1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên

128 864 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 3,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay phong trào trồng cây ăn quả tăng nhanh và có chiều hướng phát triển mạnh, cây ăn quả cùng với một số cây công nghiệp, cây đặc sản khác đang được đánh giá là cây trồng quan trọng

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

…………***………

Hoàng Thị Thủy

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA MỘT SỐ GIỐNG BƯỞI ĐẶC SẢN ĐƯỢC TRỒNG TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 60 62 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGÔ XUÂN BÌNH

Thái Nguyên - Năm 2011

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy hướng dẫn khoa học, nhiều cơ quan, đơn vị, các đồng nghiệp và bạn bè Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:

1 Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Sau đại học, Khoa Nông học, Khoa Công nghệ sinh học của trường đã dành cho tôi những điều kiện hết sức thuận lợi và đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi nâng cao trình độ và hoàn thiện luận văn

2 Ban lãnh đạo, đồng nghiệp Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi có cơ hội phấn đấu trong công tác cũng như trong sự nghiệp nghiên cứu của mình

3 Các anh chị công nhân tại vườn, trang trại xã Tức tranh, huyện Phú Lương cùng bạn bè cùng học tập và nghiên cứu

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy hướng dẫn: PGS.TS Ngô Xuân Bình - Trưởng Khoa Công nghệ sinh học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn giúp tôi nâng cao trình độ và hoàn thành bản luận văn này

Thái Nguyên, ngày 22 tháng 9 năm 2011

Tác giả

Hoàng Thị Thuỷ

Trang 3

Tên tôi là: Hoàng Thị Thuỷ

Học viên cao học khóa 17 - Chuyên ngành: Trồng trọt Niên khóa 2009-2011 Tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên

Đến nay tôi đã hoàn thành luận văn nghiên cứu cuối khóa học

Tôi xin cam đoan:

- Đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện;

- Số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực;

- Các kết luận khoa học của luận văn chưa từng ai công bố trong các nghiên cứu khác;

- Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc;

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên

Thái Nguyên, ngày 22 tháng 9 năm 2011

Người làm cam đoan

Hoàng Thị Thuỷ

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang

2.2 Nguồn gốc của cam quýt, lịch sử nghề trồng cam quýt và các vùng

2.2.1 Nguồn gốc và lịch sử trồng cam quýt trên thế giới 4 2.2.2 Các vùng trồng cam quýt chủ yếu trên thế giới 6 2.3 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam 11 2.3.1 Thực trạng phát triển cam quýt ở Việt Nam 11 2.3.2 Các vùng trồng cam quýt chủ yếu ở Việt Nam 17 2.3.3 Những khó khăn trong việc trồng cam quýt ở nước ta 22 2.4 Một số hiểu biết cơ bản về cây cam quýt 23

2.4.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu bưởi ở Việt Nam 24

2.5 Những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến một số

2.5.1 Những vấn đề về sinh trưởng và ra hoa của cam quýt 34 2.5.2 Ảnh hưởng của quá quá trình thụ phấn đến năng suất, chất

2.5.3 Hiện tượng đa phôi ở cam quýt và ứng dụng 38

PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Trang 5

3.4.2.3 Mối tương quan giữa tỷ lệ C/N và năng suất của cây bưởi

3.4.2.4 Đặc điểm sinh sản hữu tính liên quan đến khả năng đậu quả

4.1 Đặc điểm hình thái và sinh trưởng của 5 giống bưởi đặc sản 47 4.1.1 Đặc điểm hình thái thân, cành, lá, hoa 47 4.1.1.1 Đặc điểm hình thái thân, cành 47

4.1.1.4 Các giai đoạn sinh trưởng của các giống bưởi đặc sản 51 4.1.2 Tình hình ra lộc của các giống bưởi 52 4.1.2.1 Đặc điểm sinh trưởng của lộc hè năm 2010 52 4.1.2.2 Đặc điểm sinh trưởng của lộc thu năm 2010 54 4.1.2.3 Đặc điểm sinh trưởng của lộc đông năm 2010 56 4.1.2.4 Đặc điểm sinh trưởng lộc xuân năm 2011 58 4.1.2.5 Đặc điểm sinh trưởng của lộc hè năm 2011 60 4.1.3 So sánh chiều dài và đường kính lộc hè, lộc thu, lộc đông 62 4.2 Đặc điểm hoa, quả của các giống bưởi thí nghiệm 64 4.2.1 Đặc điểm quả của các giống bưởi thí nghiệm 65 4.2.2 Đánh giá một số chỉ tiêu quả giống bưởi thí nghiệm 47 4.3 Nghiên cứu được mối tương quan C/N, đánh giá khả năng cho năng

4.3.1 Đặc điểm phân tích sinh hoá của quả bưởi diễn 65 4.3.2 Nghiên cứu mối tương quan giữa C/N 66 4.4 Nghiên cứu quá trình sinh sản hữu tính liên quan đến khả năng đậu

quả ở cây bưởi Phúc Trạch (CITRUS GRANDIS) 70

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

4.4.2 Khả năng tạo hạt của các tổ hợp thụ phấn trên giống bưởi Phúc

4.4.3 Sức nẩy mầm của hạt phấn của các giống sử dụng làm nguồn

hạt phấn trong các tổ hợp thụ phấn với cây bưởi Phúc Trạch 72 4.4.4 Kết quả đánh giá quá trình thụ tinh thông qua quan sát sinh

5.1.2 Đặc điểm hoa, quả của các giống bưởi đặc sản 81 5.1.3 Mối tương quan C/N của giống bưởi Diễn 81 5.1.4 Đặc điểm sinh sản hữu tính liên quan đến khả năng đậu quả

của cây bưởi Phúc Trạch (CITRUS GRANDIS)

81

Trang 7

123a, b, bc a, b, c, ab, bc so sánh SAS

LS Vị trí 1/3 phía dưới vòi nhụy hoa phần tiếp giáp với

bầu nhụy hoa (1/3 Lower Style –LS)

LSD

Là giá trị nhỏ nhất để phân biệt ranh giới khác nhau

có ý nghĩa và khác nhau không có ý nghĩa, giữa bất

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất bưởi ở các vùng trên thế giới năm 2006 –

Bảng 2.5 Kết quả điều tra các giống cam quýt ở Việt Nam 15

Bảng 2.6 Một số giống cam quýt nhập nội vào Việt Nam trong 5 năm trở lại

đây

16

Bảng 2.7 Các loài cam quý thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 24

Bảng 2.8 Tên gọi của các nhóm con lai (hybrids) 24

Bảng 2.9 Diện tích, năng suất và diện tích từ năm 2005 - 2009 25

Bảng 4.10 Một số đặc điểm thân cành của các giống bưởi đặc sản 47

Bảng 4.11 Đặc điểm hình thái bộ lá của các giống bưởi đặc sản 49

Bảng 4.12 Đặc điểm hoa của các giống bưởi đặc sản 50

Bảng 4.14 Thời gian ra lộc của các giống bưởi (Tháng 7 - tháng 12/2010) 52

Bảng 4.16 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc hè 53

Bảng 4.18 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc thu 55

Bảng 4.19 Đặc điểm sinh trưởng của lộc đông 56

Bảng 4.20 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc đông 57

Bảng 4.21 Đặc điểm sinh trưởng của lộc xuân 58

Bảng 4.22 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc xuân 59

Bảng 4.24 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc hè 61

Bảng 4.25 Chiều dài lộc hè, thu, đông năm 2010 và lộc xuân, hè năm 2011 62

Bảng 4.26 Đường kính lộc hè, thu, đông 2010 và lộc xuân, hè năm 2011 63

Bảng 4.27 Đặc điểm quả của một số giống bưởi 64

Bảng 4.28 Đánh giá một số chỉ tiêu quả giống bưởi thí nghiệm 65

Bảng 4.29 Phân tích sinh hoá của quả bưởi Diễn 65

Bảng 4.32 Tỷ lệ đậu quả của giống bưởi Phúc Trạch khi thụ phấn với các

Trang 9

bưởi Phúc Trạch Bảng 4.34 Sức nẩy mầm của hạt phấn của các giống sử dụng làm nguồn

hạt phấn (kết quả năm 2010)

72

Bảng 4.35 Kết quả nghiên cứu sinh trưởng của ống phấn (mang giao tử

đực) trong nhụy hoa ở các tổ hợp thụ phấn trên cây bưởi Phúc Trạch (kết quả năm 2010)

74

Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 4.1 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc hè 54

Biểu đồ 4.2 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc thu 55 Biểu đồ 4.3 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc đông 57 Biểu đồ 4.4 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc xuân 59 Biểu đồ 4.5 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc hè 61 Biểu đồ 4.6 So sánh chiều dài lộc hè, thu, đông năm 2010 và lộc xuân, hè

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Đặt vấn đề

Cây ăn quả thuộc họ cam quýt là loại cây quan trọng trong phát triển kinh tế

ở Việt Nam Vùng miền núi phía Bắc có tập đoàn cam quýt phong phú và hình thành nhiều vùng cam quýt nổi tiếng như bưởi Đoan Hùng, cam Tuyên Quang,

Hà Giang, quýt Lạng Sơn… [21], [22], [16] Người làm vườn từ lâu đã hiểu nghề trồng cây ăn quả nói chung và cây bưởi nói riêng là một nghề kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa có thu nhập ổn định, có thể bảo vệ tài nguyên môi trường, đặc biệt là ở vùng đất dốc, vùng đồi núi.… Trồng cây

ăn quả sẽ mang lại thu nhập cao hơn nhiều so với cây trồng khác Theo nhiều kết quả điều tra cho thấy trên cùng một đơn vị diện tích, cây ăn quả cho thu nhập cao gấp từ 2 - 4 lần so với cây lương thực [15] Hiện nay phong trào trồng cây ăn quả tăng nhanh và có chiều hướng phát triển mạnh, cây ăn quả cùng với một số cây công nghiệp, cây đặc sản khác đang được đánh giá là cây trồng quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái ở các tỉnh trung du miền núi Từ những yêu cầu thực tại của xã hội, việc phát triển cây ăn quả cũng như những nghiên cứu nhằm đưa ra các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, chất lượng cây ăn quả là điều hết sức cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân

Các loài cây thuộc họ cam quýt, trong đó có citrus (cam, chanh, bưởi.…)

là những cây có giá trị dinh dưỡng và cho hiệu quả kinh tế cao Nhiều loài đang được trồng trên thế giới cho quả với các vị đặc trưng như: chua, ngọt và chua nhẹ, ngọt và rất ngọt đã gần như đáp ứng được nhu cầu thị hiếu rất khác nhau của người tiêu dùng ở mọi độ tuổi Chúng vừa dùng làm thức ăn bồi bổ sức khoẻ, lại dùng cho ăn kiêng, làm vị thuốc Hiện nay một số vùng cam quýt đang có nguy cơ bị tàn phá bởi một số bệnh, nguyên nhân do virus và vi khuẩn gây nên, nhất là đối với các loại cây trồng lâu năm Cây bưởi chiếm một vai trò tương đối quan trọng, mang lại hiệu quả kinh tế cao Nước ta có

Trang 11

giống bưởi như: Năm Roi, Da Xanh.…; Phú Thọ với giống bưởi Đoan Hùng;

Hà Tĩnh với bưởi Phú Trạch

Cây bưởi có đặc điểm thích nghi rộng Từ thực tiễn sản xuất, thấy việc nghiên cứu đặc điểm nông sinh học, mối liên hệ của các đặc tính này đến năng suất, phẩm chất cũng như khả năng phát triển bưởi trên diện rộng là điều hết sức cần thiết

Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía Bắc của Việt Nam, có điều kiện sinh thái thích hợp với nhiều loài cây ăn quả khác nhau, trong đó có cây bưởi Tuy nhiên, thực tế cho thấy các giống bưởi trồng ở Thái Nguyên chủ yếu

là giống địa phương cho năng suất, chất lượng cũng như mẫu mã chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân Các giống bưởi có chất lượng cao được tiêu thụ tại địa phương được đưa từ các nơi khác tới Xuất phát từ mục tiêu nâng cao chất lượng quả bưởi, góp phần đa dạng hóa giống bưởi trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người làm vườn, tôi đã thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục đích của đề tài

Xác định được đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản: Da Xanh, Phúc Trạch, Năm Roi, Diễn, Đoan Hùng được trồng tại huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên từ tháng 7/2010 đến tháng 6/2011; qua một năm theo dõi, xác định khả năng thích ứng tại địa phương phục vụ cho nghiên cứu và sản xuất

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu được đặc điểm hình thái của các giống bưởi làm cơ sở phân biệt và nhận biết các giống;

- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng thông qua sinh trưởng của thân, cành, lá;

- Nghiên cứu được mối tương quan C/N, đánh giá khả năng cho năng suất của giống bưởi Diễn;

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

cây bưởi Phúc Trạch

Trang 13

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Cam quýt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại và ngoại cảnh, như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, biểu hiện qua sinh trưởng, ra hoa kết quả, năng suất và phẩm chất quả

Tuỳ vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một năm cam quýt thường ra 3 - 4 đợt lộc là lộc xuân, lộc hè, lộc thu, lộc đông Lộc xuân thường là đợt lộc cho cành quả, một phần lộc hè, thu sẽ là cành mẹ làm cành quả năm sau Lộc đông sớm cũng có thể là cành mẹ của cành quả năm sau hoặc

bổ sung một phần diện tích lá cho quang hợp [37] [25] [22] Quá trình ra lộc ở cam quýt có liên quan nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và bộ phận trên mặt đất Quá trình ra lộc của năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau Nếu có các biện pháp kỹ thuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của cam quýt [51] Từ cơ sở khoa học này việc nghiên cứu quá trình ra lộc, mối liên hệ các đợt lộc trong năm nhằm có thêm các hiểu biết cơ bản, tiền đề của các biện pháp kỹ thuật là điều hết sức cần thiết Với các loài cây ăn quả (trừ những giống cho quả không hạt) nguồn hạt phấn khác nhau ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu quả, số lượng hạt và cuối cùng là năng suất, chất lượng quả Ở một số cây ăn quả như [13][23][27](32): Cây hồng (D Kaki) có 2 nhóm giống chính, nhóm tự thụ phấn và nhúm giao phấn, với nhóm giao phấn khi cho tự thụ quả rất hay rụng, có thể rụng tới 100% Ở cây nho mối liên quan giữa quá trình tự thụ và thụ phấn cho đến việc tạo quả không hạt và

tỷ lệ đậu quả là các quá trình có cơ chế khác nhau và rất phức tạp Trong điều kiện Việt Nam có thể tiến hành các thí nghiệm tự thụ hoặc giao phấn với các

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhất góp phần nâng cao năng suất, chất lượng quả ở cam quýt

2.2 Nguồn gốc của cam quýt, lịch sử nghề trồng cam quýt và các vùng trồng cam quýt chủ yếu trên thế giới

2.2.1 Nguồn gốc và lịch sử trồng cam quýt trên thế giới

Trong các loại cây ăn quả, cùng với cây nho, cây cam quýt có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất Có nhiều báo cáo nói về nguồn gốc của cam quýt, phần lớn đều nhất trí rằng cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Himalaya Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin, Malaysia, miền nam Indonecia hoặc kéo đến lục địa Úc [36] [28] Những báo cáo gần đây nhận định rằng, tỉnh Vân Nam Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng, tại đây có tìm thấy rất nhiều loài cam quýt hoang dại [36] [25] Trước đây có một vài tờ báo cho rằng, loài chanh yên, phật thủ (Citrus medica) có thể có nguồn gốc ở Địa Trung Hải hoặc Bắc Phi, nhưng hiện nay điều này đó đã được sáng tỏ, Citrus medica có nguồn gốc tại miền Nam Trung Quốc, nhưng là loài cây ăn quả được mang đến trồng tại Địa Trung Hải và bắc Phi rất sớm, trước thế kỷ I sau Công Nguyên, những tài liệu cổ xưa có ghi chép loài cây ăn quả này

ở bắc Phi đến mức làm nhiều người hiểu lầm chúng có nguồn gốc tại đây [45] Các loài chanh vỏ mỏng (Lime C Auranlifolia Swingle) được xác định có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc và miền Tây Ấn Độ, sau đó các thuỷ thủ đầu tiên đến Ấn Độ đó mang về trồng ở châu Phi, Địa Trung Hải, châu Âu

Các loài chanh núm (Lemon, Citrus lemon) chưa xác định được nguồn gốc, nhưng những kỹ thuật di truyền hiện đại gần đây cho thấy có thể chanh núm là con lai tự nhiên giữa Citrus medica và Citrus Aurantifolia, chính vì vậy mà chanh có dạng hình thái trung gian giữa hai loại vừa kể trên Chanh núm được xác định sử dụng như một loại quả sớm nhất vào năm 1150 ở bắc Phi, vùng biển Địa Trung Hải

và châu Âu Cam ngọt (Citrus Sinensis.L) được xác định có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam Indonexia, sau đó cũng giống như loài

Trang 15

châu Âu Địa Trung Hải, châu Phi từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 17 [53] Giống cam nổi tiếng thế giới “Washington Navel”, ở Việt Nam vẫn thường gọi là cam Navel được báo cáo là dạng đột biến tự nhiên từ một giống cam ngọt, giống này được phát hiện

ở Bahia Brazil, lần đầu tiên trồng ở Úc năm 1824, ở Florida (Mỹ) năm 1835, ở Califolia năm 1870 và nó trở nên rất nổi tiếng ở Washington D.C [10] Sau đó giống Washington Navel được du nhập và trồng ở khắp các vùng trồng cam quýt trên thế giới

Các giống bưởi (Citrus grandis) được báo cáo có nguồn gốc ở Malaysia, Ấn

Độ Một thuyền trưởng người ấn Độ có tên là Shaddock đã mang giống bưởi này trồng ở vùng biển Caribe, sau đó theo gót các thuỷ thủ bưởi được giới thiệu ở Palestin vào năm 900 sau Công Nguyên và ở Châu Âu sau thời gian đó [21] Bưởi chùm (Citrus paradisis) được xác định là dạng đột biến hay dạng con lai tự nhiên của bưởi (Citrus grandis), nó xuất hiện sớm nhất ở vùng Barbadas miền Tây Ấn

Độ, được trồng lần đầu tiên ở Florida Mỹ vào năm 1809 và trở thành một trong những sản phẩm quả chất lượng cao ở châu Mỹ Các giống quýt cũng được xác định có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, gồm miền Nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, sau đó những người đi biển đã mang đến trồng ở Ấn Độ Quýt (Citrus reticulata) được trồng ở vùng Địa Trung Hải, Châu Âu và Châu Mỹ muộn hơn so với các loài quả có múi khác, vào khoảng năm 1805 [22]

Cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, sự lan trải của cam quý trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước đây Cam quýt được di chuyển đến châu Phi từ Ấn Độ bởi các đoàn thuyền buồm

di chuyển đến châu Mỹ bởi các nhà thám hiểm và thuyền buôn người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

Bưởi (C Grandis) quả to nhất trong các loài cam quýt, vị chua hoặc ngọt,

bầu có từ 13 - 15 noãn, eo lá khá lớn, hạt nhiều Hiện nay các giống bưởi phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi và được trồng chủ yếu ở các nước nhiệt đới như

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

nổi tiếng như bưởi Đoan Hùng, bưởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi, bưởi Diễn [23]

Bưởi chùm (C Paradisi) được đánh giá là dạng con lai tự nhiên của bưởi (C

Grandis), vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống với bưởi (C.grandis) nhưng lá nhỏ hơn, eo cũng nhỏ hơn, quả nhỏ, cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua nhẹ Bưởi chùm cho những giống ít hạt, phần lớn các giống bưởi chùm có hạt đa phôi nên cũng có thể

sử dụng làm gốc ghép Quả bưởi chùm là món ăn tráng miệng rất được ưa chuộng

ở châu Âu, người ta gọt nhẹ lớp vỏ mỏng bên ngoài rồi để cả cùi cắt thành các lát nhỏ dùng sau bữa ăn [23] [25] [24] Bưởi chùm được trồng nhiều ở Mỹ, Brazil, riêng bang Florida Mỹ chiếm 70 % sản lượng bưởi chùm của thế giới Ở Việt Nam vào những năm 60 đã nhập nội một số giống bưởi chùm như marsh, forterpinke.… cho năng suất khá Tuy nhiên bưởi chùm chưa được ưa chuộng ở Việt Nam

2.2.2 Các vùng trồng cam quýt chủ yếu trên thế giới

Trong suốt nhiều thập kỷ qua, năng suất, diện tích và sản lượng của cam quýt không ngừng tăng nhanh Vành đai trồng trọt cam quýt trải dài từ 400

vĩ bắc xuống 400 vĩ nam, có nghĩa là cam quýt chỉ được trồng trọt ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Hiện nay vùng cây ăn quả nhiệt đới như Việt Nam, Cuba, Thái Lan, Malaysia và miền Nam Trung Quốc giáp Việt Nam đang gặp những khó khăn lớn

về phát triển cam quýt do một số bệnh hại điển hình của vùng nhiệt đới, như bệnh greening gây nên Sức tàn phá của các loại dịch bệnh này khiến cho diện tích cam quýt của một số nước nằm trong vùng nhiệt đới bị thu hẹp hoặc không tăng lên được Trái lại, khí hậu vùng á nhiệt đới không cho phép các loại bệnh hại cam quýt điển hình là bệnh greening phát triển mạnh, chính vì thế cam quýt ở vùng nhiệt đới có xu hướng ngày càng phát triển mạnh về diện tích, năng suất, chất lượng quả cũng như sự đầu tư các biện pháp kỹ thuật về giống, canh tác

Các vùng trồng cam quý nổi tiếng trên thế giới hiện nay chủ yếu nằm ở những vùng khí hậu khá ôn hoà thuộc vùng á nhiệt đới, hoặc vùng khí hậu ôn hoà ven biển chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu đại dương Những vùng trồng cam quýt nổi tiếng hiện nay phải kể đến là vùng Địa Trung Hải và châu Âu, như Tây

Trang 17

vùng bắc Mỹ như: Hoa Kỳ, Mexico; vùng nam Mỹ như: Brazil, Venezuela, Argentina và Uruguay; các hòn đảo châu Mỹ như: Cuba, Jamaica, cộng hoà Đominica…Vùng cam châu Á chủ yếu là Trung Quốc và Nhật Bản; ngoài ra cũng

có vùng trồng cam bắc Phi, Úc (theo số liệu của FAO năm 2009 - bảng 2.1) Tuy nhiên số liệu này chưa thống kê hết các loại quả có sản lượng lớn, cho thấy sản lượng cam quýt là đứng đầu thế giới, ở các châu lục cam quýt cũng dẫn đầu [23] Hiện nay cây bưởi được phát triển khắp các lục địa, sự phát triển của các vùng bưởi trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp ở các vùng Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề trồng bưởi cũng sớm phát triển và ngược lại

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Qua bảng 2.1 ta thấy năm 2006 diện tích bưởi của toàn thế giới là 256.814 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 17.2977 tấn /ha, sản lượng đạt 4442.312 nghìn tấn Đến năm 2009 diện tích hơi giảm đi, chỉ còn 253.971 nghìn ha nhưng năng suất và sản lượng vẫn tăng đạt 25.8507 tấn/ha, tăng 66% và 6565.351 nghìn tấn, tăng 67%

So sánh về diện tích trồng bưởi của 5 châu lục, châu Á có tổng diện tích lớn nhất, sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu Đại Dương

Vùng châu Mỹ

Các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Argentina… Tuy vùng trồng bưởi châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, cộng với nhu cầu của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành trồng bưởi phát triển rất mạnh Về năng suất được ổn định từ năm 2006 đến năm 2008, nhưng đến năm 2009 năng suất giảm Vùng cam châu Đại Dương có diện tích nhỏ nhất nhưng năng suất trung bình lại khá cao, năm 2006 năng suất đạt 11.3695tấn /ha, năm 2007 đạt 15.0697 tấn / ha, năm 2008 đạt 15.2697 tấn/ha, đến năm 2009 năng suất có giảm đi, còn 14.6903 tấn/ha

Vùng lãnh thổ châu Á

Vùng sản xuất bưởi lớn gồm các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan… Đây là vùng có diện tích lớn nhất năm 2006 là 109.722 nghìn ha, chiếm 42.7%, năm 2007 là 113.197 nghìn ha, chiếm 44%, năm 2008 là 113.211 nghìn ha, chiếm 45%, năm 2009 là 116.914 nghìn ha, chiếm 46% tổng diện tích của toàn thế giới Tuy nhiên, năng suất và sản lượng năm 2006 đạt thấp hơn vùng châu Mỹ, nhưng 3 năm tiếp theo từ năm 2007 đến 2009, năng suất và sản lượng của vùng châu Á vượt qua châu Mỹ: năm 2007 năng suất đạt 28.5764 tấn/ha, sản lượng là 3234.772 nghìn tấn, năm 2008 đạt 30.6597 tấn/ha, sản lượng

Trang 19

sản lượng đạt 3689.213 nghìn tấn chiếm 56% sản lượng bưởi thế giới

Vùng châu Á được khẳng định là quê hương của cây bưởi, hầu hết các nước châu Á đều trồng bưởi sản xuất với quy mô khác nhau: nơi thì hình thành vùng chuyên canh, nơi thì sản xuất tự do… Tuy nhiên năng suất bình quân vẫn còn đang ở mức thấp, do hạn chế về điều kiện kinh tế, xã hội ở mỗi quốc gia, do chưa được chú trọng và đang tồn tại sự pha trộn của kỹ thuật hiện đại (Nhật Bản, Hàn Quốc) và sự canh tác truyền thống (Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin…); tình trạng sâu bệnh hại nhiều nghiêm trọng

Bảng 2.2: Tình hình sản xuất bưởi của một số nước có

diện tích lớn trên thế giới

Năm 2009 Diện tích

(ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng ( tấn)

(Nguồn: FA0STAT/FAO Statistics - năm 2011)

Qua bảng 2.2 ta thấy, nước có diện tích trồng bưởi lớn nhất thế giới là Trung Quốc với diện tích là 63135 ha, sản lượng đạt 2768308 tấn, năng suất đạt 43,84 tấn/ha Tiếp theo là Mỹ với tổng diện tích là 32527 ha, đứng thứ hai thế giới, sản lượng đạt 1182970 tấn và năng suất đạt 36,35 tấn/ha Nước có diện tích trồng bưởi nhỏ nhất là Philippines với diện tích là 5500 ha, sản lượng đạt 40000 tấn, năng suất chỉ đạt 7,27 tấn/ha

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chủ yếu ở các nước Trung Mỹ kéo lên phía bắc đến khoảng 400 vĩ bắc và xuống phía nam đến vĩ độ tương đương bao gồm các nước như: Honduras, amaica, Mexico, Cuba, Dominica, Nicaragoa, Panama, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Costarica, Brazil, Argentina, Equado, Uruguay, Colombia Ngoài ra cam quýt còn được trồng trong nhà kính và ở những vùng ấm áp ven biển miền Nam Canada Tuy không phải là nơi khởi nguyên của cam quýt, nhưng lịch sử trồng cam quýt ở châu Mỹ gắn liền với lịch sử khám phá ra châu lục này của các nhà thám hiểm châu Âu, đặc biệt là của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Có nhiều ý kiến khác nhau về lịch sử du nhập cam quý vào châu Mỹ, phần lớn cho rằng nhà thám hiểm người Tây Ban Nha, Phó vương Columbo đã mang cam quýt đến châu Mỹ trong chuyến đi biển lần thứ hai vào năm 1483 Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng cam quý được đưa vào châu Mỹ từ những người đi biển Bồ Đào Nha trước năm 1483 [53] Nhận định này cũng giống như một số ý kiến của các nhà sử học cho rằng châu Mỹ được người Bồ Đào Nha khám phá trước khi Columbo đặt chân lên châu lục này Nhờ điều kiện thiên nhiên ưu đãi cũng như sự phát triển nhanh về mọi mặt của lục địa châu Mỹ, cam quýt được phát triển mạnh cả về diện tích, năng suất và sản lượng [36] Ở châu Mỹ có một số giống cam quýt nổi tiếng, cam Navel được chọn lọc ở đây Các giống cam ngọt, bưởi chùm (Citrus paradisis) cũng là sản phẩm chính thức của châu Mỹ, với đặc điểm vỏ mỏng, cùi

có vị thơm mềm, độ chua và ngọt vừa phải, bưởi chùm được đặc biệt ưa chuộng làm món tráng miệng trên thế giới Châu Mỹ là nơi sản xuất và xuất khẩu chủ yếu bưởi chùm, cam Navel và các giống cam ngọt khác Năm 1997 châu Mỹ sản xuất khoảng trên 30 triệu tấn cam, trên 2 triệu tấn quýt, trên 3 triệu tấn chanh, trên 4 triệu tấn bưởi các loại [19]

Vùng trồng cam Địa Trung Hải và châu Âu

Bao gồm các nước như: Algeria, Ai Cập, Hy Lạp, Israel, Italia, Morocco, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Syria, Tunisia, Thổ Nhĩ Kỳ Vùng cam quýt Địa Trung Hải có lịch sử lâu đời hơn cam quýt châu Mỹ được du nhập từ châu Á theo gót

Trang 21

hậu đại dương khá ôn hoà mát mẻ, cộng với điều kiện đất đai phù hợp, nghề trồng cam quýt rất phát triển, nổi tiếng với các giống có vị ngọt thuộc loài Citrus medica Nhiều nước xuất khẩu và chế biến cam quýt với số lượng lớn như Tây Ban Nha, Italia, Israel

Vùng Địa Trung Hải có khí hậu và điều kiện sinh thái phù hợp đã giúp cho các loài cam quýt được trồng trọt có tuổi thọ rất cao mà vẫn cho năng suất khá Những nước sản xuất cam quýt chủ yếu là Tây Ban Nha (gần 4 triệu tấn cam quýt năm 1997), Italia (hơn 3 triệu tấn cam quýt các loại năm 1997), Hy Lạp (hơn 1 triệu tấn cam quýt các loại) [19] [23]

Vùng cam quýt châu Á

Đây là quê hương của cam quýt, có sản lượng cao ở Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan Nhưng do điều kiện kinh tế xã hội của các nước Châu Á nên nghề trồng cam quýt chưa được chú trọng nhiều Công tác chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác (trừ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) còn rất nhiều hạn chế so với các vùng cam quýt khác trên thế giới Tuy nhiên, nghề trồng cam quýt ở Châu Á là sự pha trộn của kỹ thuật rất hiện đại (Nhật Bản, Đài Loan) và sự canh tác truyền thống như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin Các nước trồng nhiều cam quýt gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Indonexia, Ấn Độ Sản lượng cam quýt năm 1997 của châu Á và khoảng trên 10 triệu tấn cam, trên 10 triệu tấn quýt, trên 3 triệu tấn bưởi và chanh

Ngoài ra cam quýt còn được trồng ở châu Đại Dương như Autralia, Newzilan Hiện nay cam quýt bắt đầu được trồng nhiều trong nhà kính ở các nước

có khí hậu lạnh như Nauy, Thuỵ Điển, Phần Lan Tuy nhiên sản lượng ở những nước này không nhiều, chủ yếu chế biến phục vụ nhu cầu trong nước

2.3 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam

2.3.1 Thực trạng phát triển cam quýt ở Việt Nam

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

điều kiện khí hậu và địa hình phức tạp Việt Nam là một trong những nước có thể trồng được nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây ăn quả Kết quả điều tra cho thấy ở nước ta có hàng ngàn giống cây ăn quả thuộc 130 loài của hơn 30 họ thực vật [19],[17] Nhiều loài cây ăn quả thích ứng với các vùng khác nhau trong nước như chuối, dứa, cam quýt Nhiều loại cây ăn quả được trồng theo vùng sinh thái tạo thành các vùng đặc sản nổi tiếng như nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà (Hải Dương), Lục Ngạn (Bắc Giang) Các cây ăn quả đặc sản như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm ở miền Nam, vùng đặc sản cây bơ ở Tây Nguyên

Trong nhiều năm diện tích cây ăn quả không ngừng tăng nhanh ở Việt Nam, số liệu ở bảng 2.3 cho thấy cây ăn quả có diện tích, sản lượng cao gồm có chuối, cam quýt, dứa, xoài, trong đó cam quýt đứng vị trí số hai sau chuối Trong 6 năm từ 1990 đến 1995, ngoại trừ cây dứa giảm đáng kể, các loại cây ăn quả khác đều có xu hướng phát triển mạnh về diện tích và tăng nhiều về sản lượng, đặc biệt là cam quýt (sau 6 năm từ 1990 đến 1995 diện tích trồng cam quýt tăng khoảng 4 lần và sản lượng tăng lên khoảng 3 lần) Điều này cho thấy mặc dù có một số hạn chế về sinh thái, cam quýt vẫn được quan tâm phát triển mạnh ở Việt Nam

Cam quýt có lịch sử trồng trọt lâu đời ở nước ta Lê Quý Đôn đã mô tả: Việt Nam có rất nhiều thứ cam: Cam sen, nhũ cam da sần vị rất ngon; cam chanh da mỏng và mỡ, vừa ngọt thanh vừa có vị chua dịu; cam sành vỏ dày, vị chua nhẹ, cam mật vỏ mỏng vị ngọt; cam giấy da rất mỏng, màu hồng trông đẹp mắt, vị chua; cam động đĩnh quả to, vỏ dày, vị chua; cây quất ghi trong một số sách cổ Trung Quốc là sản phẩm quý của phương Nam đem sang Trung Quốc trước tiên [25] Các báo cáo của tác giả Tanaka Nhật Bản trong chuyến đi khảo sát châu Á

đó nhắc đến loài cam quýt được trồng ở Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 [53] Hiện nay

ở Nhật Bản có một số giống bưởi khá nổi tiếng, những giống bưởi này được Tanaka thu thập từ vườn thực vật Sài Gòn (Việt Nam) mang về trồng và thuần dưỡng ở Nhật Bản

Trang 23

dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhờ chính sách phát triển nông nghiệp của Chính phủ, diện tích và sản lượng cam quýt tăng nhanh, nhiều nông trường trồng cam quýt được hình thành trong giai đoạn này như Nông trường sông Lô, sông Bôi, sông Con, Cao Phong, Thanh Hà, Vân Du, Đông Hiếu, Phủ Quỳ, Bố Hạ Với diện tích hàng ngàn ha cam quýt ở các nông trường quốc doanh này, cùng với các vùng cam quýt truyền thống như cam Bố Hạ, cam sành Tuyên Quang, nghề trồng cam quýt đã vươn lên trở thành một nghề sản xuất - xuất khẩu có thu nhập cao

Bảng 2.3: Diện tích, sản lƣợng hàng năm của cam quýt

và một số cây ăn quả khác

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

(Nguồn: Đỗ Đình Ca - Viện Nghiên cứu rau quả)

Từ năm 1975, sau khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất, vành đai trồng cam quýt trải dài từ Bắc đến Nam Số liệu ở bảng 2.3 cho thấy sự phân bố vùng trồng cam quýt ở nước ta tập trung ở cả Bắc, Trung, Nam với tổng diện tích tính đến năm 1998 là 67.465 ha, trong đó được chia làm

7 vùng sinh thái trồng cam quýt khác nhau Phân bố diện tích ở các vùng là: Vùng trung du miền núi phía bắc 11.080 ha, vùng đồng bằng sông Hồng 4.858

Trang 24

ha, vùng ven biển miền Trung 7.747 ha, vùng ven biển miền nam Trung bộ

854 ha, vùng tây nguyên 178 ha, các tỉnh đông nam bộ 1.485 ha, vùng đồng

bằng sông Cửu Long 41.267 ha Tổng sản lượng cam quýt năm 1998 là 378.957

tấn đứng thứ hai sau chuối Mặc dù tổng diện tích và sản lượng cam quýt có

chiều hướng tăng lên hàng năm, nhưng năng suất cam quýt còn rất thấp, bình

quân vào khoảng 10 tấn/ha, vùng có năng suất thấp nhất là Tây Nguyên 5,4

tấn/ha và vùng ven biểt miền Trung 4,9 tấn/ha So với những nước có nền nông

nghiệp tiên tiến có năng suất cam quýt trung bình đạt từ 20 - 50 tấn/ha, năng

suất cam quýt ở Việt Nam còn ở mức độ rất khiêm tốn

Việt Nam có bộ giống cam quýt khá phong phú, các giống cam quýt hiện

trồng ở Việt Nam chủ yếu được chọn lọc tự phát của người dân từ những vùng

trồng cam quýt truyền thống Nhiều giống cam quýt gắn liền với tên một địa

phương như là nơi xuất xứ của các giống này như: Bưởi Năm Roi (nam bộ), cam

sành (Tuyên Quang), bưởi Phúc Trạch (Quảng Bình), bưởi Đoan Hùng (Phú

Thọ), cam Mường Pồn (Lai Châu), quýt vàng Bắc Sơn (Lạng Sơn), cam giấy

Hà Đông, quất Quảng Bá (Hà Nội), cam Bố Hạ (Bắc Giang) [25] [17] Kết quả

điều tra của đoàn chuyên gia Nhật Bản và Viện Nghiên cứu rau quả trung ương

cho thấy: Năm 1992 thu thập ở các tỉnh miền Bắc từ Quảng Bình trở ra được

185 giống cam quýt khác nhau, năm 1996 khảo sát ở miền Bắc, miền Trung và

một số tỉnh miền Nam thu thập thêm được 68 giống cam quýt hiện đang trồng ở

Sản lƣợng (1000 tấn)

Trang 25

Địa điểm điều tra Số

giống

Địa điểm điều tra

1 Cam ngọt 17 Hà Giang, Yên Bái, Sơn La, Nghệ An 7

Hà Giang, Hà Tĩnh, Nghệ An, Lạng Sơn, Cần Thơ, Bến Tre

2 Chanh ta 16

Hà Giang, Phú Thọ, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Nghệ An

Hà Giang, Yên bái, Phú Thọ, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Ninh Bình, Nghệ An, Lạng Sơn

25

Hà Giang, Yên Bái, Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Cần Thơ, Bến Tre

Hà Giang, Yên bái, Tuyên Quang, Phú thọ, Hoà Bình, Sơn

La, Lai Châu, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh

18

Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Lạng Sơn Nghệ An, Vĩnh Long, Đồng Nai

8 Bưởi chùm 3 Nghệ An, Hà Tĩnh -

9 Chanh núm 7 Hà Giang, Phú Thọ, Sơn La 3

Hà Giang, Phú Thọ, Lạng Sơn

10 Bưởi lai 4 Hà Giang, Yên Bái, Nghệ An, Lạng Sơn 4

Phú Thọ, Cần Thơ, Bến Tre

Trang 26

(Nguồn: Đỗ Đình Ca - Viện Nghiên cứu rau quả)

Trang 27

Ngoài bộ giống được chọn lọc trong thực tiễn sản xuất ở các vùng trồng cam quýt từ những năm 60 với chính sách phát triển cây ăn quả của Nhà nước, có nhiều giống cam quýt nhập nội từ nhiều nguồn khác nhau của các dự án Các giống cam quýt nhập từ Cuba, Địa Trung Hải và nhiều nước khác, bộ giống này gồm khoảng hơn 30 giống, gồm cam ngọt, chanh, quýt, bưởi, quất, chanh đắng (làm gốc ghép), cam chua… Trong các giống nhập nội phải kể đến là cam Navel, cam Valencia, bưởi đỏ, cam máu (cam đỏ), các giống bưởi chùm như Foster pink, marshu, grapefruit.… Số liệu bảng 2.5 cho thấy có rất nhiều giống cam quýt được nhập nội theo con đường chính thức vào Việt Nam để trồng thử nghiệm

Bảng 2 6 Một số giống cam quýt nhập nội vào Việt Nam trong 5 năm trở lại đây

1 Citrus swingle Ai Cập 1 Waly madarin Ai Cập

5 Ageezy Ai Cập 5 Tangor ortanique Ai Cập

7 Red Kkhalil Ai Cập IV Bưởi

8 Parent navel Ai Cập 1 Pomelo star ruby Ai Cập

9 Frost navel Ai Cập 2 Grapefruit Red Ai Cập

10 Valencia Ai Cập V Quất vàng

12 Mananilla Ai Cập 2 Poncirus flying dragon Ai Cập

13 Banati Ai Cập 3 Citrange troyer Ai Cập

14 Sanguinello anni 2 Italia Ai Cập 4 Citrange carrizo Ai Cập

15 Tarocco Italia Ai Cập 5 Limequat enstic Ai Cập

1 Femm siracusano Italia

Trang 28

Tuy nhiên, số giống cam quýt được nhập theo con đường không chính thức trong những năm gần đây còn lớn hơn nhiều, có thể lên đến hàng trăm giống khác nhau Việc nhập nội giống cam quýt để thay thế các giống địa phương sẽ nâng cao năng suất, chất lượng và tăng thu nhập của người sản xuất Nhưng cùng với việc trồng các giống nhập khả năng chống chịu, thích nghi của các giống này với điều kiện ngoại cảnh yếu đi rất nhiều, đây chính là một yếu tố làm dịch bệnh phá hoại mạnh và lây lan sang cả những giống địa phương trong những năm gần đây ở Việt Nam

Ngoài bộ giống hiện đang được trồng nhiều ở các vùng cam quýt trên thế giới, ở nước ta còn có các loài thuộc họ cam quýt hoặc thuộc họ hàng gần với cam quýt dạng hoang dại như “gai tầm xong”, “bưởi bung”, “quất hồng bì”, cây

“cần thăng”, cây “mắc mật”.… Những loài cây này sẽ giữ vai trò quan trọng là nguồn vật liệu phục vụ công tác lai tạo giống và là nguồn thuốc nam quý hiếm

2.3.2 Các vùng trồng cam quýt chủ yếu ở Việt Nam

Vùng cam quýt miền núi và trung du phía Bắc

Bao gồm các tỉnh miền núi phía bắc như Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai,

Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Sơn La, Lai Châu Khu vực này nằm ở dải vĩ độ 22-23 độ vĩ bắc, do nằm sát vùng á nhiệt đới, lại chủ yếu là vùng núi cao có độ cao so với mặt biển trên 300 m, cho nên khí hậu phân mùa rõ rệt, đông lạnh, xuân và thu mát, hè nóng Nhiệt độ trung bình tháng

là 21-220C, tháng lạnh nhất là 13-150C, tháng nắng nhất là 27-280C, càng lên cao giáp biên giới Việt - Trung và Việt - Lào biên độ nhiệt độ ngày đêm chênh lệch càng cao là một điều kiện khá thuận lợi để nâng cao phẩm chất cam quýt Với lượng mưa trung bình ở các tỉnh miền núi phía Bắc là 1800-3200 mm, lượng mưa chủ yếu tập chung từ tháng 5 đến tháng 10 Các tháng còn lại ít mưa, thời gian mưa có ảnh hưởng tốt đến việc trồng cam quýt vì đây là thời gian lớn của quả, cây cần hút nhiều nước Các tỉnh miền núi do điều kiện địa hình núi cao nên ít bị ảnh hưởng của các cơn bão lớn từ biển Đông đổ vào

Trang 29

Đất đai ở vùng núi phía bắc cũng khá đa dạng, đất feralit đỏ vàng trên phiến thạch là loại đất điển hình của vùng trung du đông bắc Đất mùn đá vôi là đất khá điển hình ở các tỉnh miền núi cao như Sơn La, Hà Giang, Yên Bái, Lai Châu Ngoài ra còn có các loại đất feralit phát triển trên đá biến chất như gơnai, phiến thạch sét, phiến thạch mica, đất phù sa cổ, đất dốc trừ do quá trình rửa trôi

và xói mòn, phù sa không được bồi ven sông, suối Với điều kiện địa hình phức tạp, độ cao khác nhau đó phân chia vùng núi trung du phía bắc thành nhiều vùng tiểu sinh thái riêng biệt, phù hợp để trồng nhiều loài cam quýt nói riêng và cây

ăn quả nói chung

Theo kết quả báo cáo [17] đến năm 1998, diện tích trồng cam quýt ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc là 11.080 ha, năng suất được xếp vào loại trung bình trong cả nước (6,9 tấn/ha) Những tỉnh trồng nhiều cam quýt phải kể đến là Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lạng Sơn Miền núi phía Bắc cũng là một trong những chiếc nôi của cam quýt, các kết quả điều tra cho thấy ở đây còn tìm thấy nhiều loài hoang dại thuộc họ cam quýt Sự phân chia thành nhiều tiểu vùng sinh thái đó góp phần tạo nên bộ giống cam quýt khá phong phú Kết quả điều tra của các nhà nghiên cứu cho thấy hơn 70% các giống cam quýt được trồng ở Việt Nam hiện nay cũng được trồng ở vùng núi phía bắc, trong đó có nhiều giống quýt như quýt chùm, quýt sen, quýt đỏ, quýt đường, quýt vàng Bắc Sơn, quýt vàng Bắc Quang, các giống cam ngọt Cũng tại vùng miền núi phía bắc đó có những vùng trồng cam quýt nổi tiếng từ lâu đời như cam Mường Pồn (Lai Châu), cam sành Tuyên Quang, quýt vàng Lạng Sơn, quýt đỏ Yên Bái Do điều kiện sinh thái phù hợp nên vườn cam quýt ở miền núi phía bắc có tuổi thọ rất cao, nhiều cây trên 100 tuổi vẫn đang ở thời kỳ cho năng suất cao [17], [18] Nhìn chung vùng miền núi phía bắc Việt Nam có tiềm năng lớn về đất đai,

ưu thế về khí hậu để có thể phát triển mạnh nghề trồng cam quýt Khí hậu vùng miền núi phía bắc ngoài việc phù hợp với sinh trưởng, ra hoa bình thường ở cam quýt còn có ưu thế hơn so với vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ giữa các tháng trong năm cũng

Trang 30

khá lớn giúp nâng cao khả năng tổng hợp đường và các sắc tố mang đúng đặc trưng của giống Vì vậy mà quả cam quýt phía bắc bao giờ cũng đẹp hơn vùng đồng bằng sông Cửu Long, quả mọng nước, ngọt và ít xơ bỏ hơn

Miền núi phía bắc có những hạn chế cơ bản về vùng cam quýt, như địa hình đất dốc, lượng mưa phân bố không đều làm đất trồng trọt nhanh bị nghèo kiệt dinh dưỡng do rửa trôi, xói mòn Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến còn rất ít do hạn chế về trình độ học vấn và nhận thức của người dân, chủ yếu vẫn là độc canh một giống, canh tác theo các phương pháp truyền thống Do vậy chưa đi vào thâm canh tăng năng suất cây ăn quả Việc tuyển chọn những giống tốt còn chưa được quan tâm Các giống hiện tại đó bị thoái hoá nhiều do sử dụng các phương pháp nhân giống truyền thống mà chủ yếu là phương pháp gieo hạt Địa bàn rất phân tán, giao thông đi lại khó khăn, hạ tầng cơ sở nghèo nàn, rất khó khăn trong việc tiếp thị để tiêu thụ cũng như chế biến sản phẩm Nếu khắc phục được các trở ngại trên thì vùng sản xuất cam miền núi phía bắc sẽ trở thành vùng sản xuất quan trọng với cam quýt nói riêng và cây ăn quả nói chung

Vùng sản xuất cam quýt ven biển miền Trung

Vùng ven biển miền Trung hay còn gọi là vùng khu IV gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình trải dài từ 18 - 20030’ vĩ độ bắc Tổng diện tích trồng cam quýt của vùng năm 1998 là 7.743 ha Do hạn chế về khí hậu và đất đai nên năng suất bình quân đạt rất thấp, khoảng 5,8 tấn/ha (ngoại trừ vùng chuyên canh cam quýt Phủ Quỳ) Khu IV cũ có hai vùng khá nổi tiếng

về cam quýt, đó là bưởi Phúc Trạch (Quảng Bình) và vùng cam quý Phủ Quỳ Nghệ An Bưởi Phúc Trạch là một sản phẩm đặc sản giống như bưởi Đoan Hùng của Phú Thọ đó có lịch sử trồng bưởi từ lâu đời, bưởi Phúc Trạch có vị chua nhẹ rất dễ ăn và rất phù hợp với khẩu vị người nước ngoài Ở Phúc Trạch hầu như gia đình nào cũng trồng bưởi Tuy nhiên diện tích trồng ở đây khá phân tán, nhỏ

lẻ ở từng gia đình Mặt khác bưởi Phúc Trạch có số lượng hạt rất lớn, bởi vậy hiện tại chưa thể trở thành sản phẩm địa phương có khả năng xuất khẩu [22]

Trang 31

Đến năm 1998 diện tích cam quýt vùng miền Trung là 7.743 ha và sản lượng đạt 22.661 tấn, đứng thứ ba sau khu vực đồng bằng sông Cửu Long và vùng miền núi phía bắc Trọng điểm trồng cam quýt vùng này phải kể đến là vùng Phủ Quỳ Nghệ An Vùng cam Phủ Quỳ gồm một cụm các nông trường chuyên cam quýt có diện tích hàng ngàn ha Đây là khu vực trồng cam quýt có

ưu thế về tiềm năng đất đai, được Nhà nước đầu tư xây dựng các nông trường với đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân có kinh nghiệm về cây có múi [15], đồng thời cũng là nơi được thử nghiệm trồng các giống nhập nội nhiều nhất ở nước ta Vùng Phủ Quỳ ở phía tây bắc tỉnh Nghệ An từ 19,09 độ đến 19,30 độ vĩ bắc, thuộc địa phận huyện Nghĩa Đàn và một phần huyện Quỳ Hợp với tổng diện tích tự nhiên là 730.000 ha, trong đó có đến 40% là đất đỏ bazan, ngoài ra còn một số đất đá vôi, phù sa cổ, đất có độ dốc thoai thoải từ 30

đến 60 rất thuận lợi để phát triển cam quýt [15] Khí hậu vùng Phủ Quỳ phân chia thành 4 mùa rất rõ: xuân - hạ - thu - đông, nhiệt độ bình quân trong các tháng mưa đông vùng Phủ Quỳ từ 15 - 17 0

C, tháng lạnh nhất là tháng 1 có thể xuống đến 20C, số ngày có nhiệt độ dưới 100

khá lớn, yếu tố này cũng ít nhiều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt Nhiệt độ trung bình trong các tháng từ

27 đến 300C, có khi nhiệt độ lên đến 33 - 360C hoặc cá biệt lên đến 420

C Mưa

ở vùng Phủ Quỳ khoảng 1.600 mm/năm phân bố không đều và tập trung chủ yếu vào mùa nóng, gây nên hiện tượng xói mòn đất vào mùa mưa và khô hạn vào mùa đông Vùng cam quýt Phủ Quỳ được hình thành cộng với việc xây dựng hàng loạt các nông trường chuyên canh cam quýt, ở đây có nhiều giống nhập nội

từ nước ngoài được trồng với mục đích xuất khẩu [24] [25]

Tuy vậy, vùng cam quý miền Trung còn có những mặt hạn chế, như thời tiết khí hậu tương đối khắc nghiệt, mưa về mùa nóng, khô về mùa đông, phần nào hạn chế sự sinh trưởng của cam quýt; sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật không

ổn định và không đồng đều giữa các địa phương trong vùng Ở đây cần xác định lại cơ cấu giống hợp lý nhằm sản xuất phục vụ cho xuất khẩu

Vùng cam quýt đồng bằng sông Cửu Long

Trang 32

Bao gồm các tỉnh như Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh Vùng đồng bằng sông Cửu Long có lịch sử trồng cam quýt khá lâu đời gắn liền với việc khai phá vùng đất này Cam quýt được trồng nhiều ở các vùng phù sa ven sông Tiền, sông Hậu, nông dân ở đây có trình độ trồng cam quýt khá cao, đặc biệt trong kỹ thuật chăm sóc khắc phục hiện tượng ra quả cách năm, điều khiển ra hoa sớm, muộn, tỉa cành, tạo tán cân đối, hạn chế chiều cao của cây, trồng dày hợp lý để tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời, dinh dưỡng khoáng, nước và khoảng không gian, tạo hình thành một sự cân bằng hoàn chỉnh giữa cây và môi trường sinh thái vùng đồng bằng

Vùng đồng bằng sông Cửu Long có vị trí từ 90

15’ đến 10030’ vĩ độ bắc, đây

là vùng được tạo nên bởi sông Mekong chảy qua địa phận Việt Nam trước khi

đổ ra biển Địa hình của vùng này khá bằng phẳng, cao hơn mực nước biển 3 - 6

m, hầu như không có mùa đông, nhiệt độ khá cao và ôn hoà, nhiệt độ trung bình năm là 24,5 - 29,80

C, nhiệt độ tháng nóng nhất 28 - 290C, không chênh lệch nhiều so với tháng lạnh nhất (21 - 220

C) Lượng mưa trung bình từ 1300 - 2000

mm, chủ yếu tập trung vào mùa mưa ở tháng 5 đến tháng 11 (90%), mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau lượng mưa chỉ vào khoảng 10 % cả năm Năm

1998 diện tích trồng cam quýt của vùng là 41.267 ha, với sản lượng 286.636 ngàn tấn và là vùng sản xuất cam có diện tích và sản lượng lớn nhất cả nước Người nông dân ở đây đã có những biện pháp trồng trọt thích hợp để tránh sự thay đổi không ổn định của mực nước ngầm và những tháng mùa mưa lũ Các vườn cam vùng trũng được trồng trên luống cao hoặc xung quanh vườn được đắp bờ nổi để tránh nước lũ tràn vào

Trước đây cây cam quýt được trồng chủ yếu bằng cách chiết cành, một số gieo hạt Hiện nay việc nhân giống chủ yếu bằng phương pháp ghép, phương pháp này có ưu điểm giúp cho cây khoẻ mạnh, bộ rễ khoẻ, chống chịu gió bão tốt Vùng cam quýt đồng bằng sông Cửu Long cũng có một tập đoàn giống khá phong phú của địa phương và nhập nội Các thuỷ thủ Trung Hoa và Pháp đã mang nhiều giống cam quýt trồng ở vùng nam bộ Các giống được ưa chuộng

Trang 33

nhiều như giống cam giấy, cam Navel, cam sành, cam mật, quýt xiêm, quýt đường, bưởi đường, bưởi long tuyền Đặc biệt ở đây có giống bưởi địa phương

là bưởi Năm Roi quả to vừa phải, ngọt pha vị chua nhẹ, không hạt rất phù hợp cho xuất khẩu Vùng cam quýt đồng bằng sông Cửu Long phát triển mạnh nhờ khí hậu, đất đai khá phù hợp và một thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn là thành phố Hồ Chí Minh và khu vực lân cận Dòng sông Mekong đã tạo nên giao thông đường thuỷ khá thuận lợi giúp tiêu thụ nhanh sản phẩm cho nội địa và xuất khẩu Tuy nhiên, vùng cam quýt này còn một số mặt khó khăn, đó là nhiệt

độ chêch lệch ngày và đêm không cao, thời tiết nóng quanh năm, lũ lụt và sâu bệnh phá hại nhiều làm năng suất, chất lượng giảm nhiều

2.3.3 Những khó khăn trong việc trồng cam quýt ở nước ta

- Vườn cam quýt kinh doanh thường rất nhỏ, không tập trung; ở miền núi phía bắc Việt Nam có một số vườn rộng vài chục ha, đại bộ phận các vườn ở đồng bằng sông Mekong rất nhỏ, thường rất ít vườn có diện tích từ 1 ha trở lên, gây nhiều khó khăn trong việc cơ giới hoá, thu hái và vận chuyển

- Trồng cam quýt gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật và phòng trừ sâu bệnh, lũ lụt ở vùng đồng bằng, xói mòn rửa trôi ở vùng đất dốc Việt Nam thuộc vùng trồng cam quýt nhiệt đới, có thời tiết nóng, mưa nhiều Nhiều loại bệnh hại cam quýt điển hình của vùng nhiệt đới phá mạnh như: Bệnh greening đã phá huỷ hàng ngàn ha cam quýt ở miền núi phía bắc và vùng đồng bằng sông Cửu Long Tại Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, nông trường cam Bố Hạ trong nhiều năm trước đây phải huỷ bỏ cam để trồng các loại cây trồng khác do bị bệnh greening Theo đánh giá của Đại học Cần Thơ, trong tổng số hơn 10.000 vườn cam quýt ở đồng bằng sông Cửu Long có hơn 3.000 vườn đã nhiễm bệnh greening [17] Trong những năm gần đây bệnh greening càng phát triển mạnh do nhập nội không chính thức nhiều giống cam quýt từ nước ngoài như Trung Quốc, Thái Lan và một số nước khác

- Thị trường cam quýt trong nước và xuất khẩu không ổn định, nhất là sau

sự sụp đổ của các nước đông Âu, thị trường xuất khẩu cam quýt của Việt Nam

Trang 34

bị thay đổi theo hướng bất lợi Do sự nhập khẩu bất hợp pháp cam quýt từ Trung Quốc với giá rẻ đã làm giá cam quýt nội địa giảm đi nhiều Những yếu tố trên ảnh hưởng không ít đến nghề trồng cam quýt ở nước ta

- Chưa có kế hoạch đầu tư, quy hoạch phát triển vùng trồng cam quýt một cách thống nhất, đồng bộ, đôi khi các vùng cam quýt được hình thành tự phát trong sản xuất

2.4 Một số hiểu biết cơ bản về cây cam quýt

2.4.1 Các loài trong họ cam quýt

Trong nhóm cam quýt nói chung và nhóm cây trong họ hoa hồng (Rutaceae) đều có chung những đặc điểm phân loại như: Cây có mang tuyến dầu (chủ yếu phân bố ở lá), bầu mọc nối trên đài hoa, lá phần lớn có đỉnh viền răng cưa, quả gồm 2 hay nhiều noãn bên trong

Họ hoa hồng (Rutaceae) được phân chia thành 130 giống (genus) với những đặc điểm chung như đã trình bày ở trên, 130 giống này nằm trong 7 họ phụ khác nhau, trong đó họ phụ hoa hồng (Aurantirideae) có ý nghĩa nhất Sự phân loại chi tiết hơn dưới họ phụ Aurantirideae có tộc Citreae (28 giống) và tộc phụ Citrinae (13 giống), 3 nhóm: “tiền cam quýt”, “gần cam quýt” và nhóm “cam quýt thực sự” (true citrus group) được phân nhóm từ Citreace và tộc phụ Citrnae Sự phân loại cam quýt khá phức tạp và có các yếu tố như: Có rất nhiều giống (cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của các giống này (hybrids) hiện tượng hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa bội thể cũng là những nhân tố gây khó khăn cho phân loại cam quýt Hiện nay tồn tại hai hệ thống phân loại cam quýt được nhiều người áp dụng Theo Tanaka Nhật Bản, cam quýt gồm 160 đến 162 loài (species) Tanaka quan sát thực tiễn sản xuất và cho rằng các giống (cultivars) cam quýt qua trồng trọt đã có nhiều biến dị trở thành giống mới Qua quan sát, ghi chép tỉ mỉ đặc điểm hình thái của các giống đã biến dị, ông phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới với tên khoa học được bắt đầu bằng tên của giống hoặc loài đó sinh ra chủng và kết thúc bằng chữ Horticulture Tanaka Swingle đó phân chia cam quýt ra thành 16 loài bảng phân loại của

Trang 35

Swingle đơn giản hơn nên được sử dụng nhiều hơn Tuy nhiên các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quýt, với bảng phân loại này chi tiết đến tên từng giống Có 10 loài quan trọng nhất trong nhóm “true citrus group” và nhóm con lai được liệt kê ở bảng 2.7 và tên của một

số nhóm con lai phổ biến, đây là những loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với con người, có thể được mô tả như sau:

Bảng 2.7 Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Citron Lime Tritoliate (poncirus) Kumquat

Cam ngọt Cam chua Quýt Bưởi chùm Bưởi

Chanh ta Chanh núm Chanh vỏ mỏng có núm Chanh đắng (chanh 3 lá) Quất

Bảng 2.8 Tên gọi của các nhóm con lai (hybrids)

Poncirus x sweet orange Poncirus x grapefruit Lime x kumquat

2.4.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu bưởi ở Việt Nam

Ở nước ta cây bưởi rất gần gũi và được ưa chuộng, giá trị sản phẩm cao, ở miền Bắc có bưởi Đoan Hùng nổi tiếng với vị thanh ngọt, mát dịu Ở miền Nam

có rất nhiều giống bưởi quý, ngon, nổi tiếng như: Da xanh, Phúc Trạch, Năm Roi.…

Trang 36

Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi của nước ta từ năm 2005 đến 2009 được thể hiện trong bảng 2.9:

Bảng 2.9 Diện tích, năng suất và sản lƣợng từ năm 2005 - 2009

( Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2011)

Qua bảng trên ta thấy: về diện tích từ năm 2005 đến 2009 đều tăng, từ 1.940 nghìn ha năm 2005 tăng lên 2.129 nghìn ha năm 2009, nhưng năng suất và sản lượng giảm trong khoảng 2005 đến 2008, năm 2005 đạt 115.979 tạ/ha, năm

2008 chỉ còn 104.727 tạ/ha, sản lượng giảm từ 22.500 nghìn tấn xuống còn 21.532 nghìn tấn Đến năm 2009 năng suất và sản lượng bắt đầu tăng, năng suất đạt 110737 tạ/ha, nhưng vẫn thấp hơn các năm 2005, 2006, 2007, sản lượng bưởi năm 2009 lại tăng khá nhanh, đạt 23.576 nghìn tấn, vượt qua mức 22.500 nghìn tấn năm 2005 và 23.000 nghìn tấn năm 2006

Một số vùng trồng bưởi đặc sản ở Việt Nam

Hiện nay trên cả nước có 4 vùng trồng bưởi chính với quy mô cơ cấu giống

và thời vụ khác nhau (Ngô Xuân Bình 2010) [25]

Vùng sản xuất bưởi khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Chủ yếu trồng tại các tỉnh Tiền Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bến Tre Khu vực đồng bằng sông Cửu Long có diện tích và sản lượng bưởi quả chiếm 70% toàn quốc Trồng chủ yếu hai giống bưởi đặc sản là bưởi Da Xanh

và bưởi Năm Roi Tổng diện tích trồng bưởi lên đến trên 10 ngàn ha (tính riêng tỉnh Vĩnh Long đã trồng được 7.691 ha, trong đó diện tích đang cho thu hoạch là 5.570 ha, sản lượng đạt 71.542 tấn/năm), năng suất hai giống bưởi trên trung

Trang 37

bình toàn vùng đạt từ 10-20 tấn/ha, giá bán tương đối ổn định từ 7.000 đ/kg đến 20.000 đ/kg Đặc biệt giống bưởi Da Xanh luôn bán được giá cao và rất được người tiêu dùng ưa chuộng

Vùng sản xuất bưởi bắc Trung bộ

Chủ yếu tập trung tại các tỉnh Nghệ An (giống bưởi Long), Hà Tĩnh (giống bưởi Phúc Trạch, bưởi đường Hương Sơn), Quảng Bình (bưởi Phúc Trạch), Thừa Thiên Huế (giống bưởi Thanh Trà), trong đó diện tích và sản lượng lớn nhất là giống bưởi Phúc Trạch Diện tích bưởi khu vực miền Trung chiếm khoảng hơn 10% diện tích bưởi toàn quốc, dự kiến giai đoạn 2010 - 2015 tỉnh

Hà Tĩnh phấn đấu diện tích trồng bưởi Phúc Trạch lên 5.000 ha với sản lượng khoảng 12.000 đến 15.000 tấn/năm

Vùng sản xuất bưởi thuộc đồng bằng sông Hồng

Tập trung chủ yếu tại Hà Nội, Hà Tây (cũ), Hưng Yên với giống chủ lực là bưởi Diễn, đây là giống bưởi ngọt đặc sản nổi tiếng khu vực phía bắc Tuy nhiên sản phẩm bưởi Diễn chủ yếu sử dụng cho tiêu dùng trong nước Quả có thể để trên cây trong thời gian dài, thuận lợi trong bảo quản, nên giá bán rất cao vào cuối năm, nhất là dịp tết Nguyên Đán Diện tích trồng hiện nay lên tới trên 3.000

ha (kể cả diện tích trồng mới), sản lượng đạt khoảng 30.000 tấn Hiện nay nhiều gia đình khu vực Hưng Yên và Hà Tây ven Hà Nội đã trồng bưởi Diễn trên đất ruộng, hiệu quả kinh tế cao hơn so với các loại cây trồng khác

Vùng sản xuất bưởi khu vực Trung du - miền núi phía Bắc

Gồm các tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái, Hoà Bình, chủ yếu trồng giống bưởi Đoan Hùng (gồm bưởi Chí Đám và bưởi Bằng Luân) và giống bưởi Phú Diễn Tỉnh Phú Thọ đã có Dự án nhân giống và thâm canh hai giống bưởi Đoan Hùng nhằm mở rộng sản xuất và phát triển thương hiệu hàng hóa Diện tích vùng bưởi khu vực miền núi phía bắc vào khoảng gần 2.000 ha Khu vực trung du miền núi phía bắc có tiềm năng lớn về sản xuất cây ăn quả nói chung và cây bưởi nói

Trang 38

riêng Các tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Giang đã quy

hoạch và mở rộng diện tích trồng cam quýt và bưởi

Đặc điểm một số giống bưởi có triển vọng ở nước ta

Tập đoàn giống bưởi nước ta khá đa dạng, phân bố ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Qua thời gian dưới tác động của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo đã tạo nên những giống đặc trưng cho từng vùng sinh thái nhất định

Bưởi (Citrus grandis; còn gọi là bòng)

- Bưởi Năm Roi (Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng)

Cây sinh trưởng khỏe, phân cành trung bình, góc phân cành nhỏ, tán cây hình lá ô van, ra hoa vào khoảng tháng 3, tháng 4 hàng năm, thu hoạch vào tháng 11, tháng 12 Dạng quả hình quả lê, trọng lượng quả nặng trung bình từ 0,9- 1,45 kg/quả, vỏ vàng khi chín, con tép tróc khỏi vách múi và bó chặt nhau, nước quả nhiều có vị ngọt chua Nhìn chung đây là giống bưởi có quả to đẹp mã, dễ bóc míu, dễ lột vỏ, hương vị ngon, đặc biệt rất ít hạt [11] Hiện nay đây là giống bưởi

có triển vọng và đã có thương hiệu bưởi Năm Roi do công ty Hoàng Gia và tỉnh Vĩnh Long xuất khẩu [24]

- Bưởi Da Xanh (Bến Tre, Tiền Giang)

Dạng quả hình cầu nặng trung bình từ 1,2- 2,5 kg/quả, vỏ vẫn giữ màu xanh khi chín, dễ tách vỏ, vỏ mỏng (14 - 18 mm), con tép màu hồng đỏ, bó chặt và dễ tách khỏi múi, nước quả khá, vị ngọt không he đắng và khá nhiều hạt [24]

- Bưởi Phúc Trạch

Cây sinh trưởng trung bình, phân cành nhiều, góc phân cành nhỏ, tán cây hình quạt, lá ô van, xanh nhạt; quả có hình cầu, khi chín màu vàng rơm, tép màu hồng nhạt, vị ngọt thanh, không đắng, trọng lượng quả trung bình đạt xấp xỉ 900g, số hạt trên quả là 85,5 hạt, tỉ lệ phần trăm ăn được là 47,87% [24]

Trang 39

- Bưởi Đoan Hùng

Hiện được trồng nhiều ở huyện Đoan Hùng (Phú Thọ), được trồng trên đất phù xa ven song Lô và sông Chảy Có hai giống được cho là tốt nhất, đó là bưởi Tộc Sửu và bưởi Bằng Luân Bưởi Bằng Luân quả hình cầu hơi dẹt, trọng lượng trung bình 0,7- 0,8 kg/quả Vỏ quả màu vàng hơi xám nâu, tép múi màu trắng xanh, mọng nước, vị ngọt, được thu hoạch vào tháng 10, tháng 11, có thể để được lâu sau khi thu hoạch Bưởi Tộc Sửu quả lớn hơn, trọng lượng trung bình 1-1,2 kg/quả, vị ngọt lạ và có màu trắng xanh, thu hoạch sớm hơn bưởi Bằng

Luân khoảng nửa tháng [24]

- Bưởi Diễn

Là giống bưởi ngọt có nguồn gốc từ Đoan Hùng (Phú Thọ), hiện được trồng ở xã Phú Diễm, Từ Liêm, Hà Nội; cây sinh trưởng trung bình, phân cành nhiều, góc phân cành nhỏ, tán hình bán cầu, lá hình ô van, xanh nhạt, ra hoa khoảng tháng 2, tháng 3 hàng năm, thu hoạch vào tháng 11, tháng 12 Quả hình cầu, khi chín có màu vàng tươi, tép màu vàng nhạt, vị ngọt không đắng, trọng lượng quả trung bình đạt xấp xỉ 900g/quả, số hạt trung bình 95,2 hạt, tỷ lệ phần trăm ăn được là 47,8% [24]

- Bưởi Phục Hòa

Đây là giống có nguồn gốc từ giống bưởi Sa Điền (Trung Quốc) cây sinh trưởng khỏe, năng suất ổn định, phân cành nhiều, góc phân cành nhỏ, tán hình hơi tròn, lá hình ô van, xanh đẫm, ra hoa vào tháng 2, tháng 3 hàng năm, thu hoạch vào tháng 12, tháng 1, quả hình quả lê, dễ bóc, tép bó chặt, ngọt không he đắng Sau khi thu hoạch chọn những quả không dập nát, không sâu bệnh để bảo quản, có thể để được 3- 4 tháng Bưởi Phục Hòa có nguồn gốc từ bưởi Sa Điền nhưng do quá trình chọn lọc tự nhiên đã có những đặc điểm tốt hơn như vị ngọt thanh và có nhiều nước hơn, nên rất được ưa chuộng

2.4.3 Đặc điểm thực vật

2.4.3.1 Bộ rễ

Trang 40

Nhìn chung, cam quýt có bộ rễ ăn nông Theo V P Ekimop (Nga) thì biểu

bì của rễ non có nấm cộng sinh Nấm có tác dụng tốt cho rễ cam quýt như vai trò của lông hút với các cây trồng khác Sự phân bố của rễ cam quýt phụ thuộc vào đặc tính của giống, mực nước ngầm, chế độ canh tác, chăm bón, nhưng nhìn chung rễ cam quýt ăn nông từ 0 - 30 cm Bộ rễ cam quýt hoạt động mạnh vào 3 thời kỳ (Trần Như Ý, Đào Thanh Vân, 2000) [24]:

- Trước khi ra cành xuân (từ tháng 2 đến tháng 3);

- Sau khi rụng quả sinh lý đợt đầu đến lúc cành hè xuất hiện (từ tháng 6 đến tháng 8);

- Sau khi cành mùa thu đã sung sức (khoảng tháng 10)

2.4.3.2 Thân, cành, lá

Thân, cành: Cam quýt có đặc điểm là tự rụng ngọn, sau khi cành phát triển

đến mức nhất định thì ngừng lại, lúc đó ngọn và có khi cả 1 đến 2 mầm phía dưới sẽ rụng đi Hiện tượng này liên tục xảy ra trong các đợt lộc làm cho cam quýt không có thân chính rõ rệt, cành lá rậm rạp, đây là cơ sở cho việc cắt tỉa hàng năm

Một năm cam quýt ra nhiều đợt cành:

+ Cành xuân ra vào tháng 2, 3, 4 là cành mang hoa và quả, cành thường ngắn, mật độ lá dầy thích hợp để lấy mắt ghép, ghép vào vụ thu

+ Cành hè được mọc ra từ cành xuân cùng năm, thường ra vào tháng 5 - 7,

là cành dài nhất, cành có mật độ lá thưa và to

+ Cành thu: Ra vào tháng 8, 9 phát sinh ra chủ yếu từ cành xuân và cành hè cùng năm

+ Cành đông: Ra vào tháng 11, 12, thường sinh ra trên cành quả vô hiệu, cành đông là cành yếu nhất trên các loại cành

- Cành cam quýt được phân chia làm 3 loại:

Ngày đăng: 19/09/2014, 18:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.16 và biểu đồ 4.1 cho thấy lộc hè tăng trưởng với tốc độ mạnh nhất từ - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.16 và biểu đồ 4.1 cho thấy lộc hè tăng trưởng với tốc độ mạnh nhất từ (Trang 65)
Bảng 4.18. Động thái tăng trưởng chiều dài lộc thu (cm) - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.18. Động thái tăng trưởng chiều dài lộc thu (cm) (Trang 66)
Hình  3:  Ống  phấn  bị  ức  chế  sinh - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
nh 3: Ống phấn bị ức chế sinh (Trang 90)
Hình 1: Hạt phấn nẩy mầm và tạo - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Hình 1 Hạt phấn nẩy mầm và tạo (Trang 90)
Bảng 2: số lá trên cành thành thục lộc hè 2010 - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 2 số lá trên cành thành thục lộc hè 2010 (Trang 99)
Bảng 4: Đường kính lộc hè 2010 - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 4 Đường kính lộc hè 2010 (Trang 101)
Bảng 11: Số mắt lá lộc đông 2010 - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 11 Số mắt lá lộc đông 2010 (Trang 107)
Bảng 12: Đường Kính lộc đông 2010  The SAS System    10:15 Saturday, October 22, 2011   1                                 General Linear Models Procedure - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 12 Đường Kính lộc đông 2010 The SAS System 10:15 Saturday, October 22, 2011 1 General Linear Models Procedure (Trang 108)
Bảng 14: Số lá lộc xuân 2011 - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 14 Số lá lộc xuân 2011 (Trang 110)
Bảng 16: Đường kính lộc xuân 2011 - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 16 Đường kính lộc xuân 2011 (Trang 111)
Bảng 17: Chiều dài lộc hè 2011 - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 17 Chiều dài lộc hè 2011 (Trang 112)
Bảng 18: Số lá lộc hè 2011 - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 18 Số lá lộc hè 2011 (Trang 113)
Bảng 24: Số cành cấp 1 - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 24 Số cành cấp 1 (Trang 118)
Bảng 25: Đường kính cành cấp 1 - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 25 Đường kính cành cấp 1 (Trang 119)
Bảng 26: Độ cao phân cành cấp 1 - nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bưởi đặc sản được trồng tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 26 Độ cao phân cành cấp 1 (Trang 120)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm