Bệnh cầu trùng thỏ có thể phát sinh thành những ổ dịch lớn có tính chất hủy diệt gây ra những thiệt hại to... Vòng đời phát triển của cầu trùng thỏ Vòng đời của cầu trùng thỏ không cần k
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Minh
Thái Nguyên, 2011
Trang 2Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong bài luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên ngày 20 tháng 10 năm 1011
Tác giả
Trương Thị Tính
Trang 3Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của tôi đã hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn
và cảm ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn TS Lê Minh đã tận tình chỉ
bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cơ sở vật chất của khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Khoa Sau Đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình cán bộ trạm thú y và nhân dân của các huyện Thuỷ Nguyên, Tiên Lãng, Kiến Thuỵ, Vĩnh Bảo…TP Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi cũng nhận được sự quan tâm, động viên sâu sắc của gia đình và bạn bè
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Tác giả
Trương Thị Tính
Trang 4của thành phố Hải Phòng 55
Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng thỏ theo lứa tuổi 59
Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng thỏ theo mùa vụ 62
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng thỏ theo tình trạng vệ sinh thú y 64
Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở thỏ bình thường và thỏ bị tiêu chảy 66
Bảng 3.6 Các loài cầu trùng ký sinh ở thỏ tại thành phố Hải Phòng 68
Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm từng loài cầu trùng đã được phát hiện tại thành phố Hải Phòng 70
Bảng 3.9 Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở nền chuồng nuôi thỏ 74
Bảng 3.10 Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở mẫu đất khu vực xung quanh chuồng và lồng nuôi thỏ 75
Bảng 3.11 Thời gian Oocyst phát triển thành Oocyst có sức bệnh trong phân thỏ 77
Bảng 3.12 Thời gian sống của Oocyst cầu trùng thỏ có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh 79
Bảng 3.13 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của thỏ nhiễm cầu trùng 81
Bảng 3.14 Tỷ lệ thỏ có bệnh tích do cầu trùng gây ra 83
Bảng 3.14 Thử nghiệm thuốc điều trị bệnh cầu trùng cho thỏ 85
Bảng 3.15 Hiệu lực của thuốc trị cầu trùng cho thỏ trên diện rộng 86
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cầu trùng giống eimeria ký sinh ở thỏ 3
1.1.1 Thành phần loài cầu trùng thỏ 3
1.1.2 Đặc điểm, hình thái, kích thước các loài cầu trùng thỏ đã được nghiên cứu 4
1.1.3 Cấu trúc của Oocyst cầu trùng 8
1.1.4 Vòng đời phát triển của cầu trùng thỏ 10
1.1.5 Cơ chế sinh bệnh 13
1.1.6 Tính chuyên biệt của cầu trùng 15
1.1.6 Tính chuyên biệt của cầu trùng 16
1.1.7 Dịch tễ học bệnh cầu trùng 18
1.1.7.1 Thời tiết, khí hậu ảnh hưởng đến sức sống của Oocyst cầu trùng 18
1.1.8 Miễn dịch học trong bệnh cầu trùng 23
1.2 Bệnh cầu trùng ở thỏ 29
1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do cầu trùng gây ra 29
1.2.2 Dịch tễ học của bệnh cầu trùng thỏ 30
1.2.3 Đường truyền lây 32
1.2.4 Cơ chế sinh bệnh của cầu trùng thỏ 32
1.2.5 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh cầu trùng thỏ 34
1.2.6 Chẩn đoán bệnh cầu trùng 36
1.2.7 Phòng và điều trị bệnh cầu trùng thỏ 37
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 40
Trang 6NGHIÊN CỨU 42
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 42
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 42
2.3 Nội dung nghiên cứu 43
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng thỏ ở một số huyện của thành phố Hải Phòng 43
2.3.2 Xác định thành phần loài cầu trùng ký sinh ở thỏ của thành phố Hải Phòng 43
2.3.3 Nghiên cứu Oocyst cầu trùng thỏ ở ngoại cảnh 43
2.3.4 Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh cầu trùng thỏ 43
2.3.5 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng cho thỏ 43
2.4 Phương pháp nghiên cứu 44
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 44
2.4.2.6 Phương pháp xác định hiệu lực thuốc điều trị cầu trùng cho thỏ 52
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 53
2.5.1 Đối với các tính trạng định tính như: tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm Oocyst cầu trùng, hiệu lực của thuốc được tính theo công thức 53
2.5.2 Đối với các tính trạng định lượng như: số lượng Oocyst cầu trùng được tính theo công thức 54
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55
3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cầu trùng thỏ 55
3.1.1 Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cầu trùng ở thỏ nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố Hải Phòng 55
3.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi thỏ 59
3.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo mùa vụ 62
Trang 73.2.1 Xác định thành phần loài cầu trùng ký sinh ở thỏ của thành phố
Hải Phòng 67
3.2.2 Xác địnhtỷ lệ nhiễm theo loài cầu trùng ở thỏ 70
3.3 Nghiên cứu sự ô nhiễm oocyst cầu trùng thỏ ở ngoại cảnh 71
3.3.1 Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở đáy lồng nuôi thỏ 71
3.3.1 Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở nền chuồng nuôi thỏ 73
3.3.3 Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở mẫu đất khu vực xung quanh chuồng và lồng nuôi thỏ 75
3.3.4 Thời gian Oocyst cầu trùng phát triển thành Oocyst có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh 77
3.3.4.Thời gian sống của Oocyst cầu trùng thỏ có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh 78
3.4 Tỷ lệ thỏ có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của bệnh cầu trùng 81
3.4.1 Tỷ lệ thỏ có biểu hiện lâm sàng trong số thỏ nhiễm cầu trùng 81
3.4.2 Bệnh tích của thỏ mắc bệnh cầu trùng 82
3.4.3 Biện pháp phòng, trị bệnh cầu trùng cho thỏ 84
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thỏ là loài động vật cung cấp nhiều nguồn sản phẩm hàng hoá có giá trị Thịt thỏ là loại thực phẩm dễ tiêu hoá, thơm ngon, có hàm lượng protein cao (21,5%), mỡ thấp (6,5 - 7,7%), lại có tác dụng điều dưỡng một số bệnh cho con người Lông, da thỏ là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu như mũ, áo len, đồ trang sức và mỹ nghệ, ngoài ra thỏ còn là động vật được sử dụng nhiều trong thí nghiệm
(Nguyễn Quang Sức, (1994) [28]
Chăn nuôi thỏ có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng
- Thỏ mắn đẻ, lại không tranh chấp lương thực với người, có thể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên và phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất ra những mặt hàng quý giá
- Nuôi thỏ không cần nhiều vốn đầu tư, có thể sử dụng được nguồn nhiên liệu sẵn có ở địa phương, tạo thêm việc làm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nhân dân…Nuôi thỏ không những góp phần cải thiện bữa ăn mà còn có thể giúp người nông dân thoát nghèo
Song song với những ưu điểm đó thì những bệnh tật ở thỏ cũng gây thiệt hại đáng kể, trong đó cầu trùng là một bệnh phổ biến nhất Bệnh do đơn bào
giống Eimeria gây nên, các triệu chứng điển hình của bệnh là giảm ăn, suy
nhược, rối loạn tiêu hóa, viêm mũi, viêm mí mắt, thiếu máu (Lê Văn Năm, 2006 [24]) Đánh giá về tác hại của bệnh, Johan và cs (1988) [53] cho biết: “Bệnh có thể làm thỏ hấp thụ thức ăn kém hơn 7 - 8% và tăng trọng thấp hơn 40 - 350g trong suốt thời gian vỗ béo, cuối cùng làm thỏ chết” Bệnh cầu trùng thỏ có thể phát sinh thành những ổ dịch lớn có tính chất hủy diệt gây ra những thiệt hại to
Trang 9lớn về kinh tế cho người chăn nuôi, tỷ lệ chết lên tới 70 - 100% (Phạm Sỹ Lăng, 2006) [16]
