Như vậy, tuỳ từng chủng cầu trùng mà có hình dạng, kích thước Oocyst khác nhau, có hay không có nắp, lỗ noãn, điểm sáng hay hạt cực, cũng như giai đoạn sinh sản bào tử hình thành bào tử
Trang 1GIÁP MẠNH HOÀNG
“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh cầu trùng bê, nghé ở ba huyện
thuộc tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị”
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NễNG NGHIỆP
Thỏi Nguyờn, năm 2011
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi trực tiếp nghiên cứu
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan và sự giúp đỡ chân
tình của các Thầy, Cô Khoa Thú y - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang…
Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, được rút ra từ tình hình thực tế của Bắc Giang trong những năm qua và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả luận văn
Giáp Mạnh Hoàng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn
và cảm ơn chân thành tới:
Cô giáo hướng dẫn khoa học: Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Lan
Các Thầy, Cô Khoa Thú y - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Những người thầy uyên bác, mẫu mực, tận tình và chu đáo đã luôn cổ
vũ tinh thần, động viên, hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Sau Đại học, Khoa Chăn nuôi - Thú y, các thầy cô giáo đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của trương trình học
Ban Lãnh đạo và toàn thể cán bộ Chi cục Thú y Bắc Giang, Trạm Thú
y Tân Yên, đồng nghiệp đang làm việc trong lĩnh vực Chăn nuôi - Thú y của tỉnh Bắc Giang
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU i
Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 CẦU TRÙNG KÝ SINH Ở BÊ, NGHÉ 3
1.1.1 Thành phần loài cầu trùng bê, nghé 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái, kích thước các loài cầu trùng 4
1.1.3 Cấu trúc của Oocyst cầu trùng 6
1.1.4 Chu kỳ sinh học của cầu trùng bê, nghé 8
1.1.5 Tính chuyên biệt của cầu trùng 11
1.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nhiễm cầu trùng ở gia súc, gia cầm 12
1.2 BỆNH CẦU TRÙNG BÊ, NGHÉ 20
1.2.1 Những thiệt hại về kinh tế do bệnh cầu trùng gây ra 21
1.2.2 Dịch tễ học của bệnh cầu trùng bê nghé 22
1.2.3 Cơ chế sinh bệnh 23
1.2.4 Triệu chứng của bê, nghé bị bệnh cầu trùng 25
1.2.5 Bệnh tích của bê, nghé bị bệnh cầu trùng 27
1.2.6 Miễn dịch trong bệnh cầu trùng 28
1.2.7 Chẩn đoán bệnh cầu trùng bê, nghé 33
1.2.8 Phòng, trị bệnh cầu trùng cho bê, nghé 35
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 42
1.3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh cầu trùng ở nước ngoài 42
1.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh cầu trùng bê, nghé trong nước 44
Chương 2 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 47
2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 48
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 48
Trang 62.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng bê, nghé ở ba
huyện thuộc tỉnh Bắc Giang 48
2.3.1.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở bê, nghé 48
2.3.1.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng bê, nghé ở ngoại cảnh 49 2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh cầu trùng bê, nghé 49 2.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị cầu trùng cho bê, nghé 49
2.4 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49
2.4.1 Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm cầu trùng ở bê, nghé 49
2.4.2 Phương pháp theo dõi và xác định tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo tuổi bê, nghé 52
2.4.3 Phương pháp theo dõi và xác định tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo mùa vụ 53 2.4.4 Bố trí theo dõi sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng bê, nghé ở chuồng nuôi, khu vực xung quanh chuồng nuôi bê, nghé và khu vực bãi chăn thả 54
2.4.5 Bố trí xác định vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy ở bê, nghé 55
2.4.6 Bố trí theo dõi biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bê, nghé bị bệnh cầu trùng 56
2.4.7 Phương pháp xét nghiệm máu của bê, nghé bị bệnh cầu trùng và bê, nghé khỏe 56
2.4.8 Bố trí thí nghiệm xác định công thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt tốt để diệt Oocyst cầu trùng 57
2.4.9 Phương pháp đánh giá hiệu lực của thuốc trị cầu trùng bê, nghé 58
2.4.10 Phương pháp xác định độ an toàn của thuốc 59
2.4.11 Đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh cầu trùng bê, nghé 59
2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 59
Ch-¬ng 3 kÕt qu¶ vµ th¶o luËn 63
3.1 CÁC LOÀI CẦU TRÙNG KÝ SINH Ở BÊ, NGHÉ TẠI TỈNH BẮC
Trang 73.2 TỶ LỆ VÀ CƯỜNG ĐỘ NHIỄM CẦU TRÙNG TẠI MỘT SỐ ĐỊA
PHƯƠNG 65
3.3 TỶ LỆ VÀ CƯỜNG ĐỘ NHIỄM CẦU TRÙNG THEO TUỔI BÊ, NGHÉ 68
3.4 TỶ LỆ VÀ CƯỜNG ĐỘ NHIỄM CẦU TRÙNG BÊ, NGHÉ THEO MÙA VỤ 70
3.5 NGHIÊN CỨU SỰ Ô NHIỄM OOCYST CẦU TRÙNG Ở NGOẠI CẢNH 72
3.6 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG CỦA BỆNH CẦU TRÙNG BÊ, NGHÉ 75
3.6.1 Vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy ở bê, nghé 75
3.6.2 Tỷ lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng của bệnh cầu trùng 78
3.6.3 Sự thay đổi một số chỉ số máu của bê, nghé bị bệnh cầu trùng 80
3.7 NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH CẦU TRÙNG 86
3.7.1 Nghiên cứu công thức ủ phân để tăng khả năng sinh nhiệt 86
3.7.2 Hiệu lực của thuốc trị cầu trùng bê, nghé 91
3.7.3 Một số chỉ tiêu sinh lý trước và sau khi dùng thuốc 93
3.7.3 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng cho bê, nghé 94
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Đề nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
I Tài liệu tiếng Việt 98
II Tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài 102
III Tài liệu tiếng Anh 102
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Các loài cầu trùng ký sinh ở bê, nghé tại tỉnh Bắc Giang 63
Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng bê, nghé tại một số địa phương 65
Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo tuổi bê, nghé 68
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo mùa vụ 70
Bảng 3.5 Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở chuồng và khu vực xung quanh chuồng nuôi bê, nghé 73
Bảng 3.6 Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở khu vực bãi chăn thả bê, nghé 74
Bảng 3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở bê, nghé bình thường và tiêu chảy 76
Bảng 3.8 Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng của bê, nghé bị bệnh cầu trùng 79
Bảng 3.9 Số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố của bê, nghé khoẻ và bê, nghé bị bệnh cầu trùng 81
Bảng 3.10 Công thức bạch cầu của bê, nghé khoẻ và bê, nghé bị bệnh cầu trùng 84
Bảng 3.11 Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst của công thức ủ I 87
Bảng 3.12 Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst của công thức ủ II 88
Bảng 3.13 Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst của công thức ủ III 89
Bảng 3.14 Đánh giá khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt Oocyst của 3 công thức ủ 90
Bảng 3.15 Hiệu lực của ba loại thuốc trị cầu trùng ở bê 91
Bảng 3.16 Hiệu lực của ba loại thuốc trị cầu trùng ở nghé 92 Bảng 3.17 Một số chỉ tiêu sinh lý của bê, nghé trước và sau khi dùng thuốc 93
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Chu kỳ sinh học của cầu trùng bê nghé 11
Hình 1.2 Hình thái học của Schizont, Merozoit và Gametocyst 11
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng bê, nghé ở 3 huyện của tỉnh 66
Bắc Giang 66
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng bê, nghé theo lứa tuổi 69
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng bê, nghé theo mùa vụ trong năm 71
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở bê, nghé bình thường và bê, nghé tiêu chảy 78
Hình 3.5 Biểu đồ số lượng hồng cầu, bạch cầu của bê, nghé khoẻ và bê, nghé bị bệnh cầu trùng 82
Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ các loại bạch cầu của bê, nghé khoẻ và bê, nghé bị bệnh cầu trùng 85
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi trâu, bò chiếm một vị trí quan trọng Song, có rất nhiều loại dịch bệnh gây tổn thất kinh tế cho ngành chăn nuôi trâu, bò Ngoài các bệnh truyền nhiễm thường gặp, còn phải kể đến các bệnh do ký sinh trùng đường ruột gây nên, trong đó có bệnh cầu trùng bê, nghé Theo nhiều tác giả, cầu trùng ký sinh ở bê, nghé là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất, hiệu quả chăn nuôi trâu, bò và mở đường cho các mầm bệnh khác xâm nhập Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã
có một vài công trình nghiên cứu về tình hình nhiễm cầu trùng bê, nghé Đó là công trình của Nguyễn Đức Tân và cs (2005) [28]; Lâm Thị Thu Hương (2006) [10], song những công trình nghiên cứu về bệnh cầu trùng bê, nghé còn quá ít, nội dung nghiên cứu còn rất tản mạn, chưa đầy đủ và hệ thống
Bắc Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc, có nghề chăn nuôi trâu, bò khá phát triển Chăn nuôi trâu, bò đã góp phần quan trọng để xoá đói giảm nghèo cho bà con các dân tộc trong tỉnh Nhiều hộ gia đình vươn lên làm giàu từ nghề chăn nuôi trâu, bò Trong những năm qua, hội chứng tiêu chảy ở trâu, bò các lứa tuổi, nhất là giai đoạn bê, nghé vẫn xảy ra nhiều, làm giảm năng suất chăn nuôi trâu, bò và gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Việc dùng thuốc kháng sinh và thuốc tẩy giun, sán chưa đem lại hiệu quả triệt để trong nhiều trường hợp bệnh Trong khi đó, việc nghiên cứu về tình hình nhiễm cầu trùng
bê, nghé và vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy ở bê, nghé tại Bắc Giang và nhiều tỉnh khác chưa được chú ý, vì vậy cũng chưa có quy trình phòng trị cầu trùng cho bê, nghé có hiệu quả
Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Bắc
Giang, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh cầu
trùng bê, nghé ở ba huyện thuộc tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị”.
Trang 122 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cầu trùng bê, nghé ở ba
huyện thuộc tỉnh Bắc Giang
- Nghiên cứu bệnh học bệnh cầu trùng bê, nghé
- Nghiên cứu thử nghiệm biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng cho bê, nghé
- Đề xuất quy trình phòng trị bệnh cầu trùng cho bê, nghé
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CẦU TRÙNG KÝ SINH Ở BÊ, NGHÉ
1.1.1 Thành phần loài cầu trùng bê, nghé
Cầu trùng là động vật đơn bào có hình tròn, hình trứng, hình bầu dục (phụ thuộc vào từng loài cầu trùng) Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu
mô ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và cả ở người Phân loại cầu trùng ở gia súc, gia cầm, chủ yếu dựa vào đặc điểm về hình thái, kích thước, màu sắc,
vị trí ký sinh, thời gian sinh bào tử
Levine N (Ed) (1985) [75], Daugschies A và Njadrowski M (2005) [55], Ajayi J A (2004) [52] cho biết, cầu trùng ký sinh ở bê, nghé có vị trí trong hệ thống phân loại như sau:
Loài Eimeria brasisliensis Torres and Ramos, 1939 Loài Eimeria bukidnonensis Tubangui, 1931
Loài Eimeria canadensis Bruce, 1921
Trang 14Loài Eimeria cylindrica Wilson, 1931 Loài Eimeria ellipsoidalis Becker and Frye, 1929 Loài Eimeria illinoisensis Levine and Ivens, 1967 Loài Eimeria pellita Supperer, 1952
Loài Eimeria subspherica Christiensen, 1941 Loài Eimeria wyomingensis Huizinga and Winger, 1942 Loài Eimeria zuernii Rivolta, 1978, Martin, 1909
Lee R P và cs (1959) [74] đã quan sát hình thái, kích thước, màu sắc,
quá trình hình thành bào tử của Oocyst cầu trùng ký sinh ở bò tại Nigerian và
đã định danh được 11 loài cầu trùng, bao gồm: E alabamemsis, E
auburnensis, E bovis, E brasisliensis, E bukidnonensis, E canadensis, E cylindrica, E ellipsoidalis, E subspherica, E wyomingensis, E zuernii
Nguyễn Đức Tân và cs (2005) [28] đã phát hiện 4 loài cầu trùng ký
sinh ở bê tại một số tỉnh Nam Trung Bộ - Tây Nguyên, gồm các loài: E
zuernii, E bovis, E ellipsoidalis, E bukidnonensis
1.1.2 Đặc điểm hình thái, kích thước các loài cầu trùng
Theo Ajayi J A (2004) [52], hình thái, kích thước các loài cầu trùng
ký sinh ở bê, nghé như sau:
- Eimeria alabamemsis (Christiensen, 1941): Oocyst có hình trứng, có
1 - 2 lớp vỏ, màu vàng nhạt, kích thước dài từ 13 - 24 µm, rộng từ 11 - 16 µm
Kích thước của Sporocyst 10 - 16 x 4 - 6 µm Không có Micropyle (lỗ noãn)
và hạt cực Thời gian hình thành bào tử là 4 - 5 ngày
- Eimeria auburnensis (Christiensen and Porter, 1939): Oocyst có hình
elip hoặc hình trứng, có 2 lớp vỏ mỏng, lớp bên ngoài nhẵn, đôi khi xù xì, màu vàng - nâu, kích thước 32 - 46 x 20 - 25 µm, trung bình là 38,4 x 27,1
Kích thước của Sporocyst 15 - 23 x 6 - 11 µm Có Micropyle Thời gian sinh
bào tử là 2 - 3 ngày Cầu trùng phát triển nội sinh trong các tế bào mô liên kết
lớp nhung mao, đoạn dưới của ruột non
Trang 15- Eimeria brasisliensis (Torres and Ramos, 1939): Oocyst có hình elip,
màu nâu vàng, có 1 - 2 lớp vỏ, có lỗ noãn và nắp Kích thước 34 - 43 x 24 -
30 µm, trung bình là 35,5 x 27 µm Kích thước của Sporocyst 16 - 22 x 7 - 10
µm Thời gian hình thành bào tử là 6 - 7 ngày, trong bào tử có thể cặn
- Eimeria bukidnonensis (Tubangui, 1931): Nang trứng hình quả lê,
màu nâu sẫm hay nâu vàng Vỏ Oocyst có hai lớp, lớp ngoài dày và lớp bên
trong mỏng, Lee R P (1954) [73] mô tả lớp vỏ mỏng này giống như những vằn sọc Lớp vỏ dày 2 - 4 µm Kích thước nang trứng 47 - 50 x 33 - 38 µm
Kích thước của Sporocyst 12 - 21 x 9 - 12 µm Micropyle rộng từ 3,5 - 7 µm
Thời gian hình thành bào tử 4 - 7 ngày, đôi khi đến 17 ngày Loài này phát triển nội sinh trong màng niêm mạc ruột non
- Eimeria canadensis (Bruce, 1921): Oocyst hình elip, kích thước 28 -
37 x 20 - 27 µm, màu vàng nâu Micropyle là một khoảng kín, rất khó nhìn thấy ở trên một đầu, được bao phủ bởi một đường phản xạ tối Sporocyst có
kích thước 15 - 22 x 7 - 10 µm Thời gian hình thành bào tử là 3 ngày
- Eimeria cylindrica (Wilson, 1931): Oocyst hình trụ, kích thước 16 -
27 x 12 - 15 µm, trung bình 23,3 x 13,3 µm, không có màu, có 1 lớp vỏ dày
Kích thước của Sporocyst 12 - 16 x 4 - 6 µm, không có Micropyle và thể cặn
Thời gian sinh bào tử là 2 ngày
- Eimeria ellipsoidalis (Becker and Frye, 1929): Oocyst hình elip hay
bầu dục, màu phớt hồng hoặc không màu, có 1 - 2 lớp vỏ, kích thước 20 - 26
x 13 - 17 µm, trung bình là 23,4 x 15,9 µm Lỗ noãn không rõ, không có thể
cặn trong bào tử và nang trứng Sporocyst có kích thước 9 - 16 x 7 - 15 µm
Thời gian hình thành bào tử là 2 - 3 ngày Cầu trùng phát triển nội sinh trong màng niêm mạc ruột già
- Eimeria pellita (Supperer, 1952): Oocyst hình trứng, tương đối dày, có
màu nâu sẫm, kích thước 36 - 41 x 26 - 30 µm Kích thước của Sporocyst 17 - 20
x 7 - 9 µm Có lỗ noãn và thể cặn Thời gian hình thành bào tử là 10 - 12 ngày
Trang 16- Eimeria subspherica (Christiensen, 1941): Đây là loài có kích thước
Oocyst nhỏ nhất trong giống Eimeria (9 - 14 x 8 - 13 µm), hình elip, màu
vàng nhạt hoặc không màu, không có hạt cực và lỗ noãn Kích thước của
Sporocyst 6 - 10 x 2 - 5 µm Thời gian hình thành bào tử là 4 - 5 ngày
- Eimeria zuernii (Rivolta, 1978, Martin, 1909): Oocyst có hình cầu
hoặc trứng, vỏ ngoài có 2 lớp, nhẵn, không có lỗ noãn, màu nhạt, kích thước
15 - 22 x 13 - 18 µm, kích thước trung bình 20 x 14,2 µm Kích thước của
Sporocyst 7 -14 x 4 - 8 µm Thời gian hình thành bào tử là 3 ngày ở 20oC, 9 -
10 ngày ở 12o
C, 23 - 24 giờ ở 30 - 32,5oC
- Eimeria bovis (Christiensen, 1941): Oocyst hình trứng hoặc không đối
xứng, vỏ có 2 lớp, trơn nhẵn, kích thước 23 - 34 x 17 - 23 µm, màu nâu hay
hơi vàng Không có hạt cực, lỗ noãn có ở đầu nhỏ của nang trứng Sporocyst
có kích thước 13 - 18 x 5 - 8 µm Thời gian sinh bào tử 2 - 3 ngày Phát triển nội sinh ở phần dưới ruột non, các thể phân lập đời 2 và các giao tử ở trong niêm mạc ruột già của ký chủ
- Eimeria illinoisensis (Levine and Ivens, 1967): Oocyst hình trứng
hoặc elip, có 1 lớp vỏ dày, màu nhạt hay không màu, kích thước 24 - 29 x 19 -
22 µm Sporocyst có kích thước 13 -16 x 6 - 8 µm
- Eimeria wyomingensis (Huizinga and Winger, 1942): Oocyst hình
trứng hoặc hình cầu, có 1 lớp vỏ màu vàng nâu hoặc xanh nâu, kích thước 37
- 45 x 26 - 31 µm Hợp tử tương tự như của E Bukidnonensis, nhưng nhỏ
hơn Có lỗ noãn Sporocyst kích thước 7 - 8 x 5 µm Thời gian hình thành bào
tử 5 - 7 ngày
1.1.3 Cấu trúc của Oocyst cầu trùng
Oocyst cầu trùng có nhiều hình dạng, kích thước khác nhau tuỳ thuộc vào
từng loài Tuy nhiên, phần lớn Oocyst cầu trùng có đặc điểm cấu tạo như sau:
Oocyst màu vàng nâu, vàng chanh hoặc nâu hạt, không màu Vỏ thường
có 2 lớp: lớp vỏ ngoài dày, vỏ trong mỏng Hai lớp vỏ ngoài và vỏ trong có
Trang 17thể tách rời nhau dưới tác động của acid H2SO4 đặc hoặc bằng cách làm nóng
Oocyst trong nước (Monne và Honin, 1954)
Về cấu tạo hoá học: vỏ ngoài là lớp quinone protein, vỏ trong là lớp lipit kết hợp với protein để tạo thành khúc xạ kép (lipoprotein) Nghiên cứu
về bản chất hoá học của thành phần Oocyst, Ryley J F (1976) [84] cho biết: lớp ngoài của vỏ Oocyst chiếm 20%, có chứa carbohydrat và một protein đặc
trưng Nyberg P A và Knapp S E (1976) khi quan sát trên kính hiển vi điện
