Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn NGUYỄN TƢ TRỌNG NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA BÊ, NGHÉ Ở HUYỆN NGHĨA ĐÀN VÀ QUỲ HỢP TỈN
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
NGUYỄN TƢ TRỌNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA
BÊ, NGHÉ Ở HUYỆN NGHĨA ĐÀN VÀ QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2011
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
NGUYỄN TƯ TRỌNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA
BÊ, NGHÉ Ở HUYỆN NGHĨA ĐÀN VÀ QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ
Chuyên ngành: Thú y Mã số : 60 62 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Quang
Thái Nguyên - 2011
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chƣa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều
đã đƣợc cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Tƣ Trọng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè; sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
TS Nguyễn Văn Quang đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi
trong quá trình hoàn thành luận văn này
Đồng thời tôi cũng xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Kim
Lan đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành nhiệm vụ
nghiên cứu của mình
Lãnh đạo Công ty , Ban quản lý trang trại bò sữa - Công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Tư Trọng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng .iv
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3
1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé 3
1.1.2 Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé 11
1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé 14
1.1.4 Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé 18
1.1.5 Biện pháp phòng trị bệnh 19
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 21
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 28
2.2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 28
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 29
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở hai huyện của tỉnh Nghệ An 29
2.3.2 Bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa 29
2.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa bê, nghé 30
2.4 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.4.1 Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ
bệnh giun đũa bê, nghé ở hai huyện của tỉnh Nghệ An 30
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa 36
2.4.3 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh đũa bê, nghé 37
2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở hai huyện thuộc tỉnh Nghệ An 43
3.1.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa bê, nghé 43
3.1.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê nghé và sự tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh 55
3.2 Biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé 62
3.2.1 Ảnh hưởng của giun đũa trong hội chứng tiêu chảy của bê, nghé 62
3.2.2 Tỷ lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng khi bị bệnh giun đũa 65
3.3 Nghiên cứu và đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa bê nghé 66
3.3.1 Khả năng diệt trứng và trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh của thuốc sát trùng 66
3.3.2 Nghiên cứu công thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt cao để diệt trứng giun đũa bê nghé 68
3.3.3 Hiệu lực thuốc tẩy giun đũa bê, nghé 72
3.3.4 Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho bê, nghé 74
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
1 KẾT LUẬN 77
2 ĐỀ NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AS : Ánh sáng
cs : cộng sự Nxb : Nhà xuất bản
TT : Thể trọng
TN : Thí nghiệm
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê , nghé tại hai huyện Nghĩa Đàn
và Quỳ Hợp 43
Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê nghé theo mùa vụ 45
Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê nghé theo tuổi 47
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê nghé theo địa hình 50
Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê nghé theo tính biệt 51
Bảng 3.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê nghé theo tình trạng vệ sinh trong chăn nuôi 52
Bảng 3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê và nghé 54
Bảng 3.8 Tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê nghé ở chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trâu, bò 55
Bảng 3.9 Sự phát tán trứng giun đũa bê nghé ở khu vực bãi chăn thả trâu, bò 56
Bảng 3.10 Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé trong phân thành trứng có sức gây bệnh 59
Bảng 3.11 Khả năng tồn tại của trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh trong phân 61
Bảng 3.12 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê, nghé bình thường và tiêu chảy 63
Bảng 3.13 Tỷ lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa 65
Bảng 3.14 Khả năng diệt trứng và trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh của thuốc sát trùng 67
Bảng 3.15 Sự tăng nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của công thức ủ 1 68
Bảng 3.16 Sự tăng nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của công thức ủ 2 69
Bảng 3.17 Sự tăng nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của công thức ủ 3 70
Bảng 3.18 Tổng hợp khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của 3 công thức ủ 71
Bảng 3.19 Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun đũa bê, nghé 73
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cấu tạo giun đũa bê nghé Neoascaris vitulorum 4
Hình 1.2 Sơ đồ vòng đời của Neoascaris vitulorum 8
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê nghé theo mùa vụ trong năm 47
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo lứa tuổi 49
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê nghé theo tình trạng vệ sinh tron g chăn nuôi 53
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê, nghé bình thường và tiêu chảy 64
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây việc phát triển đàn trâu , bò về cả số lượng lẫn chất lượng là một vấn đề quan trọng , nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng , ổn định nền kinh tế , góp phần nâng cao đời sống xã hội Tuy nhiên, các bệnh xảy ra ở lứa tuổi bê , nghé đã gây ảnh hưởng rất lớn đến công tác phát triển chăn nuôi trâu bò , trong đó phải kể đến bệnh giun đũa bê nghé
Bệnh giun đũa bê nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virus, nhưng nó thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của bê nghé
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [28], giun đũa Neoascaris
vitulorum gây tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao trong tổng số bê nghé sinh ra, tỷ lệ
chết có thể tới 38,97% trong tổng số bê nghé bị bệnh
Bệnh giun đũa là bệnh khá phổ biến ở bê nghé của nước ta Bệnh thường phát vào vụ đông - xuân, ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi Bê nghé ở miền núi nhiễm giun đũa cao hơn trung du và đồng bằng
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], Phan Địch Lân và cs
(2005) [11], bệnh do giun Neoascaris vitulorum gây ra, chúng ký sinh trong
ruột non của bê nghé và gây ra các tác hại như: gây tổn thương ruột non, một
số cơ quan (gan, phổi,…) do ấu trùng di hành, giun lấy chất dinh dưỡng làm cho bê nghé gầy còm, chậm lớn Ngoài ra, giun đũa còn tiết độc tố làm cho
bê nghé bị trúng độc, sốt cao, ỉa chảy, gầy sút và dễ chết nếu không được điều trị kịp thời
Nghệ An là một tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu bò, bê, nghé Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
về bệnh giun đũa bê nghé và biện pháp phòng trị vẫn chưa được chú ý Vì vậy, bê nghé ở các địa phương của tỉnh Nghệ An còn bị bệnh phân trắng nhiều, gây thiệt hại kinh tế đáng kể Trong mấy năm gần đây , điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu ở nước ta nói chung và ở các tỉnh miền trung nói riêng có nhiều biến đổi Điều đó có thể ảnh hưởng và làm thay đổi quy luật sinh tồn của ký sinh trùng, từ đó ảnh hưởng đến đặc điểm dịch tễ của bệnh
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế chăn nuôi ở tỉnh Nghệ An và
những vấn đề đề cập ở trên , chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc
điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở huyện Nghĩa Đàn và Quỳ Hợp - tỉnh Nghệ An và biện pháp phòng trị”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu để bổ sung những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa bê nghé trong điều kiện sinh thái hiện nay
- Xây dựng quy trình phòng chống bệnh giun đũa bê nghé để hạn chế tỷ
lệ nhiễm giun đũa, giảm thiệt hại do bệnh giun đũa gây ra, góp phần phát triển chăn nuôi trâu bò
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài làm hoàn thiện hơn những thông tin khoa học về bệnh giun đũa bê nghé tại một số địa phương của tỉnh Nghệ An, đồng thời là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho bê nghé
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi trâu bò áp dụng biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho bê nghé, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm giun đũa, hạn chế thiệt hại do giun đũa gây ra, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé
1.1.1.1 Vị trí của giun đũa bê nghé trong hệ thống phân loại động vật
Bệnh giun đũa do loài giun Neoascaris vitulorum (Goeze, 1782), hay còn có tên gọi khác là Toxocara vitulorum thuộc họ Anikidae gây ra
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [32], giun đũa bê nghé có vị trí trong hệ thống phân loại động vật học như sau:
Nghành Nemathelminthes Schneider, 1873
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân Lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945 Giống Neoascaris Travassos, 1927 Loài Neoascaris vitulorum Goeze, 1782
1.1.1.2 Đặc điểm hình thái của Neoascaris vitulorum
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs
(1999) [9], giun tròn Neoascaris vitulorum có thân màu vàng nhạt, đầu có ba
lá môi, rìa của những môi này có răng cưa, thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần đầu Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35
cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở phía bụng có
20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm Giun cái dài 19 - 23
cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân, đuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ Trứng giun hơi tròn, có vỏ với
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhiều chỗ lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070 - 0,075 mm.
