1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên

145 807 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng hầu hết các giống này chưa được nghiên cứu, đánh giá kỹ ở điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên.Việc nghiên cứu, đánh giá về một số đặc điểm nông sinh học của tập đoàn dòng giốn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGUYỄN THỊ HOÈ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG - SINH HỌC

VÀ KHẢ NĂNG TẠO CÂY TỨ BỘI CỦA MỘT SỐ DÒNG GIỐNG CAM QUÝT TẠI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ XUÂN BÌNH

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hòe

Trang 3

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Xuân Bình là người hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa Công nghệ sinh học, khoa Nông học, khoa Sau đại học và các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy chương trình cao học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị em công nhân, sinh viên tại trang trại xã Tức Tranh - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên nơi tôi tiến hành nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bố, mẹ, anh chị em, chồng, con trai và bạn bè đồng nghiệp đã động viên hỗ trợ tôi trong quá trình học tập

và hoàn thành luận văn này

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu trên

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hòe

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 0 0

1 Đặt vấn đề .11

2 Mục đích của đề tài 33

3 Yêu cầu của đề tài 33

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài .44

1.2 Nguồn gốc của c m quýt, lịch sử nghề trồng c m quýt, t nh hình sản

xuất và c c vùng trồng cam quýt chủ yếu trên thế giới 66

1.2.1 Nguồn gốc của c m quýt và lịch sử trồng c m quýt trên thế giới .66

1.2.2.Tình hình xản xuất và c c v ng trồng c m quýt chủ yếu trên thế giới 88

1.3.Tình hìn sản xuất,nghiên cứu và c c vùng trồng c m quýt ở Việt Nam 155

1.3.1 Tình hình sản xuất .155

1.3.2 Cá vùng trồng c m quýt chủ yếu ở Việt Nam .222

1.3.3 Những khó khăn trong việc trồng c m quýt ở nước ta 277

1.3.4 Chiến lược nghiên cứu tạo giống không hạt ở cây c m quýt 288

1.3.5 Những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về cam quýt lên

quan đến đề tài 311

1.3.5.1 Nghiên cứu về giống .311

1.3.5.2 Những nghiên cứu về sinh trưởng và ra hoa của cam quýt 400

1.3.5.3 Nghiên cứu về t nh trạng và t nh thích ứng của c m quýt 422

1.3.5.4 Nghiên cứu về ảnh hưởng của quá trình thụ phấn đến năng suất,

chất lượng quả cam quýt 444

1.3.5.5 Hiện tượng đa phôi ở c m quýt và ứng dụng .455

1.4 Một số hiểu biết cơ bản về cây c m quýt 477

1.4.1 Cá loài trong họ c m quýt 477

Trang 5

1.4.3 Sâu bệnh hại trên c m quýt 522

CHƯƠNG I . ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 55 5

2.1 Đối tượng nghiên cứu .555

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 555

2.3 Nội dung nghiên cứu 555

2.4 Chỉ têu và phương pháp nghiên cứu .566

2.5 Phương pháp xử lý số lệu: Số lệu sau khi tổng hợp được xử lý bằng

phần mềm IRISTART 4.0, Exc l, trên máy vi t nh 600

CHƯƠNG I I KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 61 1

3.1.Kết q ả nghiên cứu một số đặc điểm hìn thái của c c d ng giốn c m qu t 611

3.1.1 Đặc điểm thân và dạng tán 611

3.1.2 Đặc điểm hình thái bộ lá 633

3.1.3 Đặc điểm hình thái hoa 666

3.2.Kết quả n hiên cứu đặc điểm sin trưởn lộc của c c dòn giống c m q ýt 677

3.2.1.Thời gian ra lộc 677

3.2.2 Đặc điểm sinh trưởng lộc xuân 699

3.2.3 Đặc điểm sinh trưởng của lộc hè 711

3.2.4 Đặc điểm sinh trưởng của lộc thu .722

3.2.5 Đặc điểm sinh trưởng lộc đông 744

3.2.6.Nhận xét rút ra từ phần 4.2 (đặc điểm sin trưởng của c c đợt lộc) .755

Trang 6

3.3 Độ nảy mầm của hạt phấn và khả năng bảo quản hạt phấn sử dụng cho

lai tạo 766

3.4 Một số sâu bệnh hại chính trên c c dòng giống c m quýt nghiên cứu 788

3.4.1.Một số đối tượng bệnh hại chính 788

3.4.2.Một số đối tượng bệnh hại chính 799

3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ, thời gian xử lý Colchicine đến

khả năng tạo thể tứ bội từ mầm hạt cây c m quýt 811

3.5.1 Ảnh hưởng của thời gian và nồng độ Colchicine đến khả năng nảy

mầm của hạt sau xử lý Colchicine .81 3.5.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ và thời gian xử lý

Colchicine đến khả năng tạo thể đa bội ở mầm hạt c m quýt .844

CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89 9

4.1 Kết luận 899

4.2 Đề nghị .900

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 1

Trang 7

FAO : Food and Agricultural Organization of the Unitet National

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Diện tch trồng c m quýt trên thế giới và ở c c châu lục- 2008 9 9Bảng 1.2: Sản lượng một số cây ăn quả chính của thế giới và c c châu lục

2008 - 2009 100

Bảng 1.3: Sản lượng c m quýt năm 2008 - 2009 ở một số vùng trên thế giới 111

Bảng 1.4: Diện tch, năng suất và sản lượng Bưởi,Cam ở một số nước 122

Bảng 1.5: Diện tch,năng suất,sản lượng của một số c y ăn quả của nước ta 177

Bảng 1.6: Kết quả điều tra c c giống c m quýt ở Việt Nam 199

Bảng 1.7: Một số giống c m qu t nhập nội vào Việt Nam tro g 5 năm trở lại đây 211

Bảng 1.8a: Cá loài c m quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tễn sản xuất 488

Bảng 1.8b: Tên gọi của c c nhóm con lai (hybrids) 488

Bảng 3.1: Đặc điểm thân c nh của c c giống bưởi nghiên cứu 611

Bảng 3.2: Đặc điểm thân c nh của c c dòng giống c m nghiên cứu 633

Bảng 3.3: Đặc điểm hình thái bộ lá của cá giống bưởi nghiên cứu 644

Bảng 3.4: Đặc điểm hình thái bộ lá của cá dòng giống c m 655

Bảng 3.5: Đặc điểm hoa của c c dòng giống c m quýt nghiên cứu 666

Bảng 3.6: Thời gian ra lộc của c c dòng giống c m quýt 688

Bảng 3.7: Đặc điểm sinh trưởng của lộc xuân 700

Bảng 3.8: Đặc điểm sinh trưởng của lộc xuân 700

Bảng 3.9: Đặc điểm sinh trưởng của lộc hè 711

Bảng 3.10: Đặc điểm sinh trưởng của lộc hè 722

Bảng 3.11: Đặc điểm sinh trưởng của đợt lộc thu 733

Bảng 3.12: Đặc điểm sinh trưởng của đợt lộc thu 733

Bảng 3.13: Đặc điểm sinh trưởng của lộc đông 744

Bảng 3.14: Đặc điểm sinh trưởng của đợt lộc đông 755

Bảng 3.15: Kết quả độ nảy mầm của hạt phấn qua thời gian bảo quản 766

Trang 9

Bảng 3.16: Một số loại sâu hại chính trên c c dò g giống c m quýt nghiên cứu 788

Bảng 3.17: Một số loại bệnh hại chính trên c c dòng bưởi .799

Bảng 3.18: Ảnh hưởng của thời gian và nồng độ Colchicine đến khả năng

nảy mầm của hạt sau xử lý ở dòng bưởi TN4 .811

Bảng 3.19: Ảnh hưởng của thời gian và nồng độ Colchicine đến khả năng

nảy mầm của hạt sau xử lý ở dòng bưởi TN9 833

Bảng 3.20: Ảnh hưởng của thời gian và nồng độ Colchicine đến khả năng

đa bội của c y sau xử lý ở dòng bưởi TN4 855

Bảng 3.21: Ảnh hưởng của thời gian và nồng độ Colchicine đến khả năng

đa bội của c y sau xử lý ở dòng bưởi TN9 .877

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cây ăn quả chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của mỗi con người cũng như trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nghề trồng cây ăn quả đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu đối với nền nông nghiệp của cả nước nói chung và của mỗi vùng miền nói riêng Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa ẩm đã tạo nên sự đa dạng về sinh thái, rất thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng cây ăn quả Trong những năm qua nghề trồng cây ăn quả ở nước ta đã có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp, cũng như trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng và góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người lao động từ nông thôn đến thành thị