tử thấy lớp ngoài của vỏ Oocyst có thể bị khử bằng dung dịch sodium
hypochlorid 2 - 3% trong 15 phút Scotish R L., Wang C C và Mayenhofer
(1978) nghiên cứu về bản chất hoá học của thành Oocyst qua xử lý bằng
sodium hypochlorid 5% cho rằng, chất này không tác động được đến màng
Oocyst còn nguyên vẹn mà chủ yếu tác động đến Micropyle Lớp trong của vỏ Oocyst chiếm 80%, gồm: một lớp glycoprotein (dày 90 µm), được bao bọc
bởi một lớp lipit dày (10 µm) Lớp lipit chủ yếu là phospholipit, chính lớp này
bảo vệ Oocyst cầu trùng chống lại sự tấn công về mặt hoá học Một số loài cầu trùng ở phía đầu nhỏ của Oocyst có một nắp khúc xạ, gọi là Micropyle (lỗ noãn) Micropyle là vị trí có khe hở của màng bao quanh Macrogamete khi
thụ tinh, sau thụ tinh thì khe hở đóng lại, vì vậy nhiều loài không thấy
Micropyle nữa Goodrich H P (1994) [60] khi nghiên cứu vỏ cấu trúc Oocyst
cho rằng, lớp ngoài là vỏ bọc liên tục kể cả khi có Micropyle và sau khi thụ tinh Micropyle đóng lại và không bao giờ mở ra nữa và đây không phải là con đường mà Sporozoite thoát ra khỏi Oocyst (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan
và cs, 2008 [15])
Ryley J F (1976) [84] đã đưa ra giả định về hiện tượng Sporozoite thoát ra khỏi Oocyst Theo tác giả, nhờ tác động của hoạt hoá CO2 nên
Sporozoite đã hoạt động và chui ra khỏi Sporocyst Men Tripsin và mật cũng
vách Oocyst để giúp cho Trypsin và mật thấm vào máu làm tiểu thể Stieda và
Sporozoite hoạt động, CO2 chỉ có tác động này trong điều kiện nhiệt độ của
Trang 18cơ thể Ngoài ra, tác động cơ học cũng quan trọng trong việc tạo điều kiện cho
Trysin và mật thấm qua vỏ Oocyst Như vậy, tuy vỏ Oocyst có sức đề kháng
với một số hoá chất nhưng lại nhạy cảm với tác động cơ học Đó là lý do tại sao gần đây trong thí nghiệm người ta thường phải dùng đến các hạt bi thuỷ
tinh và máy lắc để phá vỏ Oocyst giải phóng các Sporocyst (Dẫn theo Hoàng
Thạch, 1999 [31])
Theo nghiên cứu của Ajayi A J (2004) [52], trong 20 amino acid đã biết, thì ở bào tử của cầu trùng bê nghé tìm thấy 9 amino acid thiết yếu: Leucine, methionine, arginine, histidine, phenylalanine, valine, lysine và aspartic, 4 aminoacid không thiết yếu: Glutamic, proline, tyrosine và alanine Leucine là amino acid chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các amino acid thiết yếu (1,12 g/100g protein), thấp nhất là methionine (0,16 g/100 g protein) Trong
số các amino acid không thiết yếu Glutamic chiếm tỷ lệ cao nhất (2,17 g/100
g protein), thấp nhất là proline (0,33 g/100 g protein)
1.1.4 Chu kỳ sinh học của cầu trùng bê, nghé
Cầu trùng ký sinh ở bê nghé là những cầu trùng giống Eimeria Đây là
những ký sinh trùng có giai đoạn sinh sản vô tính và hữu tính diễn ra trong cùng một ký chủ, được đặc trưng bằng ba giai đoạn phát triển: sinh sản vô
tính (Schizogony), sinh sản giao tử (Gametogony), sinh sản bào tử (Sporogony) Hai giai đoạn đầu diễn ra trong tế bào biểu bì ruột gia súc (chu
kỳ nội sinh), giai đoạn thứ 3 diễn ra ở ngoài môi trường (chu kỳ ngoại sinh)
* Giai đoạn sinh sản vô tính (Schizogony)
Bê nghé nuốt phải Oocyst có sức gây bệnh có lẫn ở trong thức ăn và
nước uống từ bên ngoài môi trường, vào đến dạ dày, dưới tác động của dịch
dạ dày, Oocyst vỡ ra, giải phóng 4 túi bào tử (Sporocyst) Đến ruột non, các bào tử con (Sporozoit) bên trong túi bào tử được hoạt hóa bởi dịch mật và
men Tripsin, chúng trở nên hoạt động, phá vỡ lớp màng của túi bào tử và được giải phóng ra Lập tức, bào tử con xâm nhập tế bào biểu mô ruột và tiến
Trang 19hành sinh sản vô tính Chúng lớn lên rất nhanh, hình tròn hoặc bầu dục, phân
chia theo hình thức liệt phân thành nhiều thể phân lập thế hệ 1 (Schizont 1)
Nhân của mỗi thể phân lập còn chia nhiều lần và tạo thành những tế bào nhiều nhân - thể phân lập đời 1 Bên trong những thể phân lập đó hình thành ra những dạng ký sinh trùng nhỏ, hình bầu dục, lúc này chúng được gọi
là thể phân lập trung gian (Merozoites) Số lượng Merozoites được hình thành trong thế hệ Schizont đầu tiên thay đổi tuỳ theo loài, ví dụ ở loài E bovis hơn 100.000 Merozoites được hình thành Thể phân lập trung gian này phát triển,
chúng phá tung tế bào biểu bì nơi khu trú và giải phóng ra rất nhiều
Merozoites trưởng thành Các Merozoites lại lập tức xâm nhập vào các tế bào
biểu bì mới để tiếp tục phát triển và trở thành thể phân lập thế hệ mới, gọi là
Schizont 2 Kích thước của Schizont 2 phụ thuộc vào loài cầu trùng, có loài thì
nhỏ hơn Schizont 1, có loài thì lại lớn hơn, số lượng Merozoites được tạo ra cũng khác nhau tuỳ loài, ví dụ loài E bovis có từ 30 - 36 Merozoites và kích
* Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony)
Giai đoạn sinh sản hữu tính bắt đầu từ thể phân lập thế hệ cuối cùng của cầu trùng Từ thể phân lập cuối cùng chúng xâm nhập vào tế bào biểu bì
ký chủ để biến thành những thể sinh dưỡng và phát triển thành các giao tử
đực, giao tử cái Giao tử cái (Macrogametocyte) có nhân rất to, chứa nhiều chất dinh dưỡng, chuyển động nhanh nhờ 2 lông roi Qua lỗ noãn (Micropyle)
của giao tử cái, giao tử đực chui vào và thực hiện quá trình thụ tinh, tạo hợp
tử Hợp tử được bao bọc bởi một lớp màng bọc, lúc này nó được gọi là noãn
nang (Oocyst) Noãn nang có hình bầu dục, gần tròn, hình elip, hình thoi hay
Trang 20quả lê (phụ thuộc vào từng loài) Đến đây, các Oocyst rơi vào lòng ruột và kết
thúc giai đoạn sinh sản hữu tính
Màng vỏ bọc Oocyst gồm 2 lớp, nguyên sinh chất luôn ở dạng hạt Ở một số loài cầu trùng thấy ở một đầu Oocyst có nắp, lỗ noãn, điểm sáng hay
hạt cực Như vậy, tuỳ từng chủng cầu trùng mà có hình dạng, kích thước
Oocyst khác nhau, có hay không có nắp, lỗ noãn, điểm sáng hay hạt cực, cũng
như giai đoạn sinh sản bào tử hình thành bào tử hay túi bào tử, có hay không
có thể cặn trong giai đoạn noãn nang hay trong bào tử (Nguyễn Thị Kim Lan
và cs, 2008 [15])
Về sau các nang trứng rơi ra khỏi cơ thể gia súc cùng với phân và phát triển ở ngoài môi trường Quá trình này gọi là quá trình sinh sản bào tử
* Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony)
Trong điều kiện thiên nhiên khắc nhiệt hoàn toàn khác với môi trường bên trong cơ thể ký chủ, các noãn nang muốn tiếp tục duy trì sự sống buộc phải thích nghi với điều kiện mới, trong điều kiện đó nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, không khí, luôn thay đổi Noãn nang tự bảo vệ bằng cách nhanh chóng tạo ra vỏ cứng, dày, gồm 1 - 2 lớp với màu sắc khác nhau tuỳ thuộc vào chủng cầu trùng Sau đó, trong mỗi noãn nang hình thành 4 túi bào tử có hình bầu dục, xung quanh mỗi nguyên bào tử lại được bao bọc một lớp màng mỏng và trở thành túi bào tử Trong mỗi túi bào tử, nhân của tế bào lại chia đôi về hai phía, được ngăn cách bởi một màng mỏng nữa để trở thành thể bào tử có hình lưỡi liềm, gọi là bào tử con
Như vậy, trong quá trình sinh sản bào tử, đối với cầu trùng thuộc giống
Eimeria, trong mỗi Oocyst tạo ra 4 túi bào tử, trong mỗi túi bào tử chứa 2 bào
tử con Tất cả 8 bào tử con được bao bọc xung quanh bởi một vỏ cứng dày
gồm 2 lớp, gọi là bào tử nang (Oocyst gây bệnh) Chỉ có các Oocyst sau khi trở thành Oocyst gây bệnh mới có khả năng gây bệnh và truyền bệnh từ gia
súc này sang gia súc khác (Kolapxki N A và cs, 1980 [47])
