1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai

128 522 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn VƯƠNG TIẾN SỸ Tên đề tài: NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU T

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

VƯƠNG TIẾN SỸ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN

VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TẠI HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN THỊ VÂN

Thái Nguyên, năm 2010

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng cho bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ LUẬN VĂN Vương Tiến Sỹ

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Với mong muốn đóng góp công sức của mình vào sự nghiệp phát triển

nông nghiệp vùng cao, từ năm 2009 đến nay, tôi đã thực hiện đề tài:“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện Mường Khương, Tỉnh Lào Cai"

Để hoàn thành được bản luận văn, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp

Nhân dịp này cho tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa học TS Phan Thị Vân đã tận tình giúp đỡ tôi trong cả quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành các nội dung của đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và cán bộ công nhân viên của

Sở Ngoại vụ tỉnh Lào Cai, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai, UBND huyện Mường Khương, UBND xã Tung Chung Phố và các hộ nông dân xã Tung Chung Phố đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc điều tra, nghiên cứu, thu thập số liệu thực tiễn và thừa kế các số liệu sẵn có để hoàn thành tốt luận văn Cảm ơn các em sinh viên khóa 37, 38 khoa Nông học đã giúp tôi thực hiện tốt các thí nghiệm đồng ruộng

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của tất cả bạn bè, đồng nghiệp Xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vương Tiến Sỹ

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Yêu cầu của đề tài 3

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

4.1 Ý nghĩa khoa học 3

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Vai trò của giống trong sản xuất đậu tương 4

1.3 Các phương pháp chọn tạo giống đậu tương 7

1.3.1 Phương pháp nhập nội và chọn lọc 8

1.3.2 Phương pháp lai tạo 9

1.3.3 Phương pháp xử lý đột biến 10 1.4 Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và Việt Nam 13

1.4.1 Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới 13

1.4.2 Nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam 17

1.5 Mối quan hệ giữa giống với điều kiện sinh thái 20

1.5.1 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương 20

1.5.2 Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa giống với điều kiện sinh thái 23

1.6 Kết quả nghiên cứu mối tương quan giữa năng suất với đặc điểm nông.học của giống 25

1.7 Ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác đến năng suất đậu tương 28

1.7.1 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng, phát triển của cây đậu tương 28

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.7.2 Ảnh hưởng thời vụ và mật độ đến sinh trưởng, phát triển của đậu tương 29

1.8 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Lào Cai 30

1.8.1 Điều kiện tự nhiên 30

1.8.2 Điều kiện kinh tế xã hội 32

1.9 Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Lào Cai 32

Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35 2.1 Vật liệu nghiên cứu 35

2.2 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu 36

2.3 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm 36

2.4 Nội dung nghiên cứu 37

2.5 Phương pháp nghiên cứu 37

2.5.1 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm 37

2.5.2 Xây dựng mô hình trình diễn giống ưu tú 41

2.6 Xác định một số chỉ tiêu hóa sinh của các giống thí nghiệm 42

2.7 Phương pháp xử lý số liệu 42

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm 43

3.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống đậu tương thí nghiệm vụ Xuân và Hè thu 2009 43

3.1.2 Đặc điểm hình thái của các giống đậu tương thí nghiệm 47

3.1.3 Khả năng hình thành nốt sần của các giống đậu tương thí nghiệm 51

3.1.4 Đặc điểm sinh lý của các giống đậu tương thí nghiệm 54

3.1.5 Khả năng chống chịu của các giống đậu tương thí nghiệm 58

3.1.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí nghiệm 63

3.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hóa sinh của các giống thí nghiệm 69

3.3 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn giống ưu tú 71

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75

1 Kết luận 75

2 Đề nghị 76

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 85

Diễn biến thời tiết khí hậu của Lào Cai trong thời gian nghiên cứu 85

Một số hình ảnh thực hiện đề tài 86

Kết quả xử lý thống kê 90

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2 FAO: Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới

3 AVRDC: Trung tâm phát triển rau màu Á Châu

5 CSDTL: Chỉ số diện tích lá

7 % so với M tươi: % so với khối lượng tươi

8 M1000: Khối lượng 1000 hạt

9 NSLT: Năng suất lý thuyết

10 NSTT: Năng suất thực thu

11 EEC: Cộng đồng kinh tế Châu Âu

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang Bảng 1.1: Diện tích trồng cây CNSH ở một số nước năm 2007 11 Bảng 1.2: Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Lào Cai 33 Bảng 2.1: Nguồn gốc và đặc điểm của các giống thí nghiệm 35 Bảng 3.1: Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống thí

nghiệm vụ Xuân và Hè thu năm 2009

44

Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái của các giống thí nghiệm vụ Xuân và

Hè thu năm 2009

48

Bảng 3.3: Khả năng hình thành nốt sần của các giống thí nghiệm vụ

Xuân và Hè thu năm 2009

52

Bảng 3.4: Chỉ số diện tích lá của các giống thí nghiệm vụ Xuân và Hè

thu năm 2009

55

Bảng 3.5: Khả năng tích lũy vật chất khô của các giống thí nghiệm vụ

Xuân và Hè thu năm 2009

Bảng 3.8: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của

các giống thí nghiệm vụ Xuân năm 2009

64

Bảng 3.9: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của

các giống thí nghiệm vụ Hè thu năm 2009

65

Bảng 3.10: Năng suất thực thu của các giống thí nghiệm vụ Xuân và

Hè thu năm 2009

68

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 3.11: Một số chỉ tiêu hóa sinh của các giống thí nghiệm 70 Bảng 3.12: Giống, địa điểm và quy mô trình diễn giống ưu tú 72 Bảng 3.13: Một số đặc điểm hình thái và năng suất của giống ưu tú vụ

Xuân 2010 tại Mường Khương- Lào Cai

73

Bảng 3.14: Kết quả đánh giá của nông dân đối với các giống trong mô

hình trình diễn vụ Xuân 2010 tại Mường Khương- Lào Cai

74

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đậu tương (Glycine max L.) là cây trồng ngắn ngày, được dùng làm thực

phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng rất cao, hàm lượng protein chiếm 38-40%, 18-20% chất béo, ngoài ra còn có rất nhiều vitamine A, B, C,

E, K… và các loại muối khoáng khác Protein của đậu tương đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết, đặc biệt là 2 axit amin lizin và triptophan Protein của đậu tương không có các thành phần tạo colesteron, không có các dạng axit uric nhưng lại có lexithin làm tăng trí nhớ, tái sinh mô, cứng xương

và tăng sức đề kháng của cơ thể (Phạm Văn Thiều, 2002) [36]

Sản phẩm phụ của đậu tương là nguồn thức ăn rất tốt cho gia súc , 1kg hạt

đậu tương đương với 1,38 đơn vị thức ăn chăn nuôi Lượng protein trong khô dầu đậu tương đạt 44-47,5% và chất béo 0,5 % (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [9] Đậu tương là cây có khả năng tích lũy đạm của khí trời, rễ đậu tương có

vi khuẩn Rhizobium Japonicum có thể làm giàu đạm cho đất nhờ vào sự cộng

sinh của các vi khuẩn nốt sần , vì vậy đậu tương tác dụng cải tạo và bồi dưỡng đất rất tốt Trong điều kiện thuận lợi , lượng đạm các vi khuẩ n nốt sần có thể tích lũy được là 40-70 kg/ha (Trần Thị Trường, 2006) [38] Do có thời gian sinh trưởng ngắn nên đậu tương còn là cây trồng luân canh, xen canh rất quan trọng trong cơ cấu cây trồng, góp phần nâng cao năng suất, cải tạo đất và nâng hệ số sử dụng đất bền vững

Chính vì có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp nên sản xuất đậu tương trên thế giới phát triển rất mạnh Năm 2008, diện tích đậu tương trên thế giới đạt 96,9 triệu ha, năng suất đạt 23,8 tạ/ha và sản lượng đạt 231,0 triệu tấn (FAO,2010) [58]