Những năm gần đây, nghề chăn nuôi thỏ ở Hải Phòng khá phát triển Trong khi đó việc nghiên cứu về tình hình nhiễm cầu trùng thỏ và vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy ở thỏ tại Hải Phòng chưa được chú ý, vì vậy cũng chưa có biện pháp phòng trị cầu trùng cho thỏ
Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi thỏ ở thành phố Hải
phòng chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng đường tiêu hoá thỏ ở thành phố Hải Phòng và biện pháp phòng trị”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu bệnh cầu trùng đường tiêu hoá thỏ để có cơ sở khoa học
đề xuất biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng thỏ ở các huyện, quận của thành phố Hải Phòng có hiệu quả cao, từ đó xây dựng quy trình phòng trị bệnh cầu trùng cho thỏ
3 Ý nghĩa khoa học
* Ý nghĩa khoa học
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về bệnh cầu trùng thỏ ở thành phố Hải Phòng
* Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Xây dựng được quy trình phòng trị bệnh cho thỏ có hiệu quả Từ đó, góp phần hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở thỏ, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi thỏ
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Cầu trùng là động vật đơn bào có hình tròn, hình trứng, hình bầu dục (phụ thuộc vào từng loài cầu trùng) Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu
mô ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và cả ở người Phân loại cầu trùng ở gia súc, gia cầm chủ yếu dựa vào đặc điểm về hình thái, kích thước, màu sắc,
vị trí ký sinh, thời gian sinh bào tử [75]
1.1 Cầu trùng giống eimeria ký sinh ở thỏ
1.1.1 Thành phần loài cầu trùng thỏ
Theo Kolapxki N A., Paskin P I (1980) [39], vị trí của cầu trùng trong
hệ thống động vật nguyên sinh như sau:
Loài Eimeria stiedae (Lindemann, 1864)
Eimeria perforans (Leuckart, 1879) Eimeria media (Kessel, 1929) Eimeria magna (Perard, 1925) Eimeria irresidua (Kessel và Jankiewicz, 1931) Eimeria coecicola (Cheissin, 1947)
Eimeria intestinalis (Kheisin, 1948) Eimeria exigua (Yakimoff, 1934) Giống Isospora
Trang 11Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã phát hiện được 25 loài
Eimeria ký sinh và gây bệnh cho thỏ
Theo Toula F H và cs (1998) [68], tỷ lệ các loài cầu trùng gây bệnh cho
thỏ như sau: E perforans (65%), E magna (45%), E stiedae (25%), E exigua (20%) và E piriformis (10%) Có 90% thỏ bị nhiễm 2 hoặc 3 loài cầu trùng
Grés V và cs (2003) [49] đã kiểm tra 254 thỏ hoang tại Pháp phát hiện thấy
10 loài cầu trùng ký sinh là: E perforans, E flavescens, E pirifomis, E exigua,
E media, E magna, E coecicola, E stiedae, E roobroucki, E intestinalis
Ở Brazil, De Almeida A J và cs (2006) [41] cho biết, có 10 loài cầu
trùng ký sinh ở thỏ giống thịt là E perforans, E magna, E coecicola, E irresidua, E media, E flavescens, E nagpurensis, E intestinalis, E exigua
và E stiedae và tỷ lệ nhiễm chung là 81,82%
Theo Lê Văn Năm (2006) [24], có ít nhất 5 loài cầu trùng ký sinh và gây
bệnh cho thỏ là: E perforans, E media, E magna, E stiedae, E irresidua
Nguyễn Hữu Hưng và cs (2008) [11] đã xác định có 5 loài cầu trùng ký
sinh trên thỏ nuôi tại thành phố Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng là: E perforans,
E media, E magna, E stiedae, E irresidua
1.1.2 Đặc điểm, hình thái, kích thước các loài cầu trùng thỏ đã được nghiên cứu
Eimeria stiedae (Lindemann, 1864; Kisskalf và Hartmann, 1907)
Các nang trứng hình bầu dục hay hình elip mầu vàng nâu, vỏ nang trứng
trơn nhẵn, có lỗ noãn ở phần hẹp của nang trứng Sau giai đoạn sinh sản bào
tử trong nang trứng và trong bào tử có những thể cặn Kích thước nang trứng 31- 42 x 17 - 25µm, trung bình là 37 x 20 µm Sinh bào tử kéo dài tối đa là 3 -
4 ngày Chu kỳ nội sinh tiến triển trong biểu bì ống dẫn mật
Eimeria perforans (Leuckart, 1879; Sluiter và Swllengrebel, 1912)
Trang 12Nang trứng có dạng elip hay tròn Lỗ noãn trông rõ ở những nang trứng lớn, còn nang trứng bé thì không rõ Vỏ nang trứng không mầu, kích thước 15
- 30 x 11 - 20 µm Loài cầu trùng này thường hay gặp nhất trong ruột thỏ Sau thời kỳ sinh bào tử các thể cặn hình thành trong nang trứng và trong bào tử Thời gian sinh bào tử 24 - 48 giờ
Eimeria media (Kessel, 1929)
Nang trứng hình bầu dục, có thể có dạng elip Lỗ noãn trông rất rõ có thể
thấy bề dầy lớp vỏ ngoài Vỏ nang trứng mầu vàng sáng hay nâu vàng, kích thước 19 - 37 x 13 - 22 µm Sau thời kỳ sinh bào tử, các thể cặn hình thành trong nang trứng và trong bào tử Thời gian sinh bào tử là 2 - 3 ngày Cầu trùng phát triển nội sinh trong tá tràng và phần trên ruột non
Eimeria magna (Perard, 1925)
Nang trứng hình bầu dục, lỗ noãn trông rất rõ, trong lỗ noãn thấy được
vỏ ngoài đầy Vỏ nang trứng mầu vàng da cam hay nâu Sau thời kỳ sinh bào
tử có thể cặn trong nang trứng và bào tử Kích thước nang trứng 27 - 41 x 17 -
29 µm Thời gian sinh sản bào tử từ 3 - 5 ngày Phát triển nội sinh ở phần giữa và phần dưới ruột non Đôi khi các bào tử loài này còn thấy trong manh tràng và trực tràng
Eimeria irresidua (Kessel và Jankiewicz, 1931)
Các nang trứng hình elip hay bầu dục, phần cuối nang trứng mở rộng ở
đó có lỗ noãn Nang trứng mầu nâu sáng hay nâu tối Kích thước 35 - 42 x 19
- 28 µm, trung bình là 38 x 23 µm Sau thời kỳ sinh sản bào tử chỉ trong bào
tử có thể cặn, thời gian sinh bào tử là 3 - 4 ngày Chu kỳ phát triển nội sinh ở phần giữa ruột non
Eimeria piriformis (Kotlan và Pospesch, 1934)
Nang trứng hình quả trứng hay hình quả lê, mầu nâu vàng Ở phần hẹp của nang trứng có lỗ noãn trông rất rõ Kích thước nang trứng 26 - 33 x 15 - 21 µm,
Trang 13trung bình là 29 - 32 x 18 - 19 µm Chỉ có thể cặn trong bào tử sau khi sinh bào
tử Phát triển nội sinh trong ruột già, chủ yếu là những khe biểu bì Thời gian sinh bào tử 2 - 6 ngày
Eimeria coecicola (Cheissin, 1947)
Trong một thời gian dài người ta coi cầu trùng này như loài Eimeria magna hay Eimeria media, sau những nghiên cứu của Khâyxin E M (1967) cho thấy các nang trứng của Eimeria coecicola khác với hai loài kể trên về
mặt hình thái và sinh vật học Nó có hình trụ hay hình bầu dục Lỗ noãn trông rất rõ Nang trứng mầu vàng sáng hay nâu sáng Kích thước 25,3 - 39,9 x 14,6
- 21,3 µm, trung bình là 33,1 - 35,5 x 16,9 - 19,6 µm Hình thành thể cặn trong bào tử và nang trứng sau thời kỳ sinh sản bào tử Thời gian sinh bào tử gần 3 ngày Cầu trùng phát triển nội sinh ở phần dưới ruột non Các giao tử cầu trùng này có thể gặp cả trong manh tràng
Eimeria intestinalis (Kheisin, 1948)
Loài cầu trùng này trước đây người ta coi như Eimeria pirifomis, sau đó Khâyxin E M (1967) phân nó thành một loài độc lập Nang trứng Eimeria intestinalis có dạng quả lê hay quả trứng, lỗ noãn trông rất rõ, xung quanh có
màng dầy, mềm Vỏ nang trứng mầu nâu sáng hay vàng sáng Kích thước 21
-36 x 15 - 21 µm, trung bình 27 - 32 x 17 - 20 µm Thời gian sinh bào tử từ 1 -
6 ngày, sau thời kỳ sinh sản bào tử cầu trùng sinh sản nội sinh trong biểu bì nhung mao, các khe ở phần dưới ruột non và ruột già
Eimeria exigua (Yakimoff, 1934)
Nang trứng có dạng hình tròn hoặc hình bầu dục Vỏ nang trứng màu vàng nhạt hoặc không mầu Kích thước 12 - 21 x 10 - 18 µm Thời gian hình thành bào tử là 36 - 48 giờ Sau thời kỳ sinh sản bào tử, cầu trùng sinh sản nội sinh trong biểu bì ruột non
Eimeria flavescens (Marotel and Guilhon, 1941)
Trang 14Loài này gây bệnh rất nặng cho thỏ Ký sinh ở đoạn ruột non, manh tràng và
kết tràng Oocyst có hình trứng, kích thước 25 - 37 x 14 - 24 µm với hai lớp vỏ
Lớp ngoài nhẵn mầu vàng dầy 1,4 µm Lớp trong sậm mầu dầy 0,4 µm với
Micropyle nhô lên ở đầu rộng Không có hạt cực hay thể cặn Sporocyst có hình trứng dài 13 - 17 x 7 - 10 µm nằm dài từ đầu đến cuối của Sporocyst Thời gian