Trang 21Hình 1.1 Chu kỳ sinh học của cầu trùng bê nghé
Hình 1.2 Hình thái học của Schizont, Merozoit và Gametocyst
1.1.5 Tính chuyên biệt của cầu trùng
Tính chuyên biệt của cầu trùng là sự thích nghi phức tạp và lâu dài của cầu trùng đối với cơ thể ký chủ hoặc cụ thể hơn đối với các cơ quan, các mô bào hay tế bào nhất định phù hợp cho sự tồn tại, phát triển của chúng (Kolapxki A N và cs 1980 [47])
Trang 22* Đối với giống Eimeria:
Tính chuyên biệt của cầu trùng Eimeria thể hiện rất nghiêm ngặt, chúng
chỉ có thể gây bệnh cho ký chủ mà chúng thích nghi trong quá trình tiến hoá
Ví dụ: Các loài cầu trùng bê nghé không nhiễm vào gà, lợn và các loài gia súc khác
Đặc tính chuyên biệt nghiêm ngặt của cầu trùng giống Eimeria biểu
hiện không chỉ đối với ký chủ của chúng, mà mỗi loại cầu trùng chỉ khu trú tại một vùng, một cơ quan nhất định nào đó trong cơ thể ký chủ Ví dụ:
Eimeria tenella chỉ ký sinh và gây bệnh trong niêm mạc tá tràng gà Ở lợn,
loài Eimeria debliecki cư trú ở tá tràng làm cho niêm mạc tá tràng bị viêm rồi
xuất huyết hoại tử (Phạm Khuê và cs, 1996 [12])
Như vậy, cầu trùng giống Eimeria biểu hiện tính chuyên biệt rất rõ rệt,
tính chuyên biệt đó đã hình thành trong quá trình thích ứng lâu dài của ký sinh trùng đối với một ký chủ nhất định cũng như đối với từng cơ quan, từng mô bào riêng biệt Đó là điều kiện cơ bản cho nhiều loài cầu trùng có thể ký sinh đồng thời trên cùng một ký chủ
* Đối với giống Isospora:
Các nhà nghiên cứu cho biết, dạng tăng trưởng và phát triển trong quá
trình sinh sản của Isospora không có tính chuyên biệt, vì thế sản phẩm tăng trưởng của Isospora gondii hoặc của I bigemina là Toxoplasma có thể gây
bệnh không chỉ cho chó, mèo mà còn có khả năng gây bệnh cho chuột, cu li, thỏ, cừu, linh dương, hoẵng, bồ câu, chim sẻ, vịt, rùa, rắn và kể cả con người
1.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nhiễm cầu trùng ở gia súc, gia cầm
Bệnh cầu trùng là một bệnh khá phổ biến ở các loài gia súc, gia cầm, trong đó có bê nghé, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm cao hay thấp còn phụ thuộc vào các yếu tố tác động của môi trường sống của chúng
Trang 231.1.6.1 Thời tiết, khí hậu ảnh hưởng đến sức sống của Oocyst cầu trùng
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [12], có nhiều yếu tố ảnh hưởng
đến sự tồn tại và phát triển của Oocyst cầu trùng Trong đó, thời tiết, khí hậu
là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sức đề kháng của cầu trùng Vấn
đề này đã được một số tác giả chứng minh bằng những nghiên cứu ở một số loài vật nuôi như sau:
Dương Công Thuận (2003) [40] cho biết, ở các vùng khí hậu khác nhau thì tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng có sự khác nhau
Theo Hoàng Thạch (1996) [29], (1997) [30], bệnh cầu trùng xảy ra quanh năm, nhưng thường tập trung vào các tháng nóng ẩm của mùa xuân và mùa hè
Thời kỳ này, điều kiện thời tiết, khí hậu rất thuận lợi cho Oocyst cầu trùng tồn tại
và phát triển ở ngoại cảnh và lây nhiễm cho đàn gà
Môi trường ẩm ướt và nhiệt độ ôn hoà là điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của cầu trùng Vì vậy, mùa xuân và mùa hè gà bị nhiễm cầu trùng nhiều và nặng hơn các mùa khác trong năm, việc phòng bệnh cầu trùng cho
gà ở mùa xuân và mùa hè cũng cần chú ý hơn (Phạm Văn Khuê và cs, 1996 [12]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [13]; Dương Công Thuận, 2003 [40])
Hamadejova K và cs (2005) [62] cho biết, tỷ lệ nhiễm Isospora suis có
liên quan đến mùa vụ chăn nuôi, lợn ở mùa thu có tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao hơn mùa hè (29,0% so với 20,0%) Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [16], lợn nhiễm cầu trùng trong vụ Hè - Thu cao hơn, cường độ nhiễm nặng hơn vụ Đông - Xuân
1.1.6.2 Các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự tồn tại và nhiễm Oocyst cầu trùng vào vật chủ
Điều kiện vệ sinh thú y
Khảo sát về tình hình nhiễm cầu trùng ở gà nuôi trong các điều kiện khác nhau, Hoàng Thạch (1996) [29], (1997) [30] cho thấy, tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà nuôi lồng là 0,37%, gà nuôi trong chuồng có đệm lót là trấu nhiễm
Trang 2422,49 - 57,38% Như vậy, gà nuôi trong lồng không tiếp xúc với phân thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng giảm rất thấp
Tình trạng vệ sinh thú y trong chăn nuôi là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng nhiễm cầu trùng ở vật nuôi
Theo Morgot A A (2000) [48], những cơ sở chăn nuôi có điều kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 5 - 10% Ngược lại, những cơ sở chăn nuôi có điều kiện không đảm bảo thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng chiếm 30 - 69%
Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2004) [21] cho biết, điều kiện chuồng
nuôi và môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm sẽ làm cho Oocyst cầu trùng tồn tại
và lưu hành lâu dài Chuồng trại chật trội, ẩm ướt, chất độn chuồng để quá lâu, không được thay đúng định kỳ, bãi chăn thả bị ô nhiễm mầm bệnh là yếu
tố quan trọng gây nhiễm cầu trùng cho gà
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2005) [14], lợn nuôi ở tình trạng vệ
sinh thú y kém nhiễm cầu trùng cao (55,45 % - 66,30 %) Tỷ lệ và cường độ
nhiễm giảm rõ rệt ở nhiều đàn lợn nuôi trong tình trạng vệ sinh tốt
Như vậy, vấn đề vệ sinh chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi là yếu tố
quan trọng liên quan đến sự tồn tại và nhiễm vào cơ thể vật chủ của Oocyst
cầu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [15])
Ảnh hưởng của lứa tuổi đến tỷ lệ nhiễm cầu trùng
Đào Hữu Thanh và cs (1978) [32], Hồ Thị Thuận (1985) [41], Lương
Tố Thu và cs (1993) [39], Lê Văn Năm (1995) [26] đã nghiên cứu và cho biết, bệnh cầu trùng gà liên quan chặt chẽ tới yếu tố tuổi (tỷ lệ nhiễm cao ở 15 - 56 ngày tuổi)
Theo Driesen S J (1993) [56], Roepstorff A và cs (1998) [82], lợn con
ở giai đoạn trước cai sữa nhiễm Isospora suis từ 4,5% - 54,0% và nhiễm cao
nhất trong giai đoạn 10 - 19 ngày tuổi
Oda K và cs (1990) [81] đã thu thập và phân tích 1015 mẫu phân của
bò để nghiên cứu tình hình nhiễm cầu trùng ở Nhật Bản, kết quả cho thấy:
Trang 2559% số mẫu dương tính với Oocyst cầu trùng Tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao nhất
ở bê từ 6 - 11 tháng tuổi
Driesen S J (1993) [56] đã kiểm tra phân của 2380 lợn con giai đoạn 5
- 10 ngày tuổi bị tiêu chảy, có tới 53,8% số lợn nhiễm cầu trùng Lợn bị tiêu chảy chủ yếu ở giai đoạn 7 - 14 ngày tuổi, tập trung cao độ ở 10 ngày tuổi Từ kết quả nghiên cứu này, tác giả cho rằng, cầu trùng là ký sinh trùng phổ biến gây viêm ruột ỉa chảy ở lợn con từ 5 ngày tuổi đến cai sữa
Phạm Sỹ Lăng (2002) [19] cho biết, gà con từ 15 - 45 ngày tuổi nhiễm các loài cầu trùng với tỷ lệ cao, phát bệnh nặng và chết nhiều, nếu không được điều trị tích cực Lứa tuổi gà bị bệnh cũng phụ thuộc vào các loài cầu
trùng: E tenella chỉ gây bệnh cho gà trên dưới 1 tháng tuổi, nhưng E maxima
lại gây bệnh cho gà trên 2 tháng tuổi Gà trưởng thành nhiễm cầu trùng, trong
phân vẫn thải Oocyst, nhưng không thể hiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt, được
xem như vật mang trùng tự nhiên