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ở Việt Nam từ thời Hùng Vương dân nước Văn Lang đã biết trồng đậu tương Do ý thức được giá trị của cây đậu tương nên sản xuất đậu tương ở nước ta khá phát triển, năm 2008 diện tích đậu tương của cả nước là 190,5 nghìn ha, năng suất đạt 14,0 tạ/ha, sản lượng đạt 268,6 nghìn tấn ((FAO,2010)[58] Đậu tương được coi là cây trồng nông nghiệp quan trọng, đặc biệt ở vùng núi, đất đai nghèo dinh dưỡng như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Lào Cai …

Lào Cai là tỉnh có địa hình tương đối phức tạp, đất có độ dốc lớn, khí hậu khắc nghiệt, nhiệt độ trung bình năm thấp (15-18oC), lượng mưa trung bình đạt từ 1800-2000 mm nhưng phân bố không đều giữa các tháng, mưa thường tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 do đó thường gặp hạn, rét ở đầu vụ xuân và cuối vụ đông Mặc dù là cây trồng có giá trị kinh tế lớn nhưng sản xuất đậu tương của Lào Cai còn phát triển rất chậm Năm 2008, diện tích trồng đậu tương của tỉnh Lào Cai là 5,2 nghìn ha, năng suất đạt 9,4 tạ/ha, chỉ bằng 67,1% năng suất trung bình của cả nước (Tổng cục thống kê, 2010) [39] Một trong những yếu tố hạn chế đến năng suất đậu tương của Lào Cai là do chưa có bộ giống năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng và chưa áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất Chính vì vậy, để phát triển sản xuất đậu tương của tỉnh cần cải thiện cơ cấu giống và xác định

kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mới

Xuất phát từ những yêu cầu trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của

một số giống đậu tương tại huyện Mường Khương, Tỉnh Lào Cai"

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Xác định được giống đậu tương sinh trưởng, phát triển tốt, chất lượng cao phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Lào Cai

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

- Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh lý của các giống thí nghiệm

- Theo dõi khả năng chống chịu (chống chịu sâu bệnh, chống đổ) của các giống thí nghiệm

- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí nghiệm

- Phân tích một số chỉ tiêu hóa sinh (protein, lipid) để đánh giá chất lượng của các giống thí nghiệm

- So sánh và sơ bộ kết luận về khả năng sinh trưởng, chất lượng của các giống thí nghiệm, chọn giống ưu tú để khảo nghiệm sản xuất

- Thử nghiệm giống ưu tú trên đồng ruộng của nông dân

4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

4.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là luận cứ quan trọng làm cơ sở xác định năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi của các giống thí nghiệm

- Các kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học chọn giống phù hợp với điều kiện sinh thái, kinh tế của tỉnh Lào Cai

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Chọn được giống năng suất cao, chất lượng tốt để phát triển sản xuất đậu tương của tỉnh Lào Cai

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỂ TÀI

Tiến bộ nổi bật của khoa học kỹ thuật trên thế giới những năm cuối thế

kỷ 20 là ứng dụng ưu thế lai trong quá trình chọn tạo giống Các nhà khoa học

đã thành công trong việc lai tạo ra những giống đậu tương mới năng suất cao, khả năng chống chịu tốt hơn các thế hệ trước đó Các giống đậu tương mới sử dụng ưu thế lai trong tạo giống có ưu điểm là năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như hạn, rét… Các giống mới phát triển được trong sản xuất phải có độ đồng đều cao, thể hiện các yếu tố di truyền tốt của giống, có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao, chất lượng tốt và ổn định qua nhiều thế hệ Tuy nhiên để phát huy hiệu quả của giống phải sử dụng phù hợp với điều kiện sinh thái, kinh tế xã hội của từng vùng Các giống khác nhau phản ứng với điều kiện sinh thái của vùng khác nhau Vì vậy, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất và chất lượng của giống trước khi mở rộng sản xuất là vấn đề rất cần thiết

1.2 VAI TRÕ CỦA GIỐNG TRONG SẢN XUẤT ĐẬU TƯƠNG

Trong sản xuất nông nghiệp, giống là một tư liệu sản xuất đặc biệt Trước kia để có giống mới, con người chỉ chọn lọc từ những loại hình có sẵn trong tự nhiên Ngày nay khoa học hiện đại phát triển, công tác giống không chỉ chọn lọc mà còn chủ động tạo ra các giống mới bằng phương pháp lai tạo, dùng tác nhân vật lý, hóa học… Giống tốt là cơ sở tăng năng suất cây trồng, ở hầu hết các loại cây trồng, giống quyết định 65-67% năng suất

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Đối với sản xuất đậu tương, giống được coi là yếu tố quan trọng trong việc tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Trong những năm qua những giống mới đã góp phần cải thiện đánh kể năng suất đậu tương ở Việt Nam Các giống đậu tương sử dụng trong sản xuất có thể chia làm hai loại: Giống cổ truyền và giống mới (Nguyễn Văn Luật, 2005) [29]

Giống cổ truyền có được là do chọn lọc tự nhiên, giống nào thích ứng tốt được giữ lại làm giống cho vụ sau Những giống cổ truyền còn giữ lại đến ngày nay đã qua một thời gian dài chọn lọc tự nhiên và chọn lọc bởi người lao động Nhiều giống cổ truyền mang những đặc tính quý như khả năng chống chịu tốt, chất lượng tốt

Giống mới do áp dụng các phương pháp khoa học chọn tạo ra Các giống mới có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, thích nghi và chịu đựng những điều kiện bất lợi của ngoại cảnh như chua, mặn, hạn, úng… Đối với cây đậu tương, hiệu quả sản xuất được tăng lên rõ rệt khi thay thế giống cũ bằng giống mới Kết quả nghiên cứu của (Bế Thị Uyên, 2001)[40] tại Cao Bằng cho thấy giống DT84 đạt năng suất 15,1 tạ/ha trong khi đó giống địa phương chỉ đạt năng suất 6 tạ/ha Lợi nhuận tăng so với giống địa phương trong cùng một vụ sản xuất là 3.120.000 đồng/ha

Giống đậu tương cao sản DT96 do Viện Di truyền Nông nghiệp chọn tạo được khảo nghiệm Quốc gia qua 3 năm (1998, 2002 và 2003) tại Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hà Nội, Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, với đối chứng là V-74, DT84, ĐT92, VX-92 Ở các điểm khảo nghiệm DT96 đều sinh trưởng, phát triển tốt, chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao hơn các giống đang sử dụng tại địa phương 10-24% (Báo Nông nghiệp Việt Nam, 2003)[2]

Kết quả trồng giống đậu tương VX93 tại Hà Giang cho thấy, VX93 thích hợp với vụ xuân và hè thu, vụ xuân năng suất đạt 16,5 tạ/ha và vụ hè thu là

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13,8 tạ/ha, năng suất cao hơn giống đang trồng tại địa phương là 30% (Nguyễn Hữu Tâm, 2003) [35]

Năm 2006, Nguyễn Xuân Hách [17] đã thử nghiệm giống đậu tương nhập nội Tạp Hoàng số 4 tại Hải Dương, kết quả cho thấy Tạp Hoàng số 4 có tiềm năng năng suất cao hơn 22,6% so với DT84

Tại An Giang vụ hè thu 2007, giống đậu tương cao sản DT2006 được

sử dụng thay thế giống cũ, kết quả cho thấy DT2006 có nhiều ưu điểm vượt trội như thời gian sinh trưởng ngắn (80-85 ngày), thân to, nhiều cành, đạt 60-

70 quả/cây, năng suất đạt 45 tạ/ha, cao hơn giống cũ 12 tạ/ha lợi nhuận cao hơn 10 triệu đồng/ha so với giống cũ (TTX Việt Nam, 2007)[37]

