Vì vậy cần phải tiến hành quy hoạch lâm nghiệp nhằm bố cục hợp lý về mặt không gian, thời gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh làm cơ sở cho việc lập k
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ SĨ TRUNG
THÁI NGUYÊN-2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi, các kết quả và số liệu nêu trong luận văn là trung thực và mới, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác./
Tác giả luận văn
Đàm Văn Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp theo chương trình đào tạo thạc sỹ Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các giảng viên, các cơ quan đơn vị, bạn bè và gia đình
Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, Khoa sau đại học
và toàn thể giảng viên của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành kháo đào tạo
Xin chân thành cám ơn PGS.TS Lê Sĩ Trung người trực tiếp hướng dẫn tác giả thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Sở Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Kiểm lâm, Phân viện điều tra quy hoạch rừng Đông bắc bộ, UBND thị xã Phúc Yên, phòng Kinnh tế, Hạt Kiểm lâm thị xã Phúc Yên, Đảng ủy, UBND xã Ngọc Thanh đã tạo mọi điều kiện giúp tác giả thu thập tài liệu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã động viên giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn này Mặc dù bản thân có rất nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các giảng viên và bạn bè đồng nghiệp góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Tác giả
Đàm Văn Hải
Trang 4MỤC LỤC
Trang Lời cảm ơn
Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 20
Trang 52.3.1 Đánh giá thực trạng quản lý phát triển lâm nghiệp xã 20 2.3.2 Nghiên cứu một số dự báo cơ bản liên quan đến công tác QH 20 2.3.3 Đề xuất một số nội dung phương án QHLN xã đến 2020 21 2.3.4 Đề xuất một số giải pháp thực hiện phương án quy hoạch 21
2.4.1 Sử dụng phương pháp kế thừa các tài liệu có chọn lọc 21 2.4.2 Sử dụng phương pháp điều tra đánh giá nhanh nông thôn (PRA) 22
Chương 3: Tình hình cơ bản khu vực nghiên cứu 25
4.1 Kết quả nghiên cứu về thực trạng quản lý PTLN 32 4.1.1 Đánh giá thực trạng QHSXLN và quyền sử dụng đất, sử dụng rừng 32
4.1.2 Đánh giá vai trò tham gia của các bên liên quan trong PTLN 35 4.1.3 Đánh giá tiềm năng đất, rừng và thực trạng sử dụng đất LN 39 4.1.4 Thực trạng hệ thống cây trồng trong khu vực nghiên cứu 42 4.1.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất lâm nghiệp 43
Trang 64.1.6 Đánh giá thực trạng chế biến và sử dụng lâm sản tại khu vực… 44 4.1.7 Đánh giá các chính sách có liên quan đến QHPTLN tại địa… 45
4.2 Nghiên cứu một số dự báo cơ bản liên quan đến công tác QH 47
4.2.5 Dự báo định hướng phát triển của ngành và KTXH địa phương 50
4.3 Đề xuất các nội dung phương án quy hoạch 51
4.3.2 Quy hoạch rừng và đất lâm nghiệp theo chủ quản lý 57
4.4 Đề xuất một số giải pháp thực hiện phương án quy hoạch 70 4.4.1 Giải pháp về tổ chức, cơ chế chính sách, nguồn NL và KHCN 70 4.4.2 Các giải pháp về quản lý, sử dụng tài nguyên rừng 73
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Phương án và kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng rừng… 32
Bảng 4.3: Kết quả nghiên cứu cơ cấu và tiềm năng sử dụng đất… 39
Bảng 4.6: Thực trạng chế biến và sử dụng lâm sản xã Ngọc Thanh 44
Bảng 4.7: Dự báo vốn đầu tư một số công trình trên địa bàn xã… 49
Bảng 4.13: Quy hoạch rừng và đất Lâm nghiệp theo chủ quản lý 58
Bảng 4.15: Diện tích, sản lượng khai thác rừng xã Ngọc Thanh 66
Bảng 4.18: Tiến độ thực hiện các hạng mục trồng, CS, BVR 77
Bảng 4.19: Tiến độ trồng rừng sản xuất trên diện tích đất đã có rừng 78
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Lâm nghiệp là một ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Đối tượng sản xuất kinh doanh của lâm nghiệp là tài nguyên rừng, bao gồm rừng và đất rừng Tác dụng của lâm nghiệp đối với nền kinh tế có nhiều mặt, không chỉ cung cấp lâm, đặc sản rừng mà còn có tác dụng giữ đất, giữ nước và phòng hộ Vì vậy cần phải tiến hành quy hoạch lâm nghiệp nhằm bố cục hợp lý về mặt không gian, thời gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh làm cơ sở cho việc lập kế hoạch, định hướng cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, cho xuất khẩu và cho đời sống nhân dân, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng [22]
Quy hoạch là một trong những hoạt động rất quan trọng, đặc biệt đối với sản xuất nông - lâm nghiệp Do đặc điểm địa hình nước ta rất phong phú và đa dạng, rừng phân bố không đồng đều, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội rất khác nhau, nhu cầu của các địa phương, các ngành kinh tế khác đối với lâm nghiệp cũng không giống nhau, nên việc quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý, các đơn vị sản xuất kinh doanh, ngày càng trở thành một đòi hỏi thực tế khách quan Nó là tiền
đề vững chắc cho bất kỳ giải pháp nào nhằm phát huy hết những tiềm năng to lớn,
đa dạng của tài nguyên rừng và các điều kiện kinh tế - xã hội khác, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững, ổn định, lâu dài ở địa phương và quốc gia Để việc sản xuất kinh doanh rừng có hiệu quả hay sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững, nhất thiết phải quy hoạch lâm nghiệp và công tác quy hoạch lâm nghiệp cần phải được đi trước một bước làm cơ sở cho việc lập kế hoạch, định hướng trước khi hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khác diễn ra
Xã Ngọc Thanh là xã miền núi của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc có tổng diện tích đất tự nhiên là 7.731,14 ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 4.384,37 ha chiếm 56,71% tổng diện tích đất tự nhiên của xã [13] Nhưng trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng cũng như trong quản lý sử dụng rừng còn nhiều tồn tại, bất cập Những diện tích rừng và đất rừng đã được giao, khoán ổn định lâu dài theo quy định của nhà nước sử dụng kém hiệu quả, năng suất và chất lượng rừng
Trang 11chưa cao, tình trạng khai thác rừng trái phép vẫn diễn ra, công tác quy hoạch phân chia ba loại rừng chưa phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, việc sử dụng rừng chưa đúng mục đích,… Những tồn tại này làm cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gặp rất nhiều khó khăn Nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch phát triển lâm nghiệp hợp lý, có cơ sở khoa học sẽ góp phần quản lý tài nguyên rừng bền vững, đóng góp tăng trưởng kinh tế chung của thị xã, của tỉnh, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người làm nghề rừng, thực hiện xoá đói giảm nghèo và đưa kinh tế xã hội miền núi phát triển hoà nhập với tiến trình phát triển kinh tế-xã hội của thị xã, của tỉnh Vĩnh phúc là hết sức cần thiết