Một số tác giả cho rằng, động vật non đang trong thời kỳ sinh trưởng mạnh dễ nhiễm cầu trùng, bệnh phát triển nhanh và nặng nề hơn so với động vật trưởng thành (Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, 2004 [24])
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy, bệnh cầu trùng Isospora suis chủ
yếu xảy ra ở lợn sữa Ở Australia, tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở lợn sữa là 53,8% (Driesen và cs 1993 [56]) Ở Hà Lan, Eysker và cs (1994) [59] đã phát hiện có
36,3% lợn nhiễm Isospora suis, trong đó Isospora suis nhiễm ở lợn con theo mẹ
với tỷ lệ 53,8% - 62,2% Nghiên cứu trên lợn ở Bắc Âu, Roepstorff A và cs
(1998) [82] cho biết, trung bình có 17,2% lợn nhiễm Isospora suis Các tác giả
đều khẳng định, bệnh cầu trùng xảy ra nặng nhất ở giai đoạn lợn con bú sữa và giảm dần ở giai đoạn cai sữa
Lâm Thị Thu Hương (2004) [9] đã kiểm tra 3.698 mẫu phân của lợn từ
4 - 50 ngày tuổi ở các trang trại chăn nuôi lợn công nghiệp tại thành phố Hồ
Chí Minh, thấy rằng: tỷ lệ nhiễm Isospora suis cao hơn Eimeria sp và
Cryptosporidium Lợn trong giai đoạn 8 - 14 ngày tuổi, tỷ lệ nhiễm là 42,70%
Trang 26cao hơn so với những lứa tuổi khác Sau 21 ngày tuổi tỷ lệ nhiễm có xu hướng giảm dần Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở lợn nuôi trên nền xi măng cao hơn rất
nhiều so với lợn nuôi trên nền sàn Tỷ lệ nhiễm Isospora suis ở nền xi măng
là 52,65%, nền sàn là 35,60%
Xét nghiệm phân của 2.996 lợn con theo mẹ giai đoạn 2 - 47 ngày tuổi
từ 8 lợn thuộc vùng Ceske Budejovice (Cộng hoà Séc), Hamadejova K và cs
(2005) [62] cho biết, tỷ lệ lợn nhiễm cầu trùng Isospora suis là 24,8%, cao
nhất ở giai đoạn 13 ngày tuổi (46,3%), tỷ lệ nhiễm ở 2 tuần tuổi là 38,8%
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2005) [14] cho thấy, tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng giảm dần theo tuổi lợn, nặng nhất ở lợn con dưới 2 tháng tuổi
Phan Lục (2006) [25] cho biết, ở bê nghé dưới 2 năm tuổi cường độ nhiễm cầu trùng nặng cao, tỷ lệ chết lớn
Theo tài liệu của Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22], lợn ở các lứa tuổi đều
bị nhiễm cầu trùng Lợn con từ 1 - 4 tuần tuổi thường nhiễm cầu trùng và phát bệnh với tỷ lệ cao hơn lợn trưởng thành Đặc biệt, lợn ở tuổi 1 - 10 ngày tuổi bị
bệnh cầu trùng có tỷ lệ chết cao, từ 20% - 40% số lợn bệnh Lợn nái và lợn
trưởng thành, tuy bị nhiễm cầu trùng, nhưng không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, là nguồn tàng trữ và truyền bá mầm bệnh trong tự nhiên
Nguồn phát tán Oocyst cầu trùng
Theo tài liệu của Lê Văn Năm (1995) [26], Phạm Văn Khuê và cs (1996) [12], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13], gia súc, gia cầm bị bệnh
cầu trùng là nguồn phát tán Oocyst ra môi trường bên ngoài Ngoài ra, những
con vật mang cầu trùng nhưng không thể hiện triệu chứng lâm sàng là nguồn mang căn bệnh nguy hiểm, vì chúng là đối tượng mà người chăn nuôi ít chú ý (do không thể hiện triệu chứng lâm sàng)
Đường nhiễm Oocyst vào vật chủ
Sự nhiễm Oocyst có sức gây bệnh chủ yếu qua thức ăn, nước uống,
dụng cụ chăn nuôi
Trang 27Theo Hunter A (2002) [46], Oocyst cầu trùng có mặt ở mọi chỗ
trong môi trường chăn nuôi Do vậy, nguy cơ nhiễm cầu trùng rất cao, nhưng có thể tránh được bằng cách đảm bảo cho vật nuôi không tiếp xúc
với Oocyst ở môi trường
Khi con vật bệnh thải Oocyst cầu trùng qua phân, Oocyst được phát tán
trên khắp nền chuồng, máng ăn và dụng cụ chăn nuôi, từ đó con vật trực tiếp
nuốt phải Oocyst do chính chúng thải ra
Dụng cụ chăn nuôi, người chăn nuôi, giầy, dép, ủng, phương tiện vận
chuyển cũng đóng vai trò quan trọng trong việc mang Oocyst cầu trùng từ nơi
khác vào chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm, hoặc từ ô chuồng này sang ô
chuồng khác (vật nuôi nhiễm Oocyst do những con vật ở nơi khác thải ra)
Mặc dù chưa có dẫn liệu về sự lây truyền cầu trùng bê nghé qua dụng
cụ chăn nuôi, nhưng những nghiên cứu về sự lây nhiễm cầu trùng gà đã được ghi nhận Bạch Mạnh Điều (1999) [3] đã kiểm tra 420 mẫu xe cải tiến, quang thúng thấy tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 4,28% Hoàng Thạch (1999) [31] khảo sát
250 mẫu từ ủng dùng trong khu chuồng nuôi, tỷ lệ nhiễm 5,6%; khảo sát 250 mẫu dụng cụ dọn vệ sinh chuồng nuôi, tỷ lệ nhiễm là 11,2%
Đường lây nhiễm chủ yếu của bệnh cầu trùng là qua hệ thống tiêu hoá
Bê, nghé nuốt phải noãn nang có sức gây bệnh trong thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi sẽ bị nhiễm cầu trùng Các loài cầu trùng có độc lực gây bệnh nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào độc lực của loài cầu trùng mà chúng cảm nhiễm và sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người chăn nuôi (Phạm Sỹ Lăng và cs,
2002, [19], 2006 [22])
Vai trò mang và truyền Oocyst cầu trùng đã được một số tác giả đề cập
Theo tài liệu của Lê Văn Năm (2004) [27], chuột, chó, mèo, chim sẻ và
một số côn trùng có thể mang Oocyst từ đàn gia súc này sang đàn gia súc
khác, từ chuồng này sang chuồng khác
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [12] cho biết, khi Oocyst bị nuốt vào,
trong đường tiêu hoá của ruồi, chúng vẫn còn khả năng gây bệnh trong 24
Trang 28giờ Một số động vật sống trong chuồng nuôi hoặc xung quanh chuồng nuôi
có khả năng mang Oocyst cầu trùng, như: ruồi, gián, kiến, chuột Chúng mang
Oocyst cầu trùng ở chân, trên lông, da, cánh Trong khi di chuyển, chúng sẽ
truyền Oocyst cầu trùng vào thức ăn, nước uống, làm cho gia súc, gia cầm
nhiễm cầu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [15])
- Các yếu tố tress: điều kiện chuồng trại chật trội, thức ăn kém dinh
dưỡng, thiếu sữa, nhiệt độ môi trường thay đổi, con vật đang mắc các bệnh ký sinh trùng khác hoặc các bệnh truyền nhiễm mãn tính đều làm sức đề kháng của con vật giảm, dễ nhiễm cầu trùng và dễ bị bệnh
1.1.6.3 Ảnh hưởng của các yếu tố vật lý, hoá học đến sự phát triển của Oocyst ở ngoại cảnh
* Ảnh hưởng của các tác nhân vật lý
Nhiệt độ, ẩm độ, môi trường nói chung đều tác động vào Oocyst cầu
trùng Những kết quả nghiên cứu ở cầu trùng gà thể hiện rõ điều này:
Glullogh N (1952) cho biết, Oocyst bị diệt ở 400C sau 96 giờ, 450
C sau
3 giờ và 500C sau 30 phút Ở nhiệt độ 12 - 200
C, Oocyst có sức gây bệnh tồn tại được 14 ngày, nhưng Oocyst chưa có sức gây bệnh chỉ tồn tại trong 56 giờ
(Dẫn theo Hoàng Thạch, 1999 [31])
Kay M W (1976) [69] cho rằng, Oocyst loài E tenella và E maxima
không chịu tác động của quá trình lên mem chất độn chuồng.Trong điều kiện
C, Oocyst chết ngay lập tức (Onop E M., 1962)
Long P L (1979) [77] cho biết, Oocyst của loài E tenella có thể sống
qua mùa đông lạnh giá, nhưng không chịu được nhiệt độ cao và ánh nắng
chiếu trực tiếp, song cỏ dại đã che phủ và bảo vệ cho Oocyst tồn tại
Theo Ellis C C (1986) [57], ở nhiệt độ không thay đổi, Oocyst sẽ bị
C, ẩm độ 21% - 30% Oocyst dễ bị
chết sau 4 - 5 ngày
Goodrich H P (1994) [60] cho rằng, lớp vỏ ngoài đã giữ cho Oocyst
Trang 29Theo tài liệu của Lê Văn Năm (2004) [27], nhiệt độ thích hợp cho quá
trình phát triển Oocyst không bị thấm chất lỏng, tuy nhiên nó lại dễ bị nứt do
điều kiện khô hạn
Theo tài liệu của Lê Văn Năm (2004) [27], nhiệt độ thích hợp cho quá
trình phát triển Oocyst ngoài cơ thể là 15 - 350C Lạnh (-150