Viện Di truyền nông nghiệp đã trồng thử nghiệm thành công giống đậu tương đột biến chịu hạn DT2008 Giống DT2008 đã có nhiều ưu điểm vượt trội

so với các giống khác, năng suất đạt 18-35 tạ/ha, trong điều kiện khó khăn năng suất cao gấp 1,5-2 lần so với các giống thông thường Tại Võ Nhai, Thái Nguyên năng cao gấp 3-4 lần so với giống đậu tương Cúc Nhật Ở Yên Sơn, Tuyên Quang cùng mức đầu tư như ĐT84 nhưng lợi nhuận của DT2008 đạt 749.050 đồng/sào, còn ĐT84 chỉ đạt 167.050 đồng/sào (Nguyên Khê, 2009) [22]

Giống đậu tương HL-07-15 của Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Hưng Lộc (Đồng Nai) đã được trồng thử nghiệm tại Đồng Tháp HL-07-15 thích nghi với vùng đất gò đồi, cây thấp, chống đổ tốt, kháng được bệnh rỉ sắt, năng suất trên 20 ta/ha, lợi nhuận tăng 2 lần so với giống đậu tương cũ của vùng (giống đậu tương 17A) (Nguyễn Văn Ngộ, 2010) [31]

Trong sản xuất đậu tương, các giống mới đã thể hiện được ưu việt so với các giống cũ, đã khẳng định được vai trò của nó trong cải thiện năng suất Đậu tương là cây trồng ngắn ngày có tầm quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới Do nhu cầu sử dụng sản phẩm của đậu tương ngày càng tăng, nên hàng năm lượng đậu tương lưu thông trên thị

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trường rất lớn, năm 2005 lượng đậu tương xuất nhập khẩu là 63,34 triệu tấn

Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện nay nhiều nước trên thế giới đã đầu tư phát triển sản xuất để nâng cao sản lượng đậu tương bằng cách mở rộng diện tích và cải thiện năng suất Sản xuất đậu tương hiện nay cũng như các ngành nông nghiệp khác đang chịu áp lực rất lớn do biến đổi khí hậu Tiềm năng mở rộng diện tích không đáng kể vì diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp bởi

sự gia tăng dân số, sự phát triển của công nghiệp và do các hiện tượng bất thường xảy ra trong tự nhiên như hạn hán, lũ lụt… Cho nên để đáp ứng nhu cầu của xã hội, giải pháp quan trọng hiện nay là tăng năng suất và sự lựa chọn thích hợp là sử dụng giống mới kết hợp với các biện pháp kỹ thuật tiên tiến phù hợp với yêu cầu của giống

1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỌN TẠO GIỐNG ĐẬU TƯƠNG

Trong chọn tạo giống đậu tương, một mô hình chọn tạo giống thành công, trước hết phụ thuộc vào mục tiêu đặt ra đúng và phương pháp chọn tạo giống hiệu quả Mục tiêu quan trọng của các nhà chọn tạo giống đậu tương cũng như người sản xuất là tiềm năng năng suất của giống

Bên cạnh yếu tố năng suất, nhà chọn tạo giống cần quan tâm đến các yếu

tố ảnh hưởng bất lợi đến năng suất đậu tương như sâu bệnh và ngoại cảnh Tiềm năng năng suất của giống không đạt được nếu bị sâu bệnh phá hại và bị

đổ Chọn giống chống chịu sâu bệnh là mục tiêu quan trọng trong quá trình chọn tạo giống Tính kháng dọc, kháng ngang và chịu sâu bệnh là phương tiện tốt để bảo vệ cây trồng Tính chống đổ là đặc tính quan trọng của cây đậu tương, nếu bị đổ, năng suất đậu tương bị giảm đáng kể Tính chống đổ có thể tăng qua quá trình chọn lọc

Ngoài ra để có giống đậu tương tốt, các nhà chọn tạo giống cần quan tâm đến một số chỉ tiêu nông học như: thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, kích thước hạt, hàm lượng protein, dầu …

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Đậu tương là cây tự thụ vì vậy để tạo ra giống đậu tương mới có thể sử dụng phương pháp chọn lọc các nguồn gen nhập nội, lai tạo và xử lý đột biến

1.3.1 Phương pháp nhập nội và chọn lọc

Nhập nội và sự giao phấn tình cờ trong thiên nhiên giữa các vật liệu nhập nội với các giống đã có đã tạo ra biến dị di truyền cho chọn lọc Đây chính là cơ hội phát triển các giống mới có khả năng cho năng suất cao

Nhập nội là nguồn cung cấp gen hay tổ hợp lai để cải lương một kiểu gen thích ứng tốt đã có Tuy nhiên khi mới nhập nội, một số quần thể cây trồng tỏ

ra thích ứng kém với điều kiện khí hậu mới, vì vậy cần phải tiến hành chọn lọc, khi quần thể mới thích ứng với điều kiện mới thì được công nhận là thích nghi (Trần Đình Long, 1997) [25]

Đối với cây đậu tương, với các nguồn gen nhập nội, phương pháp chọn lọc hiệu quả nhất hiện nay là chỉ số chọn giống

Pesek và Baker (1960) so sánh phương pháp chỉ số chọn giống với chọn lọc từng bước của hai đặc tính có tương quan nghịch với nhau ở thế hệ F6 và F7 Kết quả cho thấy chỉ số chọn giống cho hiệu quả cao hơn, đặc biệt là ở các chỉ tiêu có hệ số di truyền thấp Pritchard và cs (1973), cho rằng ở chỉ tiêu năng suất hạt, chỉ số chọn lọc cho hiệu quả cao hơn chọn lọc trực tiếp khi áp dụng phương pháp chỉ số vào thế hệ F4 và F5 của cặp lai giữa hai dòng (Ngô Thế Dân, 1999) [9]

Kết quả chọn lọc theo chỉ số của Jonhson và cs (1955) [63] ở các tính trạng như thời gian đậu quả, kích thước hạt, tính chống tách hạt, chống đổ, hàm lượng protein và năng suất cho thấy hiệu quả khác nhau giữa các tính trạng Tính trạng thời gian sinh trưởng và khối lượng 1000 hạt chọn lọc theo chỉ số tương đương với chọn lọc trực tiếp Chọn lọc theo chỉ số ở các tính trạng năng suất, tính chống đổ, hàm lượng dầu, hàm lượng đạm đạt 126,2-140,8% ở các quần thể nghiên cứu

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Mặc dù về mặt lý thuyết, chỉ số chọn lọc cho hiệu quả cao hơn, song phương pháp này ứng dụng hạn chế trong việc đánh giá tầm quan trọng của các đặc tính được chọn lọc

1.3.2 Phương pháp lai tạo

Lai là một trong những phương pháp hiệu quả để cải thiện năng suất, chất lượng đậu tương Lai là sự phối hợp tính trạng của hai giống và tạo điều kiện thuận lợi cho việc chọn lọc ra các cây mang đặc tính mong muốn của hai

bố mẹ thông qua tái tổ hợp trong quá trình phân ly đời con cháu Thành công của phương pháp lai phụ thuộc vào việc xác định mục tiêu chọn tạo, tuyển chọn được bố mẹ và phương thức lai, sử dụng quần thể phân ly có hiệu quả và chọn được các dạng hình mong muốn, kiểm nghiệm và đánh giá đúng các dạng có triển vọng đã chọn được (Trần Đình Long, 1997) [25]

Áp dụng nguyên lý trên nhiều giống đậu tương được chọn lọc từ quần thể phân ly của các cặp lai giữa bố mẹ hữu dục

Kết hợp phương pháp lai hữu tính giữa ĐT90 x DT84, áp dụng sơ đồ chọn lọc hạ bậc 1 hạt SSDM, từ năm 1992-1995, Viện Di truyền Nông nghiệp

đã chọn được dòng Đ96, dòng Đ96 được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn công nhận là giống khu vực hóa năm 2002 (giống ĐT96) (Mai Quang Vinh 2003) [45]

Giống đậu tương ĐT94 được chọn tạo từ dòng 86-06 của tổ hợp lai DT84 x EC2044 từ năm 1990 được khu vực hóa năm 1996 (Mai Quang Vinh, 1996) [43] Bằng phương pháp lai hữu tính, Nguyễn Tấn Hinh và cs đã tạo được giống Đ9804 từ tổ hợp lai VX93 x TH184, giống Đ9602 từ tổ hợp lai ĐT74 x ĐT92 Đây là những giống có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất đạt 22-27 tạ/ha vụ xuân, 19-22 tạ/ha vụ đông (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2008) [4]

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Lai tạo là phương pháp rất phổ biến để tạo ra giống đậu tương năng suất cao, chất lượng tốt Tuy nhiên tạo ra quần thể F1 để nghiên cứu ưu thế lai ở đậu tương không phải là thuận lợi vì hoa đậu tương nhỏ, tỷ lệ đậu hạt kém

Giống đậu tương AK-04 được chọn tạo từ cặp lai ĐH4 x Santamaria, AK04

có tiềm năng năng suất cao, thích ứng rộng, song hạn chế lớn nhất là hạt có màu xanh, chưa đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng Khắc phục hạn chế này của lai tạo, Viện Di truyền Nông nghiệp đã tiến hành xử lý bằng tác nhân tia gamma –

Co60, 18kr, phân lập được dòng AK04/21 có hạt màu vàng sáng Quá trình chọn lọc đến M7 tạo được giống DT95 (Mai Quang Vinh, 1997) [44]

Nghiên cứu và sản xuất đậu tương đã khẳng định được ưu điểm của tạo giống bằng đột biến, tuy nhiên tạo giống bằng phương pháp đột biến tốn kém hơn lai và các thế hệ sau thường xảy ra biến dị

Ngày nay khoa học phát triển ngoài việc sử dụng các phương pháp truyền thống để tạo ra các giống cây trồng vật nuôi mới, các nhà khoa học còn

sử dụng công nghệ sinh học trong tạo giống

Sử dụng công nghệ sinh học (CNSH) trong tạo giống góp phần tăng sản lượng cây trồng toàn cầu để tăng cường an ninh lương thực, thức ăn chăn

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nuôi, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo hệ thống canh tác cây trồng bền vững đồng thời bảo tồn sự đa dạng sinh học, giảm các ảnh hưởng của nông nghiệp đối với môi trường, hạn chế sự thay đổi khí hậu toàn cầu và giảm hiệu ứng nhà kính

Triển vọng của cây trồng công nghệ sinh học rất khả quan Số lượng các nước trồng cây công nghệ sinh học, diện tích canh tác cây công nghệ sinh học

dự kiến sẽ tăng gấp đôi trong thập niên thứ hai, từ 2006 đến 2015

Bảng 1.1: Diện tích trồng cây CNSH ở một số nước năm 2007 Nước Diện tích

(triệu ha)

Cây trồng CNSH

Mỹ 57,7 Đậu tương, ngô, bông, cải, canola, bí, đu đủ Argentina 19,1 Đậu tương, ngô, bông

Canada 7,0 Cải canola, ngô, đậu tương

Trung Quốc 3,8 Bông, cà chua, thuốc lá, đu đủ, hạt tiêu

South Africa 1,8 Đậu tương, ngô, bông

Nguồn: Clive, năm 2007 ( trích theo Nguyễn Văn Đồng, 2009)[15]

Từ năm 1996 đến năm 2007, sau 12 năm được đưa vào canh tác đại trà,

do mang lại lợi ích ổn định và bền vững nên cây trồng công nghệ sinh học đang được trồng ngày càng nhiều trên toàn thế giới Năm 2007, diện tích cây trồng công nghệ sinh học được mở rộng tới 114, 3 triệu héc-ta, tăng 67 lần so với năm 1996, đưa công nghệ sinh học trở thành thành tựu được ứng dụng nhanh nhất trong nông nghiệp

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Đồ thị 1.1: Diện tích cây trồng CNSH trên toàn cầu

( trích theoNguyễn Văn Đồng, 2009)[15]

Đậu tương cũng là một trong những cây trồng công nghệ sinh học được

sử dụng phổ biến ở các nước phát triển như: Mỹ, Canada, Brazil, Acgentina…

Ở Việt Nam Trần Thị Cúc Hòa (Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long) đã nghiên cứu khả năng đáp ứng với chuyển nạp gen của 91 giống đậu tương Chuyển nạp gen được thực hiện là nốt lá mầm lây nhiễm với vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens và thanh lọc bằng glufosinate Kết quả cho thấy,

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trong 91 giống nghiên cứu, có sự đáp ứng khác nhau với hiệu quả chuyển nạp gen Các giống đậu tương Việt Nam sử dụng được trong chuyển nạp gen gồm MTĐ176, ĐT4, ĐT96, MTĐ 652-5, HL202 (Trần Thị Cúc Hòa, 2007)[16] Nghiên cứu sử dụng công nghệ sinh học trong tạo giống sẽ mở ra hướng mới để tạo được các giống đậu tương đáp ứng yêu cầu của sản xuất

1.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.4.1 Nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới

Hiện nay để cung cấp đủ lương thực, thực phẩm chất lượng nuôi sống loài người trong bối cảnh khí hậu, môi trường sinh thái có nhiều biến đổi, sản xuất nông nghiệp phải thực hiện theo phương thức canh tác hiện đại Phương thức canh tác này áp dụng một cách khoa học các yếu tố kỹ thuật như giống, nước, phân bón, chăm sóc…đồng thời bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi trường Trong các yếu tố trên giống giữ vai trò quan trọng hàng đầu, vì vậy để nâng cao sản lượng đậu tương, các quốc gia trên thế giới rất quan tâm đến việc cải thiện bộ giống đậu tương phục vụ sản xuất Đậu tương là cây trồng tự thụ phấn nên phương pháp chọn tạo giống được sử dụng phổ biến là đột biến, lai tạo… Công tác chọn tạo giống đậu tương trên thế giới được tiến hành với quy mô rộng lớn, đã đạt được nhiều kết quả khả quan, tạo ra nhiều giống phù hợp với nhiều vùng sinh thái

Hiện nay nguồn gen đậu tương được lưu giữ trên thế giới là 45.038 mẫu giống, tập trung chủ yếu ở 15 nước như: Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Đài Loan, Astralia, Pháp, Nigienia, Nhật Bản, Triều Tiên, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan, Brazil và Liên Xô (Trần Đình Long, 1991) [24]

Bốn nước sản xuất đậu tương lớn nhất trên thế giới là Mỹ (30,2 triệu ha), Argentina (16,4 triệu ha), Brazil (21,3 triệu ha), Trung Quốc (9,1 triệu ha), sản lượng đậu tương của bốn nước này đã chiếm 87,5% tổng sản lượng đậu

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tương của toàn thế giới (FAO,2010) [58] Những nước này cũng có nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương rất phát triển

Từ những năm 1804 đến 1890, ở Mỹ đậu tương được trồng trong nhiều điều kiện khí hậu, đất đai khác nhau để làm thức ăn cho gia súc Các nhà khoa học Mỹ nhanh chóng nhận biết được vai trò quan trọng của cây đậu tương trong nền kinh tế cho nên quá trình nghiên cứu đậu tương được hình thành rất sớm, sau năm 1890, nghiên cứu đậu tương ở Mỹ đã được đẩy mạnh (Ngô Thế Dân, 1999)[9] Chính vì vậy Mỹ là nước có diện tích và sản lượng đậu tương lớn nhất trên thế giới, năm 2008 diện tích đạt 30,2 triệu ha, sản lượng 80,5 triệu tấn, chiếm 34,8% tổng sản lượng đậu tương toàn thế giới (FAO, 2010) [58]