Các loài cây cam quýt (cam, chanh, bưởi ) là những loài cây có giá trị dinh dưỡng và đem lại hiệu quả kinh tế cao Nhiều loài cam quýt đang được trồng trên thế giới cho quả với các vị đặc trưng như: chua, vị ngọt và chua nhẹ, ngọt

và rất ngọt đáp ứng được nhu cầu thị hiếu rất khác nhau của người tiêu dùng ở mọi độ tuổi, sản phẩm quả dùng làm thức ăn bồi bổ sức khoẻ, cho ăn kiêng, làm vị thuốc chữa bệnh, nước giải khát, làm mứt, Tuỳ từng loại, quả cam quýt có các thành phần dinh dưỡng khác nhau, hàm lượng đường tổng số vào khoảng 6 đến hơn 10% (trừ các loại quả chua như chanh ), đạm từ 0,6 - 0,9%, chất béo khoảng 0,1 - 0,2%, vitamin C khoảng 50- 100 mg / 100g quả tươi, axit hữu cơ 0,4 - 0,6% [26] Ngoài ra cam quýt còn có nhiều loại vitamin khác như B1, E nhiều loại khoáng như Ca, Fe, Zn và khoảng 15 loại axit amin

tự do khác nhau

Hiện nay, với sự phát triển của kinh tế đất nước, nhu cầu tiêu dùng về sản phẩm quả nói chung, về quả cam quýt trong đó có bưởi ngày càng cao,

Trang 11

bưởi Năm Roi có thể đạt đến 10 ngàn đến 20 ngàn đồng/quả Ở Việt Nam, đã hình thành nhiều vùng chuyên canh sản xuất bưởi như vùng bưởi Diễn (Hà Nội), bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ),…

Tuy nhiên, sản phẩm cam quýt nói chung, bưởi nói riêng còn ít và chưa đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng về số lượng và chất lượng Hầu hết các giống cây ăn quả có múi ở nước ta là các giống nhiều hạt, tiêu chuẩn chất lượng thấp Tính trạng có hạt làm giảm giá trị thương mại của công nghiệp quả

có múi Do vậy tạo giống cam quýt không hạt là mục tiêu quan trọng của công tác giống Một chiến lược tạo giống không hạt quan trọng là tạo ra và tuyển chọn các giống tam bội thể từ các phép lai giữa các giống tứ bội thể với các giống nhị bội Nhưng tạo giống tam bội không hạt có chất lượng cao gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn gen tứ bội thể làm vật liệu lai tạo

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, được coi là tỉnh rất có tiềm năng để phát triển nhiều loại cây ăn quả Điều kiện khí hậu khá phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của nhiều loại cây ăn quả có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới nói chung và cam, quýt nói riêng.Việc trồng thử nghiệm và phát triển cây bưởi và cây cam ở vùng sinh thái Thái Nguyên góp phần giải quyết nhu cầu về sản phẩm quả cam quýt Thời gian gần đây, nhiều dòng giống cam quýt mới được tạo ra và được trồng thử nghiệm nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất Trang trại huyện Phú Lương- Thái Nguyên đã thu thập và lưu trữ một tập đoàn phong phú các giống bưởi nổi tiếng trong nước và nhập nội như: Phúc Trạch, Năm Roi, Diễn, Da Xanh, Đoan Hùng, ST, dòng giống mới như: cam TN1, Cam V2 Nhưng hầu hết các giống này chưa được nghiên cứu, đánh giá kỹ ở điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên.Việc nghiên cứu, đánh giá về một số đặc điểm nông sinh học của tập đoàn dòng giống bưởi nói trên, cùng với việc nghiên cứu tạo nguồn

Trang 12

cần thiết

Xuất phát từ những cơ sở và nhu cầu thực tế hiện nay chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng

tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại Thái Nguyên"

2 Mục đích của đề tài

- Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số dòng cam quýt và một số giống bưởi đặc sản Việt Nam như: Năm Roi, Diễn, Phúc Trạch, Da Xanh, Đoan Hùng và giống bưởi nhập nội ST ở điều kiện sinh thái vùng Thái Nguyên

- Nghiên cứu khả năng tạo cây tứ bội ở cam, quýt tạo nguồn vật liệu cho chọn tạo giống cam quýt không hạt, phục vụ mục tiêu quan trọng của công tác giống hiện nay

3 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của các dòng - giống cam quýt

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của các dòng - giống cam quýt

- Nghiên cứu về độ nảy mầm của hạt phấn và khả năng bảo quản hạt phấn sử dụng cho lai tạo của các dòng giống cam quýt

- Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại của các dòng - giống cam quýt

-Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ, thời gian xử lý Colchicine đến khả năng tạo thể tứ bội từ mầm hạt cây cam quýt

Trang 13

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Cam quýt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng,

ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai,… biểu hiện qua sinh trưởng, ra hoa, kết quả, năng suất và phẩm chất quả

Do có tính thích ứng rộng với điều kiện sinh thái, mà qua quá trình di thực (bằng con đường nhân giống vô tính) nhiều giống vẫn duy trì được một

số đặc điểm tốt của cây mẹ nơi nguyên sản Ngoài ra còn có thể thể hiện một

số đặc điểm tốt hơn

Do các giống địa phương ngày càng bị thoái hóa, giảm sút nghiêm trọng

về năng suất và chất lượng quả Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hậu quả trên, song tập chung chủ yếu do một số nguyên nhân chính sau đây: sâu bệnh nhiều, lũ lụt ở vùng đồng bằng, xói mòn rửa trôi ở vùng đất dốc, ngoài ra: việc tuyển chọn những bộ giống chưa được quan tâm, việc áp dụng kỹ thuật còn rất ít do hạn chế về trình độ

Theo phương pháp nghiên cứu sinh học cây cam quýt của Đại học tổng hợp Kyushu Nhật Bản kết hợp với qui phạm khảo nghiệm giống cam quýt của

Bộ NN và PTNT (10TCN-2007) để theo dõi, đánh giá các giống một cách có

hệ thống và đảm bảo tính khoa học cao

Nước ta nằm ở trung tâm phát sinh và vùng phân bố của nhiều giống cây cam quýt với những điều kiện thời tiết khí hậu thích hợp với phát triển cây ăn quả ở quy mô lớn Tiêu thụ quả cam quýt bình quân đầu người ở nước ta còn rất thấp, do vậy thị trường và diện tích trồng cây cam quýt còn phải gia tăng mạnh Sản xuất quả cam quýt vẫn đang tiếp tục tăng do thu nhập của người

Trang 14

cam quýt do giá trị dinh dưỡng cao và tiện lợi Quả cam quýt xếp thứ nhất trong số các loại cây ăn quả về giá trị thương mại quốc tế Trong 20 năm cuối thế kỷ 20, thị trường quả cam quýt tăng nhanh Ở Việt Nam, cây cam quýt có tầm quan trọng và ý nghĩa kinh tế Diện tích trồng cây cam quýt tăng nhanh Việc nghiên cứu tạo giống không hạt ở cây cam quýt vẫn là động lực thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu và tạo ra nhiều giống chất lượng cao và có tiềm năng xuất khẩu.Tuy nhiên hầu hết các giống cây ăn cam quýt ở nước ta là các giống nhiều hạt, Nhiều giống cây cam quýt thương mại quan trọng dùng ăn quả tươi là giống có hạt, nhất là các giống lai như Tangerine, Tanger và Tangelos Tính trạng có hạt làm giảm giá trị thương mại của công nghiệp quả cam quýt Hầu hết cây cam quýt ở nước ta là các giống có hạt, tiêu chuẩn chất lượng thấp Các giống được trồng phổ biến ở nước ta như cam Xã Đoài, Sông Con, Vân Du, cam Sành, bưởi Phúc Trạch là các giống nhiều hạt Một số giống đặc sản chất lượng cao, có tiềm năng xuất khẩu như bưởi Năm Roi, bưởi Đoan Hùng nhưng bản chất của tính trạng không hạt của giống này chưa được nghiên cứu Do vậy nghiên cứu tạo giống cam quýt không hạt và đặc điểm di truyền tính trạng không hạt ở cây cam quýt là mục tiêu quan trọng của công tác giống [1] Một trong các chiến lược tạo giống tam bội thể quan trọng nhất là lai giữa giống nhị bội (2n) với các dòng tứ bội thể (4n) Tuy vậy, chiến lược này có hạn chế cơ bản là sự thiếu hụt nguồn gen tứ bội dùng trong lai tạo Một phương pháp tạo dòng tứ bội thể ở cây cam quýt ưu việt, dễ làm

và hiệu quả nhanh trong quá trình tạo giống là phương pháp tạo các dòng tứ bội thể bằng xử lý Colchicine mắt ghép trên cành của cây đã ra hoa (in vitro), phương pháp này tạo ra dòng tứ bội có khả năng ra hoa rất sớm, rút ngắn được thời gian tạo giống tam bội Ngoài ra còn các phương pháp khác như:Tạo các dòng tứ bội thể bằng xử lý Colchicine hạt, tạo dòng tứ bội thể