C) và nóng trên
400C, Oocyst sẽ chết Khi nhiệt độ môi trường thấp 12 - 200C thì những
Oocyst chưa sinh bào tử chỉ tồn tại không quá 56 giờ Khả năng tồn tại của
những Oocyst gây bệnh cao hơn nhiều, có thể kéo dài 4 ngày Tuy nhiên,
Oocyst có sức gây bệnh của loài E debliecki, E scabra ký sinh ở lợn có thể
tồn tại ở môi trường bên ngoài nhiều tháng ở nhiệt độ từ (-40
C) - 400C Oocyst
không có bào tử vẫn tiếp tục tồn tại ở nhiệt độ (-20
C) - (-70C) ít nhất 26 ngày
Ajayi J A (2004) [52] cho rằng sự tồn tại của Oocyst trong môi trường
bên ngoài phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản, cụ thể là: nhiệt độ, ẩm độ và oxy
Khả năng phát triển của Oocyst trong đất và tồn tại của chúng trong các loại
đất khác nhau là khác nhau Điều này đã được thể hiện trong một loạt các cuộc điều tra được tiến hành ở các nước khác nhau (Kogan Z M., 1956 [70]; Krylor M V., 1960 [71])
Quá trình hình thành bào tử của hợp tử ở môi trường bên ngoài chỉ có thể xảy ra trong phạm vi nhiệt độ nhất định, trong nhiều trường hợp ở nhiệt độ
từ 18 - 200
C, Ajayi J A (2004) [52] đã phát hiện ra rằng ở nhiệt độ 5 - 100C
ức chế quá trình hình thành bào tử
Thiếu Oxy cũng sẽ cản trở việc hình thành bào tử Nếu Oocyst được đặt
trong môi trường nước bình thường, trong nước có các vi khuẩn thì sự hình thành bào tử có thể không diễn ra
Marquardt W C (1960) [79] cho rằng E zuernii khi chỉ có 10% oxy
hoặc ít hơn thì sự hình thành và phát triển bào tử không diễn ra
Thiếu độ ẩm cũng đã được chứng minh là gây ra những biến đổi ở lớp
vỏ của Oocyst do mất nước Cũng theo Marquardt W C (1960) [79], ở độ ẩm 20% thì có 12% Oocyst phát triển thành Spozoites và phần còn lại không phát
Trang 30triển được Tuy nhiên, ở độ ẩm 75% thì có khoảng 51% Oocyst phát triển thành Spozoites Graat E A M và cs (1994) [61] báo cáo rằng, nhiệt độ 210C
và độ ẩm 35% không có ảnh hưởng đáng kể nào đến sự hình thành bào tử
* Ảnh hưởng của các tác nhân hoá học
Oocyst cầu trùng có sức đề kháng khá cao với các loại hoá chất sát
trùng thông thường Do vậy, đã gây không ít khó khăn cho việc lựa chọn các loại hoá chất để sát trùng chuồng trại cũng như để điều chế các chất để phòng
và trị bệnh cầu trùng
Theo Horton Smith C và cs (1996) [67], dung dịch tiêu độc khử trùng
10% có tác dụng diệt Oocyst mạnh nhất
Oocyst cầu trùng gà có sức đề kháng với một số hoá chất khử trùng,
tẩy uế chuồng trại Đây là vấn đề cần chú ý khi nghiên cứu biện pháp phòng
trị bệnh cầu trùng cho gà Theo Penard (1925) và Iakimoff (1927), Oocyst loài
E tenella có sức đề kháng khá tốt với dung dịch muối, axít, bazơ ở nồng độ
sự hình thành bào tử Oocyst chết dưới tác dụng của huyễn dịch formol - nhựa
thông ở nồng độ dung dịch 10% Do đó, một số hoá chất có tác dụng diệt
Oocyst đã được sử dụng tiêu độc chuồng trại, ví dụ: dung dịch amoniac (NH3) 10% (Smith, 1940), methyl bromid (Andrew và Taylor M A., 1943) (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan, 2008 [15])
Marquardt W C (1960) [79] cho thấy, 80% Oocyst của E bovis đã bị chết khi được cho vào dung dịch HgCl, chỉ có 3% phát triển thành Oocyst gây bệnh
1.2 BỆNH CẦU TRÙNG BÊ, NGHÉ
Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu mô đường tiêu hoá của bê nghé Bệnh biểu hiện bằng triệu chứng mệt mỏi toàn thân, ăn kém, uống nhiều nước, rối loạn tiêu hoá kèm theo ỉa chảy, phân có những gân máu và cuối cùng chết
do kiệt sức
Trang 311.2.1 Những thiệt hại về kinh tế do bệnh cầu trùng gây ra
Bệnh cầu trùng không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh truyền nhiễm
do vi rút, vi khuẩn gây ra nhưng bệnh thường kéo dài, khó loại bỏ nếu như không áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp
Bê nghé bị cầu trùng thường chậm lớn, khả năng đáp ứng miễn dịch giảm, bê nghé rất dễ bị nhiễm kế phát các bệnh khác, gây ra những tổn thất đáng kể cho ngành chăn nuôi như:
Theo Gobzem V R (1972) tỷ lệ chết ở bê nghé bị bệnh cầu trùng cao,
có thể lên tới 25% (dẫn theo Kolapxki N A và cs, 1980 [47])
Giảm tốc độ sinh trưởng, tăng trọng kém
Tiêu tốn thức ăn và các chi phí khác tăng cao như: chi phí về thuốc điều trị, thuốc sát trùng, chăm sóc nuôi dưỡng
Foster (1949) (dẫn theo Kolapxki N A và cs, 1980 [47]) đã tính, nếu ở
Mỹ, tất cả các bệnh của bò hàng năm gây thiệt hại lên tới 37,5 triệu đô la thì tổn thất do bệnh cầu trùng tới 10 triệu đô la
Niilo L (1970) [80] dựa vào các báo cáo thú y đã xác định, thiệt hại do bệnh cầu trùng ở bò hàng năm lên tới 3,8 triệu đô la Bệnh tiến triển nặng nhất vào mùa xuân và mùa hè, tỷ lệ chết có thể từ 10 - 80% Theo mức độ thiệt hại, tác giả xếp bệnh cầu trùng bê ở Canada vào hàng thứ ba
Glawischnig (1971) cho rằng, ở Úc, trong số các bệnh ký sinh trùng nhiễm ở thời kỳ nuôi ngoài đồng cỏ thì bệnh cầu trùng bê đứng hàng đầu
Ở Anh, bệnh cầu trùng gây ra hội chứng ỉa chảy, làm ảnh hưởng đến việc phát triển của bê non, gây thiệt hại kinh tế cho các trại chăn nuôi bò ở các tỉnh Tây Nam trong mùa hè và mùa thu (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002 [19])
Taylor M A và cs (1994) [86] cho biết: những số liệu ở Mỹ gần đây được ghi chép và công bố cho thấy, bệnh cầu trùng ở bò nói chung là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra những thiệt hại về kinh tế cho
Trang 32ngành chăn nuôi bò, số liệu ước tính thiệt hại về kinh tế trong năm 1993 là
200 triệu đô la
1.2.2 Dịch tễ học của bệnh cầu trùng bê nghé
Bệnh thường gặp ở tất cả các châu lục trên thế giới Bệnh cầu trùng thường phát sinh khi vi phạm chế độ nuôi dưỡng, đặc biệt là khi di chuyển bê nghé từ chuồng nuôi ra đồng cỏ và ngược lại
Nghiên cứu về mùa phát sinh bệnh cầu trùng, Joyner L P và cs (1966) [68] cho biết: bệnh thường lây lan và phát triển trong những tháng nóng ẩm, mưa nhiều từ mùa hè đến mùa thu Thời kỳ này, thời tiết nóng ẩm làm cho noãn nang cầu trùng dễ dàng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ngay trên nền chuồng và bãi chăn thả Khi mưa xuống, nước mưa sẽ mang noãn nang cảm nhiễm ra các khu vực phụ cận, làm ô nhiễm môi trường chăn nuôi
Gobzem V R (1972) (dẫn theo Kolapxki N A và cs, 1980 [47]), khi theo dõi bệnh cầu trùng bê nghé ở thời kỳ nuôi chuồng, thấy tỷ lệ nhiễm bệnh tới 25% Bệnh thường có nhiều hơn vào các năm có mùa hè nóng và độ ẩm cao, mùa thu ẩm ướt, mưa nhiều
Cũng theo tác giả trên, ở Belaruxia thường thấy bê ít bị nhiễm bệnh vào tháng 3, tháng 4, tỷ lệ nhiễm cao hơn vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 9; cường độ nhiễm bệnh phụ thuộc vào loài cầu trùng; tác giả xác định rằng,
cường độ nhiễm cầu trùng loài E bovis và tỷ lệ nhiễm mạnh nhất ở bê, lứa
tuổi 40 - 45 ngày khi bê nuôi thiếu vệ sinh, bê bị nhiễm ở lứa tuổi 60 - 100 ngày trong điều kiện nuôi dưỡng tốt và có đủ thức ăn Ở bê 30 ngày tuổi, thấy
trong phân có Oocyst loài E bovis và E ellipsoidalis; ở bê 2,5 - 3 tháng thấy loài E cylindrica và E zuernii Mức độ nhiễm E bukidnonensis ở bê không
cao lắm trong thời gian chăn nuôi bê trên đồng cỏ
Người ta cũng quan sát thấy bê nghé thường phát bệnh vào những thời
kỳ chuyển vụ: từ mùa thu sang mùa đông, khi thời tiết thay đổi, từ ấm ấp sang lạnh ẩm và thiếu thức ăn, làm cho bê nghé giảm sức đề kháng