Ở Mỹ những dòng đậu tương nhập nội, có năng suất cao đều được sử dụng làm giống gốc trong quá trình lai tạo Năm 1804, tại Pelecibuahina, thí nghiệm đầu tiên nghiên cứu về đậu tương của Mỹ được thực hiện, 89 năm sau (1893) Mỹ đã có 10.000 mẫu giống đậu tương thu thập từ các nơi trên thế giới Hướng chọn tạo giống chủ yếu ở Mỹ là nhập nội các dòng, giống đậu tương có triển vọng, thuần hóa để thích nghi với từng vùng sinh thái Các nhà khoa học Mỹ đã tạo ra một số giống đậu tương có khả năng thích ứng rộng và

chống chịu tốt với bệnh Phytopthora như Amsoy 71, Lec 36, Clack 63,

Harkey 63….Mục tiêu trong công tác chọn tạo giống đậu tương của Mỹ là chọn giống có khả năng thâm canh cao, phản ứng yếu với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, dễ bảo quản, chế biến (Johnson, Bernard, 1967) [62]

Kết quả nghiên cứu của Baihaki và cộng sự (1976) [51], đã cho ra đời giống Ston wall, Ston wall có đặc điểm hạt có màu vàng, rốn đen, khối lượng

1000 hạt lớn, hàm lượng Protein đạt 41,5% và dầu đạt 21,4%

Bằng kỹ thuật cộng hưởng sức hút hạt nhân Hartwig và Kilen (1992) [60]

đã cho thấy sự tương quan nghịch giữa protein thô và dầu, quần thể có hàm

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

lượng dầu thấp sẽ cung cấp dòng tập trung protein cao Khả năng tạo ra năng suất của dòng có hàm lượng protein cao và hàm lượng dầu cao là như nhau Mặc dù là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, hạt đậu tương có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho con người nhưng đậu tương là 1 trong 8 loại thực phẩm gây dị ứng nhiều nhất ở Mỹ Theo mạng lưới dị ứng thực phẩm Mỹ khoảng 11 triệu người ở nước này dị ứng thực phẩm, trong đó 6-8% trẻ em và 1-2% người trưởng thành dị ứng với đậu tương Khắc phục nhược điểm này Ted Hymowitz và Leina Mary (Trường Đại học Linois) đã nghiên cứu tìm ra được giống không gây dị ứng GM (Vietnamnet, 2004) [49]

Những người dân di cư Nhật Bản đã đưa cây đậu tương vào Brazil trên

65 năm về trước, song đến năm 1960 đậu tương vẫn chưa trở thành cây trồng quan trọng ở nước này Nhưng từ giữa năm 1960 các công ty đa quốc gia hỗ trợ nông dân về tiến bộ khoa học kỹ thuật và phát triển nền nông nghiệp hiện đại đã làm thay đổi đáng kể vị thế của cây đậu tương ở đây Đặc biệt cuối năm 1970, đậu tương là cây trồng mang lại lợi nhuận cao nhất trên một đơn vị diện tích, vì vậy diện tích đậu tương được mở rộng, nhiều diện tích trồng ngô, bông, lúa được chuyển sang trồng đậu tương (Ngô Thế Dân, 1999)[9] Hiện nay Brazil là nước đứng thứ hai trên thế giới về sản xuất đậu tương với năng suất 28,2 tạ/ha, sản lượng 59,9 triệu tấn (FAO, 2010)[58]

Trong nghiên cứu Brazill đang đẩy mạnh công tác giống, sử dụng giống mới chống chịu sâu bệnh, giống chuyển gen vào sản xuất

Từ những năm 1970, Silva và cs [73], đã cho biết có những giống chỉ cho năng suất cao ở môi trường thuận lợi còn trong điều kiện bất thuận năng suất thấp hơn các giống khác Chính vì vậy chọn tạo được giống có năng suất

ổn định trong các điều kiện sống sẽ tăng được hiệu quả sử dụng giống

Đồng quan điểm với Silva, năm 1971, Buitrago và cs )[53], đã nghiên cứu 14 dòng, giống đậu tương ở 4 vụ Kết quả cho thấy một số giống có khả

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

năng thích nghi với tất cả các môi trường nghiên cứu, một số chỉ thích nghi với từng môi trường riêng rẽ

Trên thế giới, Châu Á là khu vực trọng điểm trong công tác phát triển sản xuất đậu tương Chính vì vậy nhiều chương trình nghiên cứu, phát triển đậu tương được tập trung ở Châu Á như: Viện nghiên cứu Nông nghiệp nhiệt đới Quốc tế, Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Á Châu, Viện nghiên cứu lúa quốc tế đã chọn tạo được nhiều giống đậu tương có khả năng thích ứng với nhiều nước trong khu vực Trung tâm phát triển rau màu Á Châu (AVRDC) đã chuyển giao được trên 20.000 giống đậu tương đến 164 nước nhiệt đới và á nhiệt đới (Nguyễn Thị Út, 1994)[41]

Cây đậu tương có nguồn gốc từ Trung Quốc Là nơi thuần hóa đậu tương thành cây trồng, chính vì vậy sản xuất đậu tương ở Trung Quốc khá phát triển Hiện nay Trung Quốc là nước đứng thứ 4 thế giới về sản xuất đậu tương với sản lượng đạt 15,5 triệu tấn (FAO, 2010)[58] Có được kết quả trên là do Trung Quốc đã ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong lai tạo giống, để cung cấp cho sản xuất những giống năng suất cao, khả năng chống chịu tốt

Bằng phương pháp đột biến, các nhà khoa học Trung Quốc đã tạo ra giống Tiefeng 18 năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng chống đổ và chịu được phèn, Giống Heinou N018 có chiều cao thấp, phân cành nhiều và có khả năng chịu hạn tốt (Trần Đình Đông, 1994) [14]

Với mục tiêu chọn giống có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn để trồng ở những chân đất thấp sau vụ lúa, các nhà khoa học ở Indonesia đã chọn được giống Wilis, Tidar, Petek, Lawu…có thời gian sinh trưởng 75-85 ngày với năng suất 17-25 tạ/ha và có khả năng chịu úng (Sumarno and T,Adisan Wanto, 1991) [75]

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tại Ấn Độ, Rohewal (1970) [70] cho rằng ở mỗi vùng sinh thái phải có

bộ giống phù hợp, ông đã xác định được giống Bragg, Lee phù hợp cho vùng

có năng suất cao và Pujabl, Pelican phù hợp với vùng có năng suất thấp

Kết quả nghiên cứu của Singh và Chaudhary (1985) [74] đã chọn được 6 giống có năng suất cao và ổn định là HM93, PK73-92, PK73-94, PK321, Bragg và SH1

Cây đậu tương được du nhập vào Âu Châu vào đầu thế kỷ 17, do nhu cầu thức ăn giàu đạm tăng nhanh và việc tự sản xuất hạt có dầu thấp nên sản xuất đậu tương ở các nước thuộc cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) phát triển chậm Đây là khu vực nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới EEC là bạn hàng lớn nhất của Mỹ, hàng năm EEC nhập 40-50% tổng lượng đậu tương xuất khẩu của Mỹ (Ngô Thế Dân, 1999) [9] Mặc dù điều kiện tự nhiên khí hậu ở Châu Âu khó khăn cho sự phát triển của cây đậu tương nhưng các nhà khoa học ở Châu Âu vẫn rất quan tâm trong việc nghiên cứu tìm kiếm những giống đậu tương phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng Từ những năm

