1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

114 886 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG VÀ KHẢ NĂNG TỒN TẠI CỦA ẤU TRÙNG GIUN XOĂN DẠ MÚI KHẾ Ở NGOẠI CẢNH .... Ngoài các bệnh truyền nhiễm còn phải kể đến các bệnh do ký sinh trùng đường tiê

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

ĐÀO VĂN CƯỜNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN XOĂN

DẠ MÚI KHẾ TRÂU, BÒ Ở HAI HUYỆN THUỘC TỈNH

THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y

Mã số: 60 62 50

Thái Nguyên - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

ĐÀO VĂN CƯỜNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN XOĂN

DẠ MÚI KHẾ TRÂU, BÒ Ở HAI HUYỆN THUỘC TỈNH

THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y

Mã ngành: 60 62 50

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Kim Lan

Thái Nguyên - 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực Các thông tin trích dẫn từ các tài liệu tham khảo hoàn toàn chính xác và được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 4 năm 2011

Tác giả

Đào Văn Cường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bàn bè; sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn

Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:

PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và

giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

ThS Phan Thị Hồng Phúc đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ nhiệt tình

để tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình

Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Chăn nuôi Thú y, và các thầy cô giáo giảng dạy chuyên ngành trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 4 năm 2011

Tác giả

Đào Văn Cường

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Các dạng ấu trùng cảm nhiễm bộ Strongylida 9

Hình 2.2 Vòng đời phát triển của giun xoăn dạ múi khế 10

Hình 3.1 Ảnh ba loài giun xoăn dạ múi khế phát hiện ở tỉnh Thái Nguyên 50

Hình 3.2 Ảnh Đầu, đuôi, âm môn giun H contortus 51

Hình 3.3 Ảnh đầu, tử cung và âm môn giun H similis 52

Hình 3.4 Ảnh đầu, đuôi, âm môn 53

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của trâu, bò ở một số xã thuộc huyện Phú Bình và Võ Nhai 57

Hình 3.6 Ảnh mẫu phân trâu bò thu thập ở các nông hộ 57

Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo tuổi trâu, bò 59

Hình 3.8 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo mùa vụ 61

Hình 3.9 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo loại gia súc 63

Hình 3.10 Ảnh trứng giun xoăn dạ múi khế phân lập từ cặn nền chuồng trâu, bò (x200) 65

Hình 3.11 Ảnh trứng H contortus mới thải theo phân bò 69

Hình 3.12 Trứng phát triển sau 1 ngày trong phân bò (mùa Hè) 69

Hình 3.13 Trứng phát triển sau 2 ngày trong phân bò (mùa Hè) 69

Hình 3.14 Trứng phát triển sau 3 ngày trong phân bò (mùa Hè) 69

Hình 3.15 Trứng H.contortus phát triển trong lớp đất bề mặt A0 10 – 20% 72 Hình 3.16 Ấu trùng kỳ I H.contortus trong lớp đất bề mặt A0 10 – 20% 72

Hình 3.17 Phân ly ấu trùng bằng phương pháp Baerman 74

Hình 3.18 Ấu trùng H contortus cảm nhiễm sống trong đất ẩm độ 10 – 20% ở ngày thứ 160 (đợt TN I) ……… 74

Hình 3.19 Ấu trùng chết ở ngày thứ 150 (đợt TNII) 74

Hình 3.20 Ảnh trâu ở huyện Võ Nhai nhiễm giun xoăn dạ múi khế 78

Trang 7

Hình 3.21 Ảnh nghé ở xã Phú Thượng huyện Võ Nhai nhiễm giun xoăn dạ múi khế có biểu hiện lâm sàng rõ rệt 78

Hình 3.22 Ảnh trâu, bò bị nhiễm giun xoăn dạ múi khế nặng 78 Hình 3.23 Ảnh túi chứa trứng và ấu trùng có sức gây bệnh trước khi đặt vào trong hố ủ phân nhiệt sinh học 81Hình 3.24 Ảnh thí nghiệm theo dõi khả năng tồn tại của trứng và ấu trùng giun xoăn dạ múi khế trong 1 đống và 1 hố ủ phân nhiệt sinh học 81Hình 3.25 Ảnh trứng GXDMK trong hố ủ phân ngày thứ nhất (x200) 81Hình 3.26 Ảnh trứng GXDMK bị dung giải trong hố ủ phân ở ngày thứ tư (x400) 81 Hình 3.27 Ảnh ấu trùng giun xoăn dạ múi khế có sức gây bệnh bị chết và biến dạng ở ngày thứ 15 trong hố ủ phân nhiệt sinh học 83Hình 3.28 Ảnh một số thuốc tẩy giun xoăn dạ múi khế cho trâu, bò 85Hình 3.29 Ảnh đàn bò lô thử nghiệm trước khi áp dụng các biện pháp phòng bệnh giun xoăn dạ múi khế 91Hình 3.30 Ảnh đàn bò lô thử nghiệm sau khi áp dụng biện pháp phòng bệnh giun xoăn dạ múi khế 91Hình 3.31 Ảnh đàn bò lô đối chứng trước thời gian thử nghiệm 91Hình 3.32 Ảnh đàn bò lô đối chứng sau thời gian thử nghiệm 91

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Những loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu bò của 2 huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 49Bảng 3.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của trâu, bò ở một số

xã thuộc huyện Phú Bình và Võ Nhai 54 Bảng 3.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo tuổi trâu, bò 58Bảng 3.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo mùa vụ 60Bảng 3.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo loại gia súc 62

Bảng 3.6: Sự phát tán trứng và ấu trùng giun xoăn dạ múi khế ở nền chuồng

và khu vực xung quanh chuồng 64Bảng 3.7: Sự phát tán trứng và ấu trùng giun xoăn dạ múi khế ở đất, nước và

cỏ trên bãi chăn 66

Bảng 3.8: Sự phát triển của trứng H contortus thành ấu trùng cảm nhiễm

Trang 9

Bảng 3.15 Hiệu lực của thuốc tẩy giun xoăn dạ múi khế cho trâu bò 84Bảng 3.16: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế trước khi thử nghiệm biện pháp phòng bệnh 86Bảng 3.17: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế sau 2 tháng thử nghiệm 88 Bảng 3.18: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế sau 4 tháng thửnghiệm 89

Trang 10

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 2

2.1 Mục tiêu 2

2.2 Mục đích 2

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1.1 Giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở gia súc nhai lại 3

1.1.2 Bệnh giun xoăn dạ múi khế ở gia súc nhai lại 13

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 30

1.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh giun xoăn dạ múi khế ở nước ngoài 30

1.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh giun xoăn dạ múi khế trong nước 33

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 35

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 35

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 35

2.1.4 Thời gian nghiên cứu 36

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 36

2.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện của tỉnh Thái Nguyên 36

Trang 11

2.2.2 Nghiên cứu tình trạng ô nhiễm trứng và ấu trùng giun xoăn dạ múi khế

trâu, bò ở ngoại cảnh 36

2.2.3 Nghiên cứu sự phát triển của trứng và khả năng tồn tại của ấu trùng cảm nhiễm H contortus ở ngoại cảnh 36

2.2.4 Biểu hiện lâm sàng của trâu, bò bị bệnh giun xoăn dạ múi khế 36

2.2.5 Nghiên cứu hiệu quả của một số biện pháp phòng trị bệnh giun xoăn dạ múi khế cho trâu, bò 37

2.2.6 Thử nghiệm biện pháp phòng trị trên thực địa và đề xuất quy trình phòng trị 37

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế 38

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun xoăn dạ múi khế ở chuồng nuôi, khu vực xung quanh chuồng nuôi và trên bãi chăn thả trâu, bò 40

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu sự phát triển của trứng và khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm H contortus ở ngoại cảnh 42

2.3.4 Phương pháp nghiên cứu hiệu quả của một số biện pháp phòng trị bệnh giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò 44

2.3.5 Phương pháp thử nghiệm các biện pháp phòng trị trên thực địa 46

2.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 47

2.4.1 Một số công thức tính toán 47

2.4.2 Các tham số thống kê 48

CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 49

3.1 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN XOĂN DẠ MÚI KHẾ TRÂU, BÒ Ở HAI HUYỆN THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN 49

Trang 12

3.1.1 Kết quả xác định thành phần loài giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò tại

một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 49

3.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế trâu, bò tại một số địa phương 54

3.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo tuổi trâu, bò 58

3.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo mùa vụ 60

3.1.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo loại gia súc 61

3.2 TÌNH TRẠNG Ô NHIỄM TRỨNG VÀ ẤU TRÙNG GIUN XOĂN DẠ MÚI KHẾ TRÂU, BÒ Ở NGOẠI CẢNH 64

3.2.1 Sự phát tán trứng và ấu trùng giun xoăn dạ múi khế ở nền chuồng và xung quanh chuồng nuôi trâu, bò 64

3.2.2 Sự phát tán trứng và ấu trùng giun xoăn dạ múi khế ở đất, nước và cỏ trên bãi chăn trâu, bò 66

3.3 NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG VÀ KHẢ NĂNG TỒN TẠI CỦA ẤU TRÙNG GIUN XOĂN DẠ MÚI KHẾ Ở NGOẠI CẢNH 67