hình thành bào tử ít hơn38 giờ
Hình 1.1 Hình thái các Oocyst gây bệnh cầu trùng thỏ
(Sophia Renaux, 2001) [71]
Hình 1.2 Vị trí ký sinh của các loài cầu trùng trên thỏ
(Sophia Renaux, 2001) [71]
Trang 151.1.3 Cấu trúc của Oocyst cầu trùng
Oocyst cầu trùng có nhiều hình dạng khác nhau: hình cầu, hình gần tròn,
hình trứng, hình bầu dục,… kích thước cũng khác nhau thay đổi tùy theo loài
Tuy nhiên, phần lớn Oocyst cầu trùng có đặc điểm cấu tạo như sau:
Oocyst màu vàng sáng hoặc không màu, màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt
Vỏ ngoài của Oocyst thường nhẵn, cũng có loài xù xì (E spinosa) Vỏ chia
làm hai lớp vỏ ngoài dày, vỏ trong mỏng Vỏ ngoài và vỏ trong có thể tách rời
nhau bằng cách làm nóng Oocyst ở trong nước hoặc xử lý bằng axit H2SO4
hoặc bằng cách làm nóng Oocyst trong nước
Về mặt cấu tạo hóa học: vỏ ngoài là lớp quinonon protein, vỏ trong là lớp lipit kết hợp với protein để tạo nên khúc xạ kép (lipoprotein) Nghiên cứu
về bản chất hóa học của thành Oocyst, Ryley J, F và cs (1976) [65] cho biết: lớp ngoài của vỏ Oocyst chiếm 20%, có chứa carbohydrat và một protein đặc
trưng Nyberg và Knapp (1976) khi quan sát trên kính hiển vi điện tử thấy lớp
ngoài của vỏ Oocyst có thể bị khử bằng dung dịch sodium hypochlorid 2 –
3% trong 15 phút Stotish R.L., Wang C C (1978) [67] khi nghiên cứu về bản
chất hóa học của màng Oocyst bằng cách sử dụng Sodium hypochlorid 5% cho biết: Sodium hypochlorid 5% không tác động được đến màng Oocyst còn nguyên vẹn mà chủ yếu tác động đến Micropyle Lớp trong của vỏ Oocyst
chiếm 80% gồm: một lớp glycoprotein dày 90 µm, được bao bọc bởi một lớp lipit dày 10 µm Lớp lipit chủ yếu là phospho lipit, chính lớp này bảo vệ
Oocyst cầu trùng chống lại sự tấn công về mặt hóa học
Một số loài cầu trùng ở phía đầu nhỏ của Oocyst có một cái “nắp” khúc xạ được gọi là Micropyle (lỗ noãn) Micropyle là vị trí có khe hở của màng bao quanh Macrogamete khi thụ tinh Sau khi thụ tinh thì khe hở đóng lại và vì vậy nhiều loài cầu trùng không thấy Micropyle nữa (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [14])
Trang 16Goodrich H P (1994) [48] khi nghiên cứu cấu trúc vỏ Oocyst cho rằng, lớp ngoài là vỏ bọc liên tục kể cả khi có Micropyle và sau khi thụ tinh Micropyle đóng lại và nó không bao giờ mở ra, và đây không phải là con đường mà Sporozoite thoát ra khỏi Oocyst
Ryley J.F và cs (1976) [65] đưa ra giả định về hiện tượng Sporozoite thoát khỏi Oocyst như sau: nhờ tác động hoạt hóa của CO2 nên Sporozoite đã hoạt động và chui ra khỏi Sporocyst Men Trypsin và mật cũng là những yếu
tố kích thích cho Sporozoite được “nở” ra CO2 còn làm biến đổi thành vách
Oocyst để giúp cho Trypsin và mật thấm vào làm tiểu thể Stieda và Sporozoite
hoạt động, CO2 chỉ có tác động này trong điều kiện nhiệt độ của cơ thể Ngoài
ra, tác động cơ học cũng quan trọng trong việc tạo điều kiện cho Trypsin và mật thấm qua vỏ Oocyst Như vậy, tuy vỏ Oocyst có tác dụng đề kháng với một số hoát chất nhưng lại nhạy cảm với tác động cơ học Đó là lý do tại sao
gần đây trong thí nghiệm người ta thường phải dùng đến các hạt bi thủy tinh
và máy lắc để phá vỏ Oocyst giải phóng Sporocyst
Cấu tạo Oocyst giống Eimeria gây bệnh
Hình 1.2 Cấu tạo noãn nang Oocyst
1 Nắp Oocyst (Micropyle cap)
2 Lỗ Oocyst ( Micropyle)
3 Hạt cực (Polar granule)
4 Thể Stieda (Stieda Body)
5 Hạt triết quang nhỏ trong Sporozoite
6 Hạt triết quang lớn trong Sporozoite
Trang 171.1.4 Vòng đời phát triển của cầu trùng thỏ
Vòng đời của cầu trùng thỏ không cần ký chủ trung gian, vòng đời của cầu trùng được tính từ khi thỏ nuốt phải noãn nang có sức gây bệnh, qua quá trình sinh trưởng, phát triển trong và ngoài cơ thể cho đến khi chúng tạo ra những noãn nang có sức gây bệnh
Sự lưu truyền rộng khắp của cầu trùng trên hành tinh của chúng ta là nhờ vào cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên (Lê Văn Năm, 2006) [24]
Chu trình phát triển sinh học của các loài cầu trùng thỏ giống như ở các loài động vật khác Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13], vòng đời
giống Eimeria phức tạp và đã được tập trung nghiên cứu nhiều, nó đặc trưng
bằng 3 giai đoạn phát triển
Hình 1.3 Vòng đời Eimeria ở thỏ
1 Giai đoạn sinh sản vô tính (Schizogony)
2 Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony)
3 Giai đoạn sinh bào tử (Sporogony)
2
Trang 18Vòng đời cầu trùng gồm: thời kỳ nội sinh và thời kỳ ngoại sinh
Thời kỳ nội sinh (hay còn gọi là nội sinh sản): Thời kỳ này diễn ra trong
cơ thể ký chủ bao gồm 2 giai đoạn: sinh sản vô tính (Schizogony) và giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony) Thời kỳ ngoại sinh (tiến hành ngoài cơ thể)
là giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony)
* Giai đoạn sinh sản vô tính Schizogony:
Lê Văn Năm (2006) [24] cho biết, sau khi thỏ ăn, uống phải Oocyst có
sức gây bệnh, dưới tác động của dịch dạ dày, ruột, dịch mật, vỏ cứng của
Oocyst bị phá vỡ và giải phóng ra 4 bào tử cầu trùng (Sporozoite) 4 bào tử
được giải phóng ra, lập tức chui vào các tế bào biểu bì ruột để ký sinh Trong mỗi bào tử đã hình thành 2 thể bào tử, chúng lớn lên rất nhanh, có hình bầu
dục, hình tròn và biến thành thể phân lập (Schizont) Nhân của mỗi thể phân
lập tự chia đôi nhiều lần để tạo thành các tế bào nhiều nhân và được gọi là thể
phân lập thế hệ 1 (Schizont 1) Ở thể phân lập thế hệ 1, xung quanh mỗi nhân,
nguyên sinh chất xuất hiện và bao quanh để hình thành dạng ký sinh trùng nhỏ hình bầu dục Lúc này chúng được gọi là thể phân lập trung gian
(Merozoite) Thể phân lập trung gian phát triển làm phá vỡ tế bào biểu bì ruột nơi chúng cư trú và giải phóng ra nhiều Merozoite trưởng thành Các Merozoite lập tức xâm nhập ngay vào tế bào biểu bì mới để tiếp tục phát triển trở thành thể phân lập thế hệ mới gọi là Schizont 2
Quá trình sinh sản vô tính như vậy được lặp đi lặp lại nhiều lần và tạo ra thể phân lập thế hệ 3, 4, 5…
Mỗi chủng cầu trùng khác nhau có giai đoạn sinh sản vô tính khác nhau,
để hình thành nên các thể phân lập và số thế hệ thể phân lập tuỳ theo loài Sau khi kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính, chúng chuyển sang giai đoạn sinh sản hữu tính
* Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony):
Giai đoạn sinh sản hữu tính bắt đầu phát triển từ thể phân lập thế hệ cuối cùng của cầu trùng Từ thể phân lập thế hệ cuối cùng, chúng phân chia thành
Trang 19các thể phân đoạn và xâm nhập vào các tế bào biểu bì ký chủ, biến thành các thể sinh dưỡng Các thể sinh dưỡng này lại tiếp tục phát triển tạo nên các giao
tử đực (Microgametogony) và giao tử cái (Macrogametogony) Sau đó các tế
bào giao tử cái biến thành những tế bào sinh dục cái lớn, ít hoạt động và có lỗ noãn Giao tử đực nhỏ hơn và nhân của nó cũng nhỏ hơn, chúng chuyển động
nhanh nhờ 2 lông roi Qua lỗ noãn (Micropyle) của giao tử cái, giao tử đực
chui vào và thực hiện quá trình thụ tinh tạo ra hợp tử Hợp tử được bao bọc
bởi một lớp màng bọc gọi là noãn nang (Oocyst) chúng có hình bầu dục,
hình tròn, hình quả trứng, hình quả lê hoặc hình elip (phụ thuộc vào từng
loài cầu trùng) Đến đây, các Oocyst rơi vào lòng ruột và kết thúc giai đoạn
sinh sản hữu tính
Màng vỏ bọc của Oocyst cầu trùng gồm 2 lớp, còn nguyên sinh chất ở dạng
hạt Đôi khi ở một số loài cầu trùng riêng biệt, một trong 2 cực của nang trứng có
cả nắp trứng, lỗ noãn, điểm sáng hay hạt cực Như vậy, tuỳ loài cầu trùng mà hình dạng và kích thước nang trứng khác nhau, có hay không có nắp trứng, lỗ noãn, điểm sáng (hạt cực), cũng như khi sinh sản bào tử (hình thành bào tử hay túi bào tử), có hay không có thể cặn trong nang trứng hay trong bào tử (Kolapxki
N A., Paskin P I., 1980) [38]