1945, Kosenco đã nghiên cứu thử nghiệm gây đột biến ở đậu tương Nhưng vấn đề các nhà khoa học Châu Âu quan tâm hơn cả ở cây đậu tương là giá trị dinh dưỡng Liên minh Châu Âu đang tài trợ cho 2 thử nghiệm về kiểm tra tác động của đỗ tương trong việc ngăn ngừa bệnh tim và bệnh động mạch vành Hiện nay công tác nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới đã được phát triển với quy mô rộng lớn Các tổ chức quốc tế đã tiến hành khảo nghiệm giống ở các vùng sinh thái để đánh giá sự thích nghi của giống ở các môi trường khác nhau và chọn được giống ưu việt phục vụ sản xuất

1.4.2 Nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam

Cây đậu tương được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc Ở Việt Nam đậu tương được coi là cây trồng cổ được trồng khắp các vùng trong cả nước

từ Bắc đến Nam Sản xuất đậu tương của Việt Nam ngày càng phát triển, năm

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1980 diện tích trồng đậu tương của Việt Nam là 48,8 nghìn ha, năng suất đạt 6,6 tạ/ha, sản lượng 32,1 nghìn tấn (Ngô Thế Dân, 1999) [9], nhưng đến năm

2008 diện tích đã đạt 191,5 nghìn ha, năng suất 14 tạ/ha, sản lượng 268,6 nghìn tấn (FAO, 2010)[58]

Cây đậu tương đã khẳng định được vị trí trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam với quy mô sản xuất ngày càng phát triển và nhu cầu sử dụng ngày một tăng Tuy nhiên hạn chế lớn nhất trong sản xuất đậu tương của nước ta là năng suất thấp Năm 2008, năng suất đậu tương của Việt Nam chỉ bằng 58,8% năng suất trung bình của thế giới Để khắc phục hạn chế này các nhà khoa học Việt Nam đã tập trung nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ cho sản xuất Công tác chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam được thực hiện theo các hướng sau:

- Chọn giống thích hợp với từng mùa vụ gieo trồng Miền Nam chọn giống thích hợp cho hai vụ vào mùa mưa và mùa khô Ở các tỉnh phía Bắc xác định giống thích hợp cho vụ xuân trên đất bãi, vụ hè cho vùng núi và vụ đông cho vùng trung du và đồng bằng sông Hồng

- Xác định bộ giống thích hợp cho các vùng sinh thái

- Chọn giống có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn

Từ những định hướng trên, năm 1962, công tác thu thập, nhập nội các giống đậu tương được Viện Cây công nghiệp, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam thực hiện Hiện nay trong ngân hàng gen cây trồng của Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đang lưu giữ 500 mẫu giống, chủ yếu là các loài đậu tương thu thập từ các địa phương, trong đó có hai giống đậu tương hoang dại thu thập ở Bắc Hà Lào Cai, ngoài ra còn có các giống nhập nội từ 35 nước trên thế giới, nhiều nhất là từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Nga và Mỹ (Ngô Thế Dân, 1999)[9]

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trong vòng 20 năm qua Việt Nam đã có 25 giống được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật được tạo ra từ lai hữu tính, tuyển chọn từ tập đoàn nhập nội và xử lý đột biến (Trần Đình Long và Nguyễn Thị Chinh, 2005)[27] Sản xuất đậu tương ở Việt Nam được chia làm 7 vùng, trong đó vùng núi phía Bắc là một trong những vùng đậu tương quan trọng nhất Năm 2008, diện tích đậu tương của miền núi phía Bắc chiếm 37,2% diện tích đậu tương của cả nước (Tổng cục thống kê, 2010) [39] Chính vì vậy, công tác chọn tạo giống đậu tương cho vùng này được các nhà khoa học rất quan tâm và đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận Giống VX93 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam tạo ra cho năng suất 16-20 tạ/ha, khả năng chịu hạn, chịu rét tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu của các tỉnh miền núi phía Bắc (Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh, 2005) [27]

Năm 2004, Đào Quang Vinh và cộng sự [48] đã tiến hành chọn lọc từ quần thể phân ly của tổ hợp lai giữa Cúc tuyển và dòng Chaing Mai (Thái Lan), kết quả chọn tạo được giống ĐVN5 cho năng suất cao và ổn định ở nhiều vùng sinh thái phía Bắc, vụ xuân năng suất đạt 19,03 tạ/ha, vụ hè 18,52 tạ/ha và vụ đông 15,37 tạ/ha

Giống được trồng với diện tích lớn nhất và phân bố rộng rãi ở hầu hết các vùng sinh thái đặc biệt là miền núi và đồng bằng là DT84 Đây là giống được tạo ra bằng phương pháp xử lý đột biến trên tổ hợp lai giữa DT80 x ĐH4 (ĐT76), cho năng suất từ 15-35 tạ/ha (Mai Quang Vinh và cs, 2005)[46]

Các nhà khoa học ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã thành công trong việc chọn tạo giống ĐT22 bằng phương pháp đột biến ở thế

hệ F3 của tổ hợp lai ĐT12 x ĐT95 Giống ĐT22 cho năng suất cao, đạt 20-25 tạ/ha trong cả 3 vụ gieo trồng, có hàm lượng dầu cao (21,5%) và kháng tốt với bệnh phấn trắng (Trần Đình Long và cs, 2007)[28]

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Các giống đậu tương mới có ưu điểm nổi bật là tiềm năng năng suất cao nhưng hạn chế là khả năng chống chịu điều kiện bất lợi kém Chính vì vậy, trong sản xuất đậu tương của Việt Nam nhiều vùng vẫn đang sử dụng giống đậu tương địa phương như: Vàng Mường Khương, Vàng Cao Bằng, Vàng Hòa An, Vàng Mộc Châu… Thực tế cho thấy các giống địa phương vẫn chiếm một diện tích khá lớn tới 21,3% tổng diện tích trồng đậu tương ( Phạm Đồng Quảng và cs, 2005)[33] Các giống đậu tương địa phương có ưu điểm là khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất lợi tốt, đặc biệt là hạn và rét (Chu Hoàng Mậu và Hà Sỹ Tiến, 2007)[30]

Kết quả điều tra của Bùi Chí Bửu và cs (2005) [5] cho biết có tới 87 giống đậu tương đang gieo trồng trong cả nước, trong đó có 13 giống chủ lực là: DT84, Bông trắng (diện tích >10.000 ha), MTĐ176, 17A (5000-10000ha), AK03, ĐT12, Nam Vang, ĐH4, V74, AK05, VX93 (1000-5000 ha) Do số lượng giống lưu hành ngoài sản xuất lớn nên người nông dân khó khăn trong việc lựa chọn giống phù hợp cho sản xuất

Liu và các cs, (2008) [65] cho rằng chọn được giống đậu tương có năng suất cao và ổn định phù hợp với vùng sinh thái là bước đầu tiên quan trọng nhất đảm bảo sự thành công trong phát triển sản xuất đậu tương Chính vì vậy việc tuyển chọn các giống đậu tương năng suất cao, khả năng chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của mỗi vùng là vấn đề rất cần thiết để thúc đẩy sản xuất đậu tương ở Việt Nam

1.5 MỐI QUAN HỆ GIỮA GIỐNG VỚI ĐIỀU KIỆN SINH THÁI

1.5.1 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương

* Yêu cầu nhiệt độ

Cây đậu tương có nguồn gốc ở Trung Quốc, vì vậy đậu tương là cây ưa nóng, tổng tích ôn cần thiết cho quá trình sinh trưởng, phát triển của cây đậu tương là 1700-29000C (Trần Văn Điền, 2007) [13] Tuy nhiên tổng tích ôn

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

thay đổi theo thời gian sinh trưởng của giống Những giống thời gian sinh trưởng ngắn (<90 ngày) yêu cầu tổng tích ôn khoảng 1700-22000C, giống thời gian sinh trưởng dài (>120 ngày), tổng tích ôn cần thiết là 3200-38000

C (Lawn, 1987)[64]