3.3.1 Nghiên cứu sự phát triển của trứng H contortus thành ấu trùng cảm nhiễm trong phân bò 67

3.3.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng và khả năng tồn tại của ấu trùng H contortus cảm nhiễm trong lớp đất bề mặt (cùng loại đất, ẩm độ khác nhau) 70

3.4 BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA TRÂU, BÒ MẮC BỆNH GIUN XOĂN DẠ MÚI KHẾ 75

3.4.1 Vai trò của giun xoăn dạ múi khế trong hội chứng tiêu chảy của trâu, bò 75

3.4.2 Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của trâu, bò bị bệnh giun xoăn dạ múi khế 76

3.5 XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ BỆNH GIUN XOĂN DẠ MÚI KHẾ CHO TRÂU, BÒ 79

Trang 13

3.5.1 Hiệu quả của biện pháp ủ nhiệt sinh học phân trâu, bò để diệt trứng và ấu

trùng giun xoăn dạ múi khế 79

3.5.2 Hiệu quả của thuốc tẩy giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò 83

3.6 THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ BỆNH GIUN XOĂN DẠ MÚI KHẾ CHO BÒ Ở HUYỆN PHÚ BÌNH, THÁI NGUYÊN 85

3.6.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở bò trước thử nghiệm 85

3.6.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở bò sau 2 tháng thử nghiệm 88

3.6.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở bò sau 4 tháng thử nghiệm 89

3.6.4 Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun xoăn dạ múi khế cho trâu, bò 91

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 93

4.1 KẾT LUẬN 93

4.2 ĐỀ NGHỊ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nước ta là một nước với gần 80% dân số sống bằng nghề nông nghiệp nên ngành chăn nuôi luôn chiếm một vị trí quan trọng, trong đó có chăn nuôi trâu, bò Chăn nuôi trâu, bò quan trọng bởi nó cung cấp sức kéo và phân bón cho ngành trồng trọt, cung cấp thực phẩm cho con người, ngoài ra còn cung cấp những sản phẩm phụ như: lông, da, sừng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp nhẹ, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Xác định rõ tầm quan trọng của chăn nuôi trâu, bò trong ngành chăn nuôi nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế xã hội nói chung, trong những năm qua nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy chăn nuôi trâu, bò phát triển cả về số lượng và chất lượng nhằm nâng cao đời sống cho người chăn nuôi

Tuy nhiên, việc phát triển đàn trâu, bò ở nước ta hàng năm vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh Ngoài các bệnh truyền nhiễm còn phải kể đến các bệnh do ký sinh trùng đường tiêu hoá gây nên, trong đó

có bệnh giun xoăn dạ múi khế

Bệnh giun xoăn dạ múi khế là một trong những bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá rất phổ biến ở trâu bò Theo Phan Địch Lân và cs (1996) [23], ở nước ta bệnh giun xoăn dạ múi khế phân bố rộng ở các cơ sở chăn nuôi miền núi, trung du, đồng bằng đều có, tỷ lệ nhiễm 30,7-100% Giun xoăn ký sinh ở dạ múi khế hút máu ký chủ, làm cho ký chủ thiếu máu nặng, đồng thời làm tổn thương niêm mạc dạ múi khế, gây ỉa chảy Gia súc mắc bệnh bị còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng và dễ chết nếu mắc bệnh nặng (Skrjabin, (1963) [45]; Trịnh Văn Thịnh, (1963) [32]; Phạm Văn Khuê và cs, (1996) [11]…)

Trang 15

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu, bò Tuy nhiên, vấn đề dịch bệnh vẫn là một trong những trở ngại lớn của ngành chăn nuôi trâu, bò, trong đó có bệnh ký sinh trùng Ở tỉnh Thái Nguyên nói chung và hai huyện Phú Bình, Võ Nhai nói

riêng, những hiểu biết của người chăn nuôi về bệnh giun xoăn dạ múi khế

còn rất hạn chế

Xuất phát từ nhu cầu của thực tế chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Thái Nguyên,

chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

2 MỤC TIÊU VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Mục tiêu

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu,

bò ở 2 huyện Phú Bình và Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên

- Xác định khả năng phát triển của trứng và khả năng tồn tại của ấu

trùng giun xoăn dạ múi khế có sức gây bệnh ở ngoại cảnh

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo, giúp người chăn nuôi áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh giun xoăn dạ múi khế một cách

có hiệu quả, giảm tỷ lệ nhiễm, giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi,

thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở gia súc nhai lại

1.1.1.1 Vị trí của giun xoăn dạ múi khế trong hệ thống phân loại động vật

Giun xoăn ký sinh chủ yếu ở dạ múi khế trâu, bò, bê, nghé gồm nhiều giống loài Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [45] cho biết, họ

Trichostrongylidae (Leiper, 1912) có 3 họ phụ: họ Trichostrongylinae (Leiper, 1908); họ phụ Haemonchinae (Skrjabin et Schulz, 1952); họ phụ Cooperinae (Skrjabin et Schikhobalova, 1952) Nhiều loài giun của 5 giống

trong 3 họ phụ này ký sinh ở dạ múi khế và ruột non loài nhai lại (trâu, bò,

dê, cừu, hươu) Trong điều kiện tự nhiên, tất cả các loài động vật nhai lại đều

bị cảm nhiễm Trichostrongylidae Cụ thể theo Skrjabin K.I và cs (1963)

[45]; Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [25]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [16], giun xoăn dạ múi khế có vị trí trong hệ thống phân loại động vật học như sau:

Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873

Lớp Nematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942

Bộ Strongylida Railliet et Henry, 1913 Phân bộ Strongylata Railliet et Henry, 1913 Siêu họ Trichostrongyloidea Cram, 1927

Họ Trichostrongylidae Leiper, 1912 Phân họ Trichostrongylinae Leiper, 1905 Giống Trichostrongylus Looss, 1905 Loài T colubriformis (Giles, 1892) Loài T axei (Cobbold, 1879)

Loài T probolurus (Railliet, 1896)

Trang 17

Giống Ostertagia Ransom, 1907 Loài O ostertagi (Stiles, 1892) Loài O circumcincta (Stadelmann, 1894) Giống Marshallagia Orloff, 1933

Loài M marshalli (Ransom, 1907) Phân họ Haemonchinae Skrjabin et Schulz, 1952 Giống Haemonchus Cobbold, 1898

Loài H contortus (Rudolphi, 1803) Loài H similis (Travassos, 1914) Phân họ Cooperinae Skrjabin et Schikhobalova, 1952 Giống Cooperia Ransom, 1907

Loài C curticei (Giles, 1892) Loài C punctata (Linstow, 1906) Phân họ Nematodirinae Skrjabin et Orloff, 1934 Giống Nematodirus Ransom, 1907

Loài N oiratianus (Rajevskaia, 1929) Loài N skrjabini (Mizkewisch, 1929) Giống Mecistocirrus Railliet et Henry, 1912 Loài M digitatus (Linstow, 1906)

1.1.1.2 Thành phần loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu, bò

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết, có 7 giống loài phổ biến gồm trên 100 loài, gia súc nhai lại nhiễm hỗn hợp các giống này, trong

đó có 2 giống gây tác hại lớn là Haemonchus và Mecistocirrus 7 giống gồm:

Trang 18

Các loài giun này thường gây bệnh hỗn hợp Trong đó có 3 loài

Haemonchus contortus, Haemonchus similis và Mecistocirrus digitatus

gây tác hại lớn cho ký chủ

Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [34], thành phần loài giun xoăn dạ múi khế ở dạ dày trâu, bò Việt Nam như sau:

Trichostrongylus axei (Cobbold, 1879) Cooperia laterouniformis (Chen, 1937) Haemonchus contortus (Rudolphi, 1803) Mecistocirrus digitatus (Linstow, 1906)

Dẫn liệu của Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [45] cho biết, thành phần loài giun xoăn ký sinh trong dạ dày trâu, bò, dê, cừu và các loài nhai lại hoang dại khác gồm:

Trichostrongylus axei (Cobbold, 1879) Trichostrongylus colubriformis (Giles, 1892) Ostertagia ostertagi (Stiles, 1892)

Ostertagia circuncincta (Stadelmanm, 1894) Marshalla marshalli (Ransom, 1907)

Haemonchus contortus (Rudolphi, 1803) Cooperia curticei (Giles, 1892)

Cooperia punctata (Linstow, 1906)

Các nghiên cứu đều thống nhất rằng, các loài giun xoăn dạ múi khế

của gia súc nhai lại rất phong phú, chúng đều thuộc họ Trichostrongylidae

Leiper, 1912 Giun tròn hình sợi chỉ to hoặc nhỏ Miệng ở tận cùng đầu, xoang miệng không có, ở một số giun có bao miệng nhỏ nhưng xoang miệng không thể hiện rõ và có thể có răng ở trên thành hoặc ở dưới đáy xoang Ở con đực túi sinh dục phát triển tốt, đại đa số thùy bên lớn, thùy lưng thể hiện yếu hoặc không có Có hai gai giao hợp, có hoặc không có bánh lái Âm hộ của con cái nằm sau thân Giun cái đẻ trứng theo phân ra ngoài

Trang 19

1.1.1.3 Đặc điểm hình thái, kích thước các loài giun xoăn chủ yếu ở dạ múi khế

Về hình thái chung, giun xoăn dạ múi khế có thân hình sợi chỉ không phân đốt, cơ thể đối xứng hai bên Bên ngoài được che phủ một lớp Kitin hay còn gọi là lớp biểu bì có các vân, vân ngang hoặc vân chéo (Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái, 1978) [34]

Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [36] mô tả cấu tạo của giun xoăn dạ múi khế gồm các bộ phận sau:

- Hệ tiêu hóa gồm: miệng, môi, túi miệng, thực quản, ruột, hậu môn

- Hệ thần kinh: đơn giản, có vòng dây thần kinh thực quản và các gai cảm giác toàn thân

- Hệ bài tiết: gồm 2 ống bài tiết chạy từ phần sau của cơ thể lên đến phần đầu, rồi xuống và đổ ra lỗ huyệt

- Hệ sinh dục của giun đực và giun cái có cơ quan sinh dục đực hoặc cái

* Các loài thuộc giống Haemonchus

- H cotortus: Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [25], loài Haemonchus contortus (Rudolphi, 1803) ký sinh ở dạ múi khế và ruột non của bò, trâu, dê trên

phạm vi toàn quốc và phổ biến trên toàn cầu Tác giả đã mô tả hình thái H contortus (theo Kamenskii, 1929): giun đực dài 18,7 - 22,3 mm, rộng nhất 0,352

- 0,416 mm Trứng có vỏ mỏng, kích thước 0,080 - 0,085 mm x 0,040 - 0,045

mm Đặc điểm hình thái cấu tạo của loài Haemonchus contortus mà Nguyễn

Thị Lê mô tả ở trên phù hợp với sự mô tả của nhiều tác giả khác (Skrjabin K.I và Petrov A.M, 1963 [45]; Trịnh Văn Thịnh, 1978 [34]; Johannes Kaufmann, 1996 [48]; Urquharrt, 1996 [56] )

- H similis: Thân nhỏ, màu vàng sẫm Gai cổ rất rõ Lỗ bài tiết ở phía

trước cách đầu 0,231 mm Túi miệng rất nhỏ, có răng Quanh miệng có môi bao bọc, phần sau thực quản phình to Giun đực dài 8,000 - 11,000 mm, rộng

Trang 20

0,232 - 0, 265mm Giun cái dài 12,500 - 21,000 mm, rộng 0,315 - 0,378 mm Trứng hình bầu dục, có kích thước 0,073 - 0,079 x 0,031 - 0,042 mm (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [12]) Vỏ trứng mỏng, có phôi bào (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982) [36]

* Loài Mecistocirrus digitatus

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] đã mô tả: giun màu hồng nhạt, biểu bì có vân Túi miệng nhỏ, có 1 răng lớn, thực quản dài 1,600

- 1,800 mm, rất nhỏ, phần sau hơi rộng

Giun đực dài 25,000 - 31,000 mm, giun cái dài 35,000 - 39, 000 mm Trứng dài 0,099 - 0,105 mm, rộng 0,046 - 0,049 mm, có hai lớp vỏ mỏng bao bọc

* Các loài thuộc giống Trichostrongylus

Giống Trichostrongylus gồm nhiều loài, trong đó có một số loài

quan trọng ký sinh ở dạ múi khế và ruột non của gia súc nhai lại

- T axei (Cobbold, 1879): được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới

Ở Việt Nam, các nhà khoa học đã tìm thấy loài giun này ở các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn Nhiều tác giả đã mô tả (theo Ransom, 1911): giun đực dài 3,4 - 4,5 mm, rộng nhất 0,05 - 0,07 mm Giun cái dài 4,6 - 5,5 mm, rộng 0,055 - 0,075 mm Kích thước trứng 90 - 92 x 35 - 42 m (Drozdz và Malcrewski, 1967; Phan Thế Việt, 1977; Trịnh Văn Thịnh,

1978 Nguyễn Thị Lê, 1996; Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008)

- T colubriformis: Ngoài loài giun T axei còn có một loài, mà theo

Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [45], điển hình cho giống

Trichostrongylus, đó là loài T colubriformis Theo nhiều tác giả thì loài giun

này phổ biến ở bò, dê, cừu trên phạm vi toàn cầu Ở nước ta, phát hiện giun

ở dạ múi khế và ruột non bò, dê ở các tỉnh phía Bắc Giun đực dài 4,0 - 6,0

mm, rộng 0,078 - 0,095mm Giun cái dài 5,0 - 6,0 mm; rộng nhất ở vùng lỗ sinh dục (0,080-0,100 mm) Trứng có kích thước 73 - 76 x 40 - 43 m (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [25]

Trang 21

- T probolurus: Giun đực dài 4,300 - 6,500 mm Giun cái dài 4,833 -

6,270 mm, rộng 0,066 - 0,1112 mm Trứng có kích thước 0,072 - 0,095 x 0,042 - 0,0582 mm

*Các loài thuộc giống Cooperia

- C laterouniformis: Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [34] cho biết:

Loài này thân hình sợi chỉ, biểu bì mỏng có vân ngang, vân dọc dài khắp thân; chóp đầu thường có hình một túi phình; thực quản hơi rộng ở phần trên

và phần cuối; vòng thần kinh ở khoảng 2/3 thực quản

Giun đực dài 4,944 mm, rộng 0,071 mm Giun cái dài 5,700 mm, rộng nhất 0,069 mm; chỗ phình đầu dài 0,023 mm và rộng 0,011 mm; thực quản dài 0,297 mm, rộng nhất 0,069 mm Trứng có kích thước 0,073 - 0,030 mm

- C pectinata: Giun đực dài 7,000 mm, rộng 0,130 - 0,160 mm Giun

cái dài 7,500 - 9,000 mm, rộng 0,110 - 0,135 mm (Nguyễn Thị Kim Lan và

cs, 1999) [12]

- C punctata: Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [45], giun cái

dài 5,700 - 10,000 mm Giun đực dài 5,000 - 9,000 mm Giun cái dài 5,700 - 10,00 mm

* Các loài thuộc giống Nematodirus

Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [45] cho biết:

- N oiratianus: Con đực dài 11,000 - 16,500 mm Con cái dài 14, 500

- 17,6 00 mm Trứng rất lớn, dài 0,255 - 0,272 mm, rộng 0,119 - 0,153 mm

- Loài N skrjabin: Con đực dài 15,500 - 17, 250 mm và rộng 0,124 -

0,183 mm Con cái dài 28,500 - 29,500 mm, rộng 0,450 - 0,650 mm Trứng lớn, dài 0,229 - 0,265 mm, rộng 0,084 - 0,114 mm

Trang 22

* Phần lớn trứng giun thuộc họ Trichostrongylidae có hình dạng và

kích thước gần giống nhau nên nếu chỉ căn cứ vào hình thái trứng thì không thể xác định được loài giun Theo nhiều tác giả, có thể nuôi trứng

Trichostrongylidae nở và phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh Sau đó

phân loại theo khoá định loài của Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [25] dựa vào hình thái, kích thước và cấu tạo của ấu trùng có sức gây bệnh

Hình 2.1 Các dạng ấu trùng cảm nhiễm bộ Strongylida

1 Haemonchus contortus; 2 Cooperia; 3 Trichostrongylus; 4 Ostertagia;

5 Chabertia; 6 Oesophagostomum columbianum; 7 Oesophagostomum

venulosum; 8 Bunostomum; 9 Nematodirus

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [25]

1.1.1.4 Chu kỳ sinh học của một số loài giun xoăn chủ yếu ở dạ múi khế

- Chu kỳ sinh học (vòng đời) của các loài giun xoăn dạ múi khế tương

đối giống nhau Giun cái đẻ trứng với số lượng lớn trong một ngày Trứng phát triển ở môi trường bên ngoài thành ấu trùng có sức gây bệnh rồi lại

nhiễm vào ký chủ

Trang 23

Hình 2.2 Vòng đời phát triển của giun xoăn dạ múi khế

* Chu kỳ sinh học của Haemonchus sp

Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [45] cho biết: giun cái đẻ trứng, trứng được bài xuất cùng phân ra môi trường bên ngoài Nhiệt độ của môi trường bên ngoài thích hợp cho trứng phát triển tiếp tục là 20 - 300

C Trong phân, vào ngày thứ hai đã thấy có ấu trùng giai đoạn I nở ra khỏi trứng Những ấu trùng này ăn phân và sống trong phân một thời gian, nhưng không cảm nhiễm được cho súc vật Ở giai đoạn này, ấu trùng kém bền vững hơn ở các giai đoạn sau: chúng chết khi phơi khô và ở nhiệt độ trên 300

C Sự thay đổi về nóng và lạnh cũng làm cho ấu trùng bị chết Ở nhiệt độ 15 - 200

C, ấu trùng giai đoạn I chỉ sau 1 đêm đã ở giai đoạn tiềm sinh, kéo dài 12 - 15 giờ Trong thời gian này, ấu trùng lột xác, sau đó sống trở lại và chuyển vào giai đoạn II

Ở giai đoạn II, ấu trùng mất đi khả năng ăn uống và cũng không thể ký sinh được Qua một ngày sau, đôi khi chưa đến 1 ngày, ấu trùng lại trở lại giai đoạn tiềm sinh lần thứ hai Trong thời gian này, ấu trùng lớn lên, nhưng tầng cutin bao quanh vẫn giữ nguyên và tạo thành nắp Sau khi hình thành nắp thì ấu trùng chuyển vào giai đoạn III Lúc này, ấu trùng đã có khả năng cảm nhiễm cho động vật Từ khi đẻ trứng đến giai đoạn ấu trùng cảm nhiễm cần thời gian không dưới 4 - 5 ngày

Trang 24

Ở giai đoạn III, ấu trùng có sức đề kháng đặc biệt Chúng chết trong môi trường ẩm khi nhiệt độ 500

C và trong môi trường khô khi 600C Những

ấu trùng này đặc biệt chịu được sự khô hạn Khi khô hạn, chúng có thể ở trong trạng thái tiềm sinh trên 1 năm rưỡi Đối với các chất tiêu độc, ấu trùng cũng rất bền vững: dung dịch creolin 2 - 3%, lizol và các chất khác không giết được ấu trùng Ấu trùng chết trong dung dịch axit cacbonic 5% không tinh khiết Cũng như ở giai đoạn I và II, ấu trùng cảm nhiễm chết dưới tác động của nước tiểu Bởi vậy, trong các chuồng nuôi súc vật không thể tìm thấy ấu trùng sống Phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ở trong phân, sau đó

ấu trùng tự rời bỏ phân đi nơi khác

Vào mùa đông, ấu trùng ở trên đồng cỏ thường bị chết Mùa hè,

ấu trùng cũng có thể bị chết dưới tác động của ánh nắng mặt trời và nhiệt độ cao

Khi ấu trùng chui ra khỏi phân, nếu môi trường xung quanh phân ẩm thì ấu trùng có khả năng bò lên phía trên theo vật ẩm đó Nếu phân ở trong

cỏ thì ấu trùng sẽ chuyển động theo những ngọn cỏ ở xung quanh Quá trình chuyển động thẳng đứng theo ngọn cỏ xảy ra càng nhanh hơn nữa ở những nơi đồng cỏ thấp, trong các mùa vụ ẩm ướt, trong thời gian mưa nhiều, trong sương mù và khi có nhiều sương xuống Để ấu trùng có thể bò theo ngọn cỏ không cần phải có lượng ẩm nhiều, mà chỉ cần một lớp ẩm rất ít bọc trên cỏ cũng đã đủ cho ấu trùng chuyển động Khi độ ẩm cao, ấu trùng không có khả năng bám vào cỏ, mà rơi xuống cùng với nước và được nước mang đến những nơi thấp hơn Bởi vậy, tất cả những nơi đồng cỏ thấp, đầm lầy và các vũng đọng nước mưa là những nơi chính làm cho trâu, bò nhiễm

Trang 25

Những ấu trùng cảm nhiễm được súc vật nhai lại nuốt cùng thức ăn và nước uống vào dạ dày Ở đây, chúng "vứt bỏ" vỏ và chuyển sang giai đoạn

IV Thực hiện xong 1 lần lột xác nữa, ấu trùng có khả năng ký sinh và hút

máu ký chủ Sau 2 - 3 tuần, Haemonchus trở thành thành thục, con cái bắt đầu đẻ trứng

Thời gian sống của Haemonchus trong cơ thể gia súc nhai lại chưa rõ,

nhưng người ta cho rằng, thời gian này không quá 1 năm Càng về sau, giun càng già và mất đi khả năng tiếp tục ký sinh

Urquhart G M (1996) [56], làm rõ thêm vòng đời của Haemonchus contortus: ấu trùng cảm nhiễm vào ống tiêu hoá súc vật nhai lại, thực hiện

hai lần lột xác trong ống dẫn tuyến Chỉ trước khi lột xác lần cuối chúng mới phát triển đến giai đoạn lấy máu ký chủ từ những mao quản ở niêm mạc Khi trưởng thành, chúng di chuyển tự do trên bề mặt niêm mạc Thời gian hoàn thành vòng đời ở dê, cừu là 2 - 3 tuần và ở đại gia súc là 4 tuần

* Chu kỳ sinh học của Trichostrongylus sp

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [16] cho biết: Nhiều tác giả, khi nghiên cứu về chu kỳ sinh học của giun tròn đều thống nhất: các loài thuộc

giống Trichostrongylus có vòng đời trực tiếp, không cần ký chủ trung gian

(nghĩa là không có sự thay đổi ký chủ) (Direct nematode life cycle) Trứng giun theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thích hợp (nhiệt độ và ẩm độ), sau 20

- 24 giờ nở ra ấu trùng kỳ I Ấu trùng này hình gậy, thực quản hình ống và có ruột cấu tạo đơn giản, hoạt động mạnh Chúng dùng các loại vi sinh vật ở xung quanh làm chất dinh dưỡng, sau 10 - 30 giờ lột xác thành ấu trùng kỳ II

to hơn ấu trùng kỳ I, cấu tạo tương đối giống nhau Ấu trùng này hoạt động rất mạnh và cũng lấy vi sinh vật xung quanh nuôi sống bản thân Sau 12 - 60 giờ thành ấu trùng kỳ III có sức gây nhiễm Trước khi thành ấu trùng kỳ III,

ấu trùng kỳ II không lột xác, màng bọc ngoài trở thành màng ngoài của ấu

Trang 26

trùng kỳ III Lúc này ấu trùng kỳ III không thể lấy thức ăn ở bên ngoài mà chỉ sống dựa vào thức ăn do ấu trùng kỳ II tích luỹ lại ở trong ruột Ấu trùng

ở bên ngoài đến giai đoạn này là kết thúc, chúng có sức đề kháng mạnh, có thể sống lâu Tuy nhiên, nếu khô hoặc có ánh nắng ấu trùng dễ chết

Khi gia súc nhai lại ăn cỏ, uống nước có ấu trùng gây nhiễm, vào đường tiêu hoá, ấu trùng mất màng ngoài, tiếp tục phát triển, lột xác thành ấu trùng kỳ IV, lại tiếp tục phát triển, lột xác thành ấu trùng kỳ V và phát triển thành giun trưởng thành (Skrjabin K.I và Petrov A.M, 1963) [45], Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996) [11]

* Vòng đời của Mecistocirrus digitatus

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1997) [17] cho biết: Loài này có

vòng đời cơ bản giống vòng đời của Haemonchus Ấu trùng gây nhiễm qua

thức ăn nước uống vào đường tiêu hóa vật chủ Sau 3 ngày một số ấu trùng xâm nhập vào tuyến niêm mạc dạ múi khế hoàn thành vòng đời là 59 - 82 ngày Tuổi thọ của giun 9 - 12 tháng

1.1.2 Bệnh giun xoăn dạ múi khế ở gia súc nhai lại

1.1.2.1 Thiệt hại kinh tế do bệnh giun xoăn dạ múi khế gây ra

Nguyễn Phước Tương (2002) [40] cho biết: Chăn nuôi trâu, bò ở nước

ta đang được chú trọng phát triển Tuy vậy, số bê, nghé chết cao, chủ yếu là

do bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng Trong đó có bệnh giun xoăn dạ múi khế Giun ký sinh trong đường tiêu hóa, hút máu của trâu, bò, gây tổn thương cơ học, tiết độc tố làm cho con vật gầy yếu, mở đường cho vi khuẩn, virút xâm nhập và gây bệnh cho trâu, bò

Việc điều trị chỉ được tiến hành khi gia súc đã mắc bệnh nặng, khả năng cày kéo kém nên gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi

Bệnh giun xoăn dạ múi khế gây ra bởi O ostertagi là bệnh có thể lây

sang người Người mắc bệnh này khi ăn rau sống được bón phân trâu, bò

Trang 27

mắc bệnh Trứng, ấu trùng có sức gây bệnh khi vào ống tiêu hóa của người

sẽ phát triển thành ấu trùng kỳ IV, kỳ V, sau đó phát triển thành giun trưởng thành ký sinh tại ruột non

1.1.2.2 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun xoăn dạ múi khế

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [16], bệnh giun xoăn dạ múi khế có liên quan tới điều kiện thời tiết, khí hậu, mùa vụ và tuổi con vật Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết, bệnh phân bố rất rộng, có ở tất cả các vùng miền núi, trung du và đồng bằng Tỷ lệ nhiễm ở gia súc nhai lại từ 30,7 - 100% Gia súc nhai lại ở mọi lứa tuổi đều nhiễm giun xoăn, nhưng nói chung gia súc trưởng thành có sức đề kháng mạnh hơn gia súc non, gia súc gầy sút, gia súc già yếu sức đề kháng giảm

Soulsby E J L (1982) [54] cho rằng: nhìn chung, sự phát triển của

các giun xoăn họ Trichostrongylidae ở giai đoạn sống tự do (ngoài ngoại

cảnh) phụ thuộc vào điều kiện khí hậu Ở nước Anh, ấu trùng có thể phát triển đến giai đoạn gây nhiễm trong 2 tuần, nhưng thường thì dài hơn và phụ thuộc vào khí hậu Súc vật nhai lại nhiễm giun ở tất cả các tháng trong năm, nhưng nhiễm nhiều và nặng hơn ở những tháng mùa hè ấm và ẩm

Nguyễn Hữu Vũ và cs (2000) [43] cho rằng, gia súc mắc bệnh nhiều vào vụ Hè và tăng vào vụ Thu Đường truyền bệnh chủ yếu là do những con mắc bệnh thải trứng theo phân ra đồng cỏ, bãi chăn, khi gia súc uống nước

có lẫn ấu trùng dễ nuốt phải ấu trùng có sức gây nhiễm Bệnh nhiễm ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều hơn ở gia súc non dưới 1 năm tuổi (Skrjabin K.I và Petrov A.M, 1963 [45])

Theo Phan Địch Lân và cs (1996) [23], trứng và ấu trùng có có sức đề kháng mạnh, nhiệt độ thích hợp nhất cho trứng phát triển là 33,30

C Nhưng nếu với nhiệt độ đó mà ẩm độ cao (96%) thì trứng không phát triển được Ấu trùng gây nhiễm ở nơi ẩm ướt, nhiệt độ 500

C mới chết, nơi khô cạn phải

Trang 28

600C mới chết Ấu trùng gây nhiễm sống được ở nơi khô cạn 1 năm Dung dịch CuSO4 có thể diệt trứng giun trong 8 giờ rưỡi và diệt ấu trùng trong vòng 3 giờ, DDT 1% không diệt được trứng

Ở Việt Nam, theo Nguyễn Thế Hùng (1994) [8], Nguyễn Thị Kim Lan

và cs (2000) [13] tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở dê tăng lên vào vụ Hè - Thu, giảm đi vào vụ Đông - Xuân; tỷ lệ nhiễm cao ở dê dưới 1 năm tuổi Bệnh phân bố rộng, các cơ sở nuôi dê ở vùng núi, trung du và đồng bằng đều

có bệnh, tỷ lệ nhiễm từ 71,79 - 74,63%

Từ những công trình nghiên cứu và nhận xét của nhiều tác giả, có thể

thấy một điều rất rõ là: "Sự tồn tại và phát triển của sinh vật (trong đó có các loài giun xoăn) tại một nơi nào đó thường phụ thuộc vào tổ hợp các điều kiện môi trường, trong đó khí hậu là một trong những điều kiện quan trọng ảnh hưởng sâu sắc nhất" (Trần Đức Hạnh và cs, 1997) [6]

1.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh giun xoăn dạ múi khế

Sau khi xâm nhập vào dạ múi khế và ruột non, giun bám chắc và chọc thủng niêm mạc để hút máu ký chủ, gây viêm, loét niêm mạc và chảy máu mao mạch Ngoài ra, nhiều giun còn cắm sâu đầu vào các ống dẫn tuyến trong dạ múi khế và gây viêm các ống tuyến đó Khi hút máu, chúng tiết ra độc tố làm máu không đông, gây hiện tượng ngộ độc cho cơ thể ký chủ Vì vậy, khi giun không hút máu nữa máu vẫn chảy và theo phân ra ngoài Quá trình tiến triển nặng hơn nếu ghép cùng với các bệnh do các loài giun khác gây nên Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], gia súc khi bị nhiễm giun xoăn dạ múi khế sẽ ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe, làm giảm sức sản xuất của con vật

Tác hại của giun xoăn dạ múi khế thể hiện qua 4 tác động sau:

Trang 29

- Tác động cơ giới: Ấu trùng và giun trưởng thành hút máu ký chủ,

miệng bám chặt vào niêm mạc ruột và dạ múi khế tạo thành các nốt loét xuất huyết

- Tác động tiết độc tố: Độc tố do chúng tiết ra làm máu ký chủ không

đông, độc tố làm ký chủ trúng độc; gầy còm, thiếu máu, rối loạn tiêu hóa, thủy thũng Giun xoăn kích thích niêm mạc dạ dày, cản trở tiết men Pepsinnogen, ảnh hưởng đến tiêu hóa chất xơ

- Tác động chiến đoạt chất dinh dưỡng: Giun nuôi dưỡng bản thân

bằng máu ký chủ, và tiết độc tố làm máu không đông, gây xuất huyết, con vật bị thiếu máu nghiêm trọng

- Tác động truyền bệnh: Giun bám chặt vào niêm mạc gây tổn thương,

phá vỡ vòng tuyến thượng bì, tạo điều kiện cho vi khuẩn từ môi trường xâm nhập gây nên các bệnh ghép với các bệnh ký sinh trùng

1.1.2.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun xoăn dạ múi khế

*Bệnh do Haemonchus contortus

Giun H contortus gây tác hại lớn cho gia súc nhai lại Haemonchosis

gây ra rối loạn nặng toàn cơ thể: tổn thương đường tiêu hoá, hệ thần kinh, hệ

tuần hoàn và các tuyến nội tiết Con vật mắc Haemonchosis bị kiệt sức

nhanh, thiếu máu nặng, thấy có những biến đổi bệnh lý trong não và tuỷ sống Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [45] đã giải thích như sau: sau khi

xâm nhập vào dạ múi khế, H contortus bám chắc và chọc thủng niêm mạc,

gây ra chảy máu mao mạch Ngoài ra, nhiều giun còn cắm sâu đầu vào các

ống dẫn tuyến trong dạ múi khế và gây viêm các ống đó Haemonchus hút máu ký chủ Khi ăn máu Haemonchus thải ra độc tố đặc biệt làm ngộ độc cơ

thể ký chủ

Khi súc vật nhiễm bệnh nặng, niêm mạc dạ múi khế bị phủ một lớp màng dày lên, có những chỗ chảy máu Các chất trong dạ múi khế thường

Trang 30

loãng và có màu nâu Ở con vật mắc bệnh thường thấy dạ múi khế viêm cataz mãn tính, vì vậy lượng thức ăn ở đây không được thấm đầy đủ dịch vị Thức ăn chuyển từ dạ múi khế vào ruột ở dạng bán nhuyễn thể nên mức hấp thu vào máu cũng giảm đi Độc tố của giun làm cho con vật bệnh kiệt sức, thiếu máu và bị phù Con vật chết vì suy mòn do thiếu máu

Quá trình tiến triển của Haemonchosis lại càng nặng hơn khi con vật

bị bệnh ghép cùng với những Trichostrongylus khác Điều này hầu như

thường xuyên xảy ra, vì theo nguyên nhân bệnh, người ta thường gọi những

bệnh đó là Trichostrongylidosis (nghĩa là vật bị Haemonchosis ghép với các bệnh giun xoăn khác Trâu, bò, dê, cừu bị Haemonchus thì mệt mỏi,

chậm chạp, kiệt sức, niêm mạc thiếu máu, có thể bị ỉa chảy xen lẫn táo bón Súc vật non thường không đứng được phải nằm dệt Vật dễ chết nếu mắc bệnh nặng

Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [34], bệnh giun xoăn

ở dạ dày và ruột dê giống Mông Cổ nhập nội, do các loài Haemonchus contortus, Trichostrongylus và Oesophagostomum Có trường hợp đã thấy

1200 - 1500 Haemonchus ở dạ múi khế 1 dê (cao nhất có thể đến 4 - 5 nghìn

giun) Theo tác giả, khi có đến 600 giun trong cơ thể dê đã thấy các triệu chứng: thiếu máu, gầy sút, rối loạn tiêu hoá, lúc đi tả lúc đi táo, kém ăn, đi tụt lại sau đàn; con đực nhảy kém Bệnh thấy ở tất cả các lứa tuổi, nhưng nặng nhất ở dê dưới 1 năm tuổi Bệnh phát mạnh vào mùa Hè - Thu

Những biến đổi bệnh lý và lâm sàng ở súc vật bệnh còn chịu ảnh hưởng của chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008)

[16] cho biết, triệu chứng và những biến đổi bệnh lý của Haemonchosis thể

hiện ở những gia súc được nuôi dưỡng kém rõ rệt hơn là những con vật được nuôi dưỡng bình thường

Trang 31

Mất máu nên cơ thể bị thiếu máu nghiêm trọng là triệu chứng thấy rất

rõ ở gia súc mắc bệnh do Haemonchus Andrews (1942) đã xác định lượng máu thải theo phân ở hai cừu con nhiễm liều chí tử ấu trùng Haemonchus

Sau khi nhiễm 6 - 10 ngày, phân bắt đầu có máu Trong 10 ngày tác giả tính được ở một con mất 1,5 lít máu, còn con kia mất 2,4 lít máu trong phân (Dẫn theo Skrjabin, 1963; Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982; Phan Địch Lân và cs, 1989; Phạm Văn Khuê và cs, 1996)

Về biểu hiện lâm sàng của con vật bị Haemonchosis, Phan Địch Lân,

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2002) [24] cho biết, ngoài các triệu chứng thiếu máu, kém hoạt động, ăn uống giảm sút, kiết lỵ và táo bón xen kẽ, con vật còn

bị thuỷ thũng dưới cổ, trước họng và ngực Biểu hiện rõ rệt nhất là ở những chỉ số máu: giảm hồng cầu, giảm huyết sắc tố, bạch cầu tăng Khi quá yếu, con vật thường chết

Có thể gặp Haemonchosis ở ba dạng hay là ba giai đoạn Skrjabin K.I

và Petrov A.M (1963) [45] đã phân biệt ba giai đoạn đó như sau:

- Trong giai đoạn đầu, ở dạ múi khế có số lượng Haemonchus không

nhiều lắm (một con đến một vài trăm con) Trường hợp này triệu chứng lâm sàng không xuất hiện

- Trong giai đoạn hai, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích (biến đổi giải phẫu bệnh lý) cũng chưa thể hiện rõ rệt Số lượng giun nhiều hơn ở giai đoạn một

Giai đoạn một và hai của Haemonchosis không thể coi là nguyên nhân

làm vật chết, nếu như không ghép cùng với các bệnh khác

- Giai đoạn ba là giai đoạn con vật thể hiện triệu chứng điển hình, số lượng giun nhiều hơn hai giai đoạn trên

Nguyễn Thị Kim Lan (2000) [14] đã theo dõi 41 dê bị bệnh giun xoăn

dạ múi khế, thấy: 82,93% thiếu máu nặng, 100% gầy xơ xác, 63,41% ỉa lỏng

Trang 32

liên miên, 36,59% ỉa chảy xen táo bón từng đợt, 39,02% bị thuỷ thũng ở ngực, bụng và 4 chân Mổ khám dê chết do giun xoăn dạ múi khế thấy, niêm mạc dạ múi khế phủ màng dầy, có nhiều chỗ chảy máu Chất chứa trong dạ múi khế thường loãng, màu nâu Dạ múi khế và ruột non viêm cataz mãn tính, niêm mạc thuỷ thũng, có nhiều mụn loét Trong chất chứa dạ múi khế

và trên niêm mạc có nhiều giun xoăn ký sinh

Theo Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2002) [24], dê bị bệnh giun xoăn dạ múi khế thường thiếu máu, kém hoạt bát, ăn uống sút kém, ỉa chảy và táo bón xen kẽ Thuỷ thũng dưới cổ, trước bụng, ngực và 4 chân Con vật gầy yếu dần, đi lại khó khăn, hay bị bỏ rơi sau đàn Khi quá gầy yếu và thiếu máu, con vật chết

*Bệnh do các loài giun xoăn khác ở dạ múi khế

Một số loài giun thuộc giống Trichostrongylus, Cooperia, Mecistocirrus ký sinh ở dạ múi khế có thể gây bệnh cho gia súc nhai lại,

hoặc hỗn hợp nhiều loài, hoặc riêng lẻ từng loài

Bệnh lý của Trichostrongylosis phụ thuộc vào cường độ cảm nhiễm

Người ta đã biết là gia súc bị chết khi nhiễm tới 60 - 120 nghìn ấu trùng cảm

nhiễm Trichostrongylus axei Những con vật non nhiễm mức độ nặng chậm

lớn và kém phát triển Bệnh chia làm hai thời kỳ Thời kỳ thứ nhất - cấp tính, kéo dài gần 6 tuần (ở thời kỳ này một số con non bị cảm nhiễm nặng, ngừng phát triển, sút cân và chết Mổ khám thấy dạ múi khế bị viêm cấp tính có kèm theo những nốt loét) Thời kỳ thứ hai - mãn tính, triệu chứng giảm dần, con vật lên cân, những nốt loét trong dạ múi khế dần dần lành thành sẹo

Giun Trichostrongylus gây bệnh yếu hơn Haemonchus (Skrjabin K.I và

Petrov A.M,1963) [45]

Theo Drozdz và Malczewski (1967) [44], vai trò gây bệnh của các loài

giun thuộc giống Trichostrongylus như sau: trong giai đoạn ấu trùng, giun

Trang 33

xâm nhập niêm mạc dạ múi khế và tá tràng, gây tác động đầu độc ở cục bộ

và toàn thân, biểu thị bằng sự thiếu máu dần, ỉa chảy và suy nhược ở con vật

bệnh Beker và Douglas cho biết, bệnh do Trichostrongylus có triệu chứng

thiếu máu là do tuổi thọ của hồng cầu ngắn đi 5 lần và tuỷ xương không còn khả năng tái sinh hồng cầu để bù lại Nhưng nếu súc vật được nuôi tốt thì không có những tổn thương về máu Vì lý do này mà một số nhà nghiên cứu

cho là, sự thiếu máu trong bệnh do Trichostrongylus ở gia súc nuôi dưỡng

kém có thể là do giun chiếm đoạt những nguyên tố vi lượng có trong ruột ký chủ Khi cảm nhiễm nặng, thấy viêm cấp tính niêm mạc dạ múi khế, trên đó

có những tổn thương hình miệng phễu đường kính 0,25 - 20 mm, bờ trắng, lồi Súc vật ốm giảm uống nước, tăng cân rất ít hoặc sút cân

Trong bệnh do Cooperia, người ta thấy quá trình viêm ở ruột non dẫn

đến tổn thương niêm mạc, trên niêm mạc hình thành những hạt màu trắng

Tuyến lâm ba bên cạnh bị teo Tác động toàn thân của giun Cooperia - theo

Andrews (1938) - biểu hiện bằng sự trao đổi vật chất tăng nhanh ở súc vật bệnh, kèm theo giảm đồng hoá thức ăn làm cho con vật bị giảm thể trọng Những gia súc gây nhiễm thí nghiệm dù nuôi tốt hơn những con đối chứng nhưng vẫn tăng trọng ít (Drozdz và Malcrewski, 1967 [44]; Phạm Văn Khuê

và Phan Lục, 1996) [11]

Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [45], khi con vật bị bệnh

nặng, Cooperia có thể gây ra viêm niêm mạc ruột Một số giun Cooperia (Cooperia punctata) có thể xâm nhập vào thành ruột, gây viêm và tạo thành

áp xe ruột Các hạch lâm ba gần đó bị sưng, thoái hoá bã đậu Ấu trùng giun khi cư trú trong niêm mạc ruột tạo thành những hạt ký sinh, kích thước từ 3 -

5 mm Vật nhiễm Cooperia nặng bị rối loạn chức năng tiêu hoá, ỉa chảy và

kiệt sức, có thể chết vì bệnh quá nặng

Trang 34

Mamedov A K (1959) thấy rằng, ở trong tuyến hạ vị Cooperia punctata bám chắc sâu vào nhu mô bằng phần trước của chúng, chứng tỏ là

có sự cư trú ngẫu nhiên của giun này trong tuyến hạ vị

Mecistocirrus digitatus cũng sống bằng máu ký chủ như nhiều loài

giun xoăn khác Vai trò gây bệnh của nó (theo Ivaszkin, 1949) là: giun lấy dinh dưỡng bằng máu và phá hoại niêm mạc nơi giun sống, gây viêm niêm mạc, do đó gây nên những rối loạn tiêu hoá Bệnh làm con vật kiệt sức, giảm hiệu suất và thường dẫn đến chết

Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [45] cho biết, giun Mecistocirrus digitatus là loài giun ăn máu Bệnh làm gia súc non kém phát triển và thường

thấy chết vào mùa xuân Mổ khám thấy hiện tượng viêm cataz dạ múi khế, niêm mạc bị xuất huyết điểm hoặc xuất huyết vùng

Nhiều tác giả khác (Trịnh Văn Thịnh, 1978 [34]; Trịnh Văn Thịnh,

1982 [36]; Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996 [11]; Phạm Sỹ Lăng và cs,

2002 [21]) cũng thống nhất với các tác giả trên về bệnh lý và lâm sàng của

Mecistocirrosis

1.1.2.6 Chẩn đoán bệnh giun xoăn dạ múi khế

Nghiên cứu về các phương pháp chẩn đoán bệnh do các loài giun

thuộc họ Trichostrongylidae gây nên, nhiều tác giả khẳng định: không thể

chẩn đoán chính xác bệnh nếu không tiến hành các phương pháp tìm trứng giun trong phân

Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [45]; Trịnh Văn Thịnh (1963) [32], kết hợp quan sát triệu chứng trên con vật còn sống với xác định trứng bằng cách soi phân Triệu chứng có thể thấy là viêm dạ dày ruột mãn tính, ỉa chảy xen táo bón Soi phân bằng phương pháp phù nổi dễ thấy trứng

Mổ khám con vật chết cũng cần phải làm để tìm giun ở dạ múi khế và tá tràng; thấy được ngay những loài lớn (2 - 3 cm), còn những loài nhỏ (4 - 5

Trang 35

mm) thì phải dùng kính lúp hoặc kính hiển vi (phóng đại 20 - 30 lần) Trịnh Văn Thịnh cho biết: ký sinh trùng thường dễ thấy, vì có hàng trăm, hàng nghìn giun thuộc nhiều loài cùng ở lẫn với nhau Cũng cần chú ý đến sự lưu hành của bệnh: bệnh rất nặng, thường làm 1/2 số súc vật mắc bệnh chết, 1/2

số còn lại bần huyết đến nỗi giá trị giảm tới 50%, khi mổ thịt thường phải giữ lại vì gầy rạc Bệnh đáng sợ hơn ở súc vật nuôi đàn (dê, cừu), vì chỉ cần đưa 1 con ốm vào là đủ làm lây bệnh sang cả đàn Con non dị cảm với bệnh hơn con trưởng thành Các giống nhập nội vào nước ta dễ mắc bệnh nặng và

dễ chết Đặc điểm dịch tễ học của bệnh là những căn cứ góp phần xác định chính xác hơn

Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [36]; Phạm Văn Khuê và Phan Lục

(1996) [11] cho biết, để chẩn đoán bệnh do Haemonchus và Mecistocirrus

không thể chỉ căn cứ vào triệu chứng lâm sàng, vì đối với con vật còn sống, triệu chứng lâm sàng không điển hình Mặt khác, trứng khó phân biệt với các loài khác nên khó xác định Theo các tác giả thì có thể xét nghiệm phân theo phương pháp sau: nuôi trứng cho nở thành ấu trùng (lấy phân con vật nghiền nát, trộn lẫn với đất vô trùng, cho vào đĩa lồng, giữ cho độ ẩm 60 - 70%, nhiệt độ 25 - 300

C, pH: 6,8 - 7,4; nuôi trong 4 - 5 ngày Sau đó phân lập ấu trùng theo phương pháp Baerman, xem kính hiển vi tìm ấu trùng) Whitlock

H V (1956) đề nghị kỹ thuật cấy phân dê, cừu như sau: cho xuống đáy 1 lọ nhỏ một lớp bông dầy 1 cm, đổ đầy phân đã nghiền nát vào lọ Lấy ống hút bơm nước chảy theo bờ trong của lọ cho đến khi ướt bông ở đáy Cho lọ nhỏ này vào 1 cái lọ to và đổ nước vào lọ to cho đến khi mặt nước xâm xấp ngang miệng cái lọ nhỏ thì thôi Đậy lọ to lại và cho vào tủ ấm 270

C trong 8 ngày Những ấu trùngnở ra sẽ bò lên miệng lọ nhỏ bên trong và tràn vào nước ngoài lọ to Lấy nước ấy cho vào ống nghiệm, để lắng cặn trong 3 giờ Gạn nước trên đi, tìm ấu trùng trong cặn

Trang 36

Sau khi lấy được ấu trùng sống và rất di động, phải giết ấu trùng bằng cách thêm vào nước chứa ấu trùng vài giọt dung dịch Iod + Ioduar kali có 2% Iod (Iod 2g + Ioduar kali 4g + Nước 100 ml; bắt đầu hoà tan Ioduar kali trong

20 ml nước, thêm Iod bột và khi Iod đã tan hết thì thêm cho đủ nước); hoặc làm nóng vừa phải để giết ấu trùng Theo Premvati (1958), nhúng ấu trùng vào một dung dịch (Bleu cresyl + gôm arabic + formol nhẹ) trong 20 - 25 phút, có thể làm cho dễ quan sát những đặc điểm về cấu tạo Kiểm tra dưới kính hiển vi với độ phóng đại 75 - 100 lần và chú ý những đặc điểm sau để chẩn đoán

- Có hay không có vỏ bọc ấu trùng và số lượng các vỏ bọc ấy

- Chiều dài của ấu trùng (kể cả vỏ)

- Chiều dài của đuôi (đo từ hậu môn đến điểm chót của thân thể)

- Hình dạng đuôi, vỏ của ấu trùng

- Số lượng và hình thái các tế bào ruột

Ngoài các phương pháp trên, đối với gia súc nhai lại còn sống, có thể chẩn đoán bằng phương pháp miễn dịch học

Kháng nguyên chẩn đoán chế từ giun trưởng thành, ấu trùng hoặc dịch trong cơ thể ấu trùng Có thể pha loãng thành các nồng độ khác nhau từ 1: 5000 đến 1: 10.000 Dùng kháng nguyên tiêm trong da, tiêm dưới da, nhỏ mắt, làm phản ứng lắng cặn, phản ứng kết hợp bổ thể nhưng thường dùng phương pháp tiêm trong da (tiêm nội bì) Liều tiêm kháng nguyên thường dùng là 0,1 - 0,5 ml Sau khi tiêm 3 - 15 phút, theo dõi sự biến đổi ở nơi tiêm Nếu nơi tiêm sưng to, xung quanh đỏ, đường kính khoảng 2 - 4 cm thì phản ứng dương tính, ngược lại là âm tính (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982) [36]; (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996) [11] Hiện nay, có thể chẩn đoán bệnh giun sán bằng một số phương pháp như phương pháp miễn dịch huỳnh quang, miễn dịch men

Trang 37

ELISA Tuy nhiên, các phương pháp này còn ít được sử dụng trong thú y mà chủ yếu được dùng trong y học (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [25]

1.1.2.7 Phòng trị bệnh giun xoăn dạ múi khế

*Điều trị bệnh

Từ những vấn đề đã trình bày ở trên, chúng ta đã thấy vai trò gây bệnh

của những giun tròn thuộc họ Trichostrongylidae là rất nghiêm trọng Vì

vậy, cần có các biện pháp điều trị hiệu quả

Theo Trịnh Văn Thịnh (1976) [33] có thể áp dụng kết hợp 3 biện pháp

trong chữa Trichostrongylidosis Đó là:

- Cách ly súc vật ốm và tẩy giun kịp thời bằng các thuốc: CuSO4

(dung dịch 1/100 trong nước mưa), liều 15 - 150 ml/con (tuỳ theo lứa tuổi và trạng thái sức khoẻ con vật); hoặc dùng thuốc Phenothiazin (0,2 g/kgTT trâu, bò; 0,5 g/kgTT dê, cừu) trong 2 ngày Thuốc có tác động nhiều nhất đến

Trang 38

Drozdz và Malcrewski (1967) [44] cho rằng, Phenothiazin là một trong những thuốc căn bản nhất và thường được sử dụng để chống những bệnh do ký sinh vật ở dạ dày, ruột gia súc nhai lại Thuốc này sử dụng dưới hình thức dung dịch không bền vững trong nước, hoặc hình thức viên, nang, bánh nhưng thường dùng trộn vào thức ăn, không cần nhịn ăn và dùng thuốc tẩy Tác giả cho là Phenothiazin tác dụng tốt hơn với giun

Haemonchus, Trichostrongylus, nhưng với Cooperia và Ostertagia thì thuốc

có tác dụng yếu Thuốc cũng có tác dụng khác nhau với các giai đoạn phát triển khác nhau của giun Nói chung, thuốc này tác dụng yếu với giun chưa trưởng thành, điều đó dẫn đến sự cần thiết điều trị nhắc lại Phenothiazin tương đối ít độc, nhưng những loài gia súc nhai lại khác nhau phản ứng với thuốc khác nhau Dê nhạy cảm nhất với thuốc, bò ít nhạy cảm hơn, còn cừu lại chịu được một liều tới 400g Thuốc thải trừ theo đường mật, nước tiểu và sữa trong 48 giờ đầu và kéo dài 3 - 5 ngày Ngoài ra, các thuốc Ronnel,

Trolen (liều 100 mg/kgTT) rất hiệu nghiệm với Haemonchus

Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [36]; Phan Địch Lân và cs (1996) [23]; Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], Trần Minh Kiêm, 2004 [9], có thể dùng các thuốc sau điều trị bệnh giun xoăn dạ dày và ruột loài nhai lại:

- Phenothiazin: hiệu quả tốt, liều 0,2 g/kgTT (bò, trâu), 0,5 - 1 g/kgTT (dê, cừu) Có thể trộn lẫn thuốc với nước cháo đun nóng, nồng độ 2,5 - 3%,

cứ 100 ml nước cháo trộn với 10 g thuốc

- Dung dịch sulfat đồng 1% cũng có tác dụng với giun Liều dùng: Gia súc nhỏ: 15 - 20 ml/con

Gia súc trưởng thành: 80 - 150 ml/con

Đối với dê, dùng liều thấp hơn (dê lớn không quá 60 ml)

Đối với bê, dùng liều 2 - 3 ml/kgTT

Trang 39

Trong thời gian chăn dắt người ta dùng liều thuốc nhỏ: sulfat đồng với muối ăn, theo tỷ lệ 1: 100; sulfat đồng với Phenothiazin và muối, tỷ

lệ 1: 5: 100 cho ăn trong cả thời gian chăn dắt, nếu thời tiết nóng thì ngừng độ 2 - 4 tuần

Khi pha sulfat đồng cần chú ý pha với nước cất hoặc nước mưa sạch, không dùng dụng cụ kim loại, pha xong dùng ngay Cho uống thuốc qua ống cao su một đầu có phễu, không để thuốc lọt vào khí quản Nếu con vật trúng độc, cho ăn trứng gà hoặc uống 5 - 10 g Magie oxyt (MgO)

Jorgen Hansen và Brian Perry (1994) [49] cho biết, những loại thuốc có tác dụng điều trị giun và cả ấu trùng giun trong cơ thể cừu là: Albendazole, Febantel, Fenbendazole, Oxfendazole, Levamisole và Ivermectin

Johannes Kaufmann (1996) [48] cũng cho biết, những hoá dược có tác dụng diệt giun xoăn dạ dày - ruột ở trâu, bò và cừu: Albendazole, Febantel, Fenbendazole, Ivermectin, Levamisol, Netobimin, Morantel tartrate, Oxfendazole

Kieran P J (1994) [53] nghiên cứu và cho thấy, thuốc Moxidectin với liều chỉ định là 0,2 mg/kgTT có thể tránh được một số chủng giun tròn

ở loài nhai lại mà những chủng này đã thể hiện sự kháng lại thuốc Ivermectin Thuốc Moxidectin tỏ ra có khả năng phòng chống tốt hơn với cả 3

giống giun phổ biến là Haemonchus, Ostertagia và Trichostrongylus Tác giả

khuyến cáo, trong những chương trình điều trị chiến lược, nên dùng Moxidectin để giảm những rủi ro về sự tăng khả năng kháng lại thuốc của giun

Theo Nguyễn Phước Tương (1994) [38], thuốc có tác dụng điều trị

Trichostrongylidosis (tác dụng với cả giun trưởng thành và còn non, đồng

thời làm giảm sức sống của trứng giun trước khi bài xuất ra ngoài), gồm:

- Albendazole : liều 5 - 10 mg/kgTT Cho uống dạng nhũ tương dầu

- Asuntol : liều 8 mg/kgTT Cho uống

Trang 40

- Fenbendazole : liều 5 mg/kgTT Cho uống

- Levamisole : liều 7,5 mg/kgTT Cho uống

- Mebendasole : liều 15 - 20 mg/kgTT Cho uống

- Mebenvet : liều 150 - 200 mg/kgTT Cho uống

- Oxfendazole : liều 5 mg/kgTT Cho uống

- Oxibendazole : liều 10 - 15 mg/kgTT Cho uống

Phạm Khắc Hiếu và Lê Thị Ngọc Diệp (1997) [7] cho biết:

Phenothiazin, Thiabendazole, Tetramisole là những thuốc có hiệu quả tẩy giun xoăn ký sinh ở dạ dày ruột loài nhai lại rất tốt Phenothiazin có tác dụng tốt với giun trưởng thành nhưng tác dụng yếu với ấu trùng và giun non Do đó, sau 4 tuần cần điều trị lại Dùng liều không quá 20 - 25 gam/lần Nếu dùng quá liều và kéo dài làm cho con vật bị thiếu máu, bỏ ăn, thiếu sắc tố trên da và dẫn tới viêm hoá sừng (Keratitis) Thiabendazole là thuốc tương đối

mới, có tác dụng rất tốt với giun Haemonchus, Ostertagia, Trichostrongylus, Cooperia Có thể dùng liều chung là 50 - 100 mg/kgTT Thuốc Tetramisole có

hiệu lực tẩy với cả giun trưởng thành và ấu trùng, cho uống liều 15 mg/kgTT hoặc tiêm dưới da dung dịch 3 - 10%

Dùng thuốc tẩy giun xoăn dạ múi khế cho dê, Nguyễn Thị Kim Lan (2000) [15] đã báo cáo kết quả như sau: Thuốc Niclosamid - tetramisole B (liều 66 mg/kgTT), Oxfendazole (liều 5 mg/kgTT), Levamisole (liều 7 mg/kgTT), Mebenvet (liều 130 mg/kgTT) và Vermitan (liều 35 mg/kgTT) có hiệu lực tẩy sạch giun xoăn dạ múi khế tương ứng là: 97,14%; 100%; 97,5%; 96,77% và 96,67%

*Vấn đề phòng bệnh

Theo quan điểm của Skrjabin K.I (1944) muốn diệt trừ bệnh giun sán, phải dự phòng có tính chất chủ động: dùng tất cả các phương pháp cơ giới, vật lý (ánh sáng, độ nóng), hoá học (thuốc), sinh vật học (sinh vật nọ tiêu

Ngày đăng: 19/09/2014, 19:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Lan Anh, Đỗ Thu Thúy, Lương Tố Thu, Wicher Holland và cs (2000), "Tình hình nhiễm giun sán đường tiêu hóa và thử nghiệm hiệu lực của OKZAN và LEVAMIZOLE đối với sán lá dạ cỏ trên bò", Kết quả nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 347 - 352 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun sán đường tiêu hóa và thử nghiệm hiệu lực của OKZAN và LEVAMIZOLE đối với sán lá dạ cỏ trên bò
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Anh, Đỗ Thu Thúy, Lương Tố Thu, Wicher Holland và cs
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
2. Trần Văn Bình, Trần Văn Thiên (2006), Thuốc và một số phác đồ điều trị bệnh gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc và một số phác đồ điều trị bệnh gia súc, gia cầm
Tác giả: Trần Văn Bình, Trần Văn Thiên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
3. Trần Minh Châu (1996), 100 câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 34 - 35, 58 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Trần Minh Châu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
4. Nguyễn Văn Diên, Phan Lục, Phạm Sỹ Lăng (2006), "Một số nhận xét về giun sán ký sinh đường tiêu hóa của bò tại một số địa điểm của Đăklăk", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y, Tập X (số 1), tr. 54 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về giun sán ký sinh đường tiêu hóa của bò tại một số địa điểm của Đăklăk
Tác giả: Nguyễn Văn Diên, Phan Lục, Phạm Sỹ Lăng
Năm: 2006
5. Giang Hoàng Hà, Nguyễn Thị Giang Thanh, Đào Thị Hà Thanh (Viện thú y, 2008), "Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa của bò sữa nuôi tại Hà Nội và vùng phụ cận", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y, Tập XV, số 2, tr. 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa của bò sữa nuôi tại Hà Nội và vùng phụ cận
6. Trần Đức Hạnh, Đoàn Văn Điếm, Nguyễn Văn Viết (1997), Lý thuyết về khai thác hợp lý nguồn tài nguyên, khí hậu nông nghiệp, Giáo trình Cao học nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết về khai thác hợp lý nguồn tài nguyên, khí hậu nông nghiệp
Tác giả: Trần Đức Hạnh, Đoàn Văn Điếm, Nguyễn Văn Viết
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
7. Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp (1997), Dược lý học thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 350 - 351 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý học thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
8. Nguyễn Thế Hùng (1994), “Tình hình nhiễm giun sán ở dê”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập I ( số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun sán ở dê”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Thế Hùng
Năm: 1994
9. Trần Minh Kiêm (2004), Cẩm nang quản lý chăn nuôi gia súc và cách phòng trị bệnh trâu, bò, heo, ngựa, thỏ, chó, dê, gà, Nhà xuất bản Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang quản lý chăn nuôi gia súc và cách phòng trị bệnh trâu, bò, heo, ngựa, thỏ, chó, dê, gà
Tác giả: Trần Minh Kiêm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
Năm: 2004
10. Lê Văn Khoa, Nguyễn Xuân Cự, Lê Đức, Trần Khắc Tiệp, Cái Văn Tranh (1996), Phương pháp phân tích đất, nước, phân bón và cây trồng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phân tích đất, nước, phân bón và cây trồng
Tác giả: Lê Văn Khoa, Nguyễn Xuân Cự, Lê Đức, Trần Khắc Tiệp, Cái Văn Tranh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
11. Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 33 - 36, 156 - 165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê và Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
12. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Giáo trình ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
13. Nguyễn Thị Kim Lan (2000), Bệnh giun sán đường tiêu hoá của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và biện pháp phòng trị, Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun sán đường tiêu hoá của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Năm: 2000
14. Nguyễn Thị Kim Lan (2000), "Một số kết quả nghiên cứu về bệnh giun sán đường tiêu hóa của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía bắc việt nam", Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, Tạp chí Khoa học - Công nghệ và quản lý kinh tế, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về bệnh giun sán đường tiêu hóa của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía bắc việt nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Năm: 2000
15. Nguyễn Thị Kim Lan, Phan Địch Lân (2000), "Tình hình nhiễm giun sán đường tiêu hóa của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam", Kết quả nghiên cứu Khoa học và chuyển giao công nghệ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 216 - 221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun sán đường tiêu hóa của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
16. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc Cao học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
17. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1997), Bệnh trâu bò ở Việt Nam và biện Pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 109 - 117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh trâu bò ở Việt Nam và biện Pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
18. Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (1997), Thuốc điều trị và vaccine sử dụng trong thú y, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 109 -117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc điều trị và vaccine sử dụng trong thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
19. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002), Bệnh thường gặp ở bò sữa Việt Nam và kỹ thuật phòng trị, Tập , Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 58 - 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thường gặp ở bò" s"ữa Việt Nam và kỹ thuật phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
20. Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo (2002), Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và nhiễm độc ở bò sữa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 10 -18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và nhiễm độc ở bò sữa
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2. Vòng đời phát triển của giun xoăn dạ múi khế - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 2.2. Vòng đời phát triển của giun xoăn dạ múi khế (Trang 23)
Bảng 3.1: Những loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu bò của 2 - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.1 Những loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu bò của 2 (Trang 62)
Hình  3.1. Ảnh ba loài giun xoăn dạ  múi khế phát hiện ở tỉnh Thái - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
nh 3.1. Ảnh ba loài giun xoăn dạ múi khế phát hiện ở tỉnh Thái (Trang 63)
Hình  3.2. Ảnh Đầu, đuôi, âm  môn giun H. contortus - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
nh 3.2. Ảnh Đầu, đuôi, âm môn giun H. contortus (Trang 64)
Hình  3.3. Ảnh đầu, tử cung và âm - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
nh 3.3. Ảnh đầu, tử cung và âm (Trang 65)
Hình  3.4. Ảnh đầu, đuôi, âm môn - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
nh 3.4. Ảnh đầu, đuôi, âm môn (Trang 66)
Bảng 3.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của trâu, bò ở - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của trâu, bò ở (Trang 67)
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của trâu, bò - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của trâu, bò (Trang 70)
Hình 3.6. Ảnh mẫu phân trâu bò thu thập ở các nông hộ - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 3.6. Ảnh mẫu phân trâu bò thu thập ở các nông hộ (Trang 70)
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo tuổi trâu, bò - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo tuổi trâu, bò (Trang 72)
Hình 3.8. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo mùa vụ - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 3.8. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo mùa vụ (Trang 74)
Bảng 3.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế (Trang 75)
Hình 3.9. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo loại gia súc - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 3.9. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo loại gia súc (Trang 76)
Bảng 3.6. cho thấy: - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.6. cho thấy: (Trang 78)
Bảng 3.8:  Sự phát triển của trứng  H. contortus thành - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ở hai huyện thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.8 Sự phát triển của trứng H. contortus thành (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w