Xuất phát từ những vấn đề trên, để góp phần bảo vệ phát triển tài nguyên rừng
ổn định, bền vững, lâu dài, nâng cao đời sống người dân địa phương cũng như cải
thiện điều kiện môi trường sinh thái trong khu vực thì việc “Nghiên cứu cơ sở thực tiễn đề xuất phương án quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc” là rất cần thiết
Trang 12
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
Quy hoạch lâm nghiệp là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể
phát triển nông thôn và thuộc phạm trù của Quy hoạch vùng Do đó, công tác quy hoạch lâm nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch phát triển nông thôn nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành và tuân thủ theo các nguyên tắc và định hướng của Quy hoạch vùng Thực chất của công tác quy hoạch nói chung là tổ chức không gian và thời gian phát triển chung cho kinh tế, xã hội, môi trường hoặc cho một ngành hoặc một lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thì nhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tác điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải được đi trước một bước
1.1.1 Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác-Lê Nin về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc đó được phát triển đến mức độ nào”
Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên kinh
tế xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản xuất”
Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng sản xuất cho mỗi vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng và tương lai phát triển của vùng đó
Dựa vào học thuyết của Mác và Ăng Ghen V.I Lê Nin đã nghiên cứu có hướng cụ thể về kế hoạch hoá phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ nghĩa
Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác định theo các nguyên tắc sau:
Trang 13Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn lãnh thổ của đất nước, tỉnh, huyện, nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của tất cả các vùng và quá trình tái sản xuất mở rộng
Đưa các xí nghiệp, công nghiệp đến gần nguồn tài nguyên để hạn chế chi phí vận chuyển
Kết hợp tốt lợi ích Nhà nước và nhu cầu kinh tế của từng tỉnh, vùng
Tăng cường toàn diện tiềm lực kinh tế, …
Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế từng vùng, từng huyện nhằm nâng cao năng xuất lao động và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên [23]
1.1.1.1 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari
+ Mục đích của quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari
- Sử dụng có hiệu quả nhất lãnh thổ của quốc gia
- Bố trí hợp lý các hoạt động của con người nhằm đảm bảo tái sản xuất mở rộng
- Xây dựng một môi trường sống đồng bộ
+ Quy hoạch lãnh thổ quốc gia được phân thành các vùng
- Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ
- Lãnh thổ thiên nhiên không có vùng nông thôn, sự tác động của con người vào đây rất ít
- Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, ít có sự can thiệp của con người, thuận lợi cho kinh doanh về du lịch
- Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và có sự can thiệp của con người, thuận lợi cho sản xuất nông, lâm nghiệp
- Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng
có sự tác động của con người
- Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nước, tiến hành quy hoạch lãnh thổ vùng
và quy hoạch lãnh thổ địa phương
Trang 14+ Nội dung của quy hoạch
Đồ án quy hoạch vùng lãnh thổ địa phương là thể hiện quy hoạch chi tiết các liên hiệp nông – công nghiệp và liên hiệp công – nông nghiệp, đồng thời giải quyết các vấn đề sau đây:
- Cụ thể hoá, chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp
- Phối hợp giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp với mục đích liên kết theo ngành dọc
- Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ lợi ích công cộng và sản xuất
- Tổ chức hợp lý mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp trong phạm vi hệ thống nông thôn
- Bảo vệ môi trường thiên nhiên của vùng lãnh thổ, tạo điều kiện tốt cho người lao động nghỉ ngơi, sinh hoạt [23]
1.1.1.2 Quy hoạch vùng ở Pháp
Theo quan niệm chung của hệ thống các mô hình quy hoạch vùng, lãnh thổ
M Thénevin (M Pierre Thénevin) một chuyên gia thống kê đã giới thiệu một số
mô hình quy hoạch vùng được áp dụng thành công ở miền tây nam nước cộng hoà Côte D’ivoire như sau:
Trong mô hình quy hoạch này, nguời ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác và với nước ngoài Thực chất mô hình là bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc:
- Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng trọt công nghiệp với các mức thâm canh cường độ cao, thâm canh trung bình và cổ điển (truyền thống)
- Hoạt động khai thác tài nguyên rừng
- Hoạt động đô thị, khai thác chế biến…
Quy hoạch vùng nhằm mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều kiện thực tiễn của vùng, so sánh với các vùng xung quanh và nước ngoài [23]
Trang 151.1.1.3 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Thái Lan
Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ được chú ý từ những năm 1970 của thế kỷ trước Hệ thống quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp: (Quốc gia, vùng, địa phương)
Vùng: (Region) được coi như là một á miền của đất nước, đó là điều cần thiết để phân chia quốc gia thành các á miền theo các phương diện khác nhau như: Phân bố dân cư, địa hình, khí hậu,…
Quy mô diện tích của vùng phụ thuộc vào diện tích của đất nước
Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo 2 cách sau:
` - Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng, những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng
- Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng, các kế hoạch vùng được đóng góp vào xây dựng kế hoạch Quốc gia
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước, phải phối hợp với chính quyền, địa phương [23]
1.1.2 Quy hoạch vùng nông nghiệp
Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháp tổng hợp của nhà nước về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ các vùng hành chính, nông nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển tất cả các ngành kinh tế trong vùng
Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạn kết thúc của kế hoạch hoá tương lai của nhà nước một cách chi tiết sự phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ của các vùng là biện pháp xác định các xí nghiệp chuyên môn hóa một cách hợp lý Là biện pháp sử dụng đất đai, lợi dụng các yếu tố tự nhiên, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật…