Đậu tương có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ 27-420C Thời kỳ nảy mầm, nhiệt độ tối thiểu là 100C, nhiệt độ tối đa là 400C, dưới 100C sự vươn dài của trục mầm bị ảnh hưởng, nhiệt độ >400C, hạt không nảy mầm Thời kỳ cây con từ khi cây hình thành lá đơn đến 3 lá kép, cây đậu tương có khả năng chịu rét tốt nhất Thời kỳ còn lá đơn nó có thể chịu được nhiệt độ dưới 00C Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng là 22-270

C

Thời kỳ ra hoa kết quả, đậu tương cần nhiệt độ 28-370C, nếu gặp nhiệt

độ 100C sẽ cản trở sự phân hóa hoa, nhỏ hơn 180C tỷ lệ đậu quả thấp Nếu nhiệt độ lớn hơn 380C ảnh hưởng xấu đến tốc độ hình thành đốt, phát triển lóng, phân hóa hoa cũng như vận chuyển các chất dinh dưỡng về hạt làm chất lượng của hạt kém Trong giai đoạn chín nếu gặp nhiệt độ thấp hạt chín không đều, chất lượng kém (Phạm Văn Thiều, 2002)[36]

* Yêu cầu ánh sáng

Đậu tương là cây ngày ngắn điển hình, vì vậy ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất Ánh sáng không chỉ là yếu tố quyết định hiệu quả của quá trình quang hợp mà còn ảnh hưởng đến hoạt động

cố định đạm của các nốt sần ở rễ, nên ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch Ở Việt Nam các giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn đều phản ứng với chu kỳ chiếu sáng, sự biến động của chu kỳ chiếu sáng ảnh hưởng lớn đến giai đoạn sinh trưởng sinh thực (Trần Đình Long và cs, 2001)[26]

Sự tác động của ánh sáng ngày ngắn mạnh nhất là giai đoạn trước khi cây

ra hoa Ánh sáng ngày ngắn làm rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây, giảm chiều cao cây, số đốt cũng như độ dài của lóng Trong thời kỳ ra hoa hình thành

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hạt số giờ chiếu sáng thích hợp là 6-12 giờ, nếu thời gian chiếu sáng trên 18 giờ/ngày cây sẽ không ra hoa Tính mẫn cảm với chu kỳ chiếu sáng của cây đậu tương còn phụ thuộc vào đặc tính của giống Các giống chín muộn mẫn cảm với chu kỳ chiếu sáng hơn giống chín sớm (Phạm Văn Thiều, 2002)[36]

Cây đậu tương còn chịu ảnh hưởng rất lớn của cường độ ánh sáng Cường độ ánh sáng mạnh cây sinh trưởng khỏe, cho năng suất cao Cường độ ánh sáng yếu quá trình quang hợp giảm, các lóng vươn dài, làm giảm khả năng chống đổ của cây đậu tương Ngược lại cường độ ánh sáng mạnh cũng gây bất lợi cho cây vì làm cường độ thoát hơi nước ở lá lớn hơn tốc độ hút nước ở rễ nên hiệu suất quang hợp giảm dẫn đến giảm năng suất Trong điều kiện có độ dài ngày thích hợp chỉ cần 30% cường độ của bức xạ mặt trời cây đậu tương vẫn sinh trưởng, phát triển bình thường, vì vậy có thể trồng xen cây đậu tương với nhiều loại cây trồng khác (Phạm Văn Thiều, 2002)[36]

* Yêu cầu về nước

Tuy là cây trồng cạn nhưng nhu cầu nước của cây đậu tương cũng rất lớn Nước cũng là một trong những yếu tố hạn chế đến năng suất của cây đậu tương Trong suốt chu kỳ sinh trưởng từ khi gieo đến thu hoạch nhu cầu nước của cây

đậu tương dao động từ 350-600mm (Bùi Hiếu và Lê Thị Nguyên, 2004) [19]

Ở giai đoạn nảy mầm, độ ẩm đất thích hợp là 50%, nếu ẩm độ thấp hạt không nảy mầm được Ngược lại nếu ẩm độ đất cao, làm lượng oxy giảm, hạt

bị thối (Phạm Văn Thiều, 2002)[36]

Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, nếu thiếu nước làm cường độ quang hợp giảm vì giảm diện tích lá, thời gian sinh trưởng bị rút ngắn (Dominique

và Pierre, 1996) [57]

Giai đoạn ra hoa làm quả, nếu thiếu nước hoa rụng, số quả giảm, nếu gặp hạn kéo dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất Kết quả của các nhà khoa học cho thấy nếu ẩm độ đất bằng 35-40%, năng suất đậu tương giảm 2/3 Giai

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

đoạn này bị hạn thời gian hình thành hoa và quả bị rút ngắn nên cản trở quá trình vào chắc dẫn đến năng suất thấp (Dominique và Pierre, 1996) [57]

Nhu cầu nước của đậu tương lớn nhất ở giai đoạn vào chắc, thiếu nước làm năng suất giảm nhiều nhất Kết quả nghiên cứu của Brevedan và Egli (2003) [52] cho thấy năng suất hạt có thể giảm 39% và kích thước hạt giảm 25-30% nếu thời kỳ quả vào chắc cây bị hạn

Tuy rất cần nước nhưng cây đậu tương cũng có thể chịu hạn trong những giai đoạn nhất định, đặc biệt là thời kỳ cây con Mặc dù vậy để đạt năng suất đậu tương cao cần cung cấp đủ nước cho cây ở các thời kỳ sinh trưởng

* Yêu cầu về đất

Đậu tương là cây trồng không yêu cầu khắt khe về đất, vì vậy ở Việt Nam đậu tương được trồng trên nhiều loại đất khác nhau như: đất phù sa, đất cát pha, đất bãi, đất đồi núi, nương rẫy…kể cả đất bỏ hóa Tuy nhiên đất thích hợp cho cây đậu tương là đất có tầng canh tác dày, giàu chất hữu cơ, giữ ẩm tốt và thoát nước tốt, pH thích hợp là 5,2-6,5 (Phạm Văn Thiều, 2002)[36]

1.5.2 Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa giống với điều kiện sinh thái

Điều kiện môi trường ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và năng suất của cây trồng, sự tương tác giữa giống và môi trường có vai trò quan trọng trong quá trình cải lương giống Kiểu hình là biểu hiện của kiểu gen trong môi trường sống Môi trường bao gồm đất đai, điều kiện khí hậu như nhiệt độ, ánh sáng và lượng mưa…(Trần Đình Long, 1997) [25] Những hiểu biết về mối quan hệ giữa giống với điều kiện sinh thái, giúp các nhà tạo giống thành công trong chọn tạo giống có khả năng chống chịu tốt

Môi trường sống của cây trồng thường xuyên biến đổi, những biến đổi của môi trường gồm biến đổi dự đoán được và không dự đoán được Biến đổi

dự đoán được như điều kiện tưới tiêu, phân bón, sâu bệnh, còn những biến đổi không dự đoán được là biến đổi do thời tiết Để đối phó với những biến đổi

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

không dự đoán được phải tạo ra giống có tính ổn định cao bằng cách khảo nghiệm giống ở các vùng sinh thái và xem xét mối quan hệ giữa giống với các điều kiện môi trường

Các kết quả nghiên cứu của John và cộng sự (1955)[63], Byth và Weber (1968) [56] cho thấy ở cây đậu tương, chỉ tiêu năng suất hạt có sự tương tác rất cao giữa giống và môi trường, chỉ tiêu chiều cao tương tác thấp còn kích thước hạt, hàm lượng đạm, dầu có tương tác trung bình Jonh và cs cho rằng

sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường về đặc tính năng suất lớn gấp 2,1 lần so với biến đổi do kiểu gen