Hình 1.1 Cấu tạo giun đũa bê nghé Neoascaris vitulorum
(theo MOZGOVOI, DAVTIAN)
a) Miệng: 1- Đỉnh đầu; 2- Môi phía lưng;
3- Môi phía cạnh giáp bụng
b) Đầu đuôi: 1- Đoạn đầu; 2- Gai giao hợp;
3- Đoạn đuôi con cái (phía cạnh)
c)1 Đoạn thân trước; 2.3 Trứng
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], Phan Địch Lân
và cs (2005) [11], giun đũa Neoascaris vitulorum (Goeze 1782) ký sinh ở bê
nghé có kích thước: Giun đực ở nghé dài 13 - 15 cm, đường kính 0,3 cm; ở bê dài 14 - 16 cm Giun cái ở nghé dài 19 - 23 cm, đường kính 0,5 cm, trứng 70 -
75 x 80 - 90 µm; giun cái ở bê dài 20 - 26 cm, trứng 75 - 85 x 90 - 100 µm Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân
Phan Lục (2005) [19] cho biết, giun đũa có kích thước to , vàng nhạt, dài 13 - 22 cm, trên đầu có 3 môi Thực quản hình ống dài , phần cuối có chỗ phình to ra gọi là dạ dày giả Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều gai chồi, có hai gai giao hợp to bằng n hau Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt , lớp ngoài cùng lỗ chỗ như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75 mm
Các nghiên cứu trên phù hợp với các tài liệu mô tả của Orlov (1970), Euzeby (1981) nhưng có khác với tài liệu mô tả của Skrjabin (1950), Neveu - Lemaire (1952), Soulsby (1965), Drozdz (1967) là âm hộ giun cái
ở 1/6 trước thân
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] đã mô tả cấu tạo của giun đũa : Giun đực dài 110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81 mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon dần về cuối mút ; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19
mm, có màng mỏng bao bọc ; ở phía trước hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành
2 hàng, sau hậu môn có 5 đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép Giun cái dài 151 -
200 mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hình nón , phủ nhiều gai , dài 0,37 - 0,42 mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dục nằm ở phần trước cơ thể , cách mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể; trứng hình cầu kích thước 0,076
- 0,095 x 0,065 - 0,080 mm
Theo những nghiên cứu của Taira và Fujita (1991) [54] từ năm 1982
-1988, về giun tròn ở hai huyện Kyushu và Okinawa, Nhật bản Hai tác giả đã nghiên cứu 7 giun đũa đực và 21 giun đũa cái về hình thái học, cho thấy độ
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
dài trung bình của giun đực là 15,64 cm (14,0 - 18,0 cm), giun cái 25,75 cm (16,5 - 34,0 cm) Thân trắng đục và mềm Trứng giun dài 81,6 µm và rộng 71,8 µm, bề mặt vỏ trứng trơn nhẵn, không nhăn nheo
Prokopic J và Sterba J (1989) [48] đã quan sát giun đũa Neoascaris
vitulorum trên kính hiển vi điện tử, thấy cấu trúc bề mặt của giun gồm môi,
răng, gai nhỏ và phần đuôi; ở giun non răng hình nón và nhọn chúng dài hơn khi tuổi giun tăng lên
Theo mô tả của Urquhart G.M và cs (1996) [55] thì giun đũa T
viturlorum là ký sinh trùng đường ruột lớn nhất của ở bê nghé, giun cái dài có
thể đến 30,00 cm Giun đũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp biểu bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy được các cơ quan nội tạng Trứng giun đũa có một lớp vỏ dày và trong suốt
1.1.1.3 Đặc điểm vòng đời của Neoascaris vitulorum
Vòng đời của giun đũa bê nghé không cần ký chủ trung gian Davtian (1934 - 1937) làm thí nghiệm: cho bê nuốt trứng giun đũa có sức gây bệnh thì sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành và con non ở cơ thể bê Ngoài
ra, nếu cho bò mẹ trước khi đẻ 124 - 192 ngày nuốt trứng giun có sức gây bệnh thì bê đẻ ra 20 - 31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa Điều đó chứng tỏ giun đũa bê , nghé có thể qua máu truyền vào bào thai Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé đẻ ra đều bị nhiễm giun qua nhau thai Giun đũa bê , nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2 con đường: nhiễm trực tiếp và nhiễm qua bào thai (Nguyễn Hùng Nguyệt và cs ,
2008 [20])
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], trứng giun thải
ra môi trường ở thời kỳ đầu là trứng không cảm nhiễm Skjabin và Schulz (1973) cho biết, sự phát triển của trứng đến giai đoạn cảm nhiễm kéo dài 12 -
13 ngày ở nhiệt độ 28 - 300
C và 17 - 19 ngày ở nhiệt độ 250C
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chẩn đoán bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng giun Neoascaris
vitulorum hoặc trên cơ sở phát hiện thấy giun tự thải ra ở trong phân
Phạm Sỹ Lăng (2005) [12] cũng cho biết, bệnh giun đũa bê nghé l ây nhiễm qua 2 con đường:
- Qua đường tiêu hóa do bê nghé ăn phải trứng giun đũa cảm nhiễm
- Ấu trùng từ máu trâu bò mang thai xâm nhập vào bào thai
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [26], trứng giun đũa ra ngoài thiên nhiên gặp nhiệt độ nóng ẩm thích hợp thì phát triển thành phôi thai: ở nhiệt độ 15 -
170C thì phải 38 ngày, ở nhiệt độ 19 - 220C thì phải sau 20 ngày Nếu để phân khô đi hoặc ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học thì trứng sẽ ngừng phát dục Dưới ánh nắng trực tiếp mùa hè thì một tuần, nếu ở sâu trong đất thì 12 -
15 ngày phôi chết, mùa đông phân khô thì sau một tháng phôi bị diệt
Vichitr Sukhapesna (1982) [57] đã nghiên cứu 10 trâu bò mẹ n hiễm
Strongyloides papillosus và Neoascaris vitulorum cùng với bê nghé kể từ
khi bê nghé được sinh ra Tác giả cho rằng trâu bò mẹ là nơi chứa mầm bệnh
chính làm cho bê nghé con bị nhiễm S papillosus và N vitulorum Bê nghé
đã bị nhiễm S papillosus qua bú sữa từ trâu bò mẹ , và nhiễm N vitulorum
qua nhau thai
Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai
Giun đũa có c hu kỳ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian Giun trưởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng, trứng theo phân
ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi thì phát triển thành phôi thai trong trứng Trứng có phôi thai là trứng đã có sức gây bệnh Sau đó trứng này lại vào cơ thể con vật theo thức ăn, nước uống Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân chia Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm có khác nhau
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ấu trùng
Phổi Gan Máu NM ruột
Tim
Hình 1.2 Sơ đồ vòng đời của Neoascaris vitulorum
Theo Soulsby (1965), ở nhiệt độ tối ƣu 28 - 300C, thời gian này là 7 ngày; ở 250C cần 10 - 11 ngày, ở 15 - 180C cần trên 28 ngày Trứng giai đoạn cảm nhiễm có chứa ấu trùng, có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh
Galila A.B và cs (1990) [40] cho biết, ở 250C trứng giun đũa phát triển thành trứng chứa ấu trùng sau 7 ngày Kết quả trên giống với nghiên cƣ́u của Refuerzo và cs (1952); Enyenihi (1969) tại 270C Nhƣng theo báo cáo của Schwartz (1922) là mất 10 - 12 ngày ở 250C để phát triển thành trứng chứa ấu trùng Giai đoạn thứ hai của trứng chứa ấu trùng đã đƣợc quan sát thấy ở vào ngày thứ 11 và có 91% trứng đƣợc phát triển đến giai đoạn này vào ngày 15 ngày Tawkif (1970) báo cáo rằng mất 9 ngày ở 26 - 280C để phát triển đến giai đoạn trƣ́ng chƣ́a ấu trùng
Irfan và Sarwar (1954) đã nghiên cứu ở Pakistan, trứng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm sau 11 ngày ở 260C; trứng sẽ bị thoái hoá nếu để ở nhiệt
độ 300C; ở 100C trứng ngừng phát triển
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Euzeby (1981) đã theo dõi ở Malaixia cho biết, với nhiệt độ 15 - 170C, cần 38 ngày để trứng phát triển thành trứng có khả năng gây bệnh Theo Orlov (1970), ở nhiệt độ 300C cần hai tuần, ở nhiệt độ 250
C cần ba tuần Refuerzo và Jemenez (1954) đã quan sát sự phát triển của trứng giun ở Philippin cho biết, ở nhiệt độ 170C phôi bắt đầu hình thành vào ngày thứ sáu, hoàn thành vào ngày thứ 9 và có khả năng gây bệnh ở ngày thứ 13 - 15
Trứng giun cảm nhiễm có sức đề kháng cao với một số hoá chất cũng như yếu tố vật lý Khi trứng ở trong phân thì trứng có sức đề kháng cao đối với một số chất sát trùng
Refuerzo và Jemenez (1954) đã làm thí nghiệm về sức đề kháng của trứng giun đũa ở Philippin, thấy trứng có sức đề kháng kém dưới ảnh hưởng trực tiếp của ánh nắng mặt trời Trứng trong phân thì tồn tại lâu hơn và còn phụ thuộc vào khối lượng cục phân Nước nóng có tác dụng diệt phôi thai rất nhanh, nếu ở trong phân thì tác dụng hạn chế; trong nước nóng 90 - 1000
C, trứng đã phân lập ra bị hỏng sau 2 giây, phôi bị huỷ, nhưng nếu ở trong phân thì chỉ ở lượt ngoài trứng bị hỏng
Đối với một số chất sát trùng thông thường như Lysol 2%, Zyphen 4 - 5%, sau 17 - 20 giây phôi bị huỷ hoàn toàn, nhưng ở trong phân thì phôi không bị diệt Phạm Chức (1980) [2] cũng cho biết, Lysol 5% diệt trứng giun đũa trong một giờ; Axit phêníc 5% diệt trứng trong thời gian 45 phút đến một giờ
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], trứng giun đũa phát dục thành phôi thai trong khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 19 - 220C, nhưng phải cần 38 ngày ở nhiệt độ 15 - 17o
C phôi hình thành sau 38 ngày
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999) [13] cho biết, con cái đẻ trứng
ở ruột non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp trứng phát triển thành trứng có khả năng gây bệnh (nhiệt độ 15 - 170C cần 38 ngày, 19 - 220C cần 20 ngày, 250C cần 10 - 12 ngày, 28 - 300C cần 65 ngày, nhưng khi nhiệt độ đến
34 - 350C thì trứng không phát triển)
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [20], trứng giun đũa bê nghé
có sức đề kháng với điều kiện ngoại cảnh , chỉ bị diệt ở nhiệt độ 450C trở lên
và ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp
Sau khi trứng giun cảm nhiễm vào cơ thể trâu bò mẹ, dưới tác dụng của dịch vị và dịch ruột non, ấu trùng nở ra và từ ruột non theo mạch máu vào gan, qua tim lên phổi, ấu trùng đến tim trái và từ đó vào đại tuần hoàn Phần lớn ấu trùng đều theo mạch máu đến các mô và phủ tạng, ở đó nó đóng kén và
có thể sống từ 5 đến 6 tháng hay hơn Trường hợp trâu bò cái nhiễm phải trứng giun trong thời gian chửa thì ấu trùng có thể qua hệ tuần hoàn của nhau thai đến bào thai, hoặc có thể trâu bò cái nhiễm trong thời gian không chửa,
ấu trùng đóng kén ở mô và phủ tạng, khi trâu bò chửa ấu trùng thoát ra khỏi kén theo mạch máu đến nhau thai và vào bào thai
Kén của ấu trùng có thể thấy ở nhiều mô và phủ tạng của trâu bò mẹ như: cơ, thận, não, gan, phổi Ấu trùng có thể sống ở đó 6 tháng Ở con vật không chửa, quá thời gian 6 tháng ấu trùng chết Ở con vật chửa trong vòng 6 tháng, ấu trùng chui ra khỏi kén đi vào nhau thai
Ở bào thai ấu trùng sống trong gan Theo Augustine (1972) và Noda (1954) ấu trùng sống không biến đổi trong suốt thời kỳ bào thai còn ở trong tử cung Theo Spent (1958), thời kỳ cuối trước khi đẻ ấu trùng có thể từ gan lên phổi biến thái một lần Nhưng nói chung, ở mọi trường hợp, chỉ sau khi bê nghé được đẻ ra, ấu trùng mới tiếp tục biến thái sau khi hoàn thành một đợt di hành qua phổi, khí quản, ruột giống như sự di hành của giun đũa lợn, xuống ruột, giun lớn lên nhanh chóng và phát triển thành giun trưởng thành đẻ trứng
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong điều kiện tự nhiên, ở bê nghé từ 17 ngày tuổi trở lên đã có thể tìm thấy trứng giun đũa trong phân Thường tuổi bê, nghé mắc bệnh là 15 - 42 ngày (Boulenger C.L., 1922 [37]; Spent, 1946; Keith, 1951; Irfan và Sarwar, 1954; Spirestava và Mehre, 1955 ) Đối với một số giun đũa khác như Ascaris của lợn, người, Parascaris của ngựa, thời gian từ khi con vật bắt đầu cảm nhiễm trứng giun đũa cho đến khi thành giun trưởng thành có khả năng
đẻ trứng phải tối thiểu trên một tháng Tuổi mắc bệnh quá sớm của bê nghé làm người ta nghĩ đến bê nghé có thể mắc bệnh từ khi còn trong bào thai Mặt khác, nhiều thí nghiệm: gây bệnh cho bê, nghé một ngày tuổi trở lên nuốt trứng giun đũa có phôi đều không thành công (Brampt, 1922; Schmidt, 1933) Năm 1935, Davtian đã gây bệnh được bằng cách cho một bê nuốt trứng giun 2 giờ sau khi đẻ, sau đó 30 ngày xuất hiện trứng trong phân Mổ khám sau khi chết, ngày thứ 43 thấy một giun trưởng thành và 8 giun con
1.1.2 Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé
Bệnh giun đũa bê nghé do Neoascaris vitulorum gây ra, thường xảy ra
hầu khắp các nơi trên thế giới
Travassos và Lacombe (1959) đã điều tra ở Braxin và cho biết, giun
đũa Neoascaris vitulorum là loại phổ biến ở nghé, ít thấy hơn ở bê
Swain G.D (1987) [53] cho biết, đã kiểm tra 12 nghé ở Ấn Độ, thấy 4
con có Neoascaris vitulorum, có con có tới 400 giun trong ruột Tripathi J.C
(1967) cũng cho biết, bê nghé ở Ấn Độ thường bị giun đũa ký sinh
Theo Vichitr Sukhapesna (1981) [56], bê nghé nhiễm giun đũa
Neoascaris vitulorum chủ yếu qua bào thai và sữa
Ranatunga (1960) điều tra ở Srilanka, tại nông trại Ridiyagana, thấy nhiều nghé có trứng giun trong phân ở lứa tuổi 10 - 26 ngày sau khi đẻ Theo tác giả, tỷ lệ nghé chết về bệnh này còn cao hơn bệnh do cầu trùng gây ra
Muangyai M (1989) [45] thông báo rằng, giun đũa bê nghé Neoascaris
vitulorum là một trong những ký sinh trùng chủ yếu gây bệnh cho bê nghé
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Theo Pandey V.S và cs (1990) [47], kiểm tra phân của 20 bê nghé trong giai đoạn 15 - 20 ngày tuổi ở đồng cỏ Zimbabwe, thấy trứng giun có trong phân, số trứng đếm được từ 257 - 19821 trứng/gam phân
Akyol C.V (1993) [35] cho biết, bê ở khu vực Barsa (Thổ Nhĩ Kỳ) bị
nhiễm Neoascaris vitulorum phổ biến qua việc kiểm tra trứng trong phân Ấu