Trang 15

dòng tứ bội bằng dung hợp tế bào trần nhị bội với nhau

Với các loài cây ăn quả (trừ những giống cho quả không hạt) nguồn hạt phấn khác nhau ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu quả, số lượng hạt và cuối cùng là năng suất, chất lượng quả ở một số cây ăn quả như: Cây hồng (D Kaki) có 2 nhóm giống chính, nhóm tự thụ phấn và nhóm giao phấn, với nhóm giao phấn khi cho tự thụ quả rất bé hoặc rụng 100% Ở cây nho, một số giống tự thụ cho quả rất nhỏ và nguồn hạt phấn khác nhau cho tỷ lệ đậu quả rất khác nhau, ở cam quýt, nhiều giống khi tự thụ cho quả không hạt và quả phát triển có độ lớn bình thường, trong khi đó một số giống cam quýt khác khi tự thụ hoa rụng 100% nghĩa là những giống này muốn kết quả cần phải có quá trình giao phấn Mối liên quan giữa quá trình tự thụ và thụ phấn chéo đến việc tạo quả không hạt và tỷ lệ đậu quả là các quá trình có cơ chế khác nhau và rất phức tạp Trong điều kiện Việt Nam có thể tiến hành các thí nghiệm tự thụ hoặc giao phấn với các nguồn hạt phấn khác nhau, nhằm xác định nguồn hạt phấn cho năng suất quả cao nhất góp phần nâng cao năng suất, chất lượng quả ở cam quýt nói chung và ở bưởi nói riêng

1.2 Nguồn gốc của cam quýt, lịch sử nghề trồng cam quýt, tình hình sản xuất và các vùng trồng cam quýt chủ yếu trên thế giới

1.2.1 Nguồn gốc của cam quýt và lịch sử trồng cam quýt trên thế giới

Trong các loại cây ăn quả, cùng với cây nho, cây cam quýt có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất Có nhiều báo cáo nói về nguồn gốc của cam quýt, phần lớn đều nhất trí rằng cam quýt có nguồn gốc ở miền nam châu Á, trải dài

từ Ấn Độ qua Himalaya Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin, malaysia, miền nam Indonecia hoặc kéo đến lục địa úc[65], [37] Những báo cáo gần đây nhận định rằng, tỉnh Vân Nam Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng, tại đây còn tìm thấy rất nhiều loài

Trang 16

chanh yên, phật thủ (Citrus medica) có thể có nguồn gốc ở Địa Trung Hải

hoặc bắc Phi, nhưng hiện nay điều này đã được sáng tỏ Citrus medica có nguồn gốc tại miền nam Trung Quốc, nhưng là loài cây ăn quả được mang đến trồng tại Địa Trung Hải và bắc Phi rất sớm, trước thế kỷ 1 sau công nguyên, những tài liệu cổ xưa có ghi chép loài cây ăn quả này ở bắc Phi đến mức làm nhiều người hiểu lầm chúng có nguồn gốc tại đây[60] Các loài

chanh vỏ mỏng (Lime, C Auranlifolia Swingle) được xác định có nguồn gốc

ở miền nam Trung Quốc và miền tây Ấn Độ, sau đó các thuỷ thủ đầu tiên đến

Ấn Độ đã mang về trồng ở châu Phi, Địa Trung Hải, châu Âu,…

Các loài chanh núm (Lemon, Citrus lemon) chưa xác định được nguồn

gốc, nhưng những kỹ thuật di truyền hiện đại gần đây cho thấy có thể chanh núm là con lai tự nhiên giữa Citrus medica và Citrus Aurantifolia, chính vì vậy

mà chanh núm có dạng hình thái trung gian giữa hai loại vừa kể trên Chanh núm được xác định sử dụng như một loại quả sớm nhất vào năm 1150 ở bắc

Phi, vùng biển Địa Trung Hải và châu Âu Cam ngọt (Citrus Sinensis L) được

xác định có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc, Ấn Độ và miền nam Indonecsia, sau đó cũng giống như loài Citrus medica được các thuỷ thủ và những người lính viễn chinh mang về trồng ở châu Âu, Địa Trung Hải, châu Phi từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 17 [65] Giống cam nổi tiếng thế giới "Washington Navel", ở Việt Nam vẫn thường gọi là cam Navel được báo cáo là dạng đột biến tự nhiên từ một giống cam ngọt, giống này được phát hiện ở Bahia Brazil, lần đầu tiên trồng ở Úc năm 1824, ở Florida (Mỹ) năm 1835, ở Califolia năm

1870, và nó trở nên rất nổi tiếng ở Washinhton D.C[31] Sau đó, giống Washinhton Navel được du nhập và trồng ở khắp các vùng trồng cam quýt trên thế giới

Trang 17

Ấn Độ, một thuyền trưởng người Ấn Độ có tên là Shaddock đã mang giống bưởi này tới trồng ở vùng biển Caribe, sau đó theo gót các thuỷ thủ bưởi được giới thiệu ở Palestin vào năm 900 sau công nguyên và ở châu Âu sau thời

gian đó[65] Bưởi chùm (Citrus paradisis) được xác định là dạng đột biến hay dạng con lai tự nhiên của bưởi (Citrus grandis), nó xuất hiện sớm nhất ở

vùng Barbadas miền tây Ấn Độ và được trồng lần đầu tiên ở Florida Mỹ năm

1809 và trở thành một trong những sản phẩm quả chất lượng cao ở châu Mỹ Các giống quýt cũng được xác định có nguồn gốc ở miền nam châu Á, gồm miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, sau đó các người đi biển đã

mang đến trồng ở Ấn Độ Quýt (Citrus reticulata) được trồng ở vùng Địa

Trung Hải, châu Âu và châu Mỹ muộn hơn so với các loài quả có múi khác, vào khoảng năm 1805[65]

Tóm lại, cam quýt có nguồn gốc ở miền nam châu Á, sự lan trải của cam quýt trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước đây Cam quýt được di chuyển đến châu Phi từ Ấn Độ bởi các đoàn thuyền buồm, di chuyển đến châu Mỹ bởi các nhà thám hiểm và thuyền buôn người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

1.2.2 Tình hình xản xuất và các vùng trồng cam quýt chủ yếu trên thế giới

Trong suốt nhiều thập kỷ qua, năng suất, diện tích và sản lượng của cam quýt không ngừng tăng nhanh Vành đai trồng trọt cam quýt trải dài từ 400

vĩ bắc xuống 400 vĩ nam, có nghĩa là cam quýt chỉ được trồng trọt ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Hiện nay vùng cây ăn quả nhiệt đới như Việt Nam, Cuba, Thái Lan, Malaysia và miền nam Trung Quốc giáp Việt Nam đang gặp những khó khăn lớn về phát triển cam quýt do một số bệnh hại cam quýt điển hình của vùng nhiệt đới như bệnh Greening gây nên Sức tàn phá của các loại dịch bệnh này khiến cho diện tích cam quýt của một số nước nằm trong vùng nhiệt

Trang 18

không cho phép các loại bệnh hại cam quýt điển hình là bệnh Greening phát

triển mạnh, chính vì thế vùng cam quýt á nhiệt đới có xu hướng ngày càng

phát triển mạnh về diện tích, năng suất, sản lượng, chất lượng quả cũng như

sự đầu tư các biện pháp kỹ thuật về giống, canh tác,… [63]

Các vùng trồng cam quýt nổi tiếng thế giới hiện nay chủ yếu nằm ở

những vùng khí hậu khá ôn hoà thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ôn

hoà ven biển chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu đại dương Những nước trồng

cam quýt nổi tiếng hiện nay phải kể đến là: Một số nước vùng Địa Trung Hải

và châu Âu như: Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Morocco, Ai

Cập, Israel, Tunisia, Algeria; vùng bắc Mỹ như: Hoa Kỳ, Mexico; vùng

nam Mỹ như: Brazil, Venezuela, Argentina và Uruguay; các hòn đảo châu

Mỹ như: Cuba, Jamaica, cộng hoà Đominica,…; vùng cam châu á chủ yếu là

Trung Quốc và Nhật Bản; ngoài ra còn có vùng trồng cam bắc Phi, Úc

Bảng 1.1 Diện tích trồng cam quýt trên thế giới và ở các châu lục- 2008 (1000 ha)

Trang 19

địa giới các châu gồm châu Á có diện tích trồng cam quýt cao nhất chiếm 33,65% tổng diện tích cam quýt của thế giới, gấp 17,40 lần diện tích cam quýt châu Âu , tiếp đến là châu Mỹ, châu Phi, châu Âu Tuy nhiên con số này thật chưa đầy đủ vì còn thiếu những quốc gia có sản lượng cam quýt lớn, ví dụ như Cu Ba(châu Mỹ), Tây Ban Nha, Italia (châu Âu)…và một số quốc gia có diện tích trồng cam quýt lớn trên thế giới

Bảng 1.2: Sản lƣợng một số cây ăn quả chính của thế giới

ra, người tiêu dùng còn có xu hướng tăng sử dụng quả cam quýt do giá trị dinh dưỡng cao và tiện lợi Quả cam quýt xếp thứ nhất trong số các loại cây