Kwon và Torrie (1964) đã đánh giá thế hệ F4 và F5 của hai cặp lai ở môi trường và các năm khác nhau Kết quả biến động do dòng x năm lớn hơn biến động do dòng x địa điểm hoặc do dòng x địa điểm x năm Đối với đặc tính năng suất khối lượng hạt, tính chống đổ, tỷ lệ dầu sự tương tác dòng x năm x địa điểm tương đương với dòng x năm Ông cho rằng có sự tương tác lớn giữa dòng x năm là do sự biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa ở các mùa vụ khác nhau (Ngô Thế Dân, 1999)[9]

Từ các kết quả nghiên cứu ở 7 địa điểm khác nhau trong thời gian 6 năm, Sanbuichi và Gotok, (1969) [72] cho rằng các giống đậu tương có khả năng thích ứng rộng về không gian nhưng hẹp về thời gian

Nghiên cứu các yếu tố hạn chế đến năng suất đậu tương, Leng (1968) [66] cho biết yếu tố hạn chế đến năng suất của đậu tương chủ yếu là do quang chu kỳ và cảm ôn

Các giống đậu tương chín sớm hoặc không phản ứng với chu kỳ chiếu sáng thường được chọn làm vật liệu chọn tạo giống theo hướng tăng tính thích ứng của giống trong điều kiện môi trường khô hạn hoặc những nơi có thời gian gieo trồng ngắn (Byth và cs, 1981) [55]

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Theo Mayer và cs (1991) [68] tổng chất khô tích lũy ở cây đậu tương tương quan thuận chặt với lượng ánh sáng mà bộ lá hấp thu (r = 0,98)

Kết quả nghiên cứu của Đào Quang Vinh (1984) [47] cho rằng chỉ số diện tích lá, hiệu suất quang hợp và khả năng tích lũy chất khô ở cây đậu tương biến động mạnh theo điều kiện trồng trọt

Các kết quả nghiên cứu ở trên đã khẳng định đậu tương là cây trồng rất nhạy cảm với chế độ quang chu kỳ và chế độ nhiệt, vì thế quá trình sinh trưởng, phát triển và tiềm năng năng suất của một giống đậu tương bị ảnh hưởng rất lớn bởi thời vụ gieo trồng và điều kiện sinh thái của vùng

Nhìn chung tương tác giữa kiểu gen với môi trường rất quan trọng đối với quá trình chọn tạo giống Để phát huy tiềm năng năng suất của giống đòi hỏi phải có môi trường thích hợp như cung cấp đủ nhiệt độ, ánh sáng, nước, dinh dưỡng, …Chính vì vậy cần chọn giống phù hợp với mỗi vùng sinh thái

và kết hợp chặt chẽ với kỹ thuật trồng trọt (Luyện Hữu Chỉ và cs, 1997) [6]

1.6 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NĂNG SUẤT VỚI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC CỦA GIỐNG

Năng suất là yếu tố cơ bản nhất quyết định sự lựa chọn của người sản xuất cũng như các nhà tạo giống, giống tốt là giống cho năng suất cao và ổn định trong cả điều kiện bất thuận Tuy nhiên, các nhà khoa học đều cho rằng,

ở cây trồng tính trạng năng suất có hiệu quả chọn lọc thấp hơn các tính trạng khác Do đó, để chọn được giống năng suất cao có thể chọn lọc gián tiếp thông qua mối tương quan với các tính trạng khác một cách hợp lý (Nguyễn

Tấn Hinh, 1992) [21]

Phân tích khả năng di truyền của một số tính trạng ở cây đậu tương, Mehetre và cs (1998) [69] cho rằng các tính trạng có hệ số di truyền cao là số ngày từ gieo đến ra hoa (92,5%), số ngày từ gieo đến chín (89,1%), chiều cao thân chính (92,8%), khối lượng 1000 hạt (80,2%), số quả chắc/cây (76,6%),

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

số hạt/cây (71,9%), trong khi đó năng suất hạt lại có hệ số di truyền thấp (41,2%) Chính vì vậy để chọn giống có năng suất cao và ổn định cho một vùng phải sử dụng các tính trạng có hệ số di truyền cao và tương quan thuận

với năng suất

Weber và Moorthy, 1952 [77] khi nghiên cứu hệ số tương quan di truyền trên 3 quần thể đậu tương cho thấy, năng suất hạt có tương quan thuận với thời gian sinh trưởng, chiều cao cây và khối lượng hạt Gautam và Singh (1977) [59] cũng có kết luận tương tự về mối tương quan chắc chắn giữa năng suất hạt với số quả/cây, chiều cao cây, thời gian ra hoa và thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương

Kết quả nghiên cứu của Burnside và Colville,(1964) [54] cho thấy năng suất hạt có tương quan thuận với số lá, diện tích lá, số đốt và số quả trên cây Khi nghiên cứu mối tương quan giữa năng suất hạt của đậu tương với các tính trạng khác, Wilcox và cs, (1974) [78] cho rằng chỉ có số quả trên cây tương quan thuận với năng suất, còn khối lượng 1000 hạt có tương quan dương nhưng khi số quả trên cây quá lớn thì giá trị tương quan lại giảm

Malhotra và cs, (1972) [67] cũng xác định được mối tương quan nghịch giữa năng suất và khối lượng 1000 hạt khi khảo sát ở tập đoàn các giống đậu tương địa phương

Nghiên cứu tương quan giữa năng suất số đốt/thân, chiều cao cây, số cành, số quả, Surlan (1978) [76] đã cho thấy: năng suất tương quan thuận với

số đốt trên thân (r = 0,36), chiều cao cây (r =0,35), số cành (r = 0,43), số quả/cây (r = 0,72), khối lượng 1000 hạt và hệ số kinh tế (r = 0,26)

Ở Việt Nam, để chọn giống đậu tương có năng suất cao, các nhà khoa học thường quan tâm đến mối tương quan giữa năng suất với các yếu tố cấu thành năng suất hoặc các đặc tính sinh lý

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Kết quả nghiên cứu hệ số biến động và hệ số tương quan giữa một số đặc tính nông học với năng suất của Nguyễn Văn Lâm và Nguyễn Tấn Hinh (2003) [23] cho thấy ở các giống nghiên cứu tính trạng có hệ số biến động lớn

là số quả 3 hạt (58%), số cành cấp 1 (36,2%), số quả 1 hạt (23,2%) Tính trạng có hệ số biến động thấp là thời gian từ gieo đến ra hoa (5,8%), thời gian sinh trưởng (6,9%), số hạt/quả (8,3%) và số đốt/thân (9,2%) Năng suất hạt có

hệ số tương quan thuận với thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số đốt/thân,

số quả/cây, số hạt/quả và khối lượng 1000 hạt

Nguyễn Tấn Hinh (1992) [20] nghiên cứu tương quan giữa các tính trạng với năng suất cho biết: năng suất hạt tương quan thuận chắc chắn với thời gian sinh trưởng, rất chắc chắn với số đốt trên thân, chiều cao cây, số cành cấp 1, số quả chắc/cây và số hạt/quả

Nghiên cứu của Vũ Thúy Hằng (2007) [18] cũng khẳng định năng suất

cá thể của cây đậu tương có tương quan thuận chặt với các yếu tố cấu thành năng suất như số quả/cây, số hạt/quả nhưng tương quan nghịch với số cành/cây và chiều cao cây

Vũ Đình Chính (1995) [8], khi xem xét tương quan giữa năng suất của giống với một số đặc điểm nông học, đã phân chia các chỉ tiêu nghiên cứu thành 3 nhóm Nhóm thứ nhất là các chỉ tiêu không tương quan chặt với năng suất (r < 0,5) gồm: thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số đốt/cây, số đốt/cành… Nhóm thứ hai gồm các chỉ tiêu tương quan chặt với năng suất (r > 0,6) như: số quả/cây, tỷ lệ quả chắc, số đốt mang quả, số nốt sần, diện tích lá