Vùng hành chính là đối tượng quy hoạch vùng nông nghiệp, đồng thời cũng
là vùng lãnh thổ mà ở đó có các điều kiện kinh tế, vùng tổ chức lãnh thổ thuận lợi
Trang 16cho việc phát triển tất cả các ngành kinh tế - quốc dân Như vậy, trong quy hoạch vùng nông nghiệp lấy vùng hành chính nông nghiệp làm đối tượng quy hoạch
Quy hoạch vùng nông nghiệp có các nội dung như sau:
- Lập kế hoạch phát triển tương lai của nền kinh tế quốc dân trong vùng hành chính nông nghiệp
- Lập kế hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững
- Tổ chức lãnh thổ với việc lập các sơ đồ quy hoạch vùng
- Phân bố hợp lý các công ty chế biến nông lâm sản
- Xác định cân đối lao động trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân
- Lập kế hoạch phân bố nhân khẩu
- Phân bổ các công ty sản xuất vật liệu xây dựng, sửa chữa cơ khí, thương nghiệp dịch vụ
- Phân bổ cơ sở hạ tầng như: Đường giao thông, điện nước, thông tin liên lạc
và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác
- Lập kế hoạch thực hiện tất cả các biện pháp đề ra trong sơ đồ quy hoạch vùng trong thời gian chuyển tiếp
Như vậy, lập kế hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tổ chức lãnh thổ với việc lập sơ đồ quy hoạch vùng là những nội dung quy họach vùng nông nghiệp [12]
1.1.3 Quy hoạch lâm nghiệp
Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu khối lượng gỗ ngày càng tăng Sản xuất gỗ đã tách khỏi kinh tế địa phương của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải
có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận
lâu dài cho các chủ rừng Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy
Trang 17Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc
“Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên
rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn
Sau cuộc cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 phương thức kinh doanh rừng chồi được thay bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác
dài, và phương thức “khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức
“chia đều” của Harting Harting đã chia đều chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ
lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm Đến năm 1816, xuất hiện phương thức luân kỳ lợi dụng của H.Cotta Cotta chia chu kỳ khai thác thành
20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm
Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch ” ra đời, quan điểm phương pháp
này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau Và đến cuối thế kỷ 19, xuất hiện
phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich Phương pháp này khác với phương
pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản, Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai thác Hai phương
pháp “Bình quân thu hoạch ” và “Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai
phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau [22]
Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng phải có kết cấu
tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng này được dùng
phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú Còn phương pháp “Lâm phần
kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm Phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà
dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng
và biện pháp kinh doanh Cũng từ phương pháp này, còn phát triển thành “Phương
pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra” [22]
Trang 181.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Quy hoạch vùng chuyên canh
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên canh lúa ở đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long, các vùng rau thực phẩm cho các thành phố lớn, các vùng cây công nghiệp ngắn ngày (hàng năm): Vùng bông Thuận Hải, vùng đay Hưng Yên, vùng thuốc lá Quảng An – Cao Bằng, Ba vì – Hà Tây, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Nho Quan – Ninh Bình, vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngãi,…Các vùng cây công nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ - Đắc Lắc, Chư Pả - Gia Lai Kon Tum (hợp tác với Liên Xô trước đây, Cộng hòa dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari), vùng chè ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Gia Lai Kon Tum, vùng dâu tằm Bảo Lộc – Lâm Đồng [28],…
+ Tác dụng của quy hoạch vùng chuyên canh
- Xác định được phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn hóa
và những vùng có khả năng hợp tác kinh tế cao
- Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp nhà nước tập chung đầu tư vốn đúng đắn
- Xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và sản phẩm hàng hóa của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất, nhu cầu lao động
- Cơ sở để xây dựng kế hoạch, phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ
Quy hoạch vùng chuyên canh đã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập chung
để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng xuất, sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các cơ sở sản xuất
+ Nội dung của quy hoạch vùng chuyên canh
- Xác định quy mô, ranh giới vùng
Trang 19- Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất
- Bố trí sử dụng đất đai
- Xác định quy mô, ranh giới nhiệm vụ chủ yếu cho các xí nghiệp trong vùng
và tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp
- Xác định hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất đời sống
- Tổ chức và sử dụng lao động
- Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế
- Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch [28]
1.2.2 Quy hoạch nông nghiệp huyện
Quy hoạch nông nghiệp huyện được tiến hành ở hầu hết các huyện, là một quy hoạch ngành bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thủ công nghiệp
và công nghiệp chế biến
1.2.2.1 Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện
- Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện căn cứ vào dự án phát triển, phân bố lực lượng sản xuất và phân bố vùng nông nghiệp tỉnh hoặc thành phố đã được phê duyệt, xác định phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu phát triển nông nghiệp và xây dựng các biện pháp nhằm thực hiện được các mục tiêu đó theo hướng chuyên môn hóa tập trung hóa kết hợp phát triển tổng hợp nhằm thực hiện 3 mục tiêu nông nghiệp là giải quyết lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu ổn định
- Hoàn thiện phân bổ sử dụng đất đai cho các đối tượng sử dụng đất nhằm sử dụng đất đai được hiệu quả cao, đồng thời bảo vệ và nâng cao được độ phì nhiêu của đất