ăn quả về giá trị thương mại quốc tế Trong 20 năm cuối thế kỉ 20, thị trường quả cam quýt tăng nhanh.Qua đó cho thấy tầm quan trọng và ý nghĩa kinh tế của cam quýt trong đời sống con người hiện nay

Trang 20

số này chưa thật đầy đủ vì còn thiếu những quốc gia có sản lượng cam quýt lớn, ví dụ như Nhật Bản (châu Á), một quốc gia có sản lượng quýt bằng một nửa sản lượng quýt của thế giới

Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả cam quýt nói chung, cam và bưởi nói riêng trên thế giới hàng năm đều tăng đáng kể, đặc biệt là phục vụ nhu cầu ăn

Trang 21

khoảng 4 - 5 triệu tấn Trong đó, các nước sản xuất và xuất khẩu nhiều bưởi là: Mỹ, Trung Quốc, Philippin, CuBa Các nước nhập khẩu nhiều bưởi là: Nhật Bản, Pháp, Đức, Anh Ví dụ: năm 2006 lượng quả nhập khẩu vào Nhật Bản ước đạt 440 ngàn tấn tăng 4% so với năm 2005 trong đó lượng bưởi nhập khẩu đạt 229 ngàn tấn (chiếm 52%) Cũng trong năm

2005, Mỹ là nước cung cấp quả cam quýt cho thị trường Nhật Bản nhiều nhất trong đó chủ yếu là bưởi [56]

Một số nước đã chú ý phát triển cây bưởi theo hướng xuất khẩu như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Philippin, Achentina, Urugoay, Theo một số tài liệu cho thấy công tác lai tạo, tuyển chọn giống bưởi theo đó là các biện pháp thâm canh mới đã làm thay đổi cục diện về thương mại đối với cây bưởi ở nhiều thị trường trên thế giới Nhiều giống đạt tiêu chuẩn xuất khẩu như Bưởi Sa Điền (Trung Quốc); bưởi Văn Đán (Đài Loan); Kao Phung (Thái Lan); Thomson (Mỹ),

Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng Bưởi, Cam ở một số nước

Ghi chú: đơn vị tính - Diện tích: 1000 ha

- Năng suất: tấn/ha

- Sản lượng: 1000 tấn

Nguồn: FAO 2009

Trang 22

như sau:

* Vùng trồng cam Địa Trung Hải và châu Âu:

Bao gồm các nước như: Algeria, Ai Cập, Hy Lạp, Israel, Italia, Morocco, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Syria, Tunisia, Thổ Nhĩ Kỳ Đây là một vùng phát triển khá mạnh và sớm nhất, có lịch sử lâu đời hơn cam quýt châu

Mỹ, cam quýt được du nhập từ châu Á theo gót chân những người lính viễn chinh và các thuỷ thủ Ấn Độ Do ảnh hưởng của khí hậu đại dương khá ôn hoà mát mẻ, cộng với điều kiện đất đai phù hợp, nghề trồng cam quýt rất phát triển, nổi tiếng với các giống có vị ngọt thuộc loài Citrus medica[65], [36] Song nguyên nhân rất quan trọng khiến nó trở thành vùng cam quýt lớn là để thỏa mãn nhu cầu của các nước công nghiệp tư bản ở châu Âu ( như Anh, Pháp, Đức), từ thế kỷ trước.Vùng Địa Trung Hải có khí hậu và điều kiện sinh thái phù hợp đã giúp cho các loài cam quýt được trồng trọt có tuổi thọ rất cao

mà vẫn cho năng suất khá[65] Những nước sản xuất cam quýt chủ yếu là: Tây Ban Nha gần 5 triệu tấn cam quýt (năm 2008), Italia hơn 4 triệu tấn cam quýt các loại, Hy Lạp hơn 1 triệu tấn cam quýt các loại,…[56]

* Vùng cam quýt châu Mỹ:

Tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành muộn hơn nhiều vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ (nhu cầu về sinh tố của người công nhân) mà thúc đẩy nghành cam quýt ở đây phát triển rất mạnh Vùng cam quýt châu Mỹ gồm chủ yếu ở các nước trung Mỹ, kéo lên phía bắc đến khoảng 400 vĩ bắc và xuống phía nam đến vĩ độ tương đương bao gồm các nước như: Honduras, Jamaica, Mexico, Cuba, Dominica, Nicaragoa, Panama, hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Costarica, Brazil, Argentina, Equado, Uruguay, Colombia[65],… Ngoài ra cam quýt còn được trồng trong nhà kính và ở những vùng ấm áp ven biển

Trang 23

lịch sử trồng cam quýt ở châu Mỹ gắn liền với lịch sử khám phá ra châu lục này của các nhà thám hiểm châu Âu, đặc biệt là của người Tây Ban Nha và

Bồ Đào Nha Có nhiều ý kiến khác nhau về lịch sử du nhập cam quýt vào châu Mỹ, phần lớn cho rằng nhà thám hiểm người Tây Ban Nha: Phó vương Columbo đã mang cam quýt đến châu Mỹ trong chuyến đi biển lần thứ 2 năm 1483[65], [37], [50] Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng cam quýt được đưa vào châu Mỹ từ những người đi biển Bồ Đào Nha trước năm 1483 [59], nhận định này cũng giống như một số ý kiến của các nhà sử học cho rằng châu Mỹ được người Bồ Đào Nha khám phá trước khi Columbo đặt chân lên châu lục này Nhờ điều kiện thiên nhiên ưu đãi cũng như sự phát triển nhanh về mọi mặt của lục địa châu Mỹ, cam quýt được phát triển mạnh cả về diện tích, năng suất và sản lượng [65], ở châu Mỹ có một số giống cam quýt nổi tiếng, cam Navel được chọn lọc ở đây Ngoài các giống cam ngọt, bưởi chùm (Citrus paradisis) cũng là sản phẩm chính thức của châu Mỹ, với đặc điểm vỏ mỏng, cùi có vị thơm mềm, độ chua và ngọt vừa phải, bưởi chùm được đặc biệt ưa chuộng làm món tráng miệng trên thế giới Châu Mỹ là nơi sản xuất và xuất khẩu chủ yếu bưởi chùm, cam Navel và các giống cam ngọt khác Năm 2008 sản lượng cam quýt của châu Mỹ xấp xỉ 47 triệu tấn trong đó: khoảng đạt gần

36 triệu tấn cam, trên 3 triệu tấn quýt, trên 6 triệu tấn chanh và trên 2 triệu tấn bưởi các loại [56]

* Vùng cam quýt châu Á:

Châu Á là quê hương của cam quýt, tuy có sản lượng cao ở Trung Quốc và Nhật Bản, Đài Loan nhưng do điều kiện kinh tế xã hội của các nước châu Á nên nghề trồng cam quýt chưa được chú trọng nhiều Công tác chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác (trừ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) còn rất nhiều hạn chế so với các vùng cam quýt khác trên thế giới [63] Tuy nhiên nghề trồng cam quýt ở châu

Trang 24

truyền thống như: Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin,… Các nước trồng nhiều cam quýt gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Indonecia, Ấn Độ,…Theo bảng 1.3, sản lượng cam quýt năm 2008 của châu Á vào khoảng trên

18 triệu tấn cam, trên 20,5 triệu tấn quýt, trên 7 triệu tấn bưởi và chanh,…

Ngoài những vùng trên, cam quýt còn được trồng ở châu Đại Dương như Autralia, Niuzilan,… Hiện nay cam quýt bắt đầu được trồng nhiều trong nhà kính ở các nước có khí hậu lạnh như: Nauy, Thuỵ điển, Phần Lan, … Tuy nhiên sản lượng ở những nước này không nhiều, chủ yếu chế biến phục vụ nhu cầu trong nước

1.3 Tình hình sản xuất, nghiên cứu và các vùng trồng cam quýt ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình sản xuất

Việt Nam là một trong những nơi khởi nguyên của nhiều loài cây trồng, do điều kiện khí hậu và địa hình phức tạp, Việt Nam là một trong những nước có thể trồng được nhiều loại cây trồng đặc biệt là cây ăn quả Kết quả điều tra [19], [20], [17], cho thấy ở nước ta có hàng ngàn giống cây ăn quả thuộc 130 loài của hơn 30 họ thực vật Nhiều loài cây ăn quả thích ứng với các vùng khác nhau trong nước như chuối, dứa, cam quýt Nhiều loại cây ăn quả được trồng theo vùng sinh thái tạo thành các vùng đặc sản nổi tiếng như nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà, Lục Ngạn, các cây ăn quả đặc sản như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm ở miền Nam, vùng đặc sản cây bơ ở Tây Nguyên,…