trùng cũng được tìm thấy trong mẫu sữa Đồng cỏ là nơi có nhiều trứng giun nên làm bê nghé bị nhiễm bệnh nhanh Tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các vùng sinh thái khác nhau là khác nhau
Một thông báo khác cho biết, ở Braxin nghé bị nhiễm giun đũa với tỷ
lệ 58% ở tuần tuổi thứ nhất; 87,5% ở tuần thứ 2; 96% ở tuần thứ 3 và 100%
ở tuần thứ 4 Hầu hết bị nhiễm qua bào thai, một số ít trường hợp nhiễm qua sữa Bê, nghé phát bệnh trong độ tuổi 3 - 17 tuần tuổi (Barbosa và Correa, 1989 [36])
Starke W.A., Machado R.Z., Becchara G.H và Zocoller M.C (1996) [51]
đã kiểm tra 75 mẫu phân bê nghé từ 9 - 115 ngày tuổi, thấy có 86,7% bê nghé nhiễm giun đũa Số lượng trứng cao nhất khi 45 ngày tuổi
Wen Y.L và cs, (1986) [58] đã phát hiện 99 con nghé nhiễm giun đũa trong số 245 nghé ở 7 làng của tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc Tỷ lệ nhiễm giun đũa của nghé đực cao hơn nghé cái (43,02% so với 38,03%)
Theo Roberts J.A (1990) [50], tỷ lệ chết của nghé trong 6 tháng đầu
sau khi sinh ở vùng Đông Nam Á tới 30% do giun Neoascaris vitulorum và S
papillosus
Gupta và cs (1985) [41] cho biết, trong 1626 bê ở bang Haryana (Ấn Độ) có 55,8% bị nhiễm ký sinh trùng, bao gồm: giun móc 44,2%; giun đũa 15,2%; giun đầu gai 6,2% Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (62,8%) cao hơn trong mùa xuân (54,2%), mùa hè (52,4%) và mùa đông (52,2%) Trong 2411 nghé
ở Bang Haryana có 62,9% nhiễm ký sinh trùng, trong đó giun đũa là 29,1%;
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
giun móc 20,7%; giun đầu gai 9,2% và cầu trùng 5,2% Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (69,8%) và mùa hè (67,8%), cao hơn mùa xuân (51,9%) và mùa đông (56,3%)
Kết quả điều tra cho thấy, có trường hợp bê mắc bệnh sớm nhất là 15 ngày (Lee - Nigeria, 1959), nghé là 10 ngày (Ranatuga, 1960) Theo Orlov (1970), sau 3 tháng tuổi bê có hiện tượng tự thải giun đũa
Ở Việt Nam, bệnh giun đũa bê nghé là một bệnh rất phổ biến Nghé có triệu chứng đặc trưng là phân có màu trắng, nên nhân dân thường gọi là bệnh
"Nghé ỉa cứt trắng" Năm 1923, Phạm Văn Long đã thông báo về một ca bệnh trên nghé Nhưng đến đầu năm 50, bệnh này mới thực sự được chú ý vì nó gây thiệt hại lớn cho đàn trâu sinh sản ở miền núi
Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23] cho biết, do ảnh hưởng của khí hậu thời tiết nên mầm bệnh lưu truyền từ mùa này sang mùa khác Trứng giun đũa có phôi thai có thể tồn tại từ mùa đông này qua mùa đông năm sau, gặp đợt nghé đẻ ra chúng sẽ nhiễm vào nghé, gây bệnh tạo thành vùng "nghé ỉa cứt trắng"
Do tập tính sinh sản của trâu bò miền núi phía bắc nước ta là đẻ vào mùa đông khô lạnh, thiếu cỏ, thiếu nước nên bệnh giun đũa bê nghé gây tác hại nhiều đối với nghé sơ sinh
Theo Lê Đăng Đảnh và cs (2004) [5] thì bệnh giun đũa bê là bệnh phổ biến ở nước ta , tuổi bê dễ mắc bệnh là 20 - 35 ngày sau khi đẻ , chưa thấy bò trưởng thành mắc bệnh Ở nghé nếu mắc phải giun đũa thì mẫn cảm hơn là ở
bê và có thể bị chết do tiêu chảy
Phùng Quốc Quảng và cs (2006) [22] cho biết, bệnh giun đũa ở bê phổ biến ở lứa tuổi 20 - 25 ngày sau khi đẻ Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới
Ở nước ta , bệnh thường phát vào mùa rét , tại các vùng nuôi bò thuộc đồng bằng, trung du, miền núi Bệnh phổ biến hơn ở miền núi vì bê thường thả rông
đi theo mẹ đi ăn
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tô Du (2005) [3] cho biết, bệnh giun đũa ở bê nghé hay mắc từ 15 - 60 ngày tuổi vì trong đất nền chuồng , hoặc ngoài bãi cỏ có dính trứng giun đũa ,
bê nghé khi gặm cỏ liếm phải rồi mắc bệnh Bệnh thường gặp nhiều ở nghé đẻ vào vụ Đông - Xuân
Bệnh giun đũa bê nghé thường thấy ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi ở các vùng chăn nuôi trâu bò thuộc miền núi, trung du, đồng bằng và ở các cơ sở chăn nuôi trâu bò sữa (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1999 [13])
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [20] cho biết bê ng hé nuôi ở vùng núi bị bệnh giun đũa nhiều hơn so với vùng trung du và đồng bằng Ở nước ta
bê nghé thường bị bệnh vào tháng 12, 1, 2 hàng năm (vụ Đông - Xuân), do trâu bò thường đẻ vào các tháng 11, 12, 1 Bê nghé mắc bệnh giun đũa sớm nhất là 14 ngày tuổi, nhiều nhất ở lứa tuổi 30 - 45 ngày tuổi và muộn nhất ở
65 ngày tuổi, trâu bò không mắc bệnh
Qua điều tra liên tục 6 vụ đông xuân (từ 1954 - 1960) trên hàng nghìn nghé tại xã Hoà Phú, Phúc Thịnh (Chiêm Hoá - Tuyên Quang), xã Minh Sơn (Ngọc Lặc - Thanh Hoá), xã Phượng Tiến (Định Hoá - Thái Nguyên), Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23] thấy, tỷ lệ nghé ốm do giun đũa chiếm tới 38 - 44% so với số nghé đẻ ra, số nghé chết về bệnh chiếm tới 25 - 50% số nghé ốm Như vậy, mỗi năm số nghé chết về giun đũa chiếm 20% số nghé đẻ ra
1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé
1.1.3.1 Cơ chế sinh bệnh
Khi bê nghé nuốt phải trứng giun đũa có sức gây bệnh, sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành ở ruột non bê nghé Trong thời kỳ ấu trùng giun đũa di hành đến một số khí quan như phổi, gan Khi giun trưởng thành ở ruột non số lượng nhiều, vít chặt làm tắc ruột non, có khi làm thủng ruột hoặc chui vào ống dẫn mật, gan
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Giun còn tiết chất độc làm cho bê nghé bị trúng độc, gây ỉa chảy, gầy sút nhanh Giun lấy chất dinh dưỡng làm bê nghé gầy yếu (Phạm Văn Khuê
và Phan Lục, 1996 [6]) Giun đũa Neoascaris vitulorum cũng như các loài
giun sán khác, ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, còn gây tổn thương niêm mạc ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có trong đường
tiêu hoá (E.coli, Salmonella, Proteus ) xâm nhập gây rối loạn quá trình phân
tiết, viêm ruột và tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính
Ngoài ra, giun đũa còn gây viêm ruột cata, một số ít bị biến đổi hoại tử
ở gan Giun ở trong ống dẫn mật gây viêm có mủ, viêm do tổn thương ở phổi cũng được phát hiện Gia súc non mắc bệnh giun đũa bị viêm ruột thứ phát có thể chết đến 80%
Đặc điểm chủ yếu của bệnh là gây tiêu chảy song không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, bê nghé
có biểu hiện nôn từng cơn, kém ăn, thể trạng sa sút Nếu không phát hiện sớm
và điều trị kịp thời bê nghé chết rất nhanh
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [29], ấu trùng sau khi xâm nhập vào
cơ thể bê nghé , ấu trùng di hành gây tổn thương nhiều cơ quan Chúng đem theo nhiều vi khuẩn , virus gây các bệnh truyền nhiễm kế phát Giun chiếm đoạt nhiều chất dinh dưỡng , tiết độc tố đầu độc vật chủ làm bê nghé gầy yếu ,
ỉa chảy, ỉa phân trắng Do giun có kích thước lớn , khi ký sinh với số lượng lớn thường gây tắc ruột, thủng ruột, tắc ống mật