- Tạo điều kiện để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
- Tính vốn đầu tư cơ bản và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch [28]
1.2.2.2 Nội dung chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện
- Xác định phương hướng và mục tiêu phát triển nông nghiệp
- Bố trí sử dụng đất đai
Trang 20- Xác định cơ cấu và quy mô sản xuất nông nghiệp (phân chia và tính toán quy mô các vùng sản xuất chuyên môn hóa, xác định vùng sản xuất thâm canh cao sản, các tổ chức liên kết nông – công nghiệp, các cơ sở dịch vụ nông nghiệp, bố trí trồng trọt, bố trí chăn nuôi)
- Tổ chức các cơ sở sản xuất nông nghiệp
- Tổ chức công nghiệp chế biến nông sản và tiểu thủ công nghiệp trong nông nghiệp
- Giải quyết mối quan hệ giữa các ngành sản xuất có liên quan trong và ngoài nông nghiệp
- Bố trí cơ cấu vật chất, kỹ thuật phục vụ nông nghiệp (thủy lợi, giao thông,
cơ khí điện, cơ sở dịch vụ thương nghiệp)
- Tổ chức sử dụng lao động nông nghiệp, phân bố các điểm dân cư nông thôn
- Những cân đối chính sách trong sản xuất nông nghiệp (lương thực, thực phẩm), thức ăn gia súc, phân bón, vật tư kỹ thuật nông nghiệp, nguyên liệu cho các
xí nghệp chế biến
- Tổ chức các cụm kinh tế xã hội
-Bảo vệ môi trường
- Vốn đầu tư cơ bản
- Hiệu quả sản xuất và tiến độ thực hiện quy hoạch [28]
1.2.2.3 Đối tượng của quy hoạch nông nghiệp huyện
Đối tượng của quy hoạch nông nghiệp huyện là toàn bộ đất đai, ranh giới hành chính huyện [23]
1.2.3 Quy hoạch lâm nghiệp
Quy hoạch lâm nghiệp là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh theo các cấp quản lý lãnh thổ và các cấp quản lý sản xuất khác nhau làm cơ sở cho việc lập
kế hoạch cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng
Trang 21Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta ngay từ thời kỳ Pháp thuộc Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi Điều chế rừng Thông theo phương pháp hạt đều…
Đến năm 1955 – 1957, tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên rừng Năm 1958 – 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng Miền Bắc Mãi đến năm
1960 – 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng ở Miền Bắc Từ năm
1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và mở rộng Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của Sở lâm nghiệp (nay Sở nông nghiệp và PTNT) không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các nước ngoài cho phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp Việt Nam hình thành và phát triển muộn hơn nhiều Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [22]
Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 – 2020 một
trong những tồn tại mà Bộ Nông Nghiệp & PTNT đánh giá là: “Công tác quy
hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi Chưa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được lâm phần ổn định
trên thực địa, ”[19] Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách đối với ngành
lâm nghiệp của nước ta hiện nay
1.2.3.1 Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp
Địa bàn quy hoạch lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả vùng ven biển, trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thường có địa hình cao, dốc, chia cắt, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh tế hoạt động
Là nơi cư trú của nhiều đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều khó khăn Chu kỳ kinh doanh cây lâm nghiệp dài ngày (ngắn 8 – 10 năm, thậm chí hàng trăm
Trang 22năm) Người dân không chịu tự giác bỏ vốn tham gia trồng rừng chỉ khi biết chắc chắn sẽ có lợi
Mục tiêu của quy hoạch lâm nghiệp cũng rất đa dạng: Quy hoạch rừng phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường); Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu di tích văn hóa - lịch sử - danh thắng) và quy hoạch phát triển các loại rừng sản xuất
Quy mô của công tác quy hoạch lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô và vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, huyện, xí nghiệp, lâm trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp [22]
Lực lượng tham gia làm công tác quy hoạch lâm nghiệp thường luôn phải lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn về mọi mặt… Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao gồm cả lực lượng của Trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham gia làm quy hoạch lâm nghiệp (nông nghiệp, công an, quân đội… ) Trong đó,
có một số bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp
1.2.3.2 Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp phục vụ chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn
Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể Với mỗi phương án quy hoạch lâm nghiệp phải đạt được:
- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất do các ngành khác sử dụng; Trong đó, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được quan tâm hàng đầu vì hai ngành chính sử dụng đất đai
- Trên phần đất lâm nghiệp đã được xác định, tiến hành hoạch định 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất) Từ đó xác định các giải pháp lâm sinh thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, làm giàu rừng, khoanh nuôi phục hồi
Trang 23rừng, trồng rừng mới, nuôi dưỡng rừng, nông lâm kết hợp, khai thác lợi dụng rừng, )
- Tính toán nhu cầu đầu tư (chủ yếu nhu cầu lao động, vật tư thiết bị và nhu cầu vốn) Vì là phương án quy hoạch nên việc tính toán nhu cầu đầu tư chỉ mang tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất ở những bước tiếp theo
- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy hoạch (giải pháp lâm sinh, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, giải pháp về vốn, lao động,…) [22]
- Đổi mới một số phương án quy hoạch có quy mô lớn (cấp toàn quốc, vùng, tỉnh) và đề xuất các chương trình, dự án cần ưu tiên để triển khai bước tiếp theo là lập dự án đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi
1.2.3.3 Các văn bản chính sách Nhà nước liên quan đến quy hoạch lâm nghiệp
- Hiến pháp của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu:
“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài ”
- Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ 3 loại đất (đất nông nghiệp; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng) và 6 quyền sử dụng (được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai) [15]
- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng (rừng phòng hộ; rừng đặc dụng; rừng sản xuất) làm cơ sở cho quy hoạch lâm nghiệp [16]
- Quy chế quản lý rừng năm 2006 quy định về việc tổ chức quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, bao gồm