Trang 33Khi nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng bê ở Pakistan từ tháng
4 năm 2009 đến tháng 3 năm 2010 ở Pakistan, Tauseef Ur Rehman và cs (2010) [85] đã xét nghiệm 584 mẫu phân bê nghé, kết quả nghiên cứu cho thấy: có 275 mẫu phân nhiễm cầu trùng (47,09%), đã tìm thấy 6 loài cầu trùng
gây bệnh, trong đó loài chiếm tỷ lệ cao nhất là E bovis (52,36%) Bê nghé có
tỷ nhiễm cao nhất vào tháng 8 Mùa mưa bê nghé có tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao hơn mùa khô (60,32% so với 59,25%)
Theo Lương Tố Thu (1986), ở Việt Nam, đã phát hiện thấy bê thuộc giống bò sữa lang trắng đen (Holstein) và trâu sữa Murrah bị nhiễm bệnh, gây tổn thất nhiều về kinh tế (Dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002 [19])
Lâm Thị Thu Hương (2006) [10], đã xét nghiệm 620 mẫu phân bê, từ
sơ sinh đến 8 tháng tuổi, nuôi tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh
Đồng Nai bằng phương pháp phù nổi để tìm hiểu tình hình nhiễm Eimeria Kết quả cho thấy: Bê nuôi tại trại chăn nuôi tập trung nhiễm Eimeria spp là
52,94%, cao hơn bê nuôi tại các hộ chăn nuôi cá thể (39,42%), tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi, kể từ tháng thứ 2 sau khi sinh
Để biết ảnh hưởng của lứa tuổi, tính biệt đến tỷ lệ nhiễm bệnh, Ahmed
M W và cs (2007) [51], đã phân tích mẫu máu và mẫu phân của 191 bê,
nghé Kết quả cho thấy: Tỷ lệ nhiễm biến động từ 22,2% - 64,3%, cao nhất là
ở bê, nghé từ 6 - 9 tháng tuổi (64,3%), thấp nhất là ở bê, nghé từ 1 tuần đến 3 tháng tuổi (22,2%) Về tính biệt, kết quả cho thấy gia súc đực có tỷ lệ nhiễm cao hơn gia súc cái (70,5% so với 61,5%)
Trang 34lớn tế bào biểu mô, lớp dưới niêm mạc, các mạch quản, thần kinh bị phá huỷ, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển và xâm nhập vào cơ thể
Đề cập đến quá trình sinh bệnh học của bệnh cầu trùng, Kolapxki N
A và cs (1980) [47], Ajayi J A (2004) [52] đều thống nhất rằng: trong màng niêm mạc ruột, cầu trùng phát triển mạnh bằng phương thức sinh sản vô tính
và làm cho hàng loạt tế bào biểu mô bị phá huỷ Người ta xác định rằng, một con vật mắc bệnh cầu trùng thải ra môi trường bên ngoài hàng ngày từ 9 triệu
đến 980 triệu Oocyst Điều đó tương ứng với, trong cơ thể con vật ốm, hàng
ngày có trên 500 triệu tế bào biểu mô ruột bị phá huỷ Không những chỉ các tế bào bị cầu trùng ký sinh, mà hình như cả những tế bào bên cạnh, những mao quản và mạch quản bị phá huỷ Sự phá huỷ hàng loạt tế bào của ký chủ làm cho tính toàn vẹn của vách ruột bị tổn thương Những vùng ruột bị huỷ hoại làm cho nhiều đoạn ruột không tham gia được vào quá trình tiêu hoá, làm cho con vật thiếu dinh dưỡng dai dẳng, dẫn đến sự phù nề các cơ quan và mô bào Quá trình bệnh thường thể hiện máu loãng, mạch đập chậm Sự sinh sản mạnh của cầu trùng trong niêm mạc ruột và sự phá huỷ các tế bào biểu mô ruột, dẫn tới hậu quả là, trên các vùng tế bào bị chết, hệ vi khuẩn gây mủ sinh sản, làm nặng thêm quá trình viêm ruột, gây rối loạn chức năng hấp thụ và nhu động của ruột, dẫn đến con vật ỉa chảy
Kolapxki N A và cs, 1980) [47] cho thấy, tác động quá trình gây bệnh
của cầu trùng giống Eimeria là làm cho hàng loạt tế bào niêm mạc ruột bị phá
vỡ, giải phóng Oocyst vào xoang ruột, gây hiện tượng xuất huyết tràn lan, tế
bào bong tróc, làm cho thành ruột trở nên mỏng
Những xét nghiệm về hoá sinh và hình thái học cho thấy, khi bị bệnh cầu trùng, số lượng hồng cầu, hàm lượng hemoglobin giảm, con vật bị thiếu máu Ngoài ra, vào thời kỳ bệnh tiến triển ác tính còn làm giảm lượng đường trong máu, giảm glutation, catalaza và lượng kiềm dự trữ
Trang 35Từ cách sinh bệnh trên, các tác giả đã đến kết luận: phải xem bệnh cầu trùng như là một bệnh toàn thân, chứ không chỉ riêng một cơ quan có loài cầu trùng này hay loài cầu trùng khác ký sinh
1.2.4 Triệu chứng của bê, nghé bị bệnh cầu trùng
Kolapxki N A và cs (1980) [47] cho biết: Thời kỳ nung bệnh kéo dài
từ 2 - 3 tuần Bệnh diễn ra ở các thể cấp tính, á cấp tính hay mãn tính Điều đó
phụ thuộc vào trạng thái cơ thể, loài cầu trùng và số lượng Oocyst
gây bệnh xâm nhập vào cơ thể bê nghé
Ở thể cấp tính, thấy bê nghé bị suy nhược hoàn toàn: con vật hay nằm
hơn, không thích vận động, ít ăn, lông mất màu ánh, trở nên xù xì, nhai lại chậm chạp Bệnh ở ngày thứ 2, thứ 3 thì sinh ỉa chảy, phân lỏng có chất nhờn
và những gân máu Sau 7 - 8 ngày từ khi mắc bệnh, trạng thái suy nhược toàn thân tăng lên, sự nhai lại ngừng hẳn, nhu động ruột tăng, hậu môn nửa đóng, nửa mở, màng niêm mạc ruột cũng xuất huyết mạnh Ở vùng đuôi và hai chân sau, lông phủ dịch bẩn màu hơi xanh Sau đó phân trở nên loãng, màu hơi xanh nâu, mùi rất thối, trong phân có hỗn hợp niêm dịch và máu, nhiều khi có
cả màng fibrin Cuối tuần lễ thứ 2, ỉa chảy càng mạnh hơn, vật mắc bệnh rặn
ỉa liên tục Nhiệt độ cơ thể con ốm lên tới 40 - 410
C Bê nghé xuống sức nhanh, nằm liệt, bỏ ăn, không thiết gì đến xung quanh, kiệt sức nhanh chóng Lúc này mắt bê trũng sâu xuống, màng niêm mạc trắng nhợt Hậu môn mở rộng, niêm mạc hậu môn đầy những chấm hay những vệt xuất huyết Phân toàn màu nâu hay nâu sẫm, giai đoạn cuối phân có màu đỏ Khi nhiệt độ cơ
C, con vật chết
Hầu hết các tác giả cho rằng, bệnh cầu trùng thể cấp tính thường thấy khi
bê nghé nhiễm lần đầu loài cầu trùng E zuernii Nhiều người cũng thấy giai đoạn cấp tính xảy ra khi bị nhiễm ghép loài E zuernii với một số loài cầu trùng
khác
Ở thể á cấp tính, trạng thái mệt mỏi biểu hiện ít hơn, bê nghé hay nằm
hơn, ăn ít, nhai lại yếu, phân loãng có chất nhày Tới ngày thứ 7, thứ 8 bê nghé
Trang 36bắt đầu ỉa chảy nhưng không có máu Con vật gầy, bệnh tiến triển dai dẳng và kéo dài
Thể mãn tính, thấy ở những bê nghé tuổi lớn hơn và thường ở trâu bò
trưởng thành Ở các cơ sở chăn nuôi kém, thể bệnh này xảy ra thường xuyên Gia súc gầy yếu, ỉa chảy lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, phân nhiều nước có lẫn bọt khí, chất nhày và thường có máu ẩn Con vật kém ăn, màng niêm mạc tái nhợt Bê nghé sinh trưởng và phát dục kém, thậm chí giảm khối lượng cơ thể Thể mãn tính của bệnh cầu trùng kéo dài làm cho cơ thể bê nghé yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh truyền nhiễm phát sinh
Gobzem V R (1972) (dẫn theo Kolapxki N A và cs, 1980 [47]) đã nghiên cứu triệu chứng lâm sàng khi gây bệnh cho bê bằng một loài cầu trùng
duy nhất - loài E bovis Tác giả đã gây nhiễm cho 18 bê bằng cách cho mỗi con nuốt 200 nghìn Oocyst đã hình thành bào tử Ngày thứ 2 sau khi nhiễm
bệnh bê đã có biểu hiện mỏi mệt, một số con chảy nước mũi, phân có nhiều chất nhày Vào ngày thứ 3, ở bê thí nghiệm xuất hiện ỉa chảy Những ngày sau, phân nửa đặc nửa loãng Tới ngày thứ 8 bê vẫn ăn tốt, nhiệt độ cơ thể hơi cao, lỗ mũi chảy niêm dịch lẫn mủ Phản ứng Gregerxen phát hiện máu ẩn trong phân dương tính Từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 15, bê mệt nhiều hơn; nước mũi chảy có chất nhày lẫn mủ, ở một số con phân có nhiều chất nhày, một số con khác thì ỉa chảy Khi xét nghiệm chất nhày và mủ chảy ra từ lỗ
mũi, người ta thấy những thể tựa như thể phân đoạn (Merozoit) của cầu trùng
E bovis Các nang trứng (Oocyst) cầu trùng xuất hiện trong phân bê thí
nghiệm ở ngày thứ 20 sau khi nhiễm bệnh Số lượng Oocyst có trong 1 g phân