Cam quýt có lịch sử trồng trọt lâu đời ở nước ta, Lê Quý Đôn [6], đã mô tả: Việt Nam có rất nhiều thứ cam: Cam Sen (gọi là Liên Cam), Cam Vú (Nhũ Cam) da sần vị rất ngon; Cam Chanh da mỏng và mỡ, vừa ngọt thanh vừa có vị chua dịu; Cam Sành (Sinh Cam) vỏ dày, vị chua nhẹ, cam mật vỏ mỏng vị ngọt; Cam Giấy tức Kim Quất da rất mỏng, màu hồng trông đẹp mắt,

vị chua; Cam Động Đình quả to, vỏ dày, vị chua; Quất Trục (cây Quýt) ghi

Trang 25

Trung Quốc trước tiên Các báo cáo của tác giả Tanaka Nhật Bản [59] trong chuyến đi khảo sát châu á đã nhắc đến loài cam quýt được trồng ở Việt Nam

từ đầu thế kỷ 20 Hiện nay ở Nhật Bản có một số giống bưởi khá nổi tiếng, những giống bưởi này được Tanaka thu thập từ vườn thực vật Sài Gòn mang

về trồng và thuần dưỡng ở Nhật Bản

Nước ta, những năm gần đây cây ăn quả có múi đứng thứ 2 sau chuối về tầm quan trọng và ý nghĩa kinh tế Tính đến năm 2007, tổng diện tích cây ăn quả của cả nước đạt 775,5 ngàn ha và tổng sản lượng đạt khoảng 8 triệu tấn [48], đến năm 2008 tổng diện tích các loại cây ăn quả đạt 786 nghìn ha, tăng 1,9% so với năm 2007 Sản lượng nhiều cây ăn quả tăng khá so với cùng kỳ như: bưởi tăng 12% (do các có thị trường tiêu thụ trong nước tốt); xoài tăng 8,8% so cùng kỳ; cam, quýt tăng 2,7%; vải, chôm chôm tăng 0,6%

Từ năm 2006-2008 ngoại trừ cây dứa có diện tích và sản lượng giảm đáng kể, các loại cây ăn quả khác đều có xu hướng phát triển mạnh về diện tích và tăng nhiều về sản lượng Trong đó diện tích và sản lượng cam quýt tăng nhiều nhất, từ 2006 đến 2008 diện tích trồng cam quýt tăng khoảng 4 lần

và sản lượng tăng lên khoảng 3 lần [56] Điều này cho thấy mặc dù có một số hạn chế về sinh thái, cam quýt vẫn được quan tâm phát triển mạnh ở Việt Nam Những loại cây ăn quả có diện tích lớn ở Việt Nam là chuối, cam quýt bưởi, xoài, dứa, sầu riêng, chôm chôm, vải, nhãn, thanh long Diện tích cây ăn quả của Việt Nam đã tăng từ 346 nghìn ha (1995) đến 767 nghìn ha (2006) đến 786 nghìn ha (2008), sản lượng khoảng 8 triệu tấn Năm 2007 xuất khẩu rau quả của Việt Nam ước đạt 300 triệu đô la Chuối hiện có diện tích khoảng 100.000 ha với sản lượng 1,2 triệu tấn Cam quýt có diện tích cam gần 80 nghìn ha với sản lượng 523 nghìn tấn Xoài có diện tích khoảng 75 nghìn ha, sản lượng 337nghìn tấn Nhãn đạt được trên 70 nghìn ha với sản lượng 481 nghìn tấn

Trang 26

Sản lƣợng (nghìn tấn)

Diện tích (nghìn/

ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lƣợng (nghìn tấn)

Diện tích (nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lƣợng (nghìn tấn)

Diện tích cây có múi ở miền Nam nhiệt đới lớn hơn so với miền Bắc, các giống thương mại chủ lực ở miền Nam là cam Sành và bưởi Đây là hai loài cây ưa nóng, có chất lượng cao trong điều kiện nhiệt đới Miền Bắc có hai vùng trồng cây ăn quả có múi lớn, vùng Đông Bắc đóng vai trò chủ lực, giống quan trọng nhất là cam Sành; vùng Bắc Trung Bộ (Nghệ An chủ yếu là trồng cam ngọt lớn và tập trung nhất trong nước [1] Từ 1975, sau khi miền nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất, vành đai trồng cam quýt trải dài từ bắc đến nam Sự phân bố vùng trồng cam quýt ở nước ta tập trung

ở cả Bắc, Trung, Nam với tổng diện tích tính đến năm 2008 là 61100 ha trong

đó được chia làm 7 vùng sinh thái trồng cam quýt khác nhau là: Vùng trung

du miền núi phía bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng ven biển miền trung, vùng ven biểt miền nam trung bộ, vung tây nguyên, các tỉnh đông nam bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long Qua bảng 1.5 cho thấy: tổng sản lượng cam

Trang 27

sản lượng cam quýt có chiều hướng tăng lên hàng năm nhưng năng suất cam quýt còn rất thấp, năng suất bình quân vào khoảng 10.83 tấn / ha So với những nước có nền nông nghiệp tiên tiến có năng suất cam quýt trung bình đạt từ 20 - 50 tấn/ha, năng suất cam quýt ở Việt Nam còn ở mức độ rất khiêm tốn

Việt Nam có bộ giống cam quýt khá phong phú[56], các giống cam quýt hiện trồng ở Việt Nam chủ yếu được chọn lọc tự phát của người dân từ những vùng trồng cam quýt truyền thống Nhiều giống cam quýt gắn liền với tên một địa phương như là nơi xuất xứ của các giống này, như: Bưởi Năm Roi (Nam Bộ), cam Sành (Tuyên Quang), bưởi Phúc Trạch (Quảng Bình), bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), cam Mường Pồn (Lai Châu), quýt vàng Bắc Sơn (Lạng Sơn), cam giấy Hà Đông, quất Quảng Bá (Hà Nội), cam Bố Hạ (Bắc Giang),…Theo kết quả điều tra của đoàn chuyên gia Nhật Bản và Viện Nghiên cứu Rau quả Trung ương cho thấy: Năm 1992 thu thập ở các tỉnh miền bắc từ Quảng Bình trở ra được 185 giống cam quýt khác nhau Năm

1996 khảo sát ở miền Bắc, Trung và một số tỉnh miền Nam thu thập thêm được 64 giống cam quýt hiện đang trồng ở Việt Nam[32].(bảng 1.6)

Trang 28

Bảng 1.6 Kết quả điều tra các giống cam quýt ở Việt Nam

Số

Lạng Sơn, Cần Thơ, Bến Tre

Sơn La, Lai Châu, Ninh Bình, Nghệ An, Lạng Sơn

25 Hà Giang, Yên Bái, Lạng Sơn,

Hà Tĩnh, Cần Thơ Bến Tre

Thọ, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh

18 Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Lạng Sơn, Nghệ An, Vĩnh Long, Đồng Nai

Trang 29

(Nguồn: Đỗ Đình Ca - Viện Nghiên cứu Rau quả)

Trang 30

Ngoài bộ giống được chọn lọc trong thực tiễn sản xuất ở các vùng trồng cam quýt từ những năm 60 với chính sách phát triển cây ăn quả của nhà nước, có nhiều giống cam quýt nhập nội từ nhiều nguồn khác nhau của nhiều dự án khác nhau Các giống cam quýt nhập từ Cuba, Địa Trung Hải và nhiều nước khác, bộ giống này gồm khoảng hơn 30 giống, gồm cam ngọt, chanh, quýt, bưởi, quất, chanh đắng (làm gốc ghép), cam chua,… Trong các giống nhập nội phải kể đến là cam Navel, cam Valencia, bưởi đỏ, cam máu (cam đỏ), các giống bưởi chùm như Foster pink, marshu, grapefruit,… Số liệu bảng 1.7 cho thấy có rất nhiều giống cam quýt được nhập nội theo con đường chính thức vào Việt Nam để trồng thử nghiệm

Bảng 1.7 Một số giống cam quýt nhập nội vào Việt Nam trong 5 năm trở lại đây

STT Giống / loài Nơi nhập STT Giống / loài nhập Nơi

8 Parent navel Ai Cập 1 Pomelo star ruby Ai Cập

12 Mananilla Ai Cập 2 Poncirus flying dragon Ai Cập

14 Sanguinello anni 2 Italia, Ai Cập 4 Citrange carrizo Ai Cập

15 Tarocco Italia, Ai Cập 5 Limequat enstic Ai Cập

1 Femm siracusano Italia

Trang 31

Tuy nhiên, số giống cam quýt được nhập theo con đường không chính thức trong những năm gần đây còn lớn hơn nhiều, có thể lên đến hàng trăm giống khác nhau Việc nhập nội giống cam quýt để thay thế các giống địa phương sẽ nâng cao năng suất, chất lượng và tăng thu nhập của người sản xuất Nhưng cùng với việc trồng các giống nhập khả năng chống chịu, thích nghi của các giống này với điều kiện ngoại cảnh yếu đi rất nhiều, đây chính là một yếu tố làm dịch bệnh phá hại mạnh và lây lan sang cả những giống địa phương trong những năm gần đây ở Việt Nam