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [20] cho biết giun đũa ký sinh trong ruột non bê nghé sẽ gây ra các tác động:
- Tác động cơ giới : Ấu trùng di hành làm tổn thương gan , phổi Giun trưởng thành dùng các lá môi bám vào niêm mạc ruột và gây tổn thương niêm mạc ruột, viêm cata, ảnh hưởng đến tiêu hóa, sữa không tiêu hóa bị vón lại Sữa này bị vi khuẩn lên men phân hủy , sinh ra nhiều sản phẩm của quá trình phân
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
hủy protit Vì vậy, khi phân ra ngoài có màu trắng sữa , lỏng và có mùi thối khắm Số lượng giun đũa nhiều sẽ gây tắc, thủng ruột, gây viêm phúc mạc
- Tác động do độc tố: giun đũa ký sinh ở bê, nghé sẽ tiết độc tố làm cho con vật trúng độc
- Tác động chiếm đ oạt chất dinh dưỡng : giun đũa lấy dinh dưỡng làm cho bê nghé gầy còm
1.1.3.2 Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích
Bệnh tiến triển ngắn nhất là 5 ngày, dài nhất là 48 ngày, phổ biến là 11
- 30 ngày Nghé thường chết vào 7 - 16 ngày sau khi phát bệnh Thời gian tiến triển của bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào tuổi , sức khỏe của gia súc , cách nuôi dưỡng
Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [24], bê nghé bị bệnh giun đũa
có dáng đi lù đù, đầu cúi, lưng cong đuôi cụp, bụng ỏng, có khi con vật nằm một chỗ không theo mẹ Bệnh nặng bê nghé gầy rạc, xù lông, mắt lờ đờ, chảy nước mắt có nhử, mũi khô, thân nhiệt khoảng 40 - 410C Con vật mệt mỏi, đứng lên nằm xuống, ỉa phân lúc đầu táo hoặc lổn nhổn, màu đen, dần dần chuyển thành màu trắng, lỏng
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], con vật ăn kém,
ỉa chảy, đôi khi táo bón, chướng hơi, đi lại không yên, đau bụng, ho, co giật Trường hợp tự thải giun hay được điều trị thì các triệu chứng sẽ mất đi, ở thể mãn tính bệnh kéo dài 2 - 3 tháng
Phạm Xuân Dụ (1971) cho biết, bệnh ỉa chảy ở bê một phần do giun đũa và bệnh viêm phổi, một phần do giun phổi
Phan Địch Lân (1986) [10] đã thông báo bê Zê bu mắc bệnh giun đũa ở Nông trường Phú Mẫn (Hà Sơn Bình) có triệu chứng ỉa chảy, ủ rũ, nằm liệt tại chỗ và có con chết
Dương Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986) [31], Phạm Sỹ Lăng
và cs (2002) [16] cho biết, bê nghé mắc bệnh thường lù đù, chậm chập, đầu
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
cúi, lưng cong, bụng to, lông xù lên, khoeo và đuôi dính phân bẩn, phân có mùi tanh khắm, màu trắng ngà
Chu Thị Thơm và cs (2006) [29] cho biết v ề lâm sàng của bệnh giun đũa bê nghé: bệnh xảy ra phổ biến ở bê nghé từ 11 - 30 ngày tuổi Bê nghé ủ
rũ, lù xù, chậm chạp đầu cúi, lưng cong, đuôi cụp, thường chết vào ngày thứ 7
- 16 Lúc đầu còn theo mẹ, khi bệnh nặng nghé bỏ bú, không theo mẹ, nằm một chỗ, thở yếu, đau bụng, nằm ngửa dãy dụa, đạp chân lên phía trước bụng
Có khi nghe rõ tiếng sôi bụng Bê, nghé gấy sút nhanh chóng, da khô, lông dựng, mắt lờ đờ, niêm mạc nhợt nhạt, mũi khô, hơi thở thối
Phân màu trắng, mùi rất thối, con vật ỉa chảy nặng, ỉa vọt cần câu, phân dính ở khuỷu chân và xung quanh hậu môn Có thể xem đây là một triệu chứng điển hình giúp cho việc chẩn đoán xác định bệnh giun đũa bê nghé
Theo Usanakorkul S (1987), khoảng 10 - 30% nghé ở Thái Lan bị chết trước khi chúng được cai sữa Hầu hết chúng bị chết bởi nguyên nhân là ký sinh trùng Nghé nhiễm bệnh giun đũa và giun lươn qua đường sữa Trứng của giun đũa có trong phân bê nghé từ 21 - 131 ngày tuổi Cường độ nhiễm cao nhất trong khoảng 21 - 35 ngày Khi có số lượng giun lớn bê nghé bệnh
có triệu chứng kém ăn, ỉa chảy và thiếu máu
Hossain M.I và cs (1988) đã thông báo, Neoascaris vitulorum đã được
tìm thấy ở 296/350 nghé (84,57%) với triệu chứng chậm phát triển, còi cọc, thiếu máu, ỉa chảy và mất nước
Aumont và cs (1991) cho biết, giun đũa Neoascaris vitulorum là ký
sinh trùng chính của bê trong 2 tháng tuổi và làm giảm khối lượng từ sơ sinh đến giai đoạn cai sữa khoảng 10,5kg
Theo Srivastava A.K., Sharma D.N (1981), ở Muthura - Ấn Độ, 16 trong 90 nghé 1 tháng tuổi đã có 500 - 700 trứng giun đũa trong 1 gam phân,
có những triệu chứng biếng ăn, gày còm, xù lông, táo bón, ỉa chảy, phân hôi thối, lưng cong, đau bụng và dáng đi cứng nhắc
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Mổ khám thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun đũa ký sinh, có thể tạo thành búi làm tắc ruột Sữa bị vón cục, màu trắng, có mùi khó chịu, gạt lớp sữa, chất chứa và giun đũa ra thấy niêm mạc có nhiều vết loét Có trường hợp bị thủng ruột, chất chứa lọt ra xoang bụng gây viêm phúc mạc Ngoài ruột non, có thể thấy giun đũa ở các bộ phận: dạ cỏ, dạ múi khế Biến đổi hoại tử ở gan, thấy giun ở trong ống dẫn mật, viêm có mủ ở vỏ thận và viêm do tổn thương ở phổi
1.1.4 Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé
Chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum ở bê nghé dựa vào
triệu chứng lâm sàng, các thông tin về dịch tễ học, xét nghiệm mẫu phân bê nghé bằng phương pháp Fulleborn để tìm trứng giun đũa, kết hợp mổ khám kiểm tra bệnh tích ở ruột non cho phép chẩn đoán chính xác bệnh
* Đối với bê nghé sống:
Theo nhiều tác giả, việc chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum
ở bê nghé có thể căn cứ vào những đặc điểm dịch tễ học: vùng và mùa phát bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh, tuổi mắc bệnh
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé thường mắc nhiều nhất ở miền núi, bệnh thường phát nhiều vào tháng 12, 1, 2 Tuổi mắc bệnh sớm nhất là 14 ngày, tuổi càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng giảm, tới 3 - 4 tháng tuổi thì không bị nhiễm Trâu bò không mắc bệnh này Đây chính là những điều tra cơ bản để
sơ bộ chẩn đoán bệnh Triệu chứng lâm sàng đáng chú ý như: phân màu trắng rất thối, nếu bệnh nặng bê nghé ỉa vọt cần câu, phân dính ở xung quang hậu môn và khuỷu chân là những dấu hiệu hết sức quan trọng để chẩn đoán bệnh giun đũa bê nghé
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng, đặc điểm dịch tễ học của bệnh thì chưa chẩn đoán chính xác được bệnh gì, vì có rất nhiều bệnh ký sinh trùng có biểu hiện giống nhau Chính vì vậy, xét nghiệm phân tìm trứng
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trứng giun đũa Neoascaris vitulorum là căn cứ quyết định kết quả chẩn đoán
bệnh Các phương pháp thường dùng là phương pháp Fullerborn, Darling, có thể dùng phương pháp đếm trứng giun trong 1 gam phân bằng buồng đếm
Mc Master để xác định mức độ nhiễm giun đũa nặng hay nhẹ
* Đối với bê nghé chết:
Mổ khám, quan sát những biến đổi bệnh tích trong đường tiêu hoá của
bê, nghé, tìm giun đũa trưởng thành ở ruột non
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [6], áp dụng phương pháp