đến 105 nghìn Triệu chứng lâm sàng biểu hiện rõ hơn vào ngày thứ 23 - 27 Lúc này bê mệt mỏi nhiều, ỉa chảy mạnh, gầy sút, mắt lõm chứng tỏ cơ thể bê mất nhiều nước Bộ lông mất màu sáng và trở nên xù xì, nhiệt độ cơ thể tăng cao, nhu động ruột cũng tăng
Ở một số bê, ngày thứ 14 ngay khi gây nhiễm nhiệt độ cơ thể lên tới
0
Trang 37vùng phổi có tiếng ran phế quản, nhu động ruột tăng mạnh Sau đó nhiệt độ giảm xuống ở ngày thứ 15 Tới ngày thứ 20 thì bê suy sụp hoàn toàn, xuất hiện run cơ, nhiệt độ xuống còn 36,50C Tới ngày thứ 21 bê chết
Ahmed M W và cs (2007) [51] khi nghiên cứu 176 bê, nghé để tìm hiểu về triệu chứng lâm sàng của những bê, nghé bị nhiễm bệnh cầu trùng, tác giả đã thấy bê, nghé có một số triệu chứng lâm sàng chủ yếu sau: Lông xù, giảm tăng trọng, ỉa chảy, ăn kém, xuất hiện những chỗ tổn thương ở da, trong
đó triệu chứng bê nghé bị xù lông chiếm tỷ lệ cao nhất (29,50%)
1.2.5 Bệnh tích của bê, nghé bị bệnh cầu trùng
Mổ khám bê nghé chết do cầu trùng thấy:
Xác gầy rộc Các màng niêm mạc đều trắng nhợt, vùng chân sau và đuôi, lông nhiễm đầy phân bẩn, hậu môn mở, niêm mạc hậu môn phù, ứ máu
và thường xuất huyết
Xoang bụng chứa đầy dịch màu vàng rơm Các mạch máu màng treo ruột căng phồng Hạch bạch huyết màng treo ruột tăng sinh, cắt ra thấy màu xám, mọng nước Màng niêm mạc tá tràng và ruột non bị phù, sung huyết có những chấm hay vệt xuất huyết, trong xoang ruột già, có nhiều đám màu xám lẫn máu Niêm mạc ruột già thủy thũng, có nhiều đám hoặc nhiều điểm hay vạch xuất huyết, có thể có nhiều chỗ xuất huyết khác nhau Niêm mạc manh tràng và đặc biệt là trực tràng dày lên, thâm nhiễm, dễ bóc và có nhiều điểm sung huyết; các hạch bạch huyết tăng sinh bằng đầu ngón tay, nhô ra thành từng cục u lồi màu xám Đôi khi màng niêm mạc manh tràng và trực tràng có những vết loét, phủ đầy bã đậu Chất chứa trong phần ruột này màu nâu tối hay màu
đỏ máu
Grafner và Weichelt (1966) (dẫn theo Kolapxki N A và cs, 1980 [47]) cho biết: mổ khám xác bê chết về bệnh cầu trùng thấy viêm màng niêm mạc
dạ múi khế
Khi nghiên cứu về các loài cầu trùng gây bệnh ở bê nghé, các nhà khoa
học đều thống nhất rằng: 3 loài cầu trùng E zuernii, E bovis và E
Trang 38alabamemsis là các loài gây ra những tổn thương và bệnh tích rõ ràng nhất ở
bê, nghé
Khi mổ khám bê và nghé chết vì bệnh cầu trùng, Gobzem V R (1972) thấy, thuỳ phổi trước kém đàn hồi, dày ra, trong khí quản có những cục mủ Các hạch lâm ba phổi tăng sinh và xuất huyết Cơ tim có màu thịt luộc chín Trên mép tầng vỏ và tầng tuỷ của thận có những điểm xuất huyết, tầng tuỷ thấy thấm dịch màu hồng
Trong bệnh cầu trùng mãn tính, bệnh tích không thể hiện rõ Có thể thấy màng niêm mạc ruột già bị phồng lên, nhiều chỗ tụ máu xuất huyết dọc theo nếp gấp niêm mạc
1.2.6 Miễn dịch trong bệnh cầu trùng
Gần đây, miễn dịch cầu trùng ở gia súc, gia cầm đã được nghiên cứu, nhằm chế ra các loại vắc xin phòng bệnh cầu trùng, đi đầu là vắc xin phòng bệnh cầu trùng gà (Chapman H D., 2001 [45])
1.2.6.1 Nghiên cứu về miễn dịch cầu trùng ở vật nuôi
Tyzzer E E (1929) [87] đã chứng minh bằng thực nghiệm là có 2 mức miễn dịch trong bệnh cầu trùng
- Mức 1: phát sinh sau khi con vật nhiễm một lượng nhỏ cầu trùng Khi
đó sẽ tạo ra miễn dịch yếu, và nếu gây nhiễm cho con vật một liều cầu trùng cao hơn (liều siêu nhiễm) thì nó sẽ mắc bệnh lại
- Mức 2: phát sinh khi con vật nhiễm một lượng lớn cầu trùng Trong trường hợp này con vật có sức miễn dịch và không bị nhiễm lại khi cầu trùng xâm nhập vào cơ thể Nhận định này được Beyer xác nhận khi thí nghiệm trên thỏ, và Paskin xác nhận khi thí nghiệm trên gà con
Bachman G W (1930) [53] cho rằng, miễn dịch theo tuổi hình thành ở gia súc do chúng tái nhiễm cầu trùng nhiều lần
Hammond D M và cs (1944) [63] đã gây miễn dịch trước cho bê thí
nghiệm bằng E bovis với liều 25.000 - 30.000 Oocyst; bê đối chứng không
Trang 39với số lượng 0,4 - 1,9 tỷ thể phân lập của loài cầu trùng trên Tiếp sau đó dùng phương pháp sinh thiết làm các tiêu bản tế bào ruột Kết quả cho thấy, những bê đã gây miễn dịch (thí nghiệm), các thể phân đoạn không phát triển được và bệnh cầu trùng không phát ra Ở bê đối chứng (không được gây miễn
dịch) bệnh cầu trùng đã phát ra Điều đó cho thấy, gây nhiễm Oocyst ở bê đã
hình thành sức miễn dịch, nhờ vậy ngăn khả năng xâm nhiễm của các thể phân đoạn cầu trùng cùng loài sau đó
Rommel M (1970) đã nghiên cứu phản ứng miễn dịch với E scabra thấy: huyết thanh miễn dịch có tác dụng ngăn cản sự nhiễm Oocyst cầu trùng
nhưng không thành công lắm
1.2.6.2 Tính đặc hiệu của miễn dịch cầu trùng Eimeria
Tyzzer E E (1929) [87] cho biết: tính đặc hiệu của miễn dịch cầu
trùng là có thật Sau khi gây nhiễm cho gà bằng E tenella (lần 1), tác giả tiếp tục gây nhiễm lần 2 cách 2 tuần với 3 loài cầu trùng: E tenella, E maxima, E
acervulina Khi mổ khám, chỉ phát hiện thấy bệnh tích ở ruột non (nơi gây
bệnh của cầu trùng E maxima và E acervulina) mà không thấy bệnh tích ở manh tràng (nơi gây bệnh của cầu trùng E tenella)
Rose M E (1962) [83] đã chứng minh tính đặc hiệu theo loài rất
nghiêm ngặt ở Eimeria bằng phương pháp kết tủa trên thạch
Wallach và cs (1996) cho biết, khi gà nhiễm E maxima đã hình thành khả năng miễn dịch chống lại E maxima và tạo miễn dịch chéo với hai loài E
tenella và E acervulina Đây là một điểm quan trọng trong ứng dụng chế vắc
xin phòng bệnh cầu trùng đa loài (dẫn theo Hoàng Thạch, 1999 [31])
1.2.6.3 Cơ chế đáp ứng miễn dịch
Theo cơ chế đáp ứng miễn dịch chung, khi có kháng nguyên kích thích vào cơ thể thì cơ thể sẽ sản sinh ra kháng thể chống lại kháng nguyên đó Trong thực tiễn, sự sống của động vật luôn diễn ra quá trình tiếp nhận kháng nguyên, nhưng không phải tất cả đều hình thành kháng thể Miễn dịch cầu
Trang 40trùng Eimeria chỉ hình thành khi có sự hiện diện của cầu trùng Eimeria
Long P T và cs (1979) [77] cho rằng, kháng thể kháng Eimeria được hình thành do tác động của cầu trùng Eimeria Thời gian tác động để hình
thành kháng thể chống cầu trùng ở giờ thứ 92 (gần 4 ngày), nhưng có thể phát hiện sự đề kháng sau 3 ngày (72 giờ) sau nhiễm Thời gian cần thiết tạo miễn dịch chắc chắn đối với bệnh cầu trùng cũng tương tự như đối với các bệnh do
vi rút
Theo Kolapxki N A và cs (1980) [47], trong bệnh cầu trùng có thể miễn dịch tế bào đóng vai trò chủ yếu Turh (1975) cho là, trạng thái cơ thể có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến kết quả đáp ứng miễn dịch
Euzeby J (1981) cho biết, thời gian duy trì miễn dịch đối với cầu trùng
Eimeria là 12 - 14 tháng Theo tác giả, sự bảo hộ tại chỗ là có thật và có thể
duy trì đến hàng tháng, thậm chí hàng năm Miễn dịch này không nhất thiết kích thích để huy động kháng thể tại chỗ, nhưng chắc chắn nó kích thích để huy động kháng thể
Theo Augustine P C (1996) [49], các kháng thể ngưng kết tố và kết tủa
tố có thể tham gia vào miễn dịch Các kháng thể đó đã tìm thấy trong phân (kháng thể copro) và trong niêm mạc (kháng thể muco) Lillehoj S H (1996) [76] cho biết, đáp ứng miễn dịch của vật nuôi với bệnh cầu trùng là hỗn hợp nhiều mặt của việc chống lại cầu trùng và sự tương hỗ giữa tế bào bạch cầu ở ruột với cầu trùng Đây là đặc trưng cho đáp ứng miễn dịch cầu trùng