1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu

81 765 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------ HOÀNG ĐẠO TÚ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI TRE PHỔ BIẾN TẠI THÁI NGUYÊN LÀM CƠ SỞ LỰA CHỌN LOÀI PHÙ HỢP CHO TRỒ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

- -

HOÀNG ĐẠO TÚ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA

MỘT SỐ LOÀI TRE PHỔ BIẾN TẠI THÁI NGUYÊN LÀM CƠ SỞ LỰA CHỌN LOÀI PHÙ HỢP CHO TRỒNG RỪNG

NGUYÊN LIỆU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

- -

HOÀNG ĐẠO TÚ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA

MỘT SỐ LOÀI TRE PHỔ BIẾN TẠI THÁI NGUYÊN LÀM CƠ SỞ LỰA CHỌN LOÀI PHÙ HỢP CHO TRỒNG RỪNG

NGUYÊN LIỆU

CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC

MÃ SỐ: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Vũ Thị Quế Anh

Trang 3

THÁI NGUYÊN – 2011

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận án

Hoàng Đạo Tú

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn TS Vũ Thị Quế Anh, người đã hướng dẫn trực tiếp, chỉ đạo tận tình, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo Khoa Sau đại học, Phòng thí nghiệm trung tâm, Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng bàn bè đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn đến tập thể Ban lãnh đạo Chi Cục Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm Lâm, Chi cục Lâm Nghiệp tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi về cơ sở vật chất trong quá trình làm luận văn

Cuối cùng cho tôi gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè gần xa

đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành cuốn luận văn này

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011

Hoàng Đạo Tú

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.2 Biến động của rừng tre về diện tích và trữ lượng theo thời

gian

15

(D1,3>5cm)

55

4.9 Chỉ tiêu sinh trưởng một số loài tre tại xã Tân Dương

(D1,3>5cm)

56

4.11 Chỉ tiêu sinh trưởng một số loài tre tại xã Yên Trạch

(D1,3>5cm)

58

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

30

Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

33

Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

35

chiều cao(m) cây Tre gai trồng tại 3 vùng nghiên

cứu

59

tại 3 vùng nghiên cứu

60

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu 4

1.2 Nghiên cứu về tre trên Thế giới và Việt nam 7

1.2.1 Trên thế giới 7

1.2.2 Ở Việt Nam 12

Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 19

2.1.1 Về lý luận 19

2.1.2 Về thực tiễn 19

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 19

2.3 Nội dung nghiên cứu 19

2.4 Phương pháp nghiên cứu 20

Chương 3: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 24

3.1 Điều kiện tự nhiên 24

3.1.1 Vị trí địa lý 24

3.1.2 Địa hình 25

3.1.3 Địa chất thổ nhưỡng 26

3.1.3 Khí hậu, thủy văn 27

3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 28

3.2 Kinh tế xã hội 28

3.2.1 Đặc điểm dân cư, dân tộc 28

3.2.2 Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp 29

3.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 30

3.3.1 Xã Linh Thông huyện Định Hóa 30

3.3.2 Xã Tân Dương huyện Định Hóa 33

Trang 8

3.3.3 Xã Yên Trạch huyện Phú Lương 35

3.4 Đánh giá chung về khu vực nghiên cứu 38

3.4.1 Thuận lợi .38

3.4.2 Khó khăn 38

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

4.1 Đặc điểm phân bố tre ở Thái Nguyên 40

4.2 Hiện trạng sử dụng các loài Tre tại khu vực Thái Nguyên .49

4.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số loài tre trên một số điều kiện lập địa khác nhau ở tỉnh Thái Nguyên .54

4.3.1 Đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre tại xã Linh Thông huyện Định Hóa 54

4.3.2 Đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre tại xã Tân Dương huyện Định Hóa 55

4.3.3 Đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre tại xã Yên Trạch huyện Phú Lương 57

4.4.Kết luận chung về đặc điểm sinh trưởng tre giữa các khu vực nghiên cứu 58 4.5 Đề xuất một số loài tre phù hợp cho mục đích trồng rừng nguyên liệu 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

Kết luận 66

Kiến nghị 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

Thế giới có hơn 1.200 giống tre Ở khu vực châu Á, nghiên cứu về tre và trồng rừng mạnh nhất là Trung Quốc Việt Nam có địa hình kéo dài với hai hệ thực vật khác biệt rõ rệt: ở miền Bắc là tre liên quan đến phả hệ Trung Quốc, trong khi miền Nam gắn với phả hệ Indonesia và Malaysia Giá trị kinh tế của tre đã được biết đến nhiều trong chế biến thực phẩm, xây dựng, làm hàng nội thất, thủ công mỹ nghệ Nhưng giá trị về mặt môi trường còn lớn hơn nhiều,

do khả năng hấp thụ Carbon của Tre là rất cao Trồng tre thành rừng trên đất đồi trọc sẽ giúp chống xói mòn, đồng thời có thể ghóp phần giảm khí thải nhà kính và ghóp phần hạn chế hiện tượng nóng lên toàn cầu

Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm Tre đã gắn liền với đời sống của rất nhiều người dân Đây là nhóm loài có tiềm năng lớn trong việc cung cấp nguyên liệu cho nghành chế biến lâm sản Không thể kể

cây tre dùng để làm nhà, lợp mái Trong công nghiệp: cây tre dùng để sản xuất ra giấy, chất đốt diesel có thể lấy từ cây tre Trong nông nghiệp: cây tre làm ổn định đất trồng và bón phân cho đất Trong y học: lá tre dùng để chữa một số bệnh như bệnh ngứa, bệnh chảy máu, bệnh hen suyễn Trong thực phẩm: búp non của cây tre có thể ăn được gọi là măng.Trong âm nhạc: cây tre dùng để làm ra các nhạc cụ âm nhạc như: đàn tơ-rưng, sáo, đàn gió Trong thủ công mỹ nghệ: cây tre dùng để làm ra các sản phẩm trang trí nhà cửa rất đẹp và tiện dụng như: khung tranh ảnh, bát, đĩa, khay, bàn, ghế, giường, tủ Và cuối cùng, cây tre là nguồn thu nhập của rất nhiều người trên toàn thế giới So với các loài cây gỗ, Tre có ưu điểm đặc biệt là tăng trưởng nhanh, tuổi khai thác sớm, có thể khai thác 5-6 năm sau khi trồng với năng suất khá cao (4-12 tấn/ha/năm) và luân kỳ khai thác ngắn Hàng năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 400-500 triệu cây tre nứa cho các mụ đích khác nhau

Theo công bố về hiện trạng rừng toàn quốc của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn năm 2009, diện tích rừng gỗ là 8.235.838 ha, như vậy trong

Trang 11

năm 2009 đã có thêm 29.202 ha diện tích rừng này so với năm 2008 Tuy nhiên, diện tích rừng tre nứa bị thay đổi trong năm 2009 là - 11.809 ha, chỉ còn 621.454 ha Với diện tích như vậy sẽ là thách thức lớn cho việc cung cấp nguyên liệu cho khoảng 200 nhà máy như: Nhà máy giấy Bãi Bằng, nhà máy giấy Lửa Việt ở Phú Thọ, nhà máy giấy Sơn La, nhà máy giấy Sông Lam,

chính sách khuyến khích phát triển ngành mây tre, trong đó có biện pháp miễn giảm thuế sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư đầu tư trồng rừng nguyên liệu mây, tre và áp dụng thuế suất nhập khẩu 0% đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng cho sản xuất hàng mây tre trong nước chưa sản xuất được theo danh mục do Bộ Công thương ban hành Quyết định này cũng nêu rõ việc hỗ trợ 100% kinh phí từ ngân sách nhà nước để thực hiện việc điều tra trữ lượng, diện tích các giống mây tre, ứng dụng công nghệ sinh học vào các khâu bảo quản, chế biến (Quyết định số 11/2011/QĐ-

TTg về chính sách khuyến khích phát triển ngành mây tre)

Thái Nguyên là một trong những địa phương có diện tích rừng Tre và rừng hỗn giao Tre nứa ít Tổng diện tích rừng tre nứa và rừng hỗn giao tre nứa 2,545 ha chủ yếu có nguồn gốc là rừng tự nhiên tập trung ở các huyện Định Hóa, Phú Lương và Võ Nhai (Báo cáo kết quả điều tra hiện trạng rừng tre 7 tỉnh miền núi phía bắc năm 2008)[22], trong đó diện tích rừng Tre còn trữ lượng tập trung nhiều hơn ở 2 huyện Định Hóa và Phú Lương Việc tìm ra những loài Tre các phù hợp với điều kiện tiểu khí hậu và đất đai nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trong khu vực và giúp người dân địa phương có nguồn thu nhập ổn định từ rừng và kinh doanh rừng là mục tiêu vô cùng quan trọng cho phát triển vùng Để có thể đề xuất được loài tre phù hợp có thể trồng và phát triển tại khu vực phục vụ cho kinh doanh rừng nguyên liệu và tăng sinh kế của người dân miền núi Thái Nguyên, chúng tôi

tiến hành đề tài cấp bộ “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài

Trang 12

Tre phổ biến tại Thái Nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu”.

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu

* Đặc điểm nhận biết

Tre là tập hợp của các loài thực vật thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) hay có khi còn gọi là (Gramineae) Tre thường có đặc tính sinh trưởng giống như cây thân gỗ, tuy nhiên có đặc trưng là thân thường rỗng, có hệ thân ngầm, phân cành khá phức tạp và hệ thống mo thân Đặc điểm phân biệt với các loài song mây hoặc cau dừa là hầu hết các loài song mây, cau dừa đều có thân đặc và mềm dẻo, còn tre nói chung có thân rỗng (trừ một số loài ngoại lệ như giang đặc) Do không có cấu tạo tượng tầng nên tre không hình thành vòng năm như ở cây gỗ Có một thân chính hình trụ, thẳng và thường cong ở phần ngọn [17]

* Đặc điểm sinh học và sinh thái học

Do tre không có một thân chính như thân cây gỗ nên thân ngầm là một bộ phận đặc biệt của cây, nơi giữ cho cây đứng vững, ổn định và là nơi tạo nên các thân cây mới, Thân ngầm có cấu tạo cơ bản giống như thân khí trên mặt đất, chỉ khác

là có lóng ngắn, vách rất dày hoặc thân đặc hoàn toàn, hệ rễ phát triển và các bộ phận thường có mầu trắng [17]

Thân được chia làm ba loại chính: Thân ngầm mọc cụm thân rất ngắn không thể

bò lan ra, chồi từ thân ngầm sẽ phát triển thành cây mới mọc gần nhau tạo thành các bụi, các khóm Thân khí sinh thường có hình trụ và nhiều lóng rỗng, độ dài của các lóng trên thân không giống nhau và thường có màu xanh hoặc xanh lục, nhạt hoặc thẫm Cành có cấu tạo giống như thân khí sinh, đốt thân là nơi phát sinh cành Sự hình thành cành trên các đốt kế tiếp thường theo hướng đối xứng hoặc so le nhau

Trang 13

Lá có hai loại phục vụ cho hai mục tiêu khác nhau Loại thứ nhất làm nhiệm vụ bảo vệ măng, thân cây non là mo thân gồm bẹ mo, phiến mo, tai mo và lưỡi mo hay thìa lìa Loại thứ hai làm nhiệm vụ quang hợp, tổng hợp vật chất nuôi cây gọi là lá quang hợp gồm phiến lá, bẹ lá, cuống lá, lưỡi lá và tai lá [18]

Mỗi hoa nhỏ gồm có mày ngoài và mày trong, tương đương với phiến lá bắc

và phiến lá bắc nhỏ Mày ngoài bao lấy mày trong, nhiều gân Mày trong bao lấy các bộ phận khác của hoa nhỏ, lưng có 2 gờ Hoa lưỡng tính được tạo thành do 3 bộ phận: Mày cực nhỏ, nhị và nhụy Mày cực nhỏ thường 3 chiếc, chất màng trong suốt hay chất thịt phình lên, mép thường bị xẻ Nhị thường 3 hay 6 chiếc, chỉ nhị hình sợi, tách rời nhau hay gốc dính nhiều hay ít Bầu thượng, 1 ô, 1 noãn, vòi nhỏ Đầu nhuỵ thường 2-3 chiếc, ít khi 1 hay nhiều tới 4-5 chiếc, lông bề mặt đầu nhuỵ dạng ống nhỏ, phẳng nhẵn hay nổi lên dạng núm hoặc dạng lông vũ [15]

Quả tre không mở, chỉ có 1 hạt, thường là quả thóc hay quả dĩnh, như Trúc

cần câu (Phyllostachys sulphurea), Mạy sang (Dendrocalamus

membranaceus),vỏ quả mỏng, dính liền với vỏ hạt, phôi nhũ chưa nhiều tinh

bột, vị trí phôi nằm ở phía dưới phôi nhũ, đối diện phía ngoài, bên kia là rốn hạt dạng máng

Hạt các loài tre, bất kể là loại quả thóc hay loại phi quả thóc Hạt loại quả kiên (một phần), quả mọng không có phôi nhũ Vỏ hạt các loài tre đều rất mỏng, thường chỉ có 1 lớp tế bào Hạt các loại tre thuộc 2 nhóm có phôi nhũ và không có phôi nhũ Hạt loại quả thóc thường có phôi nhũ rõ rệt [16]

* Phân bố địa lý

Tuy diện tích, trữ lượng và số loài có khác nhau nhưng nơi nào ở Việt Nam cũng có tre Diện tích Tre phân bố trong các vùng ở Việt Nam được thể hiện ở bảng 1.1

Trang 14

Bảng 1.1.Tre phân bố ở các vùng tại Việt Nam

Chi tre chủ yếu

Thuần loại tre

Tre - Gỗ hỗn giao Đông bắc

91 323.149 334.113 30.036 370.404

176.449 57.218

80 172.999 210.343 27.519 144.613

132.745 42.503

0 99.110 123.770 2.517 225.686

13.695 8.665

11 51.040

0

0

105

1,2,3,4 1,2,3,4 1,2 1,2,3,4,5 1,5 1,5 1,2,5

(Nguồn số liệu kiểm kê rừng Việt Nam năm 1999)

Nhìn vào bảng 1.1 Tre phân bố ở các vùng tại Việt Nam, xếp theo thứ tự diện tích và trữ lượng thì đáng quan tâm nhất là vùng Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, Đông Nam Bộ rồi đến Tây Bắc Một số loài tre phổ biến cho các vùng được thể hiện ở bảng 1 (xem phụ lục)

* Giá trị

Quan niệm về loài tre chủ yếu: là những loài tre được sử dụng rộng rãi trong

đời sống hàng ngày (đồ dùng hàng ngày, vật liệu xây dựng, cây cảnh…) hoặc dùng nhiều làm nguyên liệu trong công nghiệp chế biến, thủ công mỹ nghệ hoặc có ý nghĩa đặc biệt (quí, hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn nguồn gen…) Nếu là loài mọc tự nhiên thì có số lượng khá lớn trong tự nhiên, nếu là loài gây trồng thì được nhiều người ưa thích, nếu là loài có ý nghĩa đặc biệt thì được người ta quan tâm

Tre mọc ở khắp mọi nơi, dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm khai thác, dễ chế biến và có nhiều đặc tính phù hợp với yêu cầu sử dụng của con người, nên nó

Trang 15

thường được sử dụng cho các mục đích chính sau:

- Làm vật liệu xây dựng: Thân cây lớn làm cột nhà, xà nhà, đòn tay Các loài thân to hay vừa có vách mỏng thì dùng làm sàn nhà, vách nhà Trong các công trình xây dựng vừa và tre nhỏ được sử dụng làm cọc đóng cho nền móng bền vững, cột chống, cốp pha, ngoài ra tre còn làm nguyên liệu cho sản xuất giấy

- Làm thực phẩm: Một số loài tre cho măng ăn rất ngon như: măng mai, măng luồng, măng tre ngọt, măng mạy lay, măng nứa, măng đắng…Đây là nguồn thực phẩm quan trọng, vừa là nguồn thu nhập thường xuyên của người dân miền núi Ngoài tiêu thụ măng tươi mỗi ngày, người dân còn sử dụng một số loài như mậy hốc, lồ ô, nứa làm măng khô có thể bảo quản lâu dài và vận chuyển dễ dàng

- Phục vụ mục tiêu văn hóa: Một số loài được trồng làm cây cảnh, cây trang trí các công viên, công sở, gia đình như: Tre bụng phật, tre vàng sọc, tre đùi

Trang 16

Về mặt địa lý, phân bố của tre trên toàn thế giới có thể chia làm 3 vùng: Vùng tre Châu Á - Thái Bình Dương, Châu Mỹ và Châu Phi Trong mỗi vùng hay mỗi nước có thể chia thành nhiều vùng phụ tuỳ theo khí hậu và các dạng tre

Về mặt phân loại, cho đến nay việc phân loại tre vẫn chưa thực sự chính xác, nguyên nhân là do tính đa dạng về loài, cũng như đặc tính ra hoa không thường xuyên của nhiều loài tre Năm 1868 Munro lần đầu tiên đã đưa ra hệ thống phân loại tre với 120 loài thuộc 21 chi, chúng được chia làm 3 nhóm

Cơ sở của hệ thống phân loại này là số lượng nhị hoa và cấu trúc quả Late Bentham (1883) đã đưa cơ sở vào hệ thống phân loại của Munro và bổ sung thêm một số tiêu chuẩn khác như: Cấu trúc bông hoa, cụm hoa cũng như kiểu phát sinh hoa, để xây dựng bảng phân loại tre của mình với 4 nhóm phụ là: Arundinarieae, Bambuseae, Dendrocalameae và Melocanneae Đây là hệ thống phân loại tre phổ thông nhất và đặt nền móng cho các bước phát triển, hoàn thiện việc phân loại tre sau này Các nước phát triển ngày càng coi trọng cây tre và ưa thích các loại sản phẩm chế biến từ tre Ở các nước Đông Á, nơi được coi là quê hương của cây tre, đang có xu hướng quay trở lại sử dụng loại vật liệu có nhiều đặc tính quý báu này trong mọi mặt của đời sống Ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ tre đã ra đời và đang phát triển mạnh ở một số nước Châu Á Đi đầu trong những nước này là Trung Quốc Tre và các loại cây thuộc họ tre phát triển chủ yếu ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc, những năm gần đây xuất khẩu hơn nửa triệu mét vuông mỗi năm Mỗi hécta trồng tre chất lượng cao đem lại thu nhập 15.000 USD mỗi năm cho người nông dân Trung Quốc Các tác phẩm mỹ thuật tinh xảo được dệt thủ công từ sợi tre (được chẻ nhỏ và chế biến bằng công nghệ hiện đại) được xuất sang thị trường Singapore gần đây với số lượng đáng kể Trái với quan niệm trước đây

là cây tre làm đất bạc màu, kết quả nghiên cứu do Viện Nghiên cứu và Phát triển sinh thái (trụ sở ở Lugana, Philippines) cho thấy cây tre đã cải tạo thành công ở những vùng đất bị tro núi lửa Pinatubo huỷ hoại Cây tre có sức sống mãnh liệt ở cả những vùng đất bạc màu, cằn cỗi hay đất bị ô nhiễm Viên

Trang 17

nghiên cứu này cũng khẳng định bộ rễ của cây tre có tác dụng ổn định nhất, chống xói mòn đất, chống xói lở bờ sông, tre mọc ken dày có thể làm giảm cường độ của gió, giảm sự tàn phá của những cơn bão và gió lốc Người Nhật

đã từng trồng thí nghiệm tre trên một vùng đất ở gần Hiroshima -thành phố bị tàn phá bởi bom nguyên tử năm 1945 Cây tre đã đâm chồi trên đất nhiễm phóng xạ ở đây sau khi được trồng vài tháng Một phương pháp sử dụng chất bảo quản có nguồn gốc thiên nhiên mới cũng được các nhà khoa học Nhật phát minh gần đây, khi mà trong quá trình nghiên cứu xử lý tre dùng làm đồ nội thất và làm thùng chứa, họ vô tình phát hiện một chất có khả năng chống ôxy hoá mạnh có trong vỏ cây tre [35]

Ở Triều Tiên từ xa xưa cũng đã sử dụng tre, nứa trong đời sống Loại muối tre

có tên là Chukyom được dùng ở nước này từ khoảng 1.000 năm, loại muối này còn được hoà tan vào nước dùng như một thứ thuốc chữa bệnh đau dạ dày Người ta cho muối vào ống tre, dùng một loại đất sét đặc biệt bịt kín lại rồi nung trong nồi đất kín trong một khoảng thời gian xác định thu được một hỗn hợp Hỗn hợp này hiện còn được chế biến, đưa cả vào kem đánh răng Indonesia, đất nước có nhiều tương đồng với VN về văn hoá Một số nơi ở nước này, như ở đảo Bali đang phát triển trồng và chế biến tre Tre đã được sử dụng để làm những căn nhà cao tới 8 m (dùng kèm với các loại vật liệu nhẹ khác) - một dạng nhà kính khung tre, và một số đồ nội thất khác như bàn máy tính bằng tre Một tổ chức có tên là Tre bảo vệ môi trường đã ra đời ở đảo Bali nhằm cổ vũ cho việc trồng tre và sử dụng sản phẩm từ tre trong đời sống

Tổ chức này hiện có hơn 80 giống tre đã và đang cung cấp rất nhiều cây giống tới nhiều vùng ở Indonesia, cùng với phương pháp chăm sóc tre với những ưu điểm là giá thành thấp, có khả năng chống côn trùng, nấm mốc cho tre Tổ chức này tin rằng mình đang đi đúng hướng, khi mà hiện nay nhu cầu tiêu thụ

gỗ toàn thế giới đang lớn hơn mức cung, và cứ mỗi ngày lại có thêm nhiều cánh rừng biến mất Cũng dùng tre để làm nhà, nhưng ở Hồng Kông còn có những ngôi nhà cao tới 40 tầng đã được dựng với vật liệu chủ yếu là tre

Trang 18

Trong tương lai gần ở Hồng Kông sẽ mọc lên nhiều ngôi nhà có khung bằng tre đã qua xử lý đặc biệt

Nước nhiều tre nhất là Trung Quốc, với khoảng 50 chi và 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre Nước nhiều tre thứ hai là Nhật Bản với 13 chi, trên

230 loài và diện tích 0,1 triệu ha rừng tre.Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các nước Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Trần Ngọc Mão và nhóm tác giả, 2006)

Thái Lan có nhiều nhà máy chế biến sản phẩm tre Sản phẩm phụ của một số nhà máy như thế lại trở thành nguyên liệu cho dân trong vùng nơi có nhà máy chế tạo đồ thủ công mỹ nghệ và đồ dùng sinh hoạt hàng ngày Tre cũng được trồng từ lâu ở Nepan, ấn Độ, và ngày càng được coi trọng vì độ bền và tính hiệu dụng trong cuộc sống người dân ở đây Nước ta cũng như một số nước quanh vùng đang sử dụng các cây thuộc họ tre làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy

Bước sang thế kỷ 20, Holttum (1946, 1956) đã mở rộng và xây dựng hệ thống phân loại tre, dựa trên cơ sở chủ yếu là cấu trúc bầu nhuỵ, ông đã chia các chi

thành 4 nhóm: Schizostachyum, Oxytenanthera, Bambusa - Dendrocalamus

và Arundinaria Năm 1986, Clayton và Renvoize đã đưa ra bảng phân loại với

49 chi của Bambusoideae và được chia ra 3 nhóm phụ là: Arundinarinae Benth, Bambusinae Presl và Melocanninae Reichenb Cơ sở của hệ thống phân loại này là dựa trên các đề nghị của Holttum (1956), mà tiêu chuẩn căn bản là cấu trúc của bầu nhuỵ và các phần phụ của nó [25]

Năm 1987, Soderstrom và Ellis đã đề nghị một hệ thống phân loại, dựa trên

cơ sở các đặc điểm về cấu tạo giải phẫu lá, cấu trúc bông hoa, kiểu hoa và quả Hai ông đã đưa ra 54 chi tre được sắp xếp trong 9 nhóm phụ và 5 chi chưa xác định chính xác Những năm tiếp theo đã có nhiều nghiên cứu về phân loại và bổ sung một số loài, chi thuộc các nhóm phụ khác nhau vào hệ thống phân loại trên, như Stapleton (1991, 1994), Dransfield (1992) Widjaja (1987), Wong (1993)

Trang 19

Theo Huberman (1959) Tre là một quần hợp sống thành cụm ở rừng ẩm thường xanh, rừng ẩm và rừng khô rụng lá Mặc dù chỉ được coi như những cây tầng dưới thứ yếu trong các loại rừng này trong kinh doanh rừng, nhưng trên thực tế các loài tre có tầm quan trọng trong đời sống của nhiều triệu dân địa phương Ở nhiều vùng nhiệt đới của Châu Á, mức độ quan trọng củaTre được xếp ngay sau gạo Công dụng của Tre rất đa dạng từ việc thỏa mãn nhu cầu thức ăn cho con người, đến việc sử dụng trong xây dựng, làm ống nước,

rổ rá, túi xách và sản xuất giấy Các phương thức lâm sinh áp dụng cho rừng Tre nứa chủ yếu được thực hiện ở khu vực Châu Á, thường tương đối đơn giản và thường dựa vào các đặc điểm lâm học của Tre Các cây trưởng thành được khai thác và các cây tái sinh mới được hình thành từ hệ thân ngầm, phương thức đơn giản này có thể áp dụng cho mọi đối tượng hoặc loại rừng Chỉ sau khi ra hoa (khuy), thường là sau chu kỳ dài tất cả các thân ngầm đều

bị chết héo, thì Tre tái sinh từ hạt [21]

Cuốn kỷ yếu hội thảo quốc tế về Tre tổ chức tại Cochin, Ấn Độ năm 1988 đã tổng kết nhiều bài báo khoa học về các lĩnh vực: bảo tồn, quản lý tre, sinh trưởng năng suất và các vấn đề về nhân giống cũng như sâu bệnh hại Tre của các tác giả Ấn độ và các tác giả trong khu vực có tre nứa (I.V Ramanuja Rao,

R Gnanaharan, Cherla B Sastry, 1988) [30]

Nghiên cứu về vai trò của các loài Tre trong diễn thế thứ sinh sau canh tác

nương rẫy ở vùng thấp Đông Bắc Ấn Độ, K.S Rao and P.S Ramakrishna

(2001) thấy rằng Tre là tập đoàn cây chiếm ưu thế trên dạng lập địa này trong thời gian dài nhờ vào đời sống dài và khả năng sinh trưởng nhanh của chúng

Các loài Tre phổ biến ở khu vực ĐB Ấn Độ Dendrocalamus hamiltonii,

Neohouzeua dulloa và Bambusa khasiana Sự thay đổi về mật độ, kiểu sống

và khả năng thích ứng của chúng với điều kiện môi trường giúp chúng có sự

ổn định quần thể Ái lực mạnh đối với Cation, đặc biệt là kali giúp cho việc

bảo tồn các nhân tố này Các nghiên cứu nhận thấy rằng Tre đóng vai trò hết

Trang 20

sức quan trọng trong diễn thế rừng đặc biệt giúp bảo tồn nguồn dinh dưỡng,

nhân tố quan trọng trong quản lý rừng phục hồi tại Đông Bắc Ấn [25]

Wang, K và C Hsueh (1994) tóm lược các hiểu biết về sinh thái và môi trường sống của Tre là yêu cầu cơ bản để phát triển phương thức lâm sinh và khai thác bền vững nguồn tài nguyên này Thêm vào đó thông tin về sinh thái

và quần thể cung cấp cơ sở cho những cai thiện về lâm sinh Tre có 2 loại thân rễ chính là thuộc loại theo cụm hoặc mọc đơn Thân rễ là cấu trúc tự nhiên bền vững và được sử dụng để phân loại Tre Tre nhiệt đới hầu hết thuộc

hệ thống cụm và tre ôn đới thường mọc đơn Dựa vào các tiêu chí này tác giả phân rừng Tre ở Yunnan Trung Quốc thành 3 dạng, Rừng Tre ôn đới, Rừng

Tre á nhiệt đới và nhiệt đới [32]

1.2.2 Ở Việt Nam

Tre ở Việt Nam đã đựơc sử dụng rộng rãi từ lâu đời trong xây dựng, đặc biệt

là xây dựng nhà ở các vùng nông thôn Tre dùng trong xây dựng từ việc sử dụng làm cọc móng, giàn dáo, các kết cấu cần chịu lực đến sàn, trần, mái nhà, vách ngăn, khung nhà để xuất khẩu ước tính số lượng tre được sử dụng trong xây dựng chiếm tới 50% sản lượng khai thác hàng năm Trong giao thông tre được sử dụng làm thuyền, phao và cầu; trong khai thác mỏ tre được

sử dụng để chèn hầm lò; trong nông nghiệp tre được sử dụng làm nông cụ Rất nhiều đồ dùng thông thường trong mỗi gia đình người Việt Nam như giường, chiếu, bàn, ghế, mành, thúng, mủng, rổ, rá, đến đũa ăn, tăm xỉa răng đều làm bằng tre Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, nhạc cụ từ tre ngày càng nhiều và đã trở thành nhu cầu lớn ở trong nước và quốc tế Lượng tre dùng vào những việc này tuy không thống kê được cụ thể nhưng ước tính cũng chiếm khoảng 25-30% sản lượng khai thác hàng năm Trong công nghiệp tre làm nguyên liệu và được sử dụng dưới dạng thanh, dăm hoặc sợi, bột Ván ép làm từ tấm cót đan, dăm hoặc thanh tre được nhúng tẩm keo rồi dán ép với áp suất và nhiệt độ cần thiết để ván có kết cấu bền vững, đủ đáp ứng yêu cầu sử dụng như làm trần nhà, vách ngăn, sàn nhà, ốp tường, mái

Trang 21

che… Sợi tre do có những ưu điểm về độ dài và độ mềm dẻo hơn nhiều so với sợi gỗ nên rất thích hợp để làm nguyên liệu sản xuất bột giấy, nhất là loại giấy chất lượng cao

Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về diện tích tre nứa, với 194 loài thuộc 26 chi, trong đó có 80 loài đã tạm thời được định danh, còn lại là các loài chưa có tên hoặc có các loài/phân loài mới Dự đoán, nếu được thống kê đầy đủ số loài tre của Việt Nam có thể lên 200- 250 loài Năm 2001 theo công bố của Chương trình Tổng kiểm kê rừng toàn quốc, Việt Nam có 789.221ha rừng tre thuần loại, 702.871ha rừng hỗn giao tre nứa tự nhiên, cộng với trên 70.000 ha rừng tre trồng và hàng trăm triệu cây tre trồng phân tán Tre đựơc sử dụng rộng rãi trong xây dựng, đặc biệt là ở các vùng nông thôn; từ việc sử dụng làm cọc móng, giàn dáo, các kết cấu cần chịu lực đến sàn, trần, mái nhà, vách ngăn, khung nhà để xuất khẩu ước tính số lượng Tre được sử dụng trong xây dựng chiếm tới 50% sản lượng khai thác hàng năm Vì vậy trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, nhóm Tre có vị trí được quan tâm Kết quả hội thảo

"Xác định loài cây trồng rừng và chọn loài ưu tiên" tại các vùng lâm nghiệp cũng đã chọn "Tre" là loài cây trồng ở tất cả các vùng (Nguyễn Tử Ưởng, 1995)

Quá trình khảo sát đã phát hiện ra một số chi được coi là mới đối với nước ta

là chi Giang (Maclurochloa) với 17 loài, chi Tre quả thịt (Melocalamus) với

10 loài, chi Tre Bidoup (Kinabaluchloa) có 1 loài Một số loài mới được phát hiện là Tre lông Bidoup (Kinabaluchloa) có đặc điểm ngoại hình giống loài cùng chi ở Malaixia (Wong, 1995); trúc dây Bidoup (Ampelocalamus) có ngoại hình giống như trúc dây Ba Bể; nhiều loài nứa (Schizostachyum), le (Gigantochloa) và lồ ô (Bambusa) Một số chi có nhiều loài là chi Tre (Bambusa) có 55 loài, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài, chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài và chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài

Trang 22

Qua một số năm điều tra khảo sát (2003-2006), Trần Văn Tiến và Nguyễn

Hoàng Nghĩa (2007) đã xác định được phân tông tre (Bambussinae) ở Việt Nam hiện nay có 8 chi: chi Tre (Bambusa), chi Le Bắc Bộ (Bonia), chi Luồng (Dendrocalamus), chi Le (Gigantochloa), chi Tre lông (Kinabaluchloa), chi Giang (Maclurochloa), chi Tre quả thịt (Melocalamus), chi Tầm vông (Thyrsostachys) mà các chi này có các loài mới hoặc mới ghi nhận ở Việt

Nam Dựa trên một số đặc điểm hình thái hoa của 37 loài thuộc 5 chi cũng như các cơ quan dinh dưỡng nhằm giới thiệu một số đặc điểm dễ nhận biết và

xây dựng khoá phân loại các chi thuộc phân tông tre (Bambusinae) ở Việt

Nam

Nhu cầu về tre nứa ở nước ta ngày càng tăng, trong khi đó diện tích tre nứa tự nhiên đang suy giảm nhanh chóng, do vậy trong Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng tre nứa cũng được chọn để trồng rừng để tạo vùng nguyên liệu cho chế biến phục vụ nội tiêu và xuất khẩu Đỗ Văn Bản (2006) đã giới thiệu

một số loài Tre thông dụng cho trồng rừng như Dendrocalamus aff giganteurs

Munro, Dendrocalamus aff latifflorus Munro, Dendrocalamus aff pachuystachys Hsueh et D.Z.Li, Dendrocalamus aff pachuystachys Hsueh et D.Z.Li, Dendrocalamus longivaginus sp.nov., Bambusa sinospinosa

McClure, Dendrocalamus minor (McClure), Phyllostachys hetercycla (Carr.) Mitford, Bambusa bicorniculata sp nov., Dendrocalamus barbatus Hsuch et

D Z Li, Dendrocalamus yunnanicus Hsuch et D Z Li,…

Bảng 1.2 Biến động của rừng tre về diện tích và trữ lượng theo thời gian

Diện tích (ha)

Trữ lượng (triệu cây)

Rừng hỗn giao Gỗ -Tre

Rừng thuần loại tre

Trang 23

(Nguồn Báo cáo kiểm kê rừng năm 1983, 1990, 1999)

Theo công bố của Chương trình Tổng kiểm kê rừng toàn quốc năm 2011, Việt Nam có 789.221 ha rừng tre thuần loại, 702.871 ha rừng hỗn giao tre nứa tự nhiên, cộng với trên 70.000 ha rừng tre trồng và hàng trăm triệu cây tre trồng

phân tán

Trong thực tế, nhiều rừng gỗ sau khai thác đã bị tre xâm lấn trở thành rừng gỗ -tre, nhiều diện tích rừng gỗ - tre trước đây do tiếp tục chặt cây gỗ nên còn lại thuần loại tre và nhiều diện tích rừng tre bị khai thác tuỳ tiện trở nên nghèo kiệt thậm chí chỉ còn lại đất trống Vì vậy, các loại rừng tre trong các lần kiểm

kê không những thay đổi về số lượng (diện tích, trữ lượng), chất lượng (sản lượng, phẩm chất cây) mà còn chuyển đổi về không gian

Trong những năm gần đây việc trồng tre để kinh doanh đã đựơc đẩy mạnh hơn nhất là thành phần kinh tế hộ gia đình Trong tổng số 73.516 ha rừng tre trồng thì rừng sản xuất là 60.482ha chiếm 82%, có 69.278 ha rừng cấp tuổi hai chiếm 94% và diện tích do gia đình và tập thể quản lý là 62.905 ha chiếm 85,6 %

Trong kế hoạch 5 năm (1991 đến 1995), đề tài cấp nhà nước mang mã số KN03-12 do PGS.TS Nguyễn Đình Hưng làm chủ nhiệm có đề mục "Tài nguyên tre và song mây", do hạn chế về kinh phí nên chỉ tiến hành điều tra trên một số điểm ở một số tỉnh trọng điểm tập trung nhiều tre như Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Thái, Thanh Hoá, Đồng Nai, Sông Bé và đã thu thập được 130 bộ tiêu bản thực vật tre (mỗi bộ tiêu bản loài gồm tiêu bản lá,

mo, đoạn thân không cành, đoạn thân có cành, hoa quả (nếu có) và ghi chép

số liệu chiều cao cả cây, chiều cao không cành, đường kính tán lá, chiều dài lóng, bề dầy thân, trọng lượng thân tươi…của cây cỡ trung bình) và một số ảnh minh hoạ Những tiêu bản tre được bảo quản tại phòng tiêu bản thực vật Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, đã sơ bộ giám định và xếp vào 13 chi cho 121 bộ tiêu bản, 9 bộ tiêu bản còn lại chưa được xếp chi Sơ bộ giám định tên khoa học đến loài được 37 loài (62 bộ tiêu bản) còn lại 68 bộ tiêu bản

Trang 24

chưa được giám định tên khoa học Tồn tại của đề mục này là hiện trường điều tra còn hẹp ở một số tỉnh thuộc vùng Trung Tâm Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ

và Đông Nam Bộ Khó khăn lớn nhất khi nghiên cứu Tre là việc giám định tên khoa học vì trong nước chưa có chuyên gia đi sâu về phân loại tre, nên còn nhiều mẫu vật chưa được giám định đến tên loài và cũng chưa được kiểm tra lại Đây cũng chính là tồn tại của đề mục này

Từ 2001 đến năm 2003 phòng nghiên cứu tài nguyên thực vật rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành điều tra các loài Tre ở hầu hết các tỉnh trong cả nước, thu được 223 mẫu vật các loài tre (các mẫu vật này đang được lưu giữ tại Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam), giám định tên khoa học được 22 chi 122 loài Trong những loài đã thu thập được cũng có khoảng 10 loài trong số" 19 loài tre ưu tiên cao để Quốc tế có hành động" và

có khoảng 6 loài trong" 18 loài tre khác được Quốc tế ghi nhận là quan trọng"

Trong 2 năm 2004 – 2005, PGS.TS Nguyễn Hoàng Nghĩa cùng hai chuyên gia phân loại tre Trung Quốc là GS Li Dezhu, Phó Viện trưởng Viện thực vật

học Côn Minh, Vân Nam (chuyên gia chi Dendrocalamus) và GS Xia Nianhe (chuyên gia chi Bambusa) tiếp tục cộng tác nghiên cứu với các nhà nghiên

cứu tre trúc ở nước ta tiếp tục nghiên cứu định danh các loài tre nứa hiện có của Việt Nam ban đầu đã đưa ra danh sách gồm 194 loài của 26 chi tre trúc Việt Nam Phần lớn trong số đó là chưa có tên Một số chi có nhiều loài là chi

Tre gai (Bambusa) có 55 loài thì có tới 31 loài chưa có tên, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài với 5 loài chưa định tên, chi Le (Gigantochloa)

có 16 loài với 14 loài chưa có tên, chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài với 8 loài chưa có tên và chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài thì có tới 11 loài

Trang 25

Thuận), Nứa Núi Dinh (Bà Rịa - Vũng Tàu), Nứa đèo Lò Xo (Đắc Glei, Kon Tum), Nứa lá to Saloong (Ngọc Hồi, Kon Tum), Nứa không tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa có tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa Bảo Lộc (Bảo Lộc, Lâm Đồng – mô tả để so sánh) Các tác giả đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, sinh thái của từng loài cụ thể

Đồng thời nhóm nghiên cứu phát hiện ra 6 loài tre quả thịt dựa trên cơ sở cấu tạo hình thái và giải phẫu hoa quả, sáu loài tre quả thịt đã được mô tả và định danh để tạo nên một chi tre mới cho Việt Nam, đó là chi Tre quả thịt

(Melocalamus) Các loài đã được nhận biết là Dẹ Yên Bái (Melocalamus

yenbaiensis), Tre quả thịt Cúc Phương (M cucphuongensis), Tre quả thịt Kon

Hà Nừng (M kbangensis), Tre quả thịt Lộc Bắc (M.blaoensis), Tre quả thịt Pà

Cò (M pacoensis) và Tre quả thịt Trường Sơn (M.truongsonensis)

Cũng trong đợt khảo sát này, Nguyễn Hoàng Nghĩa và nhóm nghiên cứu đã phát hiện thêm một loài nứa mới cho Việt Nam có tên là Nứa Sapa

(Schizostachyum chinenseRendle) được tìm thấy trong rừng lá rộng thường

xanh của Vườn Quốc gia Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai), tác giả đã mô tả về đặc điểm hình thái, sinh học của loài

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng tre nứa ở Việt Nam còn nhiều điều

bí ẩn ngay đằng sau các con số Rất có thể những bí ẩn này sẽ được giải đáp vào một tương lai không xa Và chắc chắn rằng sẽ còn có nhiều loài tiếp tục được định tên, nhiều loài được phát hiện đóng góp thêm vào sự phong phú về tre nứa sẵn có của Việt Nam Chúng ta có quyền hy vọng rằng, một hoặc nhiều loài trong số đó sẽ là những loài mới được bổ sung cho khoa học Việt Nam và thế giới

Các nghiên cứu về kỹ thuật lâm sinh tương đối phong phú Các nghiên cứu tập trung các vấn đề nhân giống, khảo nghiệm, kỹ thuật gây trồng, kỹ thuật chăm sóc và khai thác các loại riêng biệt Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ chú trọng vào một số loài có giá trị kinh tế cao và trồng tập trung (ví dụ luồng, tre điền trúc ), trong khi còn rất nhiều loài rất có tiềm năng phân bố trong rừng

Trang 26

hỗn giao tre nứa khắp Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu vì các mục tiêu khai thác sử dụng, cũng như đa dạng sinh học và bảo tồn

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: Rừng Tre, hỗn giao tre gỗ tự nhiên

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu:

Theo vào báo cáo tổng kết hàng năm (từ năm 2005 đến năm 2010) của Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Thái Nguyên về việc cấp giấy phép khai thác tre nứa và lâm sản ngoài gỗ thuộc rừng trồng, rừng tre, rừng hỗn giao tre gỗ tự nhiên tập trung chủ yếu ở khu vực phía bắc tỉnh Thái Nguyên là huyện Định Hóa, huyện Phú Lương

Dựa vào bản đồ quy hoạch 3 loại rừng, bản đồ thiết kế trồng rừng chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại 3 khu vực có rừng tre, hỗn giao tre gỗ tự nhiên gồm

Trang 27

xã Tân Dương huyện Định Hóa, xã Yên Trạch huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đã thực hiện các nội dung nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu đặc điểm phân bố tre ở Thái Nguyên

- Nghiên cứu hiện trạng sử dụng các loài Tre tại khu vực Thái Nguyên

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số loài Tre trên một số điều kiện lập địa khác nhau ở tỉnh Thái Nguyên

- Kết luận chung về đặc điểm sinh trưởng tre giữa các khu vực nghiên cứu

- Đề xuất lựa chọn một số loài tre phù hợp cho mục đích trồng rừng nguyên liệu

2.4 Phương pháp nghiên cứu

* Thu thập thông tin thứ cấp

Công việc được thực hiện đầu tiên là thu thập thông tin: Các kết quả nghiên cứu, các vấn đề lý thuyết liên quan vấn đề nghiên cứu cũng như các tài liệu về tài nguyên tre tại Thái Nguyên Nguồn tài liệu là sách báo: Các công trình đã công bố, tạp chí, các trang web điện tử, báo cáo khoa học và tài liệu của địa phương nơi điều tra

Các thông tin cơ bản như: Điều kiện kinh tế, xã hội và điều kiện tự nhiên khu vực, các nghiên cứu đã thực hiện Đặc biệt là các thông tin về điều kiện lập địa, khí hậu đất đai

*Phỏng vấn bán cấu trúc

Sử dụng để thu thập thông tin bằng việc phỏng vấn thông qua các danh mục các vấn đề cần hỏi, trong nghiên cứu tác giả sẽ sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc kết hợp với điều tra thực địa để nghiên cứu đặc điểm phân bố

và hiện trạng sử dụng các loài Tre tại khu vực nghiên cứu Một danh mục các vấn đề cần hỏi được phát triển để phục vụ cho phỏng vấn thay cho một bảng hỏi cố định trong quá trình phỏng vấn người phỏng vấn sẽ tiến hành đặt ra những câu hỏi để thu thập các thông tin mở rộng về sử dụng và các thông tin hữu ích liên quan đến đề tài Việc tổ chức phỏng vấn được tiến hành lựa chọn

Trang 28

những thời điểm người dân thư nhàn, tạo ra sự thân thiện với người dân nhằm

thu thập được lượng thông tin là nhiều nhất, hữu ích nhất (xem phụ lục 01)

Đối tượng phỏng vấn là người dân địa phương có nhận quản lý rừng thứ sinh hỗn giao tre nứa, cán bộ nông lâm xã và kiểm lâm, số lượng người phỏng vấn xác định sau khi khảo sát thực tế

*Điều tra đánh giá sinh trưởng và tiềm năng của Tre

Sau khi nghiên cứu tài liệu hiện có của tỉnh Thái Nguyên về diễn biến tài nguyên rừng, lựa chọn các điểm nghiên cứu cụ thể Tại các khu vực nghiên cứu được lựa chọn, tiến hành sơ thám hiện trường dựa vào bản đồ khu vực 1:10000 để xác định các tuyến điều tra song song với đường đồng mức với cự

ly giữa các tuyến là 50 -150 m tùy thuộc vào đặc điểm địa hình khu vực nghiên cứu

Trên các tuyến điều tra lập các ô tiêu chuẩn diện tích 400 m2 (ô cấp I) (20 m

x 20 m) theo hệ thống với tổng số ô được tính theo phương pháp điều tra lâm phần Mỗi ô 400 m2 chia làm 4 ô diện dích 100 m2(ô cấp II)(10m x 10m) (xem hình 1)

20 m

20m Hình 2.1: Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn

Trang 29

a) Trong ô 400 m2, ghi chép các thông tin cơ bản: Hướng phơi, độ dốc, địa hình, hiện trạng và điều tra tất cả các cây (D1,3 >=5 cm),

Xác định về các chỉ tiêu:

- Tên cây, nếu chưa xác định được thì lấy mẫu để đem đi giám định

- Đường kính ngang ngực bằng thước dây

- Chiều cao cây sử dụng thước sào

- Đường kính tán hoặc độ che phủ

Kết quả thu được ghi vào biểu 02 (xem phụ lục 2)

b) Trong ô 100 m2 tiến hành đo đếm tre nứa mỗi ô chỉ chọn 1 cây sinh trưởng bình thường để đo chiều cao để xác định chiều cao trung bình của cụm

Trường hợp tre nứa mọc phân tán: Xác định tên loài tre nứa và đếm số cây trong ô theo 3 tổ tuổi (non, vừa và già)

Trường hợp mọc thành cụm bụi: Xác định tên loài và số bụi và đếm số cây theo 3 tổ tuổi (non, vừa và già)

Kết quả thu được ghi vào biểu 03 (xem phụ lục 3)

* Điều tra đánh giá đất

Trong mỗi ô tiêu chuẩn cấp I đào một phẫu diện, trong đó mô tả các đặc điểm

lý tính của đất Lấy đất ở độ sâu 10 cm và 50 cm để phân tích các thành phần hóa tính đất như: Mùn, NPK, PH tại phòng thí nghiệm trung tâm của ĐHNL Thái Nguyên

* Phân tích và xử lý số liệu

Đối với các thông tin thu thập được sau khi điều tra cần được xử lý, phân tích

để có được kết quả theo yêu cầu nghiên cứu đặt ra Từng loài thông tin sẽ có phương pháp xử lý khác nhau cụ thể như sau:

Những thông tin từ tài liệu thứ cấp: Sau khi tài liệu được thu thập thì chọn lọc phần tài liệu có chứa các nội dung hoặc thông tin mà liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trang 30

Tất cả số liệu thu thập được sau điều tra được phân tích và xử lý theo phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp

Chương 3 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Trang 31

Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng rừng tỉnh Thái Nguyên năm 2005

Thái Nguyên là tỉnh miền núi, trung du, nằm ở giới hạn từ 20º20' đến 22º03'

vĩ tuyến Bắc và từ 105º28' đến 106º14' kinh tuyến Ðông, cách thủ đô Hà Nội 80,4 km về phía Bắc

- Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn,

- Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang,

- Phía Nam giáp thành phố Hà Nội,

- Phía Ðông giáp tỉnh Lạng Sơn

Trang 32

Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích đất tự nhiên là 3.541,10 km2, chiếm 1,08

% tổng diện tích tự nhiên cả nước Các đường giao thông quan trọng như đường quốc lộ 3 nối Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng tới biên giới Việt - Trung; quốc lộ 1b nối Thái Nguyên - Lạng Sơn; quốc lộ 37 nối Tuyên Quang - Thái Nguyên - Bắc Giang Tuyến đường sắt Hà Nội-Thái Nguyên dài 32 Km trên đất Thái Nguyên; đường sắt Quán Triều - Núi Hồng dài 33,5 Km; đường sắt Lưu Xá - Kép dài 10 Km trên đất Thái Nguyên Các đường sông chính là sông Công và sông Cầu Sông Công có cảng Ða Phúc, đây là tuyến vận tải đường sông nối Thái Nguyên với thành phố Hải Phòng và

tỉnh Quảng Ninh, sông Cầu là trục sông chính chảy từ Bắc đến Nam của tỉnh

Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, Thái Nguyên

là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng

là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội

Trang 33

3.1.3 Địa chất thổ nhưỡng

Bảng 3.1 Cơ cấu sử dụng đất của Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích là 354.655 ha Đất núi chiếm 48,4% diện

Macma, đá biến chất và trầm tích Đất núi thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng kinh doanh nhưng cũng

cao

Đất đồi chiếm 31,4% diện tích tự nhiên chủ yếu hình thành trên cát kết, bột kết phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo Đây là vùng đất xen giữa nông

và lâm nghiệp Đất đồi tại một số vùng như Đại Từ, Phú Lương ở từ độ cao

và cây ăn quả lâu năm, đặc biệt là cây chè (một đặc sản của Thái Nguyên) Đất ruộng chiếm 12,4% diện tích đất tự nhiên, trong đó một phần phân bố dọc theo các con suối, rải rác, không tập trung, chịu sự tác động lớn của chế độ thủy văn khắc nghiệt (lũ đột ngột, hạn hán ) khó khăn cho việc canh tác

3.1.4 Khí hậu thuỷ văn

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN Ha Cơ cấu (%)

354,655.25 100.00 Đất sản xuất nông nghiệp 93,681.62 26.41 Đất lâm nghiệp có rừng 165.106,51 46,55

Trang 34

* Khí hậu

Khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:

huyện Võ Nhai

phố Thái Nguyên và Thị xã Sông Công

Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng

10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp

Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 8: 29,4°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,1°C) là 14,3°C Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm

1458 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm

* Thuỷ văn

Thái Nguyên có 2 sông chính là:

- Sông Công : có lưu vực 951 km2 bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định Hóa chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng mưa lớn nhất của tỉnh Thái Nguyên Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành Hồ

nước

- Sông Cầu : Lưu vực sông Cầu có dòng chính là sông Cầu với chiều dài

290 km bắt nguồn từ núi Văn Ôn (Vạn On) ở độ cao 1.170 m và đổ vào sông Thái Bình ở Phả Lại Trong lưu vực sông Cầu có tới 26 phụ lưu cấp một với tổng chiều dài 670 km và 41 phụ lưu cấp hai với tổng chiều dài 645 km và hàng trăm km sông cấp ba, bốn và các sông suối ngắn dưới 10 km Lưu vực sông Cầu nằm trong vùng mưa lớn (1.500 - 2.700 mm/năm) của các tỉnh Bắc

Trang 35

Chế độ thuỷ văn của các sông trong lưu vực sông Cầu được chia thành 2 mùa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9 và chiếm 70-80% tổng lưu lượng dòng chảy trong năm Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau, chỉ chiếm 20-30% tổng lưu lượng dòng chảy của năm

3.2 Kinh tế xã hội

3.2.1 Đặc điểm dân cư, dân tộc

Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 8 dân tộc sinh sống, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh chiếm 75,5%; dân tộc Tày chiếm 10,7%; dân tộc Nùng chiếm 5,1%; dân tộc Sán Dìu chiếm 2,4%, dân tộc Mông chiếm 2,79%, dân tộc Dao chiếm 2,1%; dân tộc thiểu số khác chiếm khoảng 1,8%

Dân cư phân bố không đều, vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt, trong khi đó ở thành thị và đồng bằng dân cư lại dày đặc Mật độ dân số thấp nhất

là huyện Võ Nhai 76 người/km ², cao nhất là thành phố Thái Nguyên với mật độ 1.378 người/km ² Tại hai huyện nghiên cứu là Định Hóa và Phú Lương mật độ dân cư ở mức trung bình là 170 ngườikm2 (Định hóa) và 290 người/ km2 (Phú Lương)

Tính đến hết năm 2002, tỉnh Thái Nguyên đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 9 huyện, thị xã, thành phố với 180 xã, phường, thị trấn trên địa bàn Tỷ lệ người biết chữ chiếm 94,1% Số học sinh phổ thông trên địa bàn năm học 2001-

2002 là 243.647 người Số giáo viên trực tiếp giảng dạy ở các trường phổ thông là 11.192 người Số thầy thuốc làm việc trong các cơ sở y tế nhà nước đến 2002 là 2.843 người Bình quân y, bác sỹ trên 1 vạn dân là: 26 người

3.2.2 Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp

Bảng 3.2 Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh Thái Nguyên

Trang 36

Năm Trồng trọt (%) Chăn nuôi (%) Dịch vụ (%)

(Nguồn: Niêm giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2009)

3.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

3.3.1 Xã Linh Thông huyện Định Hóa

Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý:

Hình 3.2 Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã Linh Thông

huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

- Xã Linh Thông nằm ở phía bắc huyện Định Hóa

Trang 37

- Phía Bắc giáp huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn

- Phía Tây giáp huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn

- Phía Đông giáp xã Lam Vĩ

- Phía Nam giáp xã Quy Kỳ

Địa hình xã Linh Thông gồm đất đồi núi chiếm 70% diện tích tự nhiên, có

chất và trầm tích Đất núi thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng kinh doanh

Đặc điểm thời tiết – Khí hậu thuỷ văn

Xã Linh Thông nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình năm: 23,2oC Nhiệt độ tối cao là: 33,0oC Nhiệt độ tối

nhất: 319,4 mm Trung bình tháng thấp nhất: 4,5 mm Độ ẩm bình quân năm

là 82% Độ ẩm cao nhất: 89% Độ ẩm thấp nhất: 77%

Trên địa bàn xã có nhiều con suối nhỏ bắt nguồn từ các khe núi cao, là thượng nguồn của sông Cầu

Đặc điểm đất đai và thổ nhưỡng

Đất đai xã Linh Thông chủ yếu là đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá mẹ biến chất và đất Feralit vàng phát triển trên đá mác ma axit Độ sâu tầng đất trên 40 cm, đất có thành phần cơ giới thị trung bình

Tình hình dân sinh kinh tế xã hội

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Linh Thông là 2.900 ha Trong

đó, diện tích các loại đất như sau:

* Đất nông nghiệp: 158 ha

- Đất trồng cây hàng năm: 135 ha

- Đất trồng cây lâu năm: 23 ha

Trang 38

* Đất lâm nghiệp: 2.097 ha

* Đất thổ cư và đất khác: 645 ha

Linh Thông là một xã nghèo của huyện Định Hóa gồm 13 thôn, trong đó số

hộ nghèo là 240 hộ/ tổng số hộ là 678 hộ Mức độ đói nghèo xã còn nhiều khó khăn, thời gian gần đây xã đã giảm được tỷ lệ đói nghèo nhưng vẫn ở mức cao Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 35% Nguồn thu nhập chính chủ yếu là nông, lâm nghiệp ( Trồng rừng ), chăn nuôi kinh tế hộ gia đình, dịch vụ vừa và nhỏ, mức thu nhập còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước Cuộc sống của nhân dân chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp, sản phẩm chưa được đa dạng phong phú và có giá trị kinh tế chưa cao

Thu nhập từ nông nghiệp chiếm 70% Chủ yếu là sản xuất cây lương thực Còn lại là các ngành nghề khác như dịch vụ, tiểu thương, khai khoáng …

Xã có tổng số 678 hộ với 2.990 nhân khẩu Thành phần dân tộc gồm có 8 dân tộc anh em chung sống đó là: Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sán chay, Hoa và Dao

Cơ sở hạ tầng

Giao thông vận tải: Hệ thống giao thông gồm các tuyến đường liên xóm và đường nội thị đã rải nhựa tương đương đường cấp VI miền núi đi lại thuận lợi Còn các đường liên thôn chủ yếu là đường đất và đường cấp phối nhỏ Xã đã có trường học, trạm, trạm y tế Tới nay đã có 95% số hộ có điện

và 50% số hộ được sử dụng nước sạch

3.3.2 Xã Tân Dương huyện Định Hóa

Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý:

Trang 39

Hình 3.3 Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã Tân Dương

huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

Xã Tân Dương nằm ở phía Đông Nam huyện Định Hóa

- Phía Bắc, phía Đông giáp xã Tân Thịnh huyện Định Hóa

- Phía Tây giáp xã Phượng Tiến huyện Đính Hóa

- Phía Nam giáp huyện Phú Lương

Địa hình xã Tân Dương chủ yếu là núi đất Độ cao tuyệt đối trung bình từ

300 -350 m so với mực nước biển

Trang 40

Đặc điểm thời tiết - Khí hậu thuỷ văn

Nhiệt độ trung bình năm là 23,4oC Nhiệt độ tối cao là 32,5oC Nhiệt độ tối

nhất là 319,4 mm Trung bình tháng thấp nhất là 3,5 mm Độ ẩm bình quân năm là 83% Độ ẩm cao nhất là 90% Độ ẩm thấp nhất là 77% Tân Dương có nhiều con suối nhỏ bắt nguồn từ các khe núi:

Đặc điểm đất đai và thổ nhưỡng

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Tân Dương là 2.156 ha Trong đó:

Tân Dương có tổng số 3.253 nhân khẩu/841 hộ Trong đó trong độ tuổi lao động 2.169 người Tỷ lệ hộ nghèo nhưng vẫn ở mức cao 28% Cuộc sống của nhân dân chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp

Thành phần dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sán chay, Hoa và Dao Trong đó dân tộc Tày chiếm 60%

Cơ sở hạ tầng

Giao thông vận tải: Hệ thống giao thông gồm các tuyến đường liên xã và đường liên huyện đã rải nhựa tương đương đường cấp VI miền núi đi lại thuận lợi Còn các đường liên thôn chủ yếu là đường đất và đường cấp phối Tại xã có: Trường trung học cơ sở, trường tiểu học, trạm y tế, 95% số hộ được sử dụng điện và 70% số hộ sử dụng nước sạch

3.3.3 Xã Yên Trạch huyện Phú Lương

Vị trí địa lý và địa hình

Ngày đăng: 19/09/2014, 19:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1.Tre phân bố ở các vùng tại Việt Nam                      Diện tích - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Bảng 1.1. Tre phân bố ở các vùng tại Việt Nam Diện tích (Trang 14)
Bảng 1.2 Biến động của rừng tre về diện tích và trữ lượng theo thời gian - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Bảng 1.2 Biến động của rừng tre về diện tích và trữ lượng theo thời gian (Trang 22)
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn (Trang 28)
Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng rừng tỉnh Thái Nguyên năm 2005 - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng rừng tỉnh Thái Nguyên năm 2005 (Trang 31)
Bảng 3.1 Cơ cấu sử dụng đất của Thái Nguyên - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Bảng 3.1 Cơ cấu sử dụng đất của Thái Nguyên (Trang 33)
Hình 3.2 Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã Linh Thông   huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Hình 3.2 Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã Linh Thông huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (Trang 36)
Hình 3.3 Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã Tân Dương   huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Hình 3.3 Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã Tân Dương huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên (Trang 39)
Hình 3.4 Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã Yên Trạch  huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Hình 3.4 Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã Yên Trạch huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (Trang 41)
Bảng 4.1 Diện tích rừng tre tỉnh Thái Nguyên phân theo 3 loại rừng - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Bảng 4.1 Diện tích rừng tre tỉnh Thái Nguyên phân theo 3 loại rừng (Trang 46)
Bảng 4.2. Các loài tre nứa phân bố trong khu vực - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Bảng 4.2. Các loài tre nứa phân bố trong khu vực (Trang 47)
Bảng 4.3. Lịch mùa vụ khai thác một số loài tre tại khu vực nghiên cứu            Tháng âm - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Bảng 4.3. Lịch mùa vụ khai thác một số loài tre tại khu vực nghiên cứu Tháng âm (Trang 53)
Bảng 4.4 cho ta thấy, các loài hiện nay được người dân đánh giá có giá trị cao  chủ yếu là các loài được gây trồng từ lâu đời (Bương phấn, tre gai…) - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Bảng 4.4 cho ta thấy, các loài hiện nay được người dân đánh giá có giá trị cao chủ yếu là các loài được gây trồng từ lâu đời (Bương phấn, tre gai…) (Trang 55)
Bảng 4.5. Diện tích trồng tre nứa tại địa phương - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Bảng 4.5. Diện tích trồng tre nứa tại địa phương (Trang 56)
Bảng 4.6. Kết quả phân tích phẫu diện đất tại xã Linh Thông, Định Hóa - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Bảng 4.6. Kết quả phân tích phẫu diện đất tại xã Linh Thông, Định Hóa (Trang 57)
Bảng 4.7. Chỉ tiêu sinh trưởng một số loài tre tại Linh Thông (D1,3>5cm)  Loài  Đường kính trung - nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài tre phổ biến tại thái nguyên làm cơ sở lựa chọn loài phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu
Bảng 4.7. Chỉ tiêu sinh trưởng một số loài tre tại Linh Thông (D1,3>5cm) Loài Đường kính trung (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w