mổ khám toàn diện của Skriabin K.I (1982) Phương pháp mổ khám có thể phát hiện tất cả các loài giun sán ký sinh trong cơ thể bê nghé Phương pháp này được đánh giá là phương pháp chẩn đoán bệ nh chính xác nhất , không những xác định được tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, mà còn quan sát được những tổn thương ở đường tiêu hoá do giun sán gây ra
- Cho bò mẹ ăn uống tốt để có đủ sữa cho con bú , kết hợp vệ sinh chuồng trại, môi trường Cho uống nước sạch Giữ chuồng nuôi ấm và khô ráo Tập trung phân ủ để diệt trứng giun
Theo Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (1997) [14], Piperazin, Mebendazol, Tetramisol, Thiabendazol có tác dụng rất tốt khi sử dụng để tẩy giun đũa cho
bê nghé
Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23] cho biết, trong bệnh
giun đũa Neoascaris vitulorum của bê, người ta dùng Santonin với liều 0,02
g/kg TT, cho uống thuốc tẩy kèm theo
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Balabakian X.P (1956) đã ứng dụng có kết quả dung dịch Natri sunfat 10% với liều 4,0 g cho 1 kg thể trọng để tẩy giun đũa cho bê, cho uống qua ống cao su và phễu
Theo Robert J.A (1989) [49], hiệu quả tẩy giun đũa bê nghé của Pyrantel là 100%; Febentel là 100%; Levamisol (7,5 mg/kg TT cho uống) là 83%, Levamisol tiêm (0,1 ml/kg TT) là 73%, Piperazine là 57%
Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [24] đã dùng 8 hạt cau tươi giã nhỏ, trộn với 20 gam bột diêm sinh, hoà với 1/3 lít nước hơi ấm, cho uống vào buổi sáng trong 3 ngày liền; hoặc một nắm vỏ xoan (50 gam) giã nhỏ, trộn với 2 gam muối, hoà với 1/3 lít nước ấm, để lắng, gạn lấy nước cho uống vào buổi sáng, 3 ngày liền; hoặc 2 đến 3 lá đu đủ non giã nhỏ, hoà với 1/3 lít nước, cho uống vào buổi sáng ba ngày liền Có thể cho uống 3 ml tinh dầu giun trộn với 60 ml dầu đu đủ, cho uống một lần vào buổi sáng Cũng có thể cho uống Phenothiazine 1,5 - 2,0 gam/ngày trong ba ngày, hoặc Piperazin 0,2 - 0,3 gam/kg TT
Lê Đăng Đảnh và cs (2004) [5] cho biết , để chủ động phòng trị bệnh giun đũa bê nghé ngay sau khi sinh , chúng ta dùng một số thuốc đặc trị bệnh giun đũa cho bê nghé , có thể dùng : Polystrongle với liều 0,04 g/kg TT cho uống, Levamisol tiêm bắp, Ivomec tiêm dưới da với liều 1 ml/50kg TT
Vichitr Sukhapesna (1981) [56] đã dùng P yrantel Tartrate với các liều khác nhau 5, 10 và 20 mg/kg tẩy cho bê 28 nghé bị nhiễm giun đũa thì thấy với các liều lượng trên thì đều có hiệu quả cao (100%) Số lượng trứng giun đũa thải ra theo phân giảm nhiều sau 1 tuần điều trị
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [28]: Piperazin 0,3 - 0,5 gam/kg
TT, Silicofluorat natri liều 0,035 g/kg TT chia hai lần trong ngày, tinh dầu giun 30 - 60 ml, cho uống Kết hợp giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, ủ phân, chăm sóc chu đáo cho trâu bò mẹ Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [6] cũng sử dụng những hoá dược như trên tẩy giun đũa bê nghé cho kết quả tốt
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Theo Cao Tuyết Lan (1996) [8], dùng Mebenvet liều 120 mg/kg TT tẩy cho nghé nhiễm giun đũa thị xã Lai Châu có hiệu quả tốt
Vương Đức Chất (1995) [1] đã tẩy giun đũa cho bê nghé bằng thuốc Piperazin 0,25 g/kg TT lúc 15 - 20 ngày tuổi, Mebendazole 10 mg/kg TT đạt kết quả tốt
Phạm Vă n Khuê và Phan Lục (1996) [6] đã thử nghiệm ở Mê Linh, Phong Châu (Vĩnh Phú), Kim Bảng (Nam Hà), Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn (Hà Nội) dùng Benzimidazole liều 7,6 - 9 mg/kg TT, tẩy cho
73 bê nhiễm Neoascaris vitulorum, kết quả đạt 100%
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [17] cho biết, dùng các loại hoá dược như Piperazin 0,3 - 0,5 g/kg TT, Tetramizole 10 mg/kg TT,
Mebenvet 0,5 g/kg TT và một số hoá dược khác để tẩy trừ Neoascaris
vitulorum cho kết quả rất tốt, bê nghé khỏi bệnh phân trắng
Chu Thị Thơm và cs (2006) [30] đã đưa ra các phác đồ sau : Dùng Piperazin 0,5 g/kg TT trộn lẫn với thức ăn hay hoà vào nước cho uống, tẩy vào buổi sáng; Phenolthiazin 0,5 g/kg TT uống 2 lần trong ngày, uống 2 ngày liền; Tetramisol 10 - 15 mg/kg TT, cho uống sau khi bê nghé đã bú hoặc ăn Ngoài
ra tác giả còn đưa ra một số loại thuốc nam có tác dụng tẩy giun đũa như:
- Vỏ xoan: cạo bỏ lớp vỏ nâu , sao vàng tán nhỏ thành bột Cho gia súc uống 3 - 5 g liên tục 3 buổi sáng Hoặc có thể săc lấy nước , cô đặc, cho uống vào lúc sáng sớm trước khi cho ăn với liều lượng 30 - 50 ml
- Hạt cau: nghiền nhỏ 4 g hạt cau, sắc lấy nước cho gia súc uống Hoặc nghiền nhỏ, rang khô đem trộn thức ăn, cho ăn vào buổi sáng
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tô Ngọc Đại (1953) [4] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé gây ra tình trạng bê nghé ỉa phân trắng là khá phổ biến và trầm trọng ở miền núi, nơi có chăn nuôi trâu bò sinh sản với số lượng lớn
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trịnh Văn Thịnh (1959) [25] cho biết, nghé nhiễm bệnh từ trong bào thai, đến tuổi ngoài hai tháng rưỡi không phát bệnh nữa, có trường hợp khi đến tuổi ấy nghé tự tống giun ra ngoài
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [26], qua điều tra trên 32 xã thuộc nhiều tỉnh miền núi và trung du miền bắc nước ta, nghé ốm do bệnh giun đũa chiếm 39,1%, nghé chết chiếm 38,7% so với số nghé ốm Đặc biệt bệnh chỉ phổ biến trên đàn trâu sinh sản ở miền núi và trung du, ở vùng đồng bằng bệnh giảm rõ rệt
Theo Trịnh Văn Thịnh (1966) [27], ở Sơn Tây, Phia Đén (Cao Bằng) Ngọc Thanh (Vĩnh Phú), đàn bê mắc bệnh giun đũa chiếm 20% so với số bê
đẻ ra và bê chết do giun đũa chiếm 5% so với số bê ốm
Theo Thanh Cưu (1970), đàn bê của nông trường Ba Vì nhiễm giun đũa 14,6%, thường từ lứa tuổi sơ sinh đến sáu tháng
Dương Công Thuận (1972) đã điều tra trên đàn bê của nông trường Tam Đảo (Vĩnh Phú), nông trường Hà Trung (Thanh Hoá), thấy có 30 - 40% mắc giun đũa, nhưng triệu chứng lâm sàng không rõ như ở nghé, số chết rất ít
Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [24], bê nghé từ 15 - 60 ngày tuổi hay mắc bệnh ỉa cứt trắng, bệnh thường hay gặp nhất ở miền núi
Phạm Văn Khuê và cs (1981) [7] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé khá phổ biến ở các tỉnh miền núi phía bắc Theo Nguyễn Bá Phụ (1992), ở Việt Bắc bê nghé thường mắc bệnh giun đũa từ 30 - 50%
Dương Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986) [31] đã điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở nghé Murah ở nước ta: 3 tuần tuổi nhiễm 58,1%; 4 tuần tuổi nhiễm 67,2%; 6 tuần tuổi nhiễm 25,2%; 7 tuần tuổi nhiễm 28%; 9 tuần tuổi nhiễm 25%; 10 tuần tuổi nhiễm 23%
Phan Địch Lân (1986) [10] đã kiểm tra 30 bê Hà Lan nhập nội ở nông trường Sao Đỏ, cho kết quả tỷ lệ nhiễm giun đũa 25% Ở Mộc Châu, kiểm tra
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
50 bê Hà Lan dưới 6 tháng thấy tỷ lệ nhiễm 30% Nghé Murah dưới 3 tháng tuổi nuôi ở HTX Trực Chính - Khánh Phù - Phù Thượng - Hà Nam Ninh nhiễm tới 71%, nghé 1 tháng tuổi nhiễm 67%
Phan Lục (1993) đã điều tra bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá vùng đồng bằng sông Hồng cho kết quả, trâu bò bị nhiễm nhiều loại ký sinh trùng, trong đó nghé nhiễm giun đũa là 15,1%, bê là 5,4%
Vương Đức Chất (1995) [1] cũng thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa trên đàn bê
ở Hà Nội qua mổ khám là 15,6%
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [17] cho biết, bệnh giun đũa
bê nghé có tỷ lệ nhiễm từ 23% - 64% ở nghé trong độ tuổi 1- 3 tháng, bê trong độ tuổi 17 ngày đến 3 tháng tuổi cũng bị nhiễm bệnh
Theo Cao Tuyết Lan (1996) [8], Tỷ lệ nhiễm giun đũa là 35,3%, cao nhất lúc 31 - 45 ngày tuổi (71,4%)
Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) và cs [17], có thể sử dụng một trong các loại hóa dược sau để điều trị bệnh giun đũa bê nghé: Piperazin dùng liều 0,3 - 0,5 gam/kg TT , thuốc cho uống trực tiếp hoặc trộn với thức ăn ; Levamisol dùng với liều 15 - 20 mg/kg TT, cho uống hoặc 10 - 15 mg/kg TT dùng tiêm; Mebenvet (10% Mebendazol) dùng liều 0,5 gam/kg TT; Ivermectin dùng liều 0,2 mg/kg TT tiêm cho bê nghé
Lê Thị Thanh Nhàn (2008) [21] đã điều trị tiêu chảy cho bê nghé do giun đũa bằng cách : sử dụng một trong các thuốc kháng sinh như Norfacoli hoặc Colistin để điều trị tiêu chảy, sau vài ngày dùng thuốc tẩy giun đũa cho
bê nghé dưới 3 tháng tuổi với mục đích điều trị cho những nghé bị bệnh và tẩy phòng cho những nghé mang giun đũa Trong quá trình điều trị bổ sung chất điện giải và vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho con vật
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Davtian (1934 - 1937), nếu cho bê nuốt trứng giun đũa gây bệnh sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành ở cơ thể bê Ngoài ra, nếu cho
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
bò mẹ trước khi đẻ 124 đến 192 ngày nuốt trứng giun có sức gây bệnh thì bê đẻ ra 20 - 31 ngày trong phân có trứng giun đũa
Gadjiev (1953) cho biết, Hexachloretan với liều 0,2 ml/kg TT, cho uống 2 lần, cách nhau 10 ngày cho kết quả tốt trong việc tẩy giun đũa bê, nghé
Srivastava và Sharma (1981); Makundi và cs (1996) cho biết ,
Toxocara vitulorum là một trong những ký sinh trùng nguy hiểm nhất của bê
nghé Ấu trùng của T vitulorum di hành gây ra tổn thương lớn cho nhiều cơ
quan, đặc biệt là gan và ruột, nó gây chết cho bê , nghé từ 11 đến 50%
Gupta và cs (1985) [41], Hussein M.O và Barriga O (1991) [42] đều
cho biết: giun đũa Neoascaris vituorum có thể lây nhiễm sang nhiều loài động
vật khác, nhưng ký sinh chính là trên bê, nghé ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Bằng thực nghiệm, người ta thấy giun đũa có thể lây nhiễm sang thỏ và chuột
Swain G.D., Misra S.C., Panda D.N (1987) [53] cho biết, ở Ấn Độ trứng giun đũa đã được tìm thấy trong mẫu phân của 170 nghé dưới 6 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm cao nhất ở nghé 1 - 2 tháng tuổi, giảm dần sau 3 tháng tuổi
Iskander A.R., Tawjeek Afarid A.F (1987) đã điều tra 87 nghé ở 60 ngày tuổi bị ỉa chảy từ các tỉnh Sharkia, Dakahlia, Kaliobia và Assiut (Ai Cập), có 18 con (21%) bị nhiễm giun đũa và cầu trùng, có 4 con đã bị chết Noãn nang Eimeria và trứng giun đũa theo tỷ lệ 5:1
Roberts J.A (1989) [49], Devi và cs (2001) cho rằng , giun đũa
Neoascaris vitulorum muốn phát triển thành ấu trùng lây nhiễm đòi hỏi phải
có đầy đủ độ ẩm và nhiệt độ trong khoảng 200C đến 300C Trong mùa hè nóng, hầu hết các ấu trùng bị chết Tuy nhiên, ở nhiều khu vực ẩm ướt, có lượng mưa lớn, sự phát triển của ấu trùng rất thuận lợi
Theo Roberts J.A (1990) [50], giun đũa Toxocara vitulorum chỉ ký
sinh ở trong ruột của bê , nghé dưới 3 tháng tuổi Bệnh được truyền cho bê,
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nghé qua bào thai và qua sữa non của trâu, bò mẹ Bê nghé bắt đầu có giun đũa trưởng thành ký sinh sau 22 ngày tuổi Trứng giun đũa được thải ra trong phân có chứa ấu trùng giai đoạn 1, sau đó chúng phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2 và giai đoạn 3 trong 2 - 4 tuần Trứng có chứa ấu trùng giai đoạn 3 không nở cho đến khi chúng được nuốt vào đường tiêu hóa của bê, nghé
Trâu, bò mang thai bị nhiễm trứng giun đũa do ăn phải trứng chứa phôi
từ môi trường Ấu trùng Neoascaris vitulorum di chuyển qua gan, phổi, cơ
bắp, não, thận, hạch bạch huyết, tuyến vú và các cơ quan khác, tuy nhiên giun trưởng thành không tìm thấy trong ruột non của trâu, bò mẹ
Theo Balabakyan thì Neoascariosis là một bệnh phổ biến ở Azecbaijan
Tác giả cho biết, tỷ lệ cảm nhiễm trung bình là 14,5%, đa số là ở những bê nghé 1 - 2 tháng tu ổi, ít hơn ở 3 - 4 tháng tuổi, bê nghé lớn hơn không có giun Độ cảm nhiễm phụ thuộc vào yế u tố địa lý: miền núi 24,9%; trung du 17,5%; đồng bằng 0,09%
Theo Lora R.B (2001) [43], trứng Neoascaris vitulorum phát triển đến
giai đoạn lây nhiễm từ 7 đến 12 ngày ở 28 - 300
C, là nhiệt độ tối ưu để phát triển Dưới 120C trứng không phát triển , nhưng trứng tồn tại và sẽ tiếp tục
phát triển khi nhiệt độ tăng lên Trứng Neoascaris vitulorum có thể tồn tại ở
môi trường không thuận lợi trong vài tháng và có thể lên đến hai năm
Hussein M.O., Barriga O (1991) [42] đã làm thí nghiệm : gây nhiễm cho 10 thỏ cái New Zealand trứng giun đũ a bê nghé có sức gây nhiễm Kết
quả kiểm tra máu thấy tế bào hồng cầu giảm, nhưng bạch cầu ái toan và ái kiềm tăng
Starke W.A và cs (2001) [52] đã tìm hiểu phản ứng miễn dịch, mức độ kháng thể, kháng nguyên chiết xuất hòa tan (Ex) từ nghé bị nhiễm ấu trùng giun đũa bằng phương pháp ELISA gián tiếp với huyết thanh của 15 nghé con, mẫu được lấy ở 15 và 180 ngày tuổi Từ tất cả các mẫu huyết thanh kiểm tra
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trong thời gian 180 ngày đầu tiên, mức độ kháng thể thấp nhất và cao nhất trong bê ở 1 ngày tuổi trước và sau khi bú sữa đầu cho thấy rằng nguồn gốc của kháng thể là sữa non Ngay sau khi sinh, nồng độ kháng thể trong bê được bú sữa vẫn ở mức cao cho đến 15 ngày tuổi, sau đó bắt đầu giảm xuống mức thấp hơn từ 15 đến 30 ngày tuổi và tương đối ổn định cho đến 120 ngày tuổi
Maria F.N., Wilma A.S.B., Alessandra M.M.G (2003) [44] đã tìm hiểu
sự phát triển phản ứng viêm của ruột và mô của bê bị nhiễm giun đũa trong trong các giai đoạn tuổi Các mẫu máu được thu thập hai tuần một lần từ khi sinh ra đến 174 ngày sau sinh và thấy t rong mô cơ ở chân của bê bị nhiễm giun đũa, số lượng tế bào mast tăng đáng kể, số lượng bạch cầu ái toan tăng ở niêm mạc của tá tràng (gấp 2 - 5 lần so với bình thường)
Abdulalim Aydin và cs (2005) [33] đã xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tuổi bê nghé ở Hakkari thuộc khu vực phía Đông của Thổ Nhĩ Kỳ bằng cách sử dụng phương pháp phù nổi Fulleborne và buồng đếm Mc Master để
đếm trứng giun đũa có trong 1 gam Trứng giun đũa Neoascaris vitulorum đã
được tìm thấy trong 208 mẫu phân trên trong 718 mẫu phân bê nghé được xét nghiệm (28,96%) Bê nghé từ 1 - 6 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 34,4%, từ 6 - 12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 6,6%, trên 12 tháng tuổi là 3,3%
Theo nghiên cứu của Acacio Cardoso Amaral (2005) [34], ở Đông Timor bê nghé nhiễm g iun đũa với số lượng trứng cao nhất là 1.830 trứng/gam phân Con số này thấp hơn so với ở các nước khác Ví dụ: số lượng này của bê, nghé tại Birsa, Ấn Độ là 8.000 đến 26.000 trứng/gam phân (Devi
và cs , 2000), của bê, nghé ở Nigeria là 10.000 đến 30.000 trứng/gam phân (Lee, 1955)
Fabio R.B., Sebastiao R.F., Jackson V.A., Juliana M.A và Andre R S (2010) [38] đã nghiên cứu khả năng diệt của nấm Nematophagous và nấm Pochonia chlamydosporia đối với trứng giun đũa bê nghé trong môi trường
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thạch có 2% nước Trứng giun đũa trong môi trường có nấm bị tiêu diệt sau
10 và 15 ngày còn ở môi trường không có nấm thì không thấy có sự biến đổi của trứng giun đũa Những kết quả này cho thấy rằng Nematophagous và P chlamydosporia có khả năng diệt trứng giun đũa
Gabriel Davila, Max Irsik và Ellis C G (2010) [39] đã đánh giá tỷ lệ
nhiễm giun đũa ở bê tại Bắc Trung Bộ Florida - Mỹ Phân tích 433 mẫu phân
bê dưới 9 tháng tuổi thấy có trứng giun đũa trong phân Tỷ lệ nhiễm theo các lứa tuổi là: bê dưới 3 tháng tuổi là 17,6%, 3 - 4 tháng tuổi là 0,4% và bê 5 - 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm 0,9% và không thấy trứng trong bê lớn hơn 6 tháng tuổi 20 bê bị nhiễm giun đũa được tẩy bằng Fenbendazole (10% Fenbendazole) với liều 5 mg/kg TT Sau 2 tuần dùng thuốc, phân tích lại tỷ lệ
và cường độ nhiễm để đánh giá hiệu quả của Fenbendazole, thì thấy có 17 bê không có trứng giun đũa trong phân, chiếm tỷ lệ 85%
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu:
- Bê, nghé dưới 3 tháng tuổi nuôi tại nông hộ, trại gia đình và tập thể ở một số huyện thuộc tỉnh Nghệ An
- Bệnh giun đũa bê, nghé
* Vật liệu nghiên cứu:
- Mẫu phân tươi của bê, nghé; mẫu đất bề mặt, nước ở bãi chăn thả và mẫu đất (cặn) nền chuồng và khu vực xung quanh chuồng bê, nghé (để xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê nghé, xác định sự ô nhiễm trứng giun đũa bê nghé ở ngoại cảnh)
- Trứng giun đũa bê, nghé (để xác định sự phát triển và tồn tại của chúng ở ngoại cảnh)
- Phân bê, nghé và nguyên liệu ủ (lá xanh, tro bếp, vôi bột): để xác định công thức ủ có khả năng sinh nhiệt tốt nhất nhằm diệt trứng giun đũa bê nghé
- Kính hiển vi quang học Labophot - 2 gắn máy ảnh và màn hình, buồng đếm Mc Master, máy ly tâm, hoá chất và các dụng cụ thí nghiệm khác
- Thuốc sát trùng chuồng trại: Virkon S và Ominicide
- Thuốc phòng, trị bệnh giun đũa bê, nghé: Bivermectin 1%, Levavet và Dectomax
2.2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
* Địa điểm nghiên cứu:
- Các mẫu phân bê , nghé được thu thập ở các nông hộ, trại chăn nuôi
bê nghé gia đình và tập thể với các quy mô khác nhau trong 2 huyện Nghĩa Đàn và Quỳ Hợp thuộc tỉnh Nghệ An
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Địa điểm xét nghiệm mẫu:
Phòng chẩn đoán Công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH , xã Nghĩa Sơn , huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
* Thời gian nghiên cứu: tháng 10/2010 đến tháng 10/2011
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở hai huyện của tỉnh Nghệ An
2.3.1.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé tại hai huyện Nghĩa Đàn
và Quỳ Hợp thuộc tỉnh Nghệ An
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo mùa vụ
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi bê nghé
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo địa hình chăn thả
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tính biệt
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tình trạng vệ sinh
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo loại gia súc (bê, nghé)
2.3.1.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và khả năng tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh
- Xác định tình trạng ô nhiễm trứng giun giun đũa bê, nghé ở chuồng
trại, khu vực xung quanh chuồng trại
- Xác định sự ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở bãi chăn thả (ở đất bề mặt, ở vũng nước trên bãi chăn)
- Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và khả năng sống của trứng
có sức gây bệnh trong phân
2.3.2 Bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa
2.3.2.1 Vai trò của giun đũa trong hội chứng tiêu chảy ở bê, nghé
2.3.2.2 Triệu chứng lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa bê, nghé
2.3.3.1 Xác định tác dụng của một số chất sát trùng đối với trứng giun đũa
và trứng có sức gây bệnh
2.3.3.2 Xác định công thức thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt cao để diệt trứng giun đũa bê nghé
2.3.3.3 Xác định hiệu lực của một số thuốc tẩy giun đũa bê, nghé
2.3.3.4 Đề xuất quy trình phòng, trị bệnh giun đũa cho bê, nghé
2.4 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở hai huyện của tỉnh Nghệ An
2.4.1.1 Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa
ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi
* Bố trí điều tra:
Mẫu được thu thập theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc Chúng tôi đã thu thập và xét nghiệm phân của 1776 bê, nghé dưới 3 tháng tuổi tại 2 huyện của tỉnh Nghệ An
+ Bố trí điều tra tình hình nhiễm giun đũa bê, nghé tại 2 huyện của tỉnh Nghệ An
Việc thu thập, xét nghiệm mẫu phân bê, nghé ở 2 huyện đã được bố trí
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Bố trí điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo địa hình
Địa hình được đánh giá theo 2 loại
- Địa hình bằng phẳng, cao ráo
- Địa hình xen kẽ đồi núi và ruộng nước
Sơ đồ bố trí lấy mẫu như sau:
Nghĩa Đàn (con) Quỳ Hợp (con)
Địa hình xen kẽ đồi núi và ruộng nước 433 478
+ Bố trí điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo mùa vụ
Mùa vụ trong năm được theo dõi gồm:
- Vụ Đông - Xuân : từ tháng 10 - tháng 3 năm sau
- Vụ Hè - Thu: từ tháng 4 - tháng 9
Chúng tôi đã theo dõi ở hai mùa vụ, bê nghé tương đối đồng đều về tuổi, tính biệt, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Nghĩa Đàn (con) Quỳ Hợp (con)