Ngoài bộ giống hiện đang được trồng nhiều ở các vùng cam quýt trên thế giới, ở nước ta còn có các loài thuộc họ cam quýt hoặc thuộc họ hàng gần với cam quýt dạng hoang dại như “gai tầm xong”, “bưởi bung”, “quất hồng bì”,

“dâu da xoan”, cây “cần thăng”, cây “mắc mật”,… Những loài cây này sẽ giữ vai trò quan trọng là nguồn vật liệu phục vụ công tác lai tạo giống và là nguồn thuốc nam quý hiếm

1.3.2 Các vùng trồng cam quýt chủ yếu ở Việt Nam

*Vùng cam quýt miền núi và trung du phía bắc

Bao gồm các tỉnh miền núi phía bắc như Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, ST, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Sơn La, Lai Châu Khu vực này nằm ở dải vĩ độ 22 - 23 độ vĩ bắc, do nằm sát vùng á nhiệt đới, lại chủ yếu là vùng núi cao có độ cao so với mặt biển trên 300 m, cho nên khí hậu phân mùa rõ rệt, đông lạnh, xuân, thu mát, hè nóng Nhiệt độ trung bình tháng là 21 - 22 0C, tháng lạnh nhất là 13 - 150C, tháng nóng nhất là 27 - 28

0C, càng lên cao giáp biên giới Việt - Trung và Việt - Lào biên độ nhiệt độ ngày đêm chênh lệch khá cao là một điều kiện khá thuận lợi để nâng cao phẩm chất cam quýt Với lượng mưa trung bình ở các tỉnh miền núi phía bắc

là 1800 - 3200 mm, lượng mưa chủ yếu tập chung từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng còn lại ít mưa, thời gian mưa ít nhiều ảnh hưởng tốt đến việc trồng

Trang 32

cam quýt vì đây là thời gian lớn của quả, cây cần hút nhiều nước Các tỉnh miền núi do điều kiện địa hình núi cao nên ít bị ảnh hưởng của các cơn bão lớn từ biển Đông đổ vào

Đất đai ở vùng núi phía bắc cũng khá đa dạng, đất feralit đỏ vàng trên phiến thạch là loại đất điển hình của vùng trung du đông bắc Đất mùn đá vôi

là đất khá điển hình ở các tỉnh miền núi cao như Sơn La, Hà Giang, Yên Bái, Lai Châu Ngoài ra còn có các loại đất feralit phát triển trên đá biến chất như gơnai, phiến thạch sét, phiến thạch mica, đất phù sa cổ, đất dốc tụ do quá trình rửa trôi và xói mòn, phù sa không được bồi ven sông, suối Với điều kiện địa hình phức tạp, độ cao khác nhau đã phân chia vùng núi trung du phía bắc thành nhiều vùng tiểu sinh thái riêng biệt, chính vì vậy đã phù hợp để trồng nhiều loài cam quýt nói riêng và cây ăn quả nói chung

Theo tổng cục thống kê năm 2007, toàn miền bắc có khoảng 314,6 nghìn

ha (chiếm 40,6%) và sản lượng đạt khoảng 3 triệu tấn (chiếm 37,5%) phân bố

ở các vùng chính sau: vùng đồng bằng sông Hồng; vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc và vùng Bắc Trung Bộ trong đó Đông Bắc được coi là vùng sản xuất cây cam quýt chủ lực của miền Bắc [28] Những tỉnh trồng nhiều cam quýt phải

kể đến là Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lạng Sơn,… Miền núi phía bắc cũng là một trong những chiếc nôi của cam quýt, các kết quả điều tra cho thấy

ở đây còn tìm thấy nhiều loài hoang dại thuộc họ cam quýt Sự phân chia thành nhiều tiểu vùng sinh thái đã góp phần tạo nên bộ giống cam quýt khá phong phú Theo kết quả điều tra của các nghiên cứu học[32], [29], cho thấy hơn 70 % các giống cam quýt được trồng ở Việt Nam hiện nay cũng được trồng ở vùng núi phía bắc, trong đó có nhiều giống quí như quýt chùm, quýt sen, quýt đỏ, quýt đường, quýt vàng Bắc Sơn, quýt vàng Bắc Quang, các giống cam ngọt Cũng tại vùng miền núi phía bắc đã có những vùng trồng cam quýt nổi tiếng từ lâu đời như cam Mường Pồn (Lai Châu), cam sành

Trang 33

Tuyên Quang, quýt vàng Lạng Sơn, quýt đỏ Yên Bái,…Do điều kiện sinh thái phù hợp nên vườn cam quýt trồng ở miền núi phía bắc có tuổi thọ rất cao, nhiều cây trên 100 tuổi vẫn đang ở thời kỳ cho năng suất cao.

Nhìn chung vùng miền núi phía bắc Việt Nam có tiềm năng lớn về đất đai, những ưu thế về khí hậu để có thể phát triển mạnh nghề trồng cam quýt Khí hậu vùng miền núi phía bắc phù hợp với sinh trưởng, ra hoa bình thường

ở cam quýt Ngoài ra vùng này còn có ưu thế hơn so với vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ giữa các tháng trong năm cũng khá lớn giúp nâng cao khả năng tổng hợp đường và các sắc tố mang đúng đặc trưng của giống, vì vậy mà quả cam quýt phía bắc bao giờ cũng đẹp hơn vùng đồng bằng sông Cửu Long, quả mọng nước, ngọt và ít xơ bã hơn

Tuy nhiên vùng cam quýt miền núi phía bắc còn có những hạn chế cơ bản như: Địa hình đất dốc, lượng mưa phân bố không đều làm đất trồng trọt nhanh bị nghèo kiệt dinh dưỡng do rửa trôi, xói mòn Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến còn rất ít do hạn chế về trình độ học vấn và nhận thức của người dân, chủ yếu vẫn là độc canh một giống, canh tác theo các phương pháp truyền thống, do vậy chưa đi vào thâm canh tăng năng suất cây ăn quả Việc tuyển chọn những giống tốt còn chưa được quan tâm, các giống hiện tại đã bị thoái hoá nhiều do sử dụng các phương pháp nhân giống truyền thống mà chủ yếu

là phương pháp gieo hạt Địa bàn rất phân tán, giao thông đi lại khó khăn, hạ tầng cơ sở nghèo nàn, rất khó khăn trong việc tiếp thị để tiêu thụ cũng như chế biến sản phẩm Nếu khắc phục được các trở ngại trên thì vùng sản xuất cam quýt miền núi phía bắc sẽ trở thành vùng sản xuất quan trọng với cam quýt nói riêng và cây ăn quả nói chung

* Vùng sản xuất cam quýt ven biển miền trung

Hay còn gọi là vùng khu IV cũ gồm các tỉnh như: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình trải dài từ 18 - 20030’ vĩ độ bắc Năm 2007 diện tích cam quýt

Trang 34

vùng miền trung là 8,29 nghìn ha (chiếm 10,7%) và sản lượng đạt 0,57 triệu tấn (chiếm 7,1%), đứng thứ 3 sau khu vực đồng bằng sông Cửu Long và vùng miền núi phía bắc Trọng điểm trồng cam quýt vùng này phải kể đến là vùng Phủ Quỳ Nghệ An, vùng cam Phủ Quỳ gồm một cụm các nông trường chuyên cam quýt có diện tích hàng nghìn ha Đây là khu vực trồng cam quýt có ưu thế

về tiềm năng đất đai, được nhà nước đầu tư xây dựng các nông trường vì vậy nơi đây có đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân có kinh nghiệm về cây có múi [18] Đồng thời cũng là nơi được thử nghiệm trồng nhiều giống nhập nội nhiều nhất ở nước ta Vùng Phủ Quỳ ở phía tây bắc tỉnh Nghệ An từ 19,09 độ đến 19,30 độ vĩ bắc, thuộc địa phận huyện Nghĩa Đàn và một phần huyện Quỳ Hợp với tổng diện tích tự nhiên là 730000 ha Trong đó có đến 40 % là đất đỏ bazan, ngoài ra còn một số đất đá vôi, phù sa cổ,… đất có độ dốc thoai thoải từ 3 - 60

rất thuận lợi để phát triển cam quýt [13] Khí hậu vùng Phủ Quỳ phân chia thành 4 mùa rất rõ: Xuân - hè - thu - đông, nhiệt độ bình quân trong các tháng mùa đông vùng Phủ Quỳ từ 15 - 170

C, tháng lạnh nhất là tháng 1 có thể xuống đến 20C, số ngày có nhiệt độ dưới 10 khá lớn, yếu tố này cũng ít nhiều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt Nhiệt

độ trung bình trong các tháng mùa nóng từ 27 - 300C, có khi nhiệt độ lên đến 33,0 - 33,60C hoặc cá biệt lên đến 420

C Mưa ở vùng Phủ Quỳ khoảng 1600 mm/năm phân bố không đều và tập chung chủ yếu vào mùa nóng gây nên hiện tượng xói mòn đất vào mùa mưa và khô hạn vào mùa đông Vùng cam quýt Phủ Quỳ được hình thành cùng với việc xây dựng hàng loạt các nông trường chuyên canh cam quýt, ở đây có nhiều giống nhập nội từ nước ngoài được trồng với mục đích xuất khẩu

Tuy vậy vùng cam quýt miền trung còn có những mặt hạn chế như: Thời tiết khí hậu tương đối khắc nghiệt, mưa về mùa nóng, khô về mùa đông phần nào hạn chế sự sinh trưởng của cam quýt Sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật không ổn định và không đồng đều giữa các địa phương trong vùng, ở đây cần xác định lại cơ cấu giống hợp lý nhằm sản xuất phục vụ cho xuất khẩu

Trang 35

* Vùng cam quýt đồng bằng sông Cửu Long

Bao gồm các tỉnh như Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh,… vùng đồng bằng sông Cửu Long có lịch sử trồng cam quýt khá lâu đời gắn liền với việc khai phá vùng đất này ĐBSCL có diện tích cây ăn trái xấp xỉ 378 nghìn ha trong đó có các loại cây đặc sản như: Sầu riêng, Xoài cát Hoà Lộc, vú sữa lò rèn, bưởi Năm Roi, bưởi da xanh, cam sành, chôm chôm… Tập trung nhiều ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang… Sản lượng trái cây hàng năm dự tính khoảng 4,4 triệu tấn [27] Cam quýt được trồng nhiều ở các vùng phù sa ven sông Tiền, sông Hậu, nông dân ở đây có trình độ trồng cam quýt khá cao, đặc biệt trong kỹ thuật chăm sóc như khắc phục hiện tượng ra quả cách năm, điều khiển ra hoa sớm, muộn, tỉa cành, tạo tán cân đối, hạn chế chiều cao của cây, trồng dày hợp lý

để tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời, dinh dưỡng khoáng, nước và khoảng không gian, tạo hình thành một sự cân bằng khá hoàn chỉnh giữa cây và môi trường sinh thái vùng đồng bằng

Vùng đồng bằng sông Cửu Long có vị trí từ 9015 đến 10030 vĩ độ bắc, đây là vùng được tạo nên bởi sông Mekong chảy qua địa phận Việt Nam trước khi đổ ra biển Địa hình của vùng này khá bằng phẳng, cao hơn mực nước biển 3 - 6 m, hầu như không có mùa đông, nhiệt độ khá cao và ôn hoà, nhiệt độ trung bình năm là 24,5 - 29,80C, nhiệt độ tháng nóng nhất 28 - 29 0

C không chênh lệch nhiều so với tháng lạnh nhất (21 - 220

C) Lượng mưa trung bình từ 1300 - 2000 mm, chủ yếu tập trung vào mùa mưa rừ tháng 5 đến tháng 11 (90%), mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 lượng mưa chỉ vào khoảng

10 % lượng mưa cả năm Người nông dân ở đây đã có những biện pháp trồng trọt thích hợp để tránh sự thay đổi không ổn định của mực nước ngầm và những tháng mùa mưa lũ Các vườn cam vùng trũng được trồng trên luống cao hoặc xung quanh vườn được đắp bờ nổi để tránh nước lũ tràn vào

Trang 36

Trước đây cây cam quýt được trồng chủ yếu bằng cách chiết, một số gieo hạt, hiện nay chủ yếu áp dụng phương pháp nhân giống bằng phương pháp ghép là phương pháp có nhiều ưu điểm giúp cho cây khoẻ mạnh, bộ rễ khoẻ, chống chịu gió bão tốt Vùng cam quýt đồng bằng sông Cửu Long cũng có một tập đoàn giống khá phong phú của địa phương và nhập nội Các thuỷ nhân Trung Hoa và Pháp đã mang nhiều giống cam quýt quí trồng ở vùng nam bộ, các giống được ưa chuộng nhiều như giống cam giấy, cam Navel, cam sành, cam mật, quýt xiêm, quýt đường, bưởi đường, bưởi long tuyền Đặc biệt ở đây có giống bưởi địa phương là bưởi Năm Roi quả to vừa phải, ngọt pha vị chua nhẹ, không hạt rất phù hợp cho xuất khẩu Vùng cam quýt đồng bằng sông Cửu Long phát triển mạnh nhờ khí hậu, đất đai khá phù hợp

và một thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn là thành phố Hồ Chí Minh và khu vực lân cận Dòng sông Mekong đã tạo nên giao thông đường thuỷ khá thuận lợi giúp tiêu thụ nhanh sản phẩm cho nội địa và xuất khẩu Tuy nhiên vùng cam quýt này còn một số mặt khó khăn đó là nhiệt độ chêch lệch ngày

và đêm không cao, thời tiết nóng quanh năm, lũ lụt và sâu bệnh phá hại nhiều làm năng suất, chất lượng giảm nhiều

1.3.3 Những khó khăn trong việc trồng cam quýt ở nước ta

Vùng sản xuất cây ăn quả tập trung chuyên canh, hàng hoá còn ít, quy

mô nhỏ, manh mún chưa tương xứng với tiềm năng Ngoài một số vùng chuyên canh quy mô lớn như cam quýt ở Hà Giang, Hoà Bình, Nghệ An; nhiều vùng sản xuất cây ăn quả còn manh mún, đa số diện tích cây ăn quả là các vườn tạp, chưa được đầu tư về quy hoạch, cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ Giá trị sản phẩm thấp, không ổn định

Nhiều giống cây ăn quả năng suất, chất lượng thấp Sản xuất cây ăn quả những năm qua chủ yếu là sử dụng các giống trong nước, giống bản địa, năng suất, chất lượng thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường trong và

Trang 37

ngoài nước.Việc một số cơ quan nghiên cứu khoa học và địa phương mấy năm gần đây đã chú ý đến bình tuyển cây đầu dòng phục vụ sản xuất nhưng

số lượng rất nhỏ so với yêu cầu của sản xuất Đa số bà con nông dân nhân giống tự phát, không có vườn cây đầu dòng hoặc cây đầu dòng được quản lí theo pháp lệnh giống cây trồng

Việc đầu tư nghiên cứu chọn tạo những giống cây ăn quả có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với thị hiếu của khách hàng chưa thoả đáng Đây

là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc chậm thay đổi các giống cây ăn quả có chất lượng thấp thời gian qua

Thị trường cam quýt trong nước và xuất khẩu không ổn định, giá cả bấp bênh, nhất là sau sự sụp đổ của các nước đông Âu, thị trường xuất khẩu cam quýt của Việt Nam bị thay đổi theo hướng bất lợi Do sự nhập khẩu bất hợp pháp cam quýt từ Trung Quốc với giá rẻ đã làm giá cam quýt nội địa giảm đi nhiều

Thiếu một kế hoạch đầu tư, quy hoạch phát triển vùng trồng cam quýt một cách thống nhất, đồng bộ, đôi khi các vùng cam quýt được hình thành tự phát trong sản xuất Những yếu tố trên đã ảnh hưởng không ít nghề trồng cam quýt ở nước ta

1.3.4 Chiến lược nghiên cứu tạo giống không hạt ở cây cam quýt

Nước ta nằm ở trung tâm phát sinh và vùng phân bố của nhiều giống cây cam quýt với những điều kiện thời tiết khí hậu thích hợp với phát triển cây ăn quả ở quy mô lớn Tiêu thụ quả cam quýt bình quân đầu người ở nước ta còn rất thấp, do vậy thị trường và diện tích trồng cây cam quýt còn phải gia tăng mạnh Tuy nhiên hầu hết các giống cây ăn cam quýt ở nước ta

là các giống nhiều hạt, tiêu chuẩn chất lượng thấp Một số giống đặc sản chất lượng cao, có tiềm năng xuất khẩu như bưởi Năm Roi nhưng bản chất của tính trạng không hạt của giống này chưa được nghiên cứu Do vậy, việc nghiên cứu tạo giống không hạt và đặc điểm di truyền tính trạng không hạt ở cây cam quýt là cần thiết

Trang 38

Các chiến lược tạo cây cam quýt không hạt chủ yếu ở nước ta là:

1 Tạo các đột biến bất dục đực hoặc bất dục đực đồng thời với bất dục cái bằng phương pháp gây đột biến thông qua chiếu xạ mắt ghép, hoặc tạo các biến dị tế bào soma Phương pháp này được ứng dụng chủ yếu để cải tạo tính trạng nhiều hạt của các giống cam quýt ưu việt địa phương

2 Tạo các giống không hạt dựa trên các đặc tính bất tự hoà hợp (Self Incompatibility) Phương pháp này được ứng dụng nhiều trong tạo các giống lai mới không hạt bằng lai 2 giống bất tự hoà hợp với nhau