Trang 24diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được nhà nước giao, cho thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp [18]
- Quyết định 61 về quy định tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ và quyết định
62 quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng [3]
Từ trước tới nay công tác quy hoạch lâm nghiệp đã được triển khai trên toàn quốc ở nhiều cấp độ, quy mô khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát triển ngành Song căn cứ vào yêu cầu, trong mỗi giai đoạn cụ thể, trong từng thời điểm, căn cứ vào nguồn vốn được cấp và yêu cầu mức độ kỹ thuật khác nhau mà nội dung các phương án quy hoạch, dự án đầu tư cũng được điều chỉnh cho phù hợp
1.2.3.4 Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp
+ Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD bao gồm: Quy hoạch tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâm trường; Quy hoạch lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho các khu rừng phòng hộ Quy hoạch các khu rừng đặc dụng và quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp cho các cộng đồng làng bản và trang trại lâm nghiệp hộ gia đình) Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh là khác nhau tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp
mà lựa chọn các nội dung quy hoạch cho phù hợp
+ Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ
Ở nước ta, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành chính:
Từ toàn quốc tới tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường) Để phát triển, mỗi đơn vị đều phải xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển các ngành sản xuất và quy hoạch dân cư, phát triển xã hội…
Ở những đối tượng có tiềm năng phát triển lâm nghiệp thì quy hoạch lâm nghiệp là một vấn đề quan trọng, làm cơ sở cho việc phát triển nghề rừng nói riêng
và góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung trên địa bàn
Trang 25* Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc
Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản bao gồm: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp toàn quốc Quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất, phòng hộ và đặc dụng) Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện [23]
Do đặc thù khác với các ngành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy hoạch lâm nghiệp thường được thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội dung quy hoạch được thực hiện tùy theo các vùng kinh tế lâm nghiệp
* Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: Xác định nhiệm vụ phương hướng phát triển trong phạm vi tỉnh căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo 3 chức năng: Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ vào điều kiện đất đai tài nguyên rừng, đồng thời căn cứ vào nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng) thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện [23]
Trang 26* Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện
Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện về cơ bản các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cũng tương tự như quy hoạch lâm nghiệp tỉnh, tuy nhiên nó được thực hiện
cụ thể, chi tiết hơn và được tiến hành trên phạm vi địa bàn huyện Quy hoạch lâm nghiệp huyện đề cập giải quyết các vấn đề sau:
Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của huyện, căn cứ vào phương án phát triển lâm nghiệp của tỉnh và điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội, đặc biệt là điều kiện tài nguyên rừng của huyện để xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển trên địa bàn huyện
Căn cứ phương hướng phát triển lâm nghiệp huyện và điều kiện đất đai tài nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trong huyện theo 3 chức năng: sản xuất, phòng hộ và đặc dụng
Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng tài nguyên rừng hiện có
Quy hoạch các biện pháp tái sinh rừng: trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên Quy hoạch thực hiện nông lâm kết hợp và sản xuất hỗ trợ trên đất lâm nghiệp
Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn liền với thị trường tiêu thụ
Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong huyện, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội
Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải
Xác định tiến độ thực hiện
Thời gian quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện thường là 10 năm Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cũng cần phải phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế -
xã hội chung của từng tiểu vùng trong huyện [23]
* Quy hoạch lâm nghiệp cấp xã
Trang 27Xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất, đơn vị cơ bản quản lý và tổ chức sản xuất lâm nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân Quy hoạch lâm nghiệp trên địa bàn xã cần chi tiết cụ thể hơn và được tiến hành trong thời gian 5-10 năm Quy hoạch lâm nghiệp xã thường tiến hành các nội dung sau: Điều tra các điều kiện
cơ bản của xã có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp như: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tài nguyên rừng Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, căn cứ vào quy hoạch cấp huyện và các điều kiện cơ bản của
xã, xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên địa bàn xã Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng Xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa bàn xã Căn cứ vào phương hướng phát triển các điều kiện về nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác (nếu có) phân chia đất lâm nghiệp theo 3 chức năng sử dụng: Sản xuất, phòng hộ, đặc dụng Quy hoạch các nội dung sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng, bố trí không gian tổ chức các biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng: Bảo vệ và nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng và tái sinh phục hồi rừng, nông lâm kết hợp, khai thác, chế biến các loại lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu của địa phương và thị trường, quy hoạch các nội dung sản xuất hỗ trợ Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong xã gắn với phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các công trình phục vụ sản xuất và đời sống Ước tính đầu tư và hiệu quả: Ước tính đầu tư lao động tiền vốn, vật tư thiết bị Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá đầy đủ trên các mặt kinh tế - xã hội, môi trường Xác định tiến độ thực hiện [23]
Về cơ bản nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự như nhau Tuy nhiên mức độ giải quyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tùy theo các cấp
Với mục tiêu xây dựng và phát triển nền lâm nghiệp sản xuất hàng hóa đa dạng với nhiều thành phần kinh tế, đáp ứng lâu dài và ổn định nhu cầu gỗ, củi và
Trang 28các loại lâm sản khác, bảo vệ môi trường, phục vụ du lịch sinh thái, phát triển kinh
tế của xã, thị xã, tỉnh đóng góp một phần vào tổng giá trị sản phẩm kinh tế quốc dân Hình thành và phát triển các vùng nguyên liệu tập trung nhằm đảm bảo cung cấp tối đa nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến bột giấy và giấy, các cơ sở chế biến gỗ, ván thanh, ván dăm, cung cấp gỗ phục vụ nhu cầu xây dựng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, đồng thời áp dụng các biện pháp lâm sinh hữu hiệu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng, rút ngắn chu kỳ kinh doanh, nâng cao giá trị thu nhập trên mỗi đơn vị diện tích lâm nghiệp Đảm bảo độ che phủ rừng đạt trên 45 % trong những năm tới Để góp phần ổn định đời sống, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sắp xếp lại diện tích đất lâm nghiệp của xã một cách hợp lý là nhiệm vụ cấp thiết trong thời gian tới
Trang 29Chương 2 MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rừng và đất lâm nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Trên toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc
xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đánh giá thực trạng quản lý phát triển lâm nghiệp xã
- Đánh giá thực trạng quy hoạch SXLN và quyền sử dụng đất, sử dụng rừng
- Đánh giá vai trò tham gia của các bên liên quan trong phát triển lâm nghiệp
- Đánh giá tiềm năng tài nguyên đất, rừng và thực trạng sử dụng đất đai
- Thực trạng hệ thống cây trồng trong khu vực nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất lâm nghiệp
- Đánh giá thực trạng chế biến và sử dụng lâm sản tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá các chính sách có liên quan đến quy hoạch và phát triển lâm nghiệp đã và đang áp dụng tại địa phương
2.3.2.Nghiên cứu một số dự báo cơ bản liên quan đến công tác quy hoạch
- Dự báo về dân số
- Dự báo về nhu cầu sử dụng lâm sản
- Dự báo nguồn vốn đầu tư
- Dự báo nhu cầu về sử dụng đất
Trang 30- Dự báo định hướng phát triển của ngành và kinh tế xã hội địa phương liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
2.3.3 Đề xuất các nội dung phương án QHLN xã đến 2020
- Quy hoạch 3 loại rừng
+ Quy hoạch rừng đặc dụng
+ Quy hoạch rừng phòng hộ
+ Quy hoạch rừng sản xuất
- Quy hoạch rừng theo chủ quản lý
- Quy hoạch các biện pháp kinh doanh rừng
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp thực hiện phương án quy hoạch
- Các giải pháp về tổ chức, cơ chế chính sách, nguồn nhân lực và khoa học công nghệ
- Các giải pháp về quản lý sử dụng tài nguyên rừng
- Đề xuất giải pháp cụ thể cho từng loại rừng
- Tiến độ thực hiện QHLN xã giai đoạn 2010-2020
- Ước tính vốn thực hiện và hiệu quả đầu tư
+ Dự toán vốn thực hiện
+ Hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường
2.4 Phương pháp nghiên cứu
- Các tài liệu:
+ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, thị xã, xã
+ Các thể chế, chính sách và quy định của tỉnh, thị xã, xã có liên quan
+ Các chỉ tiêu, định mức kinh tế, kỹ thuật hiện hành của nhà nước
+ Các số liệu, tài liệu về tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên rừng và một số
dự báo liên quan
- Các loại bản đồ hiện trạng về sử dụng đất, quy hoạch 3 loại rừng, phân bố tài nguyên rừng, bản đồ thổ nhưỡng…
Trang 312.4.2 Sử dụng phương pháp điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)
-Trong phương pháp PRA đề tài sử dụng các công cụ: Phỏng vấn bán định hướng; biểu 02 mảng; sơ đồ Venn; sơ đồ SOWT; MARTRIE; sơ đồ hiện trạng sử dụng đất
-Thực hiện các công cụ này ở tất cả các thôn trong xã với sự tham gia từ
6-8 người cho 01 thôn, là những người có những hiểu biết, kinh nghiệm trong quản
lý PTLN đại diện cho cộng đồng, kết quả thảo luận được ghi chép đầy đủ, khách quan
2.4.3 Sử dụng phương pháp phúc tra thực địa tài nguyên rừng
- Thu thập số liệu ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn xã về các hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp
- Phúc tra trữ lượng rừng: Chỉ tiến hành phúc tra lại khi có sự biến động, sai khác lớn về trữ lượng hoặc có sự nghi ngờ về độ chính xác của số liệu Do đó, mỗi trạng thái rừng chỉ lập 3 ô tiêu chuẩn đại diện điển hình để tiến hành điều tra
* Đối với rừng tự nhiên: Lập ô tiêu chuẩn có diện tích S= 500m2
(25x20m), sau đó sử dụng thước kẹp kính, sào đo cao để đo đếm, xác định các chỉ tiêu về đường kính, chiều cao: D1 3; Hvn; Hdc; đo toàn bộ các cây có D1.3 ≥ 8 cm, kết quả ghi vào biểu phần phụ biểu 52
* Đối với rừng trồng: Diện tích mỗi OTC = 100m2
(10x10m), sau đó đo các chỉ tiêu: D1 3; Hvn; Hdc; đo toàn bộ các cây trong OTC, kết quả ghi vào biểu phần phụ biểu 09, 23, 36
* Điều tra đất: Mỗi trạng thái rừng tiến hành đào phẫu diện để xác định độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, tỷ lệ đá lẫn và đá mẹ…
* Điều tra tình hình sinh trưởng của cây tái sinh rừng, nguồn gốc tái sinh, loài cây, kết hợp với điều tra trên các ô tiêu chuẩn, diện tích mỗi OTC= 25m2
(5x5m), điều tra toàn bộ các cây tái sinh có trong OTC: về chiều cao, chất lượng, nguồn gốc cây tái sinh, kết quả ghi vào biểu phần phụ biểu 51
Trang 32+ Bản đồ hiện trạng tài nguyờn rừng
+ Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng
- Đỏnh giỏ hiệu quả kinh tế
Để đỏnh giỏ hiệu quả kinh tế của cỏc loại hỡnh kinh doanh sử dụng đất chỳng tụi sử dụng phương phỏp động
Coi cỏc yếu tố về chi phớ và kết quả mối quan hệ động với mục tiờu đầu tư, thời gian và giỏ trị đồng tiền
Tớnh toỏn trữ lượng rừng:
Khối l-ợng cây đứng Vcđ =
4
1416 ,
3 D12.3 Hdc f N
(f=0,5) Trong đú:
D1.3 – đường kớnh ở vị trớ 1,3 m (cm)
Hvn – chiều cao vỳt ngọn (m)
Hdc - chiều cao dưới cành (m)
f – độ thon của cõy
N – mật độ bỡnh quõn (cõy/ha) Cỏc chỉ tiờu kinh tế được tập hợp và tớnh toỏn bằng cỏc hàm: NPV, BCR, BPV, CPV,IRR trong chương trỡnh phần mềm Excel
- Giỏ trị hiện tại thuần tuý NPV: NPV là hiệu số giữa giỏ trị thu nhập và chi phớ thực hiện cỏc hoạt động sản xuất trong cỏc mụ hỡnh khi đó tớnh chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại
Ct Bt
0 ( 1 )
Trang 33Trong đó:
NPV: là giá trị hiện tại thu nhập ròng (đồng)
Bt: là giá trị thu nhập ở năm thứ t (đồng)
Ct: là giá trị chi phí ở năm t (đồng)
i: là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)
t: là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)
NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay các phương thức canh tác, NPV càng lớn thì hiệu quả càng cao
- Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR: IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu
tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu
IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV=0, tức là khi:
Ct Bt
0 ( 1 ) = 0 thì i = IRR
- Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR
BCR sẽ là một hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất
n
i
t t
i C i B
1
1
) 1 (
) 1 (
=
CPV BPV
Trong đó:
BCR là tỷ suất thu nhập và chi phí (đồng/đồng)
BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)
CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)
n là số đại lượng tham gia vào tính toán
Nếu mô hình nào hoặc phương thức canh tác nào có BCR > 1 thì có hiệu quả kinh tế BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao Ngược lại BCR < 1 thì kinh doanh không có hiệu quả
Trang 34Chương 3
TÌNH HÌNH CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Ngọc Thanh là xã miền núi nằm ở phía Bắc của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc cách đường Quốc lộ 2A khoảng 10 km về phía Đông Bắc, có tổng diện tích tự nhiên là: 7.731,14 ha chiếm 64,26 % diện tích tự nhiên của toàn thị xã Phúc Yên Toạ độ địa lý từ: 210
25” đến 210 30” độ vĩ Bắc và từ 105002” đến 105016” kinh độ Đông
Ranh giới hành chính xã Ngọc Thanh:
- Phía Bắc giáp với xã Thành Công, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Phía Đông giáp xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
- Phía Nam giáp xã Cao Minh và phường Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên
- Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc
Trên địa bàn xã có 3 tuyến đường liên xã chia theo 3 khu vực, tổng chiều dài
40 km, có 01 Hồ Đại Lải và 02 Đập chứa nước Xã Ngọc Thanh có vị trí rất thuận lợi là nơi tập trung nhiều các nhà đầu tư, doanh nghiệp và các khu du lịch, dịch vụ giải trí có tiềm năng vì vậy có điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trong thời gian tới [26]
3.1.2 Địa hình, địa mạo
Ngọc Thanh là một xã thuộc vùng đồi núi bán sơn địa, do vậy mang đặc trưng chung của vùng đất đồi núi chủ yếu là đất đỏ bazan trên bề mặt, tầng đất dưới
là lớp đá ong, đá xanh Những vùng đất thấp chủ yếu ở ven suối, ao hồ có địa hình bằng phẳng hơn, thành phần cơ giới nhẹ có lẫn nhiều mùn
Xã Ngọc Thanh có địa hình tương đối phúc tạp do hệ thống núi đồi xen lẫn cùng với suối, rạch nằm rải rác, khu vực phía Đông Bắc và Tây Nam thấp hơn khu
Trang 35trung tâm, ở hai vùng này địa hình tương đối bằng phẳng và só sự bồi đắp hàng năm
Diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm 56,71% tổng diện tích tự nhiên của
xã, chủ yếu là đồi núi thấp, giao thông đi lại thuận tiện do vậy rất thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp [26]
3.1.3 Khí hậu thuỷ văn
Xã Ngọc Thanh mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm chia thành hai mùa rõ rệt, nóng ẩm về mùa hè và giá lạnh về mùa Đông Mùa hè trùng với gió Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10 (nhiệt độ trung bình từ 22o
- 23,2oC, trung bình tối cao là 28,4oC, tối thấp là 16,1oC), trời nắng gắt, lượng mưa cao, cường độ mạnh, đôi khi có những đợt lốc xoáy cục bộ và mưa đá Mùa đông trùng với gió Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Trời rét, ít mưa, nhiệt độ thấp, về mùa Đông thường có những đợt gió mùa tràn về cách nhau từ 6-10 ngày, giữa đợt có xen 1 số ngày nắng ấm Trong 3 tháng 11, 12 và tháng 1 năm sau ẩm độ không khí thấp, nắng hanh đôi khi kèm theo sương muối Ngoài ra còn có gió Tây Nam (gió Lào) xuất hiện vào tháng 5-6-7 thường khô hanh và nóng
- Nhiệt độ: nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,5oC Nghiên cứu xác suất xảy ra các tháng lạnh nhất cho thấy: 28% tháng lạnh nhất tập trung vào tháng 12; 14% xảy ra vào tháng 2 và 58% xảy ra vào tháng 1 Nhiệt độ mùa đông không
ổn định, có sự giao động rất mạnh về thời gian bắt đầu và kết thúc, sự giao động này biểu hiện sự sai lệch về cường độ trị số giữa các năm và các tháng trong năm
- Độ ẩm: Ẩm độ không khí trung bình trên năm khá cao (từ 84 - 86%), chênh lệch giữa các tháng không lớn (4 - 7%) Ẩm độ tương đối có hai cực trị: Cực đại vào tháng 3 và tháng 4; cực tiểu vào tháng 11 và 12
- Lượng bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 824 mm, có giá trị cực đại trung bình vào tháng 5 (86 mm) và cực tiểu vào tháng 3 (52 mm)
- Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình năm là 1.641 mm, tháng có ngày mưa nhiều nhất là tháng 8 (16,8 ngày), tháng có ngày mưa ít nhất là tháng 11(7,5 ngày) Do ảnh hưởng của địa hình nên Ngọc Thanh có lượng mưa cao hơn lượng
Trang 36mưa trung bình của thị xã Phúc Yên Mặc dù tổng lượng mưa khá cao nhưng do tính chất, cường độ, và thời gian mưa phân bố không đồng đều, các tháng mùa đông lượng mưa ít, chủ yếu là mưa phùn Các tháng mùa hè mưa nhiều, có những ngày cường độ mưa đạt 200-300 mm, khả năng tiêu úng và thoát lũ hạn chế vì vậy thường gây ngập lụt ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân
- Thuỷ văn: Ngọc Thanh có 3 hệ thống suối cháy từ phía Bắc ra phía Nam và tập trung đổ ra hồ Đại Lải
+ Suối Đại Lộc có chiều dài chảy qua thôn Thanh Lộc, Bác Ái, Đồng Trầm, Tân An, Đồng Tâm, Đồng câu, tổng chiều dài là 12 km
+ Suối Thanh Cao chảy qua thôn Thanh Cao, Đồng Giảng, hồ Ngọc Thanh,
có tổng chiều dài 6,5 km
+ Suối Lập Đinh chảy qua thôn Lập Đinh, An Bình, có tổng chiều dài 7,5 km
Sự tập trung dòng chảy của 3 suối trên vào mùa lũ đã gây ra những trận lũ lớn phải xả Đập Hồ Đại Lải [26]
3.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng
Theo báo cáo đánh giá, phân hạng đất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc năm 2009, xã Ngọc Thanh có 4 nhóm đất chính:
- Đất phù sa (Fluvisols - FL) chiếm 50%:
Phân bố ở vùng đồng bằng, hạ du và chân đồi núi thấp, nhóm đất này thường
có màu nâu, nâu xám đến xám xanh nhạt; thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến nặng Nhìn chung đây là nhóm đất tốt, độ phì của đất ở mức trung bình đến khá, thích hợp với nhiều loại cây trồng như lúa, ngô, lạc, đậu, đỗ, các loại rau
Trang 37Phân bố rộng khắp ở tất cả các thôn trong xã và có mặt trên mọi dạng địa hình Nhóm đất này có 3 loại: Đất xám điển hình (Haplic Acrisols - Ach); Đất xám glây (Gleyic Acrisols - ACg); Đất xám Feralit (Fe rralic Acrisols - ACf)
Nhóm đất này có thành phần cơ giới nhẹ và trung bình, hàm lượng chất hữu
cơ tổng số ở mức trung bình và nghèo, đất có độ phì trung bình thấp đến trung bình khá Thích hợp với trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp
- Đất tầng mỏng (Leptosols - LP):
Phân bố ở dạng địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, nhiều đá lộ đầu, tập trung chủ yếu ở các thôn Thanh Lộc, Lập Đinh Nhóm đất này có: Đất tầng mỏng điển hình (Haplic Leptosols - LPh); Đất tầng mỏng điển hình chua (Dystri Haplic Leptosols - LPh-d)
Nhóm đất này rất xấu do bị rửa trôi, xói mòn mạnh, tuy nhiên vẫn còn có khả năng cải tạo để đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp, nhưng phải có sự đầu tư ban đầu cao Khi sử dụng đất này phải chú trọng khoanh nuôi, trồng cây che phủ chống xói mòn, cải tạo đất
3.1.5 Tài nguyên động thực vật rừng
- Thực vật rừng: Những năm trước đây do công tác quản lý bảo vệ rừng chưa được quan tâm, rừng bị tàn phá nghiêm trọng, kéo theo các loài thực vật cũng bị suy giảm đáng kể Theo các tài liệu điều tra về thực vật của Trạm Đa dạng sinh học
Mê LInh thuộc viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, Trung tâm Khoa học sản xuất lâm nghiệp Đông Bắc bộ thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt nam và một số tài liệu của các chương trình dự án thực hiện tại xã Hiện tại trên địa bàn xã Ngọc Thanh bước đầu xác định được 120 loài thực vật, bao gồm những cây cho gỗ và nhóm cây bụi, cây thảo, dây leo Trong đó rừng tự nhiên chủ yếu tập trung vào các
họ Dẻ (Fagaceae), đại diện là Sồi Phảng, Dẻ đỏ, Dẻ hương; họ Long Não (Lauraceae), Cà lồ, Vù hương, Lòng trứng; họ Đậu (Fabaceae), Lim xanh, ràng ràng mít, Lim xẹt…Rừng trồng có các loài Keo, Bạch đàn, Mỡ, Luồng, Thông Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp Đông Bắc bộ đã xây dựng được 50,0 ha vườn thực vật gồm gần 100 loài cây gỗ các loại [13]
Trang 38- Động vật rừng: Động vật rừng của xã Ngọc Thanh trước đây cũng tương
đối phong phú, tuy nhiên đi đôi với việc diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm nhanh chóng và sự tác động tiêu cực của con người đến tài nguyên rừng, nên hiện nay động vật rừng trên địa bàn xã số lượng chỉ còn khoảng trên 50 loài như: Lợn rừng, Hươu sao, Gà rừng, Nhím, Dúi, Rắn ráo, Rắn cạp nong, Chăn chuột, Cầy, Kỳ nhông…Các loại chim như: Chim ngói, Sẻ, Khướu, Ca ca, Cò…[13]
3.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội
3.2.1 Dân số và lao động
- Dân số của xã Ngọc Thanh là 11.083 người, tổng số hộ là 2.350 hộ (tính đến tháng 12/2010), trong đó nam: 6.234 người (chiếm 56,2%); nữ 4.849 người (chiếm 43,8%); Tỷ lệ tăng dân số là 1,2% Chủ yếu dân số sống ở vùng nông thôn, mật độ dân số bình quân toàn xã là 1.433 người/km2, thôn có có mật độ dân số cao nhất là thôn Đồng Giãng, thôn có có mật độ dân số thấp nhất là thôn Ngọc Quang
- Toàn xã có 2 dân tộc, chủ yếu là dân tộc Sán dìu chiếm 60%, còn lại là dân tộc kinh
- Tổng số lao động hiện có trên địa bàn toàn xã là 6.334 lao động, chiếm 57,15% dân số, trong đó lao động lâm nông nghiệp chiếm 85%; lao động công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm 7%; còn lại 8% lao động thuộc các ngành, lĩnh vực khác [27]
- Thu nhập:
Lương thực bình quân đầu người là 530 kg thóc/người/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt 5,3 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ đói nghèo theo tiêu chí hiện tại còn 14,4% [27]
3.2.2 Cơ sở hạ tầng
* Về mạng lưới giao thông
Trên địa bàn xã có 3 tuyến đường liên xã, tổng chiều dài 40 km đã được rải nhựa, đổ bê tông; có 4 tuyến đường liên huyện dài 23 km, hầu hết các tuyến mặt đường rải nhựa và đổ bê tông, mạng lưới đường giao thông nông thôn ở một số
Trang 39thôn trong xã hiện đang từng bước được bê tông hoá 100% số thôn có đường ô tô đến được [26]
Nhìn chung mạng lưới giao thông trong xã đến nay đã hình thành và phân bố tương đối hợp lý, tuy nhiên chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn quy định về cấp đường đề ra
* Thuỷ lợi:
Toàn xã có 03 công trình thuỷ lợi (chủ yếu là hồ, đập chứa nước) phục vụ sản xuấ nông lâm nghiệp và phục vụ du lịch sinh thái, đây cũng là các công trình có tác dụng phục vụ cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn Hệ thống thuỷ lợi của xã đang từng bước được đầu tư nâng cấp, tiến tới bê tông hoá 100% hệ thống kênh mương nhằm nâng cao hiệu quả tưới tiêu cho đồng ruộng
Các tuyến đường hồ Đại Lải, đập chứa nước thường xuyên được tu bổ sửa chữa và nâng cấp, đặc biệt là các tuyến đường Đại Lải để giữ nước cho hồ và thuận tiện cho tham quan du lịch
* Hệ thống điện: Tất cả các thôn trong xã có trạm biến áp, điện lưới sinh hoạt và 100% số hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia [26]
3.2.3 Văn hoá - xã hội
Toàn xã có 2 Trạm Y tế, có 01 bác sỹ, trạm y tế được kiên cố xây mới 100% đạt chuẩn theo quy định của quốc gia
Giáo dục đào tạo từng bước xã hội hoá, hệ thống trường lớp ổn định 03 trường tiểu học, 02 trường cấp 2, 10 trường mẫu giáo, mầm non được đầu tư xây mới kiên cố [27]
3.3 Đánh giá chung về tình hình cơ bản
Xã Ngọc Thanh có vị trí thuận lợi về giao thông tạo điều kiện tốt cho giao lưu kinh tế hàng hoá với các huyện, tỉnh lân cận và với thủ đô Hà Nội Có điều kiện khí hậu, đất đai tương đối phù hợp cho phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt là ưu thế phát triển cây lâm nghiệp, cây ăn quả phục vụ cho nhu cầu du lịch sinh thái và cung cấp gỗ xây dựng, nguyên liệu giấy, chất đốt và xuất khẩu
Trang 40Là xã nằm giáp với thủ đô Hà nội và gần với Quảng Ninh, Hải Phòng nên việc tiêu thụ sản phẩm rừng từ trồng rất thuận lợi, tuy nhiên chất lượng và năng suất của rừng chưa được cải thiện và nâng cao
Trong điều kiện quỹ đất của xã có hạn, để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của xã, cần phải xem xét một cách nghiêm túc việc lập quy hoạch,
kế hoạch, việc khai thác sử dụng đất theo hướng khoa học trên cơ sở tiết kiệm, hợp
lý và có hiệu quả cao
Đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong xã còn thấp, nông lâm nghiệp hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế (85%), sản xuất nông lâm nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên Đã có nhiều mô hình đầu tư phát triển nông lâm nghiệp, kinh tế trang trại, nhưng hiệu quả chưa cao, phát triển không bền vững
Nguồn lao động dồi dào, nhưng chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp, vì vậy vẫn phải thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đào tạo, sắp xếp lại lao động, thu hút lao động nhàn rỗi tại địa phương
Hệ thống cơ sở hạ tầng bước đầu đã hình thành nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đường bộ chưa đạt về tiêu chuẩn cấp đường, đường liên thôn chủ yếu là đường đất
Hệ thống văn hóa, y tế, giáo dục từng bước được cải thiện và nâng cao nhằm đáp ứng với nhu cầu phát triển chung của tỉnh, tuy nhiên cần có thêm bác sĩ, giáo viên mầm non có trình độ đại học về công tác tại xã để nâng cao chất lượng y tế, giáo dục trong trời gian tới