Sau khi noãn nang rơi vào lòng ruột và được thải ra ngoài cùng phân, chúng bắt đầu giai đoạn phát triển mới ở ngoài môi trường (giai đoạn ngoại sinh sản)
Theo Bhurtei J E (1995) [45], có từ 70 - 80% Oocyst thải ra vào ban
ngày, tập trung khoảng thời gian từ 9 giờ sáng đến 13 giờ chiều, mặc dù lúc này chỉ có 25% lượng phân thải ra
Trong điều kiện môi trường bên ngoài cơ thể khắc nghiệt hoàn toàn khác với môi trường bên trong cơ thể ký chủ, các noãn nang muốn tiếp tục duy trì được sự sống buộc phải thích nghi với điều kiện mới của nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, không khí… luôn thay đổi Nang trứng tự bảo vệ bằng cách nhanh chóng tạo vỏ cứng dầy, gồm một đến hai lớp với màu sắc khác nhau phụ
Trang 20thuộc vào loài cầu trùng Tiếp theo, Oocyst hình thành 4 nguyên bào tử (Sporoblast), hình bầu dục, xung quanh nguyên bào tử được bọc một màng
mỏng và trở thành túi bào tử Trong mỗi túi bào tử, nhân lại chia đôi về hai phía được ngăn cách bởi một màng mỏng và hình thành thể bào tử, hình lưỡi
liềm gọi là bào tử con (Sporozoit)
Như vậy, trong quá trình sinh sản bào tử, đối với cầu trùng thuộc giống
Eimeria, từ một nang trứng (Oocyst) hình thành 4 túi bào tử, trong mỗi túi bào
tử lại chứa hai thể bào tử (Sporoblast) Tất cả 8 thể bào tử được bao bọc xung quanh bởi một vỏ cứng dày gồm 2 lớp gọi là bào tử nang (Sporocyst), kết thúc giai đoạn 3 của quá trình phát triển cầu trùng Chỉ có các Oocyst hoặc sau khi trở thành Sporocyst mới có khả năng gây bệnh và truyền bệnh từ gia súc này
sang gia súc khác
1.1.5 Cơ chế sinh bệnh
Cầu trùng (bộ Coccidia, họ Eimeridae) là những bào tử trùng có hình
trứng hay hình cầu, giữa nguyên sinh chất có một nhân tương đối to; thông thường ký sinh ở các tế bào biểu bì của súc vật
Sự tiến triển của cầu trùng gồm hai phương thức sinh sản: Một là vô tính, hai là hữu tính
Phương thức sinh sản vô tính hay liệt thực sinh thực (Schizogony) thực
hiện theo cách sau: Cầu trùng non lớn dần trong tế bào biểu bì, cuối cùng tế bào này mất đi; khi đã thành thục nhân của cầu trùng trở thành một số các nhân khác, nhiều dần thêm, xung quanh nhân bọc một khối nguyên sinh chất
và chẳng bao lâu những thể nhỏ và dài có nhân được giải phóng ra Đó là
những liệt thực thể (merozoit) sẽ tấn công các tế bào biểu bì mới, và như thế
phân tán ký sinh trong cơ thể ký chủ Phương thức sinh sản liệt thực này có thể nhắc lại rất nhiều lần
Phương thức sinh sản hữu tính hay bào tử sinh thực (sporogony) hình
như xuất hiện khi khả năng sinh sản bằng liệt thực sinh thực đã cạn; nó cho phép ký sinh trùng được truyền bá ngoài cơ thể ký chủ của nó một số cầu
Trang 21trùng ở trong tế bào trỏ thành đại phối tử bào (macrogametocyt) hay tế bào phối tử cái, rồi biến thành đại phối tử (macrogamet) một số khác trở thành tiểu phối tử (microgametocyt) hay tế bào phối tử đực, sinh sản dần dần nhiều tiểu phối tử (microgamet), sẽ kết hợp với tiểu phối tử cái Khi phối tử cái được thụ tinh thì tự bọc một cái màng và biến thành trứng hay noãn nang (zygot, Oocyst),
không tăng thể tích sau khi hình thành Noãn nang sẽ chia thành một số túi phối
bào tử (sporocyst) hay bào tử (spore), thường với số lượng hai hay bốn, mỗi
bào tử cũng tự bọc một cái màng và trong mỗi túi hình thành một bào tử thể hay
thoa trùng (sporozoit) với số lượng hai hay bốn Chỉ còn lại trong túi bào tử một
chất cặn bã, nguyên sinh chất không dùng đến gọi là chất tồn tại của bào tử Chính những trứng (noãn nang) bài ra ngoài thiên nhiên có thể sống khá lâu và cảm nhiễm cho những con vật mới Như vậy sự cảm nhiễm thực hiện do nuốt phải những noãn nang; giải phóng những túi bào tử từ đó thoát ra những bào tử thể Những bào tử thể này xâm nhập các tế bào biểu bì cho những cầu trùng non,
lớn dần lên và trước hết sinh sản bằng cách schizogony rồi chu kỳ phát dục lại
tiếp tục như trên (N A Kolapxki, Paskin P I, 1980, [38])
Hình 1.4: Thời gian phát dục của cầu trùng Eimeria stiedai
1 Bào tử thể
2 Bào tử thể xâm nhập tế bào
3 4 5 Liệt thực sinh thực
6 7 Hình thành liệt thực thể 8-11 Bắt đầu hình thành cá thể hữu tính
12 Hình thành tế bào tiểu phối tử
13 Hình thành tế bào đại phối tử
14 Tiểu phối tử và đại phối tử một cách chọn lựa
15-17 Hình thành noãn nang 18-19 Hình thành bào tử 20-21 Hình thành bào tử và bào tử thể
Trang 22Có thể tóm tắt thời gian phát dục của cầu trùng nhƣ sau:
Cầu trùng non trong tế bào
Đại phối tử bào
(schizogony)
Bào tử sinh thực
(sporogony)
Cầu trùng trưởng thành
(schizont)
Trang 231.1.6 Tính chuyên biệt của cầu trùng
Tính chuyên biệt của cầu trùng là sự thích nghi phức tạp và lâu dài của cầu trùng đối với cơ thể ký chủ Cụ thể là đối với các cơ quan, các mô bào hay tế bào nhất định phù hợp cho sự tồn tại, phát triển của chúng (Kolapxki N A và cs, 1980 [38])
* Đối với giống Eimeria
Tính chuyên biệt của cầu trùng Eimeria thể hiện rất nghiêm ngặt, chúng chỉ có thể gây bệnh cho ký chủ mà chúng thích nghi trong quá trình tiến hóa
Ví dụ: Các cầu trùng cừu không thể nhiễm vào gà, trâu bò và các gia súc khác Cầu trùng thỏ chỉ có thể nhiễm vào thỏ mà không thể nhiễm vào các loại khác
Theo Kolapxki N A và cs (1980) [38], những loài cầu trùng riêng biệt ký sinh ở những gia súc khác nhau thường khó phân biệt về mặt hình thái Ví dụ: Một số loài cầu trùng cừu, dê hoặc gà tây và gà rất giống nhau về đặc điểm hình thái Tuy nhiên, những thí nghiệm của Krulop M V (1963) đã chỉ rõ, cầu trùng cừu không nhiễm được vào dê Còn theo Svonbaep X K (1968) khi nghiên cứu các cầu trùng gà tây, những loài về mặt hình thái rất giống nhau với một số loài cầu trùng gà, ông đã phát hiện ra rằng hai loài cầu trùng trên không đồng nhất với nhau khi cho nhiễm bệnh chéo: Cầu trùng gà không gây bệnh cho gà tây và ngược lại
Đặc tính chuyên biệt nghiêm ngặt của cầu trùng giống Eimeria biểu hiện không chỉ đối với ký chủ của chúng, mà mỗi loại cầu trùng chỉ khu trú tại một vùng, một cơ quan nào đó nhất định trong cơ thể ký chủ Ví dụ Eimeria tenella chỉ ký sinh và gây bệnh trong niêm mạc tá tràng gà Ở lợn, chủng Eimeria debliecki cư trú ở tá tràng làm cho niêm mạc tá tràng bị
viêm rồi xuất huyết hoại tử (Phạm Văn Khuê và cs, 1996) [12]
Như vậy, nếu xét tính chuyên biệt của cầu trùng thì cầu trùng giống
Eimeria biểu hiện rõ nét hơn và tính chuyên biệt đó phát sinh trong quá trình
thích ứng lâu dài của ký sinh trùng đối với một ký chủ nhất định cũng như đối
Trang 24với từng cơ quan, từng mô bào riêng biệt Điểm này là điều kiện cơ bản giúp cho nhiều loại cầu trùng ký sinh đồng thời trên cùng một ký chủ
Theo Kolapxki N A và cs (1980) [38], cầu trùng có tính chuyên biệt cao không chỉ đối với loài vật mắc bệnh, mà còn ở cả vị trí ký sinh Mỗi loài cầu trùng thường có xu hướng ký sinh ở những vi trí nhất định trên cơ thể thỏ:
- Eimeria stiedae ký sinh chủ yếu trong tế bào niêm mạc ống dẫn mật
- Eimeria perforans ký sinh chủ yếu trong các tế bào ruột non, manh tràng
- Eimeria magna ký sinh chủ yếu trong các tế bào niêm mạc ruột non
- Eimeria media ký sinh chủ yếu trong các tế bào ruột non, tá tràng
- Eimeria irresidua ký sinh chủ yếu trong các tế bào ruột non
- Eimeria mexigua ký sinh chủ yếu trong các tế bào ruột non
* Đối với giống Isospora
Các nhà nghiên cứu cho biết dạng sinh trưởng và phát triển trong quá
trình sinh sản của Isospora gondii hoặc của I bigemina có thể gây bệnh
không chỉ cho chó, mèo mà còn có khả năng gây bệnh cho chuột, culi, cừu, linh dương, hoẵng, bồ câu, chim sẻ, vịt, rùa, rắn, kể cả con người
Theo Lê Văn Năm (2004) [23], cầu trùng Eimeria có tính chuyên biệt cao hơn Isospora Đối với giống Eimeria, tính chuyên biệt thể hiện rõ hơn bởi
chúng chỉ có thể nhiễm và gây bệnh cho ký chủ mà chúng thích nghi trong
quá trình phát triển Hơn thế nữa, mỗi loài của giống Eimeria chỉ ký sinh tại một vùng hay một cơ quan nhất định nào đó trong cơ thể Còn giống Isospora
có thể gây bệnh cho nhiều loài gia súc khác nhau và có thể ký sinh ở một số
cơ quan hay vị trí trong cơ thể Ví dụ: Eimeria polita chỉ ký sinh ở hồi tràng
và không tràng, Eimeria porci ký sinh ở đoạn cuối hồi tràng và không tràng Ngược lại, Isospora suis ký sinh được ở ruột non, đôi khi còn thấy ở kết tràng của lợn Pellerdy L P (1974) [61] đã tìm thấy Isospora suis có trong loài chim hoang dã (chim sẻ) do tiếp xúc với bãi chăn thả lợn
Trang 251.1.7 Dịch tễ học bệnh cầu trùng
Bệnh cầu trùng là bệnh khá phổ biến ở các loài gia súc, gia cầm, trong đó
có thỏ, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm cao hay thấp còn phụ thuộc vào các yếu tố tác động của môi trường sống của chúng
1.1.7.1 Thời tiết, khí hậu ảnh hưởng đến sức sống của Oocyst cầu trùng
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [12], có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến
sự tồn tại và phát triển của Oocyst cầu trùng Thời tiết, khí hậu là một trong
những yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sức đề kháng của cầu trùng Theo Hoàng Thạch (1996) [29]; (1997) [30] bệnh cầu trùng xảy ra quanh năm, nhưng thường tập trung vào các tháng nóng ẩm trong năm (mùa xuân và
mùa hè) Ở thời điểm này, điều kiện thời tiết, khí hậu rất thuận lợi cho Oocyst
cầu trùng tồn tại và phát triển ở ngoại cảnh và lây nhiễm cho đàn gà
Môi trường ẩm ướt và nhiệt độ ôn hòa là những điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của cầu trùng Ở mùa xuân và mùa hè, gà bị nhiễm cầu trùng nhiều và nặng hơn các mùa khác trong năm Vì vậy, việc phòng bệnh cầu trùng cho gà ở mùa xuân và mùa hè cần chú hơn (dẫn theo Phạm Văn khuê và cs, 1996 [12]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [13])
Hamadejova K và cs (2005) [50] cho biết, tỷ lệ nhiễm Isospora suis có
liên quan mật thiết với mùa vụ chăn nuôi
1.1.7.2 Các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự tồn tại và nhiễm Oocyst vào vật chủ
* Điều kiện vệ sinh thú y
Khảo sát tình hình nhiễm cầu trùng ở gà nuôi trong các điều kiện khác nhau, Hoàng Thạch (1996) [29]; (1997) [30]; cho biết: tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở
gà nuôi lồng là 0,37%, gà nuôi trong chuồng có đệm lót là trấu nhiễm 22,49 – 57,38% Như vậy, gà nuôi trong lồng không tiếp xúc với phân thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng giảm rất thấp
Tình trạng vệ sinh thú y trong chăn nuôi là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng nhiễm cầu trùng ở vật nuôi
Trang 26Theo Morgot A A (2000) [39], những cơ sở chăn nuôi có điều kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng là thấp Ngược lại, những cơ sở chăn nuôi có điều kiện không đảm bảo thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng chiếm cao, lên tới 30 – 69%
Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2004) [15] cho biết, điều kiện chuồng
nuôi và môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm sẽ làm cho Oocyst cầu trùng tồn tại
và lưu hành lâu hơn Chuồng trại chật trội, ẩm ướt, chất đột chuồng để quá lâu, không được thay đúng định kỳ, bãi chăn thả bị ô nhiễm mầm bệnh là yếu
tố quan trọng gây nhiễm cầu trùng
Xét nghiệm phân của 2.521 lợn nuôi trong tình trạng vệ sinh thú y kém,
Lê Minh (2009) [19] thấy có 71,68% lợn bị nhiễm cầu trùng
Như vậy, vấn đề vệ sinh chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi là yếu tố quan
trọng liên quan đến sự tồn tại và nhiễm vào cơ thể vật chủ của Oocyst cầu
trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [14])
* Ảnh hưởng của lứa tuổi đến tỷ lệ nhiễm cầu trùng
Đào Hữu Thanh và cs (1978) [32], Hồ Thị Thuận (1985) [37], Lương
Tố Thu và cs (1993) [36], Lê Văn Năm (1995) [21] đã nghiên cứu và cho biết, bệnh cầu trùng gà liên quan chặt chẽ tới yếu tố tuổi (tỷ lệ nhiễm cao ở
15 - 56 ngày tuổi)
Nguyễn Hữu Hưng và cs (2008) [11], nghiên cứu về ảnh hưởng của lứa tuổi thỏ đến tỷ lệ nhiễm cầu trùng cho biết: mọi lứa tuổi thỏ đều nhiễm noãn nang cầu trùng, trong đó tỷ lệ và cường độ nhiễm cao nhất ở thỏ từ 1 - 2 tháng tuổi (100%) và 2 - 3 tháng tuổi (94,37%), sau đó giảm dần theo lứa tuổi và thấp nhất ở thỏ 24 tháng tuổi (28,57%)
Lê Minh và cs (2008) [18], đã xét nghiệm 4.276 mẫu phân của lợn ở các lứa tuổi khác nhau, kết quả cho thấy: lợn nhiễm cầu trùng tương đối cao 51,12%, trong đó lợn giai đoạn từ 1 - 2 tháng tuổi nhiễm nặng nhất 73,24% Nguyễn Quốc Doanh và cs (2010) [7], đã kiểm tra phân của 671 chó nghiệp vụ kết quả cho thấy: tỷ lệ nhiễm cầu trùng giảm theo chiều tăng
Trang 27của tuổi chó từ sơ sinh đến 2 tháng tuổi bị nhiễm cao nhất (21,05%), chó
3 - 5 tháng tuổi (9,76%), chó 6 - 12 tháng tuổi 6,35% và chó trên 12 tháng tuổi bị nhiễm thấp nhất (0,63%)
Hoàng Văn Dư và cs (2010) [8], khi kiểm tra 870 mẫu phân thỏ địa phương và thỏ New Zealand nuôi tại Bắc Giang, kết quả cho thấy: Cả 2 giống thỏ đều nhiễm cầu trùng với tỷ lệ và cường độ nhiễm cao ở 2 tháng tuổi (83,89%) và 3 tháng tuổi (77,60%), tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần theo lứa tuổi, thỏ ở trên 12 tháng tuổi nhiễm với tỷ lệ (43,88%)
Bạch Mạnh Điều và cs (2001) [5], đã xét nghiệm 1089 mẫu phân của đàn
bồ câu nuôi tập trung tại trại chăn nuôi Thụy Phương kết quả xét nghiệm cho thấy: bồ câu từ 3 - 4 tuần tuổi bị nhiễm cầu trùng với tỷ lệ cao nhất (86,40%), sau đó giảm theo tuổi, bồ câu trên 7 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm còn (47,60%)
Lê Hữu Nghị (2009) [25], đã xét nghiệm mẫu phân của 300 chim cút
ở lứa tuổi từ sơ sinh đến 10 tháng tuổi, kết quả xét nghiệm cho thấy: chim cút nhiễm cầu trùng với tỷ lệ khá cao (75,67%), trong đó chim từ 1- 6 tháng tỷ lệ nhiễm cao biến động từ (83,33 - 90,00%), sau đó giảm dần (43,33% ở 10 tháng tuổi)
* Nguồn phát tán Oocyst cầu trùng
Theo tài liệu của Lê Văn Năm (1995) [21], Phạm Văn Khuê và cs (1996) [12], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13], gia súc, gia cầm bị
bệnh cầu trùng là nguồn phát tán Oocyst ra môi trường bên ngoài Ngoài
ra, những con vật mang cầu trùng nhưng không thể hiện triệu chứng lâm sàng là nguồn mang căn bệnh nguy hiểm, vì chúng là đối tượng mà người chăn nuôi ít chú ý (do không thể hiện triệu chứng lâm sàng)
* Đường nhiễm Oocyst vào vật chủ
Sự nhiễm Oocyst có sức gây bệnh chủ yếu qua thức ăn, nước uống, dụng
cụ chăn nuôi v.v
Mặc dù chưa có dẫn liệu về sự lây truyền cầu trùng thỏ qua dụng cụ chăn nuôi, nhưng những nghiên cứu về sự lây nhiễm cầu trùng gà đã được ghi
Trang 28nhận Bạch Mạnh Điều (1999) [4] đã kiểm tra 420 mẫu xe cải tiến, quang thúng thấy tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 4,28% Hoàng Thạch (1999) [30] khảo sát
250 mẫu dụng cụ dọn vệ sinh chuồng nuôi, tỷ lệ nhiễm là 11,20%
Vai trò mang và truyền Oocyst cầu trùng đã được một số tác giả đề cập
Theo tài liệu của Lê Văn Năm (2004) [23], chuột, chó, mèo, chim sẻ, và
một số côn trùng có thể mang Oocyst từ đàn này sang đàn khác, từ chuồng
này qua chuồng khác
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [12] cho biết, khi Oocyst bị ruồi nuốt vào,
trong đường tiêu hóa của ruồi, chúng vẫn sống và còn khả năng gây bệnh trong vòng 24 giờ
Một số động vật sống trong chuồng nuôi hoặc xung quanh chuồng nuôi
có khả năng mang Oocyst cầu trùng như: ruồi, gián, kiến, chuột Chúng mang Oocyst cầu trùng ở chân, trên lông, da, cánh Trong khi di chuyển, chúng sẽ truyền Oocyst cầu trùng vào thức ăn, nước uống, làm cho gia súc, gia cầm
nhiễm cầu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [14])
- Các yếu tố stress: điều kiện chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh dưỡng, thiếu sữa, nhiệt độ môi trường thay đổi, con vật đang mắc các bệnh ký sinh trùng khác hoặc các bệnh truyền nhễm mãn tính đều làm sức đề kháng của con vật giảm, dễ nhiễm cầu trùng và dễ bị bệnh
1.1.7.3 Ảnh hưởng của các yếu tố vật lý, hóa học đến sự phát triển của Oocyst ở ngoại cảnh
* Ảnh hưởng của các yếu tố vật lý
Nhiệt độ, ẩm độ, môi trường nói chung đều tác động vào Oocyst cầu trùng
Môi trường ẩm ướt, nhiệt độ vừa phải (220
C– 230C) là điều kiện thuận lợi nhất cho cầu trùng phát triển Ở điều kiện này chỉ mất 16 - 18h để cầu trùng phát triển thành bào tử con Khi nhiệt độ thấp 120C – 200C các Oocyst đã sinh bào tử chỉ tồn tại được 14 ngày, Oocyst chưa sinh bào tử chỉ chịu đựng được không quá 56 giờ
Theo Warner D.E (1933) [70], Oocyst bám trên vỏ trứng sẽ chết khi ấp
trứng ở 380C – 400C, ẩm độ 40 - 70%; Oocyst tồn tại 18 tuần trong đất râm
Trang 29mát một phần, 21 tuần trong đất râm mát hoàn toàn Ellis C.C (1986) [47]
cho rằng, nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển Oocyst cầu trùng E tenella là
26,60C - 32,20C Ở nhiệt độ 480C trong 15 phút, Oocyst chết hoàn toàn
Theo Lê Văn Năm (2006) [24] nhiệt độ thích hợp cho quá trình phát triển bào tử nang ngoài cơ thể là 150C – 350C Lạnh – 150C và nóng >400C bào tử nang sẽ chết Khi đã hình thành được bào tử nang thì chúng sẽ tồn tại rất lâu trong môi trường thiên nhiên hàng năm hoặc lâu hơn, và chịu đựng được các chất khử trùng, tiêu độc, các tác động lý hoá khác…
Glullough N (1952) cho biết, Oocyst bị chết ở 400C sau 96 giờ, ở
450C sau 3giờ và ở 500C sau 30 phút Ở nhiệt độ 120C – 200C, Oocyst có sức gây bệnh tồn tại được 14 ngày, nhưng Oocyst chưa có sức gây bệnh chỉ
tồn tại trong 56 giờ (Dẫn theo Hoàng Thạch, 1999 [30])
Cầu trùng sống được ở ngoài trời 14 tuần và tồn tại rất lâu trong đất ở độ
sâu 5 - 7cm Ở trong đất, Oocyst duy trì sức sống từ 4 - 9 tháng, ở sân chơi
râm mát từ 15 - 18 tháng (Horton Smith C., 1963) [52]
Theo Orlop E M và cs (1962) [59] trong điều kiện nước nóng 800
C,
Oocyst chết ngay tức khắc
Long P L và cs (1979) [58] cho biết: Oocyst có thể tồn tại qua mùa
đông giá lạnh nhưng không chịu được nhiệt độ cao
Khi Oocyst theo phân ra ngoài môi trường, ẩm độ có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến thời gian hình thành bào tử và khả năng tồn tại của Oocyst cầu trùng Theo Ellis C C (1986) [47], ở nhiệt độ không thay đổi Oocyst sẽ bị
chết khi ẩm độ giảm Nhiệt độ từ 180C – 400C, ẩm độ 21% - 30%, chúng dễ
bị chết sau 4 - 5 ngày
Goodrich H P (1994) [48] đã kết luận: Lớp vỏ ngoài cùng đã giữ cho
Oocyst không bị thấm chất lỏng, nhưng nó lại dễ bị nứt do điều kiện khô hạn Theo Orlop E M và cs (1962) [59], Oocyst bài xuất ra môi trường bên
ngoài với điều kiện môi trường có oxy, ẩm độ, nhiệt độ thích hợp, bào tử thể
sẽ được hình thành trong Oocyst
Trang 30+ Các tia tử ngoại:
Long P L và cs (1979) [58] cho rằng: Ánh nắng chiếu trực tiếp tác động
gây hại đến Oocyst, tuy nhiên cỏ dại đã bảo vệ chúng tránh tia X
Theo Warner D E (1933) [70], Oocyst tồn tại 18 tuần trong đất râm mát
một phần, 21 tuần trong đất râm mát hoàn toàn
Oocyst khi bị xử lý bức xạ ở mức 20 - 35 Krad cho giá trị bảo hộ tốt nhất
100%, dưới 10 Krad là 80% nhưng nếu liều thấp quá hoặc quá cao thì không
- Ảnh hưởng của các yếu tố hóa học
Do Oocyst cầu trùng có lớp vỏ bên ngoài là lớp Quinonon protein, vỏ trong
là lớp lipit kết hợp với protein để tạo nên khúc xạ kép (lipoprotein) (Ryley J F.,
1976) [65] Chính lớp lipit mà chủ yếu là phospho lipit bảo vệ Oocyst cầu trùng chống lại sự tấn công về mặt hoá học Vì vậy, Oocyst cầu trùng có sức đề kháng
cao với các loại hoá chất và thuốc sát trùng thông thường
Oocyst chết dưới tác dụng của huyễn dịch formol, dầu hoả, xalixin -
nhựa thông, formol - nhựa thông với nồng độ dung dịch 10%
Theo Horton Smith C (1963) [52], dung dịch tiêu độc khử trùng Creolin 5% ở nhiệt độ 400C – 500C sẽ giết chết Oocyst non và thành thục sau 20 - 30 ngày
William R B (1997) [71] nghiên cứu tác dụng của dung dịch Amoniac
10% trong 12 giờ liên tục, kết quả cho thấy 100% Oocyst không sinh được bào tử nghĩa là Oocyst này mất khả năng gây bệnh
1.1.8 Miễn dịch học trong bệnh cầu trùng
1.1.8.1 Nghiên cứu về miễn dịch cầu trùng ở vật nuôi
Tyzzer E E (1929) [69] đã chứng minh bằng thực nghiệm là có 2 mức miễn dịch trong bệnh cầu trùng
Trang 31Mức 1: Phát sinh sau khi con vật nhiễm một lượng nhỏ cầu trùng Khi
đó sẽ tạo ra miễn dịch yếu và nếu gây nhiễm cho chúng một liều cầu trùng cao hơn (liều siêu nhiễm) thì chúng sẽ mắc bệnh lại
Mức 2: Khi con vật mắc một lượng lớn cầu trùng Trong trường hợp này
sẽ có miễn dịch khi con vật mắc bệnh lại Tác giả cho rằng cường độ miễn dịch có liên quan đến số lượng cầu trùng xâm nhập vào cơ thể Nhận định kỳ này được Beyer xác nhận khi thí nghiệm trên thỏ và Paskin xác nhận khi thí nghiệm trên gà
Bachman G W (1930) [44] cho rằng, miễn dịch theo tuổi hình thành ở gia súc do chúng tái nhiễm cầu trùng nhiều lần
Horton Smith C (1963) [52] cũng chứng minh điều đó, tác giả nuôi cách
li gà đến 6 tháng tuổi, không cho tiếp xúc với cầu trùng Sau đó cho nhiễm tự
nhiên thấy chúng rất cảm thụ với E.tenella, trong khi nuôi bình thường thì gà không nhiễm E.tenella nữa
Hammond D M và cs (1944) [51] đã gây miễn dịch cho bê thí nghiệm
với chủng E.bovis liều 25.000 - 30.000 Oocyst Bê đối chứng không gây
nhiễm cầu trùng Sau đó đưa qua lỗ dò cho cả bê thí nghiệm và đối chứng với
số lượng 0,4 - 1,9 tỷ phân đoạn cầu trùng loại E bvovis Tiếp đó, cứ sau
những khoảng thời gian gần như nhau, người ta dùng phương pháp sinh thiết làm các tiêu bản tế bào ruột Kết quả là những bê đã gây miễn dịch (bê thí nghiệm) bệnh cầu trùng không tái phát, còn bê đối chứng (không được gây
miễn dịch) bệnh cầu trùng đã phát ra Điều đó cho thấy, gây nhiễm Oocyst ở
bê đã tạo cho chúng hình thành miễn dịch, nhờ vậy ngăn cản khả năng xâm nhiễm các phân đoạn cầu trùng loại sau đó
Vấn đề miễn dịch trong bệnh cầu trùng thỏ chưa được nghiên cứu nhiều Theo Reich F (1913), thỏ còn non có thể có sức chống bệnh khi nuôi chúng với những thỏ lớn nhờ sự tái nhiễm nhiều lần Wasilevski T (1924) đã chứng minh thỏ con cảm thụ bệnh cao là do rối loạn chế độ nuôi dưỡng Chapman J (1929) cho rằng thỏ có miễn dịch với bệnh cầu trùng là nhờ nhiễm bệnh nhiều lần với
Trang 32liều nhỏ Bachman G W (1930) ủng hộ quan điểm đó và giải thích tính không nhiễm bệnh của thỏ là nhờ nhiễm bệnh nhiều lần và sau đó trở thành thỏ mang trùng (Dẫn theo Kolapxki N A., Paskin P I 1980) [38]
Vì có nhiều ý kiến chưa thống nhất trong vấn đề miễn dịch trong bệnh cầu trùng của thỏ, nên Beier T V (1962) đã làm thí nghiệm rõ ràng với 2 loài
cầu trùng E.magna và E.intestinalis Nếu nhiễm cho thỏ một liều nhỏ (10.000) nang trứng E.intestinalis thì thỏ không xuất hiện bệnh, khi gây nhiễm liều từ
20.000 – 30.000 nang trứng thì tỷ lệ thỏ mắc bệnh là 80% - 85%, còn nhiễm với 40.000 nang trứng thì tỷ lệ thỏ mắc bệnh chết là 100% Về sau, Beier T
V lấy 7 thỏ mà trước đó chúng đã được gây bệnh lần thứ hai loài cầu trùng
E.intestinalis, qua 30 - 40 ngày và qua 3 tháng nhiễm cho chúng liều chết
(40.000 – 100.000 nang trứng) thỏ nhóm đối chứng cũng bị nhiễm cầu trùng liều chết nhưng chỉ khác là trước đây chúng chưa bị nhiễm bệnh lần nào Kết quả là ở những thỏ thí nghiệm, bệnh cầu trùng tiến triển không có triệu chứng còn những thỏ đối chứng thì chết
Beier T V (1962) làm tiếp một thí nghiệm khác, dùng 6 thỏ 2,5 - 4 tháng
tuổi trước đây đã được gây bệnh bởi cầu trùng loài E inteestinalis, ông tiếp tục gây nhiễm loài cầu trùng E magna với liều 80.000 – 120.000 nang trứng Kết
quả: tất cả thỏ đều có triệu chứng bệnh cầu trùng cấp tính Những thí nghiệm trên chứng tỏ rằng nếu đưa vào cơ thể thỏ lần đầu tiên một lượng nhỏ nang trứng cầu trùng thì bệnh tiến triển không có triệu chứng, thỏ tạo được miễn dịch và sau đó không mắc bệnh Miễn dịch đặc hiệu chỉ tạo ra sự đối với loài cầu trùng đã gây trước đó cho thỏ Tuy nhiên, nhiều quan sát trong các cơ sở nuôi thỏ cho thấy nhiều thỏ, theo quy luật chúng thường nhiễm ghép nhiều loại cầu trùng Kết quả là trong cơ thể của cùng một con thỏ đã khỏi bệnh sẽ có một
số loài cầu trùng xâm nhập Vì thế, những thỏ đã khỏi bệnh sẽ có miễn dịch với bệnh cầu trùng (Dẫn theo Kolapxki N A., Paskin P I 1980) [38]
Trang 331.1.8.2 Tính đặc hiệu của miễn dịch cầu trùng Eimeria
Tyzzer E E (1929) [69] đã xác định rằng tính đặc hiệu của miễn dịch cầu
trùng là có thật Sau khi gây miễn dịch cho gà bằng E tenella (lần 1), tác giả tiếp tục gây nhiễm lần 2 cách lần đầu 2 tuần với 3 loài cầu trùng E tenella, E maxima, E acervulina Khi mổ khám ông chỉ thấy bệnh tích ở ruột non nơi gây bệnh của cầu trùng loài E maxima, E acervulina mà không phát hiện bệnh tích ở manh tràng nơi gây bệnh của cầu trùng loài E tenella
Rose M E và cs (1962) [64] đã chứng minh miễn dịch đặc hiệu theo
loài rất nghiêm ngặt ở Eimeria bằng phương pháp kết tủa trên thạch
1.1.8.3 Cơ chế đáp ứng miễn dịch của cầu trùng
Theo cơ chế đáp ứng miễn dịch chung, khi có kháng nguyên kích thích vào cơ thể thì cơ thể sẽ sản sinh ra kháng thể chống lại kháng nguyên đó Trong thực tiễn sự sống của động vật luôn diễn ra quá trình tiếp nhận các dạng kháng nguyên nhưng không phải tất cả đều hình thành kháng thể Miễn
dịch cầu trùng Eimeria chỉ hình thành khi có sự hiện diện của cầu trùng Eimeria (Lillehoj S H 1996) [56]
Stotish R L và cs (1978) [] cũng nhận định cơ sở miễn dịch của vật nuôi
là sự tác động trực tiếp của kháng nguyên
Bản chất của đáp ứng miễn dịch bao gồm đáp ứng miễn dịch tế bào và đáp ứng miễn dịch dịch thể (Nguyễn Ngọc Lanh, 1982 [17]
Theo Horton Smith C (1963) [52], phản ứng tế bào biểu bì ruột thỏ với cầu trùng như sau: một phần tế bào biểu bì cuộn vào bên trong cách ly khỏi cầu trùng, làm cho các giao tử cầu trùng khó kết hợp với nhau Theo tác giả, các Merozoite trong tế bào biểu bì ruột đã kích thích sự hình thành kháng thể Long P T và cs (1979) [57] cho rằng, kháng thể hình thành do tác động
của Eimeria Thời gian tác động để hoàn thiện hình thành kháng thể chống
cầu trùng ở giờ thứ 92 (gần 4 ngày), nhưng có thể phát hiện được sự đề kháng sau 3 ngày (72 giờ) sau nhiễm Thời gian cần thiết tạo miễn dịch chắc chắn đối với bệnh cầu trùng cũng tương tự như đối với các bệnh virus
Trang 34Theo Augustin P C (1996) [43], các kháng thể ngưng kết tố và kết tủa
tố có thể tham gia vào miễn dịch Các kháng thể đó đã được tìm thấy trong phân (kháng thể Copro) và trong niêm mạc (kháng thể Muco)
Lillehoj S H (1996) [56] cho biết, đáp ứng miễn dịch của vật nuôi với bệnh cầu trùng là hỗn hợp nhiều mặt của miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể Miễn dịch tế bào đóng vai trò chính trong việc chống lại cầu trùng và sự tương hỗ giữa tế bào bạch cầu ở ruột với cầu trùng Đây là đặc trưng cho đáp ứng miễn dịch cầu trùng
Hệ thống miễn dịch hỗn hợp ở ruột bao gồm: các tế bào thực thể, các tế bào điều hòa miễn dịch và các tế bào hiệu ứng miễn dịch Lympho ruột được tạo ra từ nhiều tổ chức khác nhau như hạch hạnh nhân, mảng payer, túi thừa mackei và các chùm lympho nằm rải rác dọc nội bì và lamina propria của đường ruột Mảng payer đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp IgA và tiểu quần thể lympho B là những thành phần quan trọng trong việc tiết IgA Adams D O và cs (1984) [42] cho biết, vai trò thực bào của đại thực
bào rất quan trọng trong việc ức chế sự di chuyển của Schizon Tế bào
lympho B có vai trò quan trọng trong việc tạo ra kháng thể dịch thể Dưới
sự kích thích của Merozoite và Schizont cùng với sự hỗ trợ của tế bào
lympho T, các tế bào lympho B phân chia rồi biệt hóa thành tế bào Plasma
(tương bào) Các tương bào tiết ra kháng thể chống lại các Merozoite và Schizont Ngoài các nhân tố trên thì cytokin và lymphokin cũng có vai trò
trong việc tạo miễn dịch đối với vật nuôi
Williams R B (1997) [71] đã phát hiện giữa biến đổi niêm mạc manh tràng của gia cầm sau gây nhiễm và khả năng nhiễm bệnh nư sau: niêm
mạc manh tràng sau khi nhiễm Eimeria 3 tuần biểu hiện phù nề, sung
huyết Vào thời điểm này, sự tái nhiễm cầu trùng từ ngoài vào niêm mạc ruột không thực hiện được
Như vậy, để có thể đáp ứng miễn dịch của vật nuôi đối với bệnh cầu trùng phải kể đến vai trò to lớn của đại thực bào, rồi đến bạch cầu đa nhân
Trang 35trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm Ngoài nhiệm vụ thực bào và tiêu diệt cầu trùng thì đại thực bào còn đóng vai trò trong việc tạo miễn dịch đặc hiệu, nó tiếp nhận kháng nguyên, chia cắt kháng nguyên thành siêu kháng nguyên rồi trình diện cho các tế bào có thẩm quyền miễn dịch Các tế bào lympho B sau khi nhận kháng nguyên cầu trùng, một nhóm sẽ tạo kháng thể
đặc hiệu để kháng cầu trùng, một nhóm khác có vai trò là các tế bào “trí nhớ miễn dịch” để khi cầu trùng xâm nhập vào lần sau thì kháng thể được sinh ra
nhanh hơn và nhiều hơn Đây chính là cơ sở để chế tạo vắc xin phòng bệnh cầu trùng Các tế bào lympho T sinh ra lymphokin để tiêu diệt cầu trùng, một
số có vai trò trong điều hòa miễn dịch, một số nguyên bào lympho T mẫn cảm
cũng trở thành “tế bào nhớ”
1.1.8.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch cầu trùng
Tyzzer E E (1929) [69], bằng kỹ thuật gây bệnh thực nghiệm đã chứng minh cường độ miễn dịch không đồng đều phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài gây bệnh, đường xâm nhập vào cơ thể và trạng thái sức khỏe vật nuôi Những loài cầu trùng gây bệnh ở tầng sâu trong mô bào thường kích thích cơ thể sản sinh kháng thể mạnh hơn những loài cầu trùng chỉ ký sinh ở bề mặt niêm mạc Sự xâm nhập của cầu trùng qua quá trình tiêu hóa tự nhiên kích thích sinh miễn dịch tốt hơn tiêm thẳng vào ruột, sức khỏe vật nuôi tốt thì sự đáp ứng miễn dịch cũng tốt hơn khi con vật ốm đau
Ngoài ra, liều gây nhiễm cũng có vai trò hết sức quan trọng, với liều thích hợp có tác dụng kích thích khả năng hình thành miễn dịch, liều quá cao thì có thể gây ức chế miễn dịch, thậm chí phát bệnh
Tyzzer E E (1929) [69] cho biết, miễn dịch được tạo ra tương đối bền vững đối với loài cầu trùng phát triển sâu trong mô bào, miễn dịch kém bền vững với loài cầu trùng chỉ phát triển ở trong lớp biểu bì niêm mạc ruột Long P L (1982) [58] và Rahmat (1995) [62] nhận thấy, thời gian miễn dịch dài hay ngắn còn phụ thuộc vào sự tồn tại của cầu trùng
Trang 361.1.8.5 Vắc xin cầu trùng
Việc sử dụng vắc xin để phòng các bệnh ký sinh trùng nói chung chưa
được nghiên cứu đầy đủ, một số vắc xin đã ra đời nhưng hiệu lực chưa cao hoặc chưa chắc chắn Trong phòng chống bệnh cầu trùng, nhiều loại vắc xin
đã lần lượt được ra đời (Shirley M W., 1995 [66]) Nhưng vấn đề quan trọng hơn là cách dùng vắc xin như thế nào để có hiệu quả cao Về vấn đề này, có 2 quan điểm: một là, cho nhiễm từ từ các loài cầu trùng có trong trại chăn nuôi Hai là, chỉ dùng các loại vắc xin giảm độc ổn định
Ngày nay, một số loại vắc xin đã được sản xuất phòng bệnh cầu trùng cho gà như: CoccivaxR
, ImmucoxR, VAC MR, ParacoxR, LivacoxR D
Theo Bạch Mạnh Điều (2004) [6],vắc xin Coccivax phòng bệnh cầu trùng cho
gà từ 6 ngày tuổi không gây phản ứng phụ, sau 10 ngày gà được bảo hộ an toàn, đến
54 ngày khả năng bảo hộ vẫn được duy trì Chế tạo thử nghiệm vắc xin Oocyst nhược độc phòng 3 loài cầu trùng gà: E tenella, E maxima, E acervulina, tác giả cho biết, vắc xin hỗn hợp Oocyst của 3 loài cầu trùng phòng bệnh cho gà lúc 6 ngày
tuổi không gây phản ứng đối với gà, sau 10 ngày cho bảo hộ 100% khi công cường độc Khả năng bảo hộ an toàn vẫn duy trì ở thời điểm sau khi phòng 36 ngày (đối với gà 42 ngày tuổi)
1.2 Bệnh cầu trùng ở thỏ
1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do cầu trùng gây ra
Bệnh cầu trùng gây thiệt hại vô cùng to lớn cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm nói chung và chăn nuôi thỏ nói riêng
Cầu trùng là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy cho thỏ Bệnh xảy ra không thành ổ dịch lớn như các bệnh truyền nhiễm ở các loài động vật khác, nhưng bệnh thường kéo dài, giảm tăng trọng, khó phát hiện và khó điều trị, có thể gây chết hàng loạt (Catchpole J và Norton C C 1979) [46]
Theo Nguyễn Chu Chương, (2007) [3], thỏ rất dễ bị mắc cầu trùng và chết vì bệnh này, nhất là thỏ mới đẻ và thỏ con dưới 4 tháng tuổi
Trang 37Lê Văn Năm (2003) [22] cho biết, trong chăn nuôi gà và thỏ bệnh
cầu trùng gây chết 60 - 80%, nếu bị ghép với E.coli bại huyết thì tỷ lệ
1.2.2 Dịch tễ học của bệnh cầu trùng thỏ
* Động vật mắc bệnh:
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], các giống thỏ nuôi đều bị nhiễm bệnh cầu trùng và phát bệnh cầu trùng Tuy nhiên, thỏ nhập ngoại bị bệnh cầu trùng với tỷ lệ cao hơn ở các giống thỏ nội Khi xét nghiệm mẫu phân của 380 thỏ nội, và 490 thỏ New Zealand, kết quả cho thấy; thỏ New Zealand có tỷ lệ nhiễm cao hơn (68,16%) so với thỏ nội (60,79%)
* Mùa vụ: Tùy theo điều kiện ẩm độ và nhiệt độ bên ngoài, thường thấy
bệnh phát vào mùa ấm và có mưa nhiều (mùa xuân hè và đầu thu) Nhưng nếu trong chuồng thỏ nhiệt độ luôn lớn hơn 100C thì bệnh thường xảy ra, tỷ
lệ nhiễm lên tới 55 -75% (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999)[13]
Theo Nguyễn Chu Chương (2007) [3], bệnh cầu trùng phát triển vào mùa xuân và đầu mùa hè Lúc có gió mùa đông bắc, có mưa phùn, nhiệt độ thay đổi đột ngột, gió nồm ẩm ướt dễ làm cho các loại thỏ mắc bệnh và chết nhiều hơn trong các mùa khô hanh
Trang 38Theo Nguyễn Văn Hoàn (1981) [9], thỏ sơ sinh, thỏ mới tách mẹ, thỏ choai từ 4 tháng tuổi trở xuống khi mắc bệnh cầu trùng rất dễ chết, thỏ từ 5 tháng tuổi trở lên rất ít khi bị chết vì bệnh này
Điều kiện vệ sinh thú y:
Tình trạng vệ sinh thú y là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng nhiễm cầu trùng của thỏ
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13], lồng thỏ cũng có tác dụng trong gieo truyền bệnh: Ở đáy lồng thỏ luôn có noãn nang của cầu trùng Vì vậy, lồng thỏ là một yếu tố quan trọng trong việc gieo truyền bệnh cầu trùng Qua kiểm tra người ta thấy, 39% số lồng thỏ bị nhiễm cầu trùng Do đó, khi làm chuồng nuôi thỏ phải chú ý làm đáy chuồng dễ thoát phân
Những nơi dự trữ mầm bệnh cầu trùng là nguồn nhiễm cho thỏ con là chuồng, lồng, thức ăn, nước uống, các dụng cụ chăm sóc, sân chơi bị nhiễm nang trứng Noãn nang cầu trùng có thể vào chuồng thỏ qua giầy dép của người, chổi lau quét, xẻng cuốc, đồng thời qua cả động vật gặm nhấm (chuột), chim, côn trùng
* Các yếu tố stress:
Yếu tố stress có hại như chuồng chật chội, thức ăn kém dinh dưỡng, thiếu sữa, nhiệt độ môi trường thay đổi, thỏ con đang mắc các bệnh ký sinh trùng khác thì bệnh xảy ra nặng hơn Nguyễn Quang Sức (1994) [28] đã đề cập đến sự phát triển bệnh cầu trùng cho biết, trong phần lớn các trường hợp, bệnh xảy ra hay không phụ thuộc vào điều kiện chăn nuôi, nếu điều kiện này tốt thì tỷ lệ thỏ ỉa chảy và chết thấp, ngược lại thì tỷ lệ chết hàng tháng của thỏ phổ biến từ 10 -15% Tác giả còn cho biết, vai trò chính trong việc nổ ra bệnh cầu trùng là các yếu tố stress (nguyên nhân không đặc hiệu) làm thỏ yếu
đi từ đó cầu trùng phát triển
Trang 391.2.3 Đường truyền lây
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [14] đường truyền bệnh chủ yếu qua đường tiêu hóa Noãn nang cầu trùng xâm nhập vào cơ thể qua đường miệng, do thỏ tiếp xúc với thức ăn, nước uống, nền lồng chuồng, dụng cụ
chăn nuôi nhiễm Oocyst cầu trùng có sức gây bệnh
Đường bài xuất mầm bệnh: Thỏ mắc bệnh bài xuất Oocyst cầu trùng qua phân ra ngoài ngoại cảnh Oocyst được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình sinh sản bào tử bắt đầu để tạo thành các Oocyst có khả
năng gây bệnh
Cầu trùng lây nhiễm từ thỏ bệnh sang thỏ khỏe theo 2 cách:
- Lây nhiễm trực tiếp: thỏ bệnh thải Oocyst cầu trùng qua phân, do đó Oocyst
sẽ dễ dàng được phát tán xung quanh nền lồng chuồng, máng ăn, máng uống và
dụng cụ chăn nuôi nên thỏ dễ nuốt phải Oocyst có sức gây bệnh
- Lây nhiễm gián tiếp: dụng cụ chăn nuôi, người chăn nuôi, giầy, dép,
ủng, phương tiện vận chuyển cũng đóng vai trò quan trọng trong việc mang
Oocyst cầu trùng từ ngoài vào trong chuồng gia súc hoặc từ ô chuồng này
sang ô chuồng khác
1.2.4 Cơ chế sinh bệnh của cầu trùng thỏ
Hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng: cầu trùng xâm nhập và tế bào biểu mô ruột thỏ, ngoài ruột ra còn xâm nhập vào tế bào biểu mô ống dẫn mật
và ở đó chúng phát triển chu kỳ nội sinh
Trong màng niêm mạc ruột, ký sinh trùng phát triển mạnh bằng cách sinh sản vô tính làm cho hàng loạt tế bào biểu bì bị chết Người ta đã xác định, 1 con vật mắc bệnh cầu trùng thải ra môi trường bên ngoài từ 9 → 980 triệu noãn nang Điều đó có nghĩa trong, cơ thể con vật ốm, hàng ngày bị chết trên 500 triệu tế bào biểu mô ruột
Những vùng ruột bị huỷ hoại sẽ bị các vi khuẩn xâm nhập vào và sẽ gây
ra những ổ huỷ hoại lớn cho màng niêm mạc Từ đó làm cho, nhiều đoạn ruột không tham gia được vào các quá trình tiêu hoá Điều đó làm con vật bị đói
Trang 40dai dẳng dẫn đến sự ngưng đọng và phù nề các cơ quan và mô bào khác nhau
Vì vậy, quá trình bệnh gia súc bệnh thường có triệu chứng loãng máu, giảm bạch cầu, mạch đập chậm và hay đái
Sự sinh sản mạnh mẽ cuả cầu trùng trong niêm mạc ruột và sự phá huỷ các
tế bào trong ruột dẫn tới hệ vi khuẩn gây mủ sẽ sinh sản Các loại vi khuẩn này còn làm nặng thêm quá trình viêm trong ruột, gây rối loạn các chức năng hấp thụ
và vận động của ruột, tạo điều kiện cho ỉa chảy Do quá trình viêm tăng lên mạnh mẽ nên dịch rỉ tiết ra nhiều trong khoang ruột, loại dịch rỉ mà theo Gobzen (1972) sẽ làm khó khăn cho sự hấp thụ chất dịch trong cơ thể gia súc và làm mất
sự cân bằng nước, một chức năng có ý nghĩa to lớn trong quá trình sinh bệnh cầu trùng Cũng theo ông, mất 10 → 15% nước trong cơ thể thì con vật sẽ bị ốm chết Ông cũng cho rằng sự rối loạn trao đổi nước làm tăng độ dính của máu làm tim hoạt động khó khăn hơn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [14], cơ chế sinh bệnh cầu trùng thỏ chưa được nghiên cứu đầy đủ Chủ yếu do độc tố của cầu trùng kết hợp với các độc tố của vi trùng đường ruột gây rối loạn tiêu hoá và đầu độc thần kinh của thỏ
Tế bào biểu mô ruột bị tổn thương, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn
ở ruột phát triển và sinh ra các độc tố, cơ thể con vật hấp thu độc tố nên bị trúng độc nặng, biểu hiện co giật, ruột phình to, thiếu máu não
Những xét nghiệm máu về hóa sinh cho thấy, khi bị bệnh cầu trùng, lượng hồng cầu và hemoglobin giảm, con vật bị thiếu máu Ngoài ra, vào thời
kỳ bệnh tiến triển cấp tính còn thấy giảm lượng đường dự trữ trong máu, giảm catalaza và lượng kiềm dự trữ Đó là nguyên nhân dẫn đến gia súc nhanh chóng kiệt sức và chết (Kolapxki N A và cs, 1980) [38]
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16] cho biết, cầu trùng trong quá trình ký sinh đã gây ra 3 tác hại cho thỏ: Chúng tiết ra enzym làm dung giải, phá hoại lớp nhung mao ruột, làm tróc lớp niêm mạc ruột, phá hoại tế bào biểu mô ống dẫn mật, túi mật và tổ chức gan; Lấy chất dinh dưỡng từ dịch ruột và gan để