3 Tạo giống tam bội thể ưu thế lai

- Một trong những chiến lược tạo giống tam bội thể quan trọng nhất là lai giữa giống nhị bội (2n) với các dòng tứ bội thể (4n) Do vậy phương pháp cứu phôi in vitro đã được sử dụng phổ biến để tạo ra nhiều cây tam bội hơn Khi lai giữa giống nhị bội và giống tứ bội khác biệt nhau về kiểu gen, ta sẽ thu được dòng tam bội dị hợp (Heterotriploid) có thể có ưu thế lai cao

- Tạo giống tam bội thể ưu thế lai bằng lai (dung hợp) tế bào trần nhị bội thể (của một giống) với tế bào trần đơn bội thể (từ giống khác) và từ đó tái sinh cây tam bội thể từ tế bào dung hợp, phương pháp này đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước (Nhật, Mỹ, Pháp, Trung Quốc,…) Nhược điểm của phương pháp này là thiếu nguồn gen đơn bội Để khắc phục nhược điểm này các kỹ thuật đơn bội như nuôi cấy bao phấn, noãn chưa qua thụ tinh đã và đang được nghiên cứu triển khai Tái sinh cây tam bội trực tiếp từ nuôi cấy nội nhũ của hạt non Phương pháp này khó thực hiện do hiệu quả tái sinh cây tam bội từ nội nhũ còn thấp [29]

- Cứu phôi tam bội từ nuôi cấy hạt kém phát triển ở các cặp lai giữa hai giống nhị bội Phương pháp này được sử dụng rộng rãi nhờ tìm ra các nguồn gen có khả năng đặc biệt trong tạo phôi tam bội thể tạo dòng tứ bội thể[29]

Trang 39

- Một trong các chiến lược tạo giống tam bội thể quan trọng nhất là lai giữa giống nhị bội (2n) với các dòng tứ bội thể (4n) Tuy vậy, chiến lược này

có hạn chế cơ bản là sự thiếu hụt nguồn gen tứ bội dùng trong lai tạo Các kỹ thuật tạo dòng tứ bội thể khác nhau dưới đây đã được nghiên cứu:

+ Tạo các dòng tứ bội thể bằng xử lý Colchicine mắt ghép trên cành của cây đã ra hoa (in vitro), phương pháp này tạo ra dòng tứ bội có khả năng ra hoa rất sớm, rút ngắn được thời gian tạo giống tam bội

+ Tạo các dòng tứ bội thể bằng xử lý Colchicine hạt

+ Tạo dòng tứ bội thể bằng xử lý Colchicine chồi, mô sẹo phôi hoá trong ống nghiệm (in vitro)

+ Tạo dòng tứ bội bằng dung hợp tế bào trần nhị bội với nhau

Các con lai tứ bội thể thu nhận được bằng dung hợp tế bào trần giữa các giống, loài khác nhau đã tỏ ra rất hiệu quả trong tạo giống gốc ghép lùn và các đặc tính kháng với nhiều sâu bệnh ở cây cam quýt [29]

Trong 4 phương pháp tạo dòng tứ bội thể ở cây cam quýt nêu trên, phương pháp đầu tiên ưu việt hơn cả, dễ làm hiệu quả nhanh Các phương pháp còn lại cho cây tứ bội trẻ hoá, rất chậm ra hoa

Các phương pháp tạo giống không hạt có hiệu quả cao khi sử dụng nguồn gen có đặc tính trinh sản (arthenocarpy) Tính trinh sản cho phép cây

có quả không hạt với năng suất cao ngay cả khi hoa không được thụ phấn

4 Chiến lược tạo giống không hạt bằng kỹ thuật gen

Đây là một chiến lược mới được xây dựng dựa trên phát minh về công nghệ RNAi gây bất hoạt gen (làm câm gen - gene silencing) Công nghệ RNAi được trao giải thưởng Nobel năm 2006 Kỹ thuật này dựa trên cơ sở làm bất hoạt một trong các gen tham gia trong quá trình phát triển của hạt Một số gen tham gia quá trình tạo hạt đã và đang được xác định, phân lập, giải trình tự gen Từ hiểu biết trình tự của gen này, các nhà khoa học xẽ thiết

Trang 40

kế các công cụ để làm câm gen (làm mất hoạt động) một trong các gen tạo hạt Kỹ thuật này cho phép các cây thụ phấn thụ tinh bình thường Sau đó hạt

bị thui đi và quả trở nên không hạt [29]

1.3.5 Những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về cam quýt liên quan đến đề tài

1.3.5.1 Nghiên cứu về giống

Theo W.C.Zhang (1981) có 7 giống bưởi và bưởi chùm là những giống

có nguồn gốc từ cây lai Lai tạo là phương pháp tạo ra giống mới rất phổ biến trên thế giới ở Trung Quốc dùng phương pháp lai tạo đã tạo ra được các giống bưởi với ưu thế lai nổi trội rất có triển vọng cho chiến lược phát triển cây ăn quả có múi hàng hoá của nước này với chất lượng cao, giá thành hạ, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới [62]

Theo nghiên cứu của J Saunt (1990): Các giống bưởi có triển vọng phát triển tốt ở các nước như: Thái Lan 3 giống, Trung Quốc 3 giống, Indonexia 5 giống [41]

Việt Nam phương pháp lai tạo giống đối với cây có múi chưa được nghiên cứu nhiều, mới được thực hiện bước đầu ở một số viện nghiên cứu đầu nghành như: Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện nghiên cứu Rau quả Trung Ương

Philippin: Tại trung tâm nghiên cứu cây trồng quốc tế Davao tác giả N.T.Estellena và cộng sự (1992) đã nghiên cứu khá sâu về tập đoàn giống bưởi, kết quả đã xác định được 4 giống bưởi có năng suất cao, chất lượng tốt

và khả năng chống chịu với dịch hại khá tốt như: Delacruzp - Piuk; Magallanes và Amoymantan, Siamese [53]

Ở Việt Nam công tác nghiên cứu về cây ăn quả cũng đã được Nhà nước quan tâm Các nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu chuyên ngành cũng đã gặt hái được những kết quả không nhỏ trong công tác nghiên cứu của mình,

Ngày đăng: 19/09/2014, 18:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Diện tích trồng cam quýt trên thế giới và ở các châu lục- 2008 (1000 ha) - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 1.1. Diện tích trồng cam quýt trên thế giới và ở các châu lục- 2008 (1000 ha) (Trang 18)
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng Bưởi, Cam ở một số nước - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng Bưởi, Cam ở một số nước (Trang 21)
Bảng 1.6. Kết quả điều tra các giống cam quýt ở Việt Nam - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 1.6. Kết quả điều tra các giống cam quýt ở Việt Nam (Trang 28)
Bảng 1.7.  Một số giống cam quýt nhập nội vào Việt Nam trong 5 năm trở lại đây - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 1.7. Một số giống cam quýt nhập nội vào Việt Nam trong 5 năm trở lại đây (Trang 30)
Bảng 1.8a.  Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 1.8a. Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất (Trang 57)
Bảng 3.1:  Đặc điểm thân cành của các giống bưởi nghiên cứu - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 3.1 Đặc điểm thân cành của các giống bưởi nghiên cứu (Trang 70)
Bảng 3.4: Đặc điểm hình thái bộ lá của các dòng giống cam  Chỉ tiêu - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 3.4 Đặc điểm hình thái bộ lá của các dòng giống cam Chỉ tiêu (Trang 74)
Bảng 3.5. Đặc điểm hoa của các dòng giống cam quýt nghiên cứu - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 3.5. Đặc điểm hoa của các dòng giống cam quýt nghiên cứu (Trang 75)
Bảng 3.6. Thời gian ra lộc của các dòng giống cam quýt      Đợt lộc - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 3.6. Thời gian ra lộc của các dòng giống cam quýt Đợt lộc (Trang 77)
Bảng 3.7: Đặc điểm sinh trưởng của lộc xuân  Chỉ tiêu - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 3.7 Đặc điểm sinh trưởng của lộc xuân Chỉ tiêu (Trang 79)
Bảng 3.8. Đặc điểm sinh trưởng của lộc xuân  Chỉ tiêu - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 3.8. Đặc điểm sinh trưởng của lộc xuân Chỉ tiêu (Trang 79)
Bảng 3.9: Đặc điểm sinh trưởng của lộc hè  Chỉ tiêu - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 3.9 Đặc điểm sinh trưởng của lộc hè Chỉ tiêu (Trang 80)
Bảng 3.10. Đặc điểm sinh trưởng của lộc hè  Chỉ tiêu - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 3.10. Đặc điểm sinh trưởng của lộc hè Chỉ tiêu (Trang 81)
Bảng 3.11: Đặc điểm sinh trưởng của đợt lộc thu  Chỉ tiêu - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 3.11 Đặc điểm sinh trưởng của đợt lộc thu Chỉ tiêu (Trang 82)
Bảng 3.12: Đặc điểm sinh trưởng của đợt lộc thu  Chỉ tiêu - nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại thái nguyên
Bảng 3.12 Đặc điểm sinh trưởng của đợt lộc thu Chỉ tiêu (Trang 82)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w