng giống hội chứng hồng lỵ Vì vậy nhiều trường hợp nghi bệnh lỵ điều trị bằng kháng sinh không khỏi Khi xét nghiệm phân mới phát
hiện giun T suis ký sinh
Trang 29Theo Skrjabin K.I (1979) [48], triệu chứng bệnh giun T suis phụ thuộc
vào cường độ cảm nhiễm Khi nhiễm nặng, lợn có biểu hiện da khô, xù lông,
ỉa chảy rồi bị táo bón Độc tố do T suis tiết ra có tác động gây bệnh mạnh,
làm cho vi nhung mao và các tế bào biểu mô mất đi tính chất cấu tạo và bị phân hủy
* Bệnh tích:
Phan Địch Lân và cs (2005) [24] cho biết: Xác lợn chết gầy, có nhiều giun ở ruột già (nhất là manh tràng) Một số giun vẫn cắm sâu đầu vào niêm mạc ruột Trên niêm mạc ruột có nốt loét to bằng hạt đậu xanh
Khi bị nhiễm nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm Niêm mạc ruột bị bong ra (Trịnh Văn Thịnh và cs 1982 [40])
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5] cho biết: Về mặt tổ chức học, giun T suis
ký sinh gây viêm niêm mạc, thâm nhiễm tế bào, hình thành nhiều vết loét và tạo ra nhiều niêm dịch
Theo Rutter J M và Beer R J S (1974) [54], khi mổ khám những lợn
bị bệnh giun T suis thấy: Viêm ruột tăng lên trong hầu hết các trường hợp,
thành ruột già dày lên và phù thũng, trong ruột chứa chất nhày, máu và các tế
bào hoại tử bong ra từ lớp niêm mạc
1.1.2.5 Chẩn đoán
Việc chẩn đoán bệnh giun T suis ở lợn có thể dựa vào đặc điểm dịch tễ,
triệu chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm phân lợn và kiểm tra bệnh tích
* Với lợn còn sống:
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [16], để chẩn đoán bệnh có thể áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm lại gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính
nhằm xác định có hoặc không có giun T suis ký sinh Đây là phương pháp thông dụng để đánh giá tình hình nhiễm giun T suis ở lợn Nghiên cứu định
Trang 30lượng nhằm xác định số lượng trứng trong phân để đánh giá mức độ nhiễm và hiệu quả của một số thuốc tẩy giun
Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Những triệu chứng lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô, lông xù,
ỉa chảy…
Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ, tình trạng vệ sinh thú y… Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói trên để chẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường có những triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể trạng gầy, da khô, lông xù…) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến
hành xét nghiệm phân tìm trứng giun T suis
Theo Phan Lục (2006) [29], có 4 phương pháp xét nghiệm phân:
- Phương pháp trực tiếp
Dùng đũa thuỷ tinh lấy 1 mẫu phân của con vật định xét nghiệm, để mẫu phân lên phiến kính sạch: Nhỏ 1 - 2 giọt glycerin, gạt cặn bã ra 2 đầu phiến kính Dung dịch phân được dàn mỏng trên phiến kính và kiểm tra dưới
kính hiển vi tìm trứng giun T suis
- Phương pháp Fullerborn
Nguyên lý của phương pháp này dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng của dung dịch muối NaCl bão hoà (D = 1,18 - 1,20) lớn hơn tỷ trọng của trứng
giun T suis, do đó trứng sẽ nổi lên trên, ta có thể tìm thấy trứng giun T suis
dưới kính hiểm vi (độ phóng đại 100 hoặc x 400)
Dung dịch muối bão hoà được pha bằng cách: Lấy 1 lít nước sôi, cho
380 g muối NaCl vào (hoặc đun sôi nước, cho từ từ muối vào), khuấy đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên mặt có lớp muối kết tinh là được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn
Trang 31Cách xét nghiệm như sau: Dùng đũa thuỷ tinh lấy 1 mẫu phân khoảng 5
- 10 gam của con vật cần xét nghiệm, chẩn đoán Để phân vào cốc thuỷ tinh, cho tiếp nước muối bão hoà vào cốc với lượng thể tích gấp 10 lần khối lượng phân Dùng đũa thuỷ tinh khuấy nát phân và lọc qua lưới lọc Phần cặn bã bỏ
đi, dung dịch lọc được đổ vào ống penicillin sao cho đầy đến miệng, đậy phiến kính sạch lên cho tiếp xúc với mặt nước, để khoảng 15 phút rồi lấy
phiến kính ra soi trên kính hiển vi tìm trứng giun T suis
- Phương pháp Darling
Nguyên lý chung của phương pháp này là dựa trên sự chênh lệch về tỷ
trọng giữa dung dịch NaCl bão hoà và trứng giun T suis, đồng thời lợi dụng lực ly tâm để phân ly những trứng giun T suis nhẹ hơn ra khỏi phân Khi đó dùng vòng sắt vớt lớp váng phía trên, ta sẽ tìm được trứng T suis
Cách xét nghiệm: Lấy mẫu phân khoảng 5 - 10 gam của con vật cần chẩn đoán, cho vào cốc thuỷ tinh Cho vào cốc đó lượng nước sạch bằng 10 lần thể tích khối lượng phân, dùng đũa thuỷ tinh khuấy tan phân và lọc qua lưới lọc Phần cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được cho vào các ống ly tâm và ly tâm với tốc độ 3000 vòng/phút trong thời gian từ 3 - 5 phút Sau đó, đổ bỏ lớp nước phía trên và giữ lại cặn trong các ống ly tâm Tiếp theo cho nước muối bão hoà vào các ống ly tâm, đậy nắp miệng ống và lắc đều cho cặn hoà đều trong dung dịch, tiến hành ly tâm lần 2 với tốc độ và thời gian như trên Dùng vòng sắt vớt lớp váng nổi trên bề mặt, đặt lên phiến kính sạch và soi dưới kính
hiển vi tìm trứng giun T suis
- Phương pháp Cherbovick: Phương pháp này hoàn toàn giống
phương pháp Darling, chỉ khác dung dịch bão hoà sử dụng ở đây là MgSO4
Để xác định cường độ nhiễm, có thể dùng phương pháp đếm số trứng giun
T suis trên buồng đếm Mc Master nhằm xác định số trứng giun T suis/g phân
Trang 32Phương pháp đếm trứng trên buồng đếm Mc Master gồm các bước sau:
- Bước 1: Cân 4g phân vào cốc thủy tinh, thêm nước lã sạch (khoảng
100 - 150 ml), khuấy tan phân, lọc bỏ cặn bã thô Nước lọc để lắng trong 1 - 2 giờ, gạt bỏ nước, giữ lại cặn
- Bước 2: Cho 56 ml dung dịch nước muối bão hòa vào, khuấy đều cho tan cặn Trong khi đang khuấy, lấy công tơ hút hút 1 ml dung dịch phân nhỏ đầy hai buồng đếm Mc Master Để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 10)
Đếm toàn bộ số trứng trong những ô của hai buồng đếm, rồi tính theo công thức sau:
Số trứng/1 gam phân =
Tổng số trứng ở hai buồng đếm x 60
4 (Tổng số trứng ở hai buồng đếm là số trứng có trong 1 ml dung dịch phân)
* Với lợn chết:
Đối với nhiều bệnh giun sán, phương pháp chẩn đoán khi con vật chết
là chính xác nhất Việc chẩn đoán bệnh giun T suis được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích ở ruột già và tìm giun T suis Khi
phát hiện nhẹ nhàng lấy giun ra và để chết tự nhiên trong nước sạch, sau đó bảo quản trong dung dịch Barbagallo (dung dịch Barbagallo gồm 30 ml Formol; 7,5 g NaCl; nước cất 1000 ml) và có ghi nhãn đầy đủ (Chu Thị Thơm
và cs, 2006) [42]
1.1.2.6 Phòng trị bệnh giun Trichocephalus suis cho lợn
* Điều trị
Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [6], hiện nay trên thị trường có nhiều
thuốc trị bệnh giun T suis và được chia thành các nhóm:
a/ Các Benzimidazol
- Đặc điểm chung:
Trang 33Đây là nhóm thuốc quan trọng vì phổ chống ký sinh trùng rộng, không chỉ tác dụng lên giun trưởng thành mà cả lên trứng và ấu trùng của giun
- Cơ chế tác dụng:
Các Benzimidazol ức chế quá trình trao đổi chất sản sinh năng lượng
của giun, thông qua cơ chế: Ức chế enzim Fumaratreductase, ngăn cản sự hấp thu glucose, đồng thời ức chế sự trùng hợp (polymerisation) tại các vi mao quản trong hệ thống trao đổi chất của giun
Quá trình tác động của thuốc xảy ra chậm, do đó điều kiện cơ bản để đạt
hiệu lực cao là thuốc phải duy trì sự gắn kết trong thời gian dài với giun T suis
- Dược động học:
Rất ít hấp thu ở ruột Chủ yếu phân hủy ở gan (phần thuốc hấp thu) Từ
các dẫn xuất 5 - ceto (ví dụ Mebendazol) qua phản ứng khử, hình thành nên rượu tương ứng và mất tác dụng chống giun Với các Benzimidazol có chứa nhóm Sunfid (ví dụ Albendazol, Fenbendazol) sẽ được chuyển thành Sulfocid
và chính dạng Sulfocid này làm tăng tác dụng chống giun Các Sulfocid sẽ tiếp tục oxy hóa chuyển thành Sulfonderivatum, tuy vẫn có hoạt tính chống giun
nhưng yếu hơn Sản phẩm sau phân hủy, một phần thải qua đường mật, một phần thải qua nước tiểu và sữa
Các dạng Pro - Benzimidazol (Febantel, Netobimin, Tiofanat) khi ở trong
cơ thể (invivo) sẽ chuyển thành các Benzimidazol Do đó Fenbendazol, Albendazol, Cobendazol lần lượt là sản phẩm thứ cấp của Febantel, Netobimin và Tiofanat
- Tác dụng phụ:
Nói chung thuốc ít độc, tích lũy tốt Tuy nhiên, một số thuốc như
Albendazol, Cambendazol, Oxfendazol… đều có thể là nguyên nhân gây ra
quái thai
* Albendazol (chế phẩm là Vermitan): Là các dẫn xuất Sulfid Trong
cơ thể chuyển thành dạng Sulfocid, sau đó Oxy hóa thành Sulfol
Trang 34+ Tác dụng tốt, chống được nhiều loài giun tròn ở lợn (T suis, A suum…)
và các loài giun ở trâu, bò, ngựa
+ Ứng dụng: Dùng để tẩy giun T suis ở lợn với liều lượng 10 mg/kg TT
* Fenbendazol (chế phẩm là Panacur): Thuốc có nhóm Sulfid Quá
trình chuyển hóa trong cơ thể cũng tương tự như Albendazol
+ Tác dụng tốt với giun T suis (cả giai đoạn ấu trùng)
+ Ứng dụng: Thuốc có thể dùng ở dạng bột hoặc nhũ dịch để tẩy giun
T suis và các loài giun tròn đường tiêu hóa khác ở lợn Liều lượng 5 - 10 mg/kg TT
* Mebendazol (chế phẩm là Telmin, Mebenvet): Trong phân tử có
nhóm Ceto Ít phân hủy trong cơ thể, sản phẩm phân hủy không còn hoạt tính sinh học
+ Tác dụng tốt với giun tròn và sán dây Thuốc không gây quái thai cho súc vật
+ Ứng dụng: Dùng để tẩy giun T suis ở lợn với liều lượng: 20 mg/kg
TT hoặc 30 mg/kg thức ăn x 5 - 10 ngày
* Oxfendazol (chế phẩm là Synanthic): Là sản phẩm chuyển hóa
Sulfocid của Fenbendazol
+ Phổ tác dụng: Hoạt lực chống giun T suis cơ bản giống Fenbendazol
nhưng có tác dụng phụ gây quái thai ở liều cao
+ Liều lượng: Lợn và loài nhai lại 5 mg/kg TT
* Pro - Benzimidazol: Đây là các chất không có tác dụng chống ký sinh
trùng nói chung và giun T suis nói riêng ở các thí nghiệm invitro Nhưng khi
ở trong cơ thể (invivo) các Benzimidazol tương ứng sẽ được hình thành và có
hoạt tính Do đó về cơ chế tác dụng, phổ tác dụng, tác dụng phụ giống như
những Benzimidazol đã đề cập ở trên
Một số thuốc dùng trong thú y: Febantel (Rital), Netobimin (Hapadex)
Trang 35b/ Các Imidazothiazol
Các thuốc nhóm này tan trong nước, phổ chống giun tròn rộng
Tác dụng chống ký sinh trùng nhanh hơn so với các Benzimidazol
Cơ chế tác dụng giống như Nicotin, nghĩa là thuốc có tác dụng đối kháng với hệ Cholinergic
* Tetramisol, Levamisol (chế phẩm là Biverm, Ripercol)
Tetramisol có hai đồng phân:
S (-) tetramisol (tức là L - tetramisol = Levamisol)
S (+) tetramisol (tức là D - tetramisol = Dexamisol)
Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [6], chế phẩm chống ký sinh trùng có thể
là hỗn hợp hai đông phân trên Tuy nhiên hoạt tính chống ký sinh trùng chỉ ở
dạng quay trái S (-) tức là Levamisol
- Cơ chế tác dụng: Thuốc có tác dụng kích thích hạch, gây co cơ nhanh
và kéo dài Ở liều cao gây ức chế hệ enzim Fumaratreductase của giun T suis Trong ruột, Levamisol tác dụng với cả giun trưởng thành và dạng ấu trùng của
giun Không tác dụng với trứng giun Ngoài ra, thuốc còn kích thích hệ thống miễn dịch của lợn
- Dược động học: Hấp thu nhanh và nhiều ở đường dạ dày - ruột Thuốc cũng hấp thu qua da Tiêm dưới da lợn trong vòng 30 phút đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương Thuốc thải trừ qua nước tiểu ở dạng chưa phân hủy không biến đổi
- Liều lượng: Tetramisol 12 mg/kg TT
Levamisol 5 mg/kg TT
c/ Các Tetrahydropirimidin
Có 3 thuốc trong nhóm này được dùng để điều trị bệnh giun tròn là
Pirantel, Morantel và Oxantel Trong đó, Oxantel chỉ tác dụng với giun T suis
Trang 36d/ Các Piperazin
Piperazin base tan tốt trong nước nhưng tác dụng chống giun T suis kém ổn định Phạm Khắc Hiếu (2009) [6] cho rằng các muối của Piperazin ổn định hơn Do đó sử dụng các muối Citrat, Phosphat và Adipat Trong 3 muối này, muối Citrat tan tốt trong nước nhưng vị đắng Muối Phosphat và Adipat
tan ít hơn và ít vị đắng hơn
Thuốc gây cực hóa (Hyperpolarisation), xóa điện thế tự động của thần
kinh - cơ, nên làm mềm toàn bộ cơ thể giun T suis Những giun T suis bị liệt
sẽ bị nhu động của ruột đẩy ra ngoài theo phân Do tác dụng của Piperazin, sự
thấm ion qua màng tế bào bị giảm, đáp ứng với Acetylcholin của hệ thần kinh
giun T suis cũng giảm, cơ giun giảm tạo Succinat (do cơ giun liệt, không cần
nhiều năng lượng nên cũng không cần nhiều Succinat)
Bản thân sự thiếu năng lượng này càng làm cho giun tê liệt nặng hơn Tuy nhiên, quá trình liệt này có hồi phục
Liều lượng Piperazin Adipat: 200 - 400 mg/kg TT lợn
Các Milbemycin có hơn 30 chất, cũng là sản phẩm của Streptomyces spp
Những thành viên của 2 nhóm này có những đặc điểm chung về cấu tạo hóa học, cơ chế tác dụng, độc lực, phương pháp sử dụng…
Phạm Khắc Hiếu (2009) [6] cho biết: Trong thú y sử dụng các dẫn xuất
bán tổng hợp của Avermectin B 1 , đó là Ivermectin (hỗn hợp của 22,23 - Dihydro - Avermectin B 1a và B 1b)
Trang 37Trong nhóm Milbemycin có Moxydectin được dùng nhiều trong thú y
Các thuốc của 2 nhóm trên đều tan tốt trong Lipoid
Cơ chế tác dụng, phổ tác dụng: Cả Avermectin và Milbemycin đều là
thuốc đối kháng cạnh tranh với GABA (γ - Aminobutiric acid); tức là làm tăng liên kết với receptor ở các synap thần kinh, gây ưu cực hóa ở cơ (Hyperpolarisation), gây liệt cơ Ta biết rằng khi GABA giảm gây co giật, khi GABA tăng gây tê liệt
Dược động học: Cả 2 nhóm Avermectin và Milbemycin đều tan tốt trong
Lipoid nên có thể cho lợn uống thuốc hoặc tiêm dưới da Thuốc phân bố nhanh đến các khí quan trong cơ thể và tích lũy lâu trong các tổ chức, nhất là gan, mỡ Trong gan và tổ chức mỡ, thuốc được phân hủy dần và được thải trừ qua mật, qua nước tiểu Trong sữa cũng có mặt thuốc ở mức độ vừa phải Do thải trừ qua sữa kéo dài nên không sử dụng nhóm thuốc này cho những lợn đang trong giai đoạn nuôi con
Dùng Ivermectin để tẩy giun T suis cho lợn đạt hiệu quả cao và an toàn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [23], có thể dùng một trong các hóa
dược sau để tẩy giun T suis cho lợn:
Mebenvet: Dùng liều 50 mg/kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn một lần Fenbendazol: Liều 30 mg/kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn từ 6 - 15 ngày Levamisol: Liều 7,5 mg/kg TT, trộn thức ăn hoặc tiêm cho lợn
Febentel: Liều 20 mg/kg TT thuốc dùng dạng uống
Ivermectin: Liều 0,2 - 0,3 mg/kg TT, thuốc dùng tiêm cho lợn 2 lần,
cách nhau 1 - 2 ngày
Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2000) [28] cho biết: Levamisol tên thương phẩm là Tramisol hay Ripercol, thuốc có thể trộn vào thức ăn hay pha nước uống có phổ tác dụng rộng với giun T suis Ngoài ra, Fenbendazol tên thương phẩm là Safe Guard, thuốc có thể trộn vào thức ăn dùng liên tục trong
3 ngày, không tồn dư trong cơ thể, có hiệu quả mạnh đối với giun T suis
Trang 38Theo Nguyễn Xuân Bình và cs (1996) [1], hiện nay trên thị trường có
nhiều thuốc điều trị bệnh giun T suis Tuy nhiên, tác giả khuyên nên dùng một trong các hóa dược sau để tẩy giun T suis cho lợn:
- Levamisol: Liều 7,5 mg/kg TT
- Mebendazol: Liều 5 mg/kg TT
- Ivermectin: Liều 0,3 mg/kg TT
Trong thời gian điều trị cần chăm sóc, nuôi dưỡng tốt
Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [34] cho biết: Có thể dùng Tayzu để tẩy giun T suis cho lợn với liều 4g/30 - 40 kg TT, trộn vào thức ăn hoặc dùng Levasol 7,5% tiêm dưới da với liều 1 ml/10 kg TT
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2000) [30], có thể dùng các loại thuốc
sau để trị bệnh giun T suis cho lợn:
- Hanmectin - 25 (tên khác Ivomec, Ecomectin, Doramectin, Dectomax, Eqvalan) có công thức: Trong 100 ml dung dịch vô trùng tiêm chứa 250 mg Ivermectin và 100 ml dung môi, chất bảo quản Sử dụng thuốc tẩy giun T suis
cho lợn với liều 1,2 ml/10 kg TT
- Levasol 7,5% (tên khác Levamisol, Levavet, Levaject - 7,5%) có công thức: Trong 100 ml dung dịch chứa 7500 mg Levamisol hydrochloride và 100
ml dung môi Liều lượng 1 ml/10 kg TT
- Mebendazol 10% (tên khác Mebenvet 10%, Telmin 10%) liều 2g/10 kg TT Thuốc Ivocip - sản phẩm của công ty CIPLA LTD sử dụng tẩy giun T suis cho lợn đạt hiệu quả cao chỉ với một liều duy nhất Ivocip có thành phần chính
là Ivermectin base (trong 1 ml Ivocip có chứa 10 mg Ivermectin base và tá dược vừa đủ), sử dụng Ivocip tẩy giun T suis ở lợn với liều 1 ml/33 kg TT
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26] đã khuyến cáo, để tẩy giun T suis có
hiệu quả cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
Trang 39+ Trước tiên phải chẩn đoán bệnh chính xác Sau đó tẩy cho những lợn bị nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy cho
cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiện được
+ Xác định thời điểm tẩy thích hợp Tốt nhất là tẩy vào mùa xuân (tháng 3 - 4) và mùa thu (tháng 8 - 9) Lượng phân lợn thải ra phải đem ủ nhiệt sinh học để diệt mầm bệnh, sau 15 - 20 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc
* Phòng bệnh:
Hagsten Dr (2000) [47] cho rằng, thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết Và điều này phụ thuộc trước hết vào sự ô nhiễm nơi đó Mức độ ô nhiễm cao là những nơi lợn nuôi trong tình trạng vệ sinh thú y kém, ít sử dụng các thuốc phòng và trị bệnh cho lợn
Việc phòng bệnh giun T suis nói riêng và các bệnh ký sinh trùng đường
tiêu hóa ở lợn nói chung có ý nghĩa quan trọng Vì vậy để nâng cao hiệu quả
trong việc phòng ngừa bệnh giun T suis, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
- Vệ sinh chuồng trại, thiết bị sạch sẽ Không sử dụng chung các dụng
cụ chăn nuôi khi chưa qua khử trùng Cơ sở chăn nuôi phải được xây ở nơi cao ráo, có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Chuồng trại khi xây dựng phải đảm bảo đông ấm, hè mát
- Chất thải từ đàn gia súc phải được thu gom hàng ngày và ủ kỹ đúng nơi quy định Thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật hoang dã vì chúng là những động vật môi giới mang mầm bệnh phát tán trong tự nhiên
- Không nuôi chung lợn ở nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng một khu vực
- Thức ăn phải đảm bảo, nước uống sạch sẽ
Trang 40- Có kế hoạch tẩy giun T suis định kỳ cho lợn
Theo Vũ Tứ Mỹ (1999) [31], trước đây nhiều tác giả đã nghiên cứu các biện pháp phòng trị bệnh giun sán ký sinh như Trịnh Văn Thịnh, Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc, Bùi Lập, Phan Thế Việt, Phạm Văn Khuê, Lương Văn Huấn
Trong cuốn sách: “Bệnh giun tròn của vật nuôi ở Việt Nam” các tác giả
(Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc, 1996) đã giới thiệu một cách có hệ thống những bệnh giun tròn phổ biến gây hại cho vật nuôi và những tiến bộ khoa học kỹ thuật về phòng trị các bệnh này có hiệu quả trong điều kiện thực tế của Việt Nam
Tất cả các nghiên cứu trước đây cho thấy việc phòng ngừa các bệnh giun tròn cho lợn gồm: Diệt giun trong cơ thể lợn, mục đích làm cho con vật khỏe mạnh và ngăn ngừa ngoại cảnh không bị ô nhiễm; diệt trứng giun ở ngoại cảnh mục đích đề phòng cho lợn không bị nhiễm bệnh
Vũ Tứ Mỹ (1999) [31] cho rằng, các biện pháp trên trong những năm trước đây đã mang lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, nhưng đến nay đã bộc
lộ một số nhược điểm cần phải khắc phục đó là:
- Các thuốc đã sử dụng phòng và trị bệnh giun sán là những thuốc hóa học, sử dụng lâu ngày một loại thuốc gây hiện tượng nhờn thuốc, ký sinh trùng đã sinh ra các gen kháng thuốc giảm độ mẫn cảm với thuốc Vì vậy, muốn phòng trị có hiệu quả phải luôn thay đổi thuốc hoặc tăng liều điều trị Hiện nay còn thấy hiện tượng chống chéo (Cross resistance) khi ký sinh trùng
đã chống với một loại thuốc nào đó thì nhanh chóng trở nên chống với tất cả các thuốc trong cùng nhóm
- Đã là thuốc hóa học, sử dụng nhiều nhất là trong điều trị dự phòng định kỳ đều có ảnh hưởng đến sự phát triển, khả năng sinh sản của vật chủ, làm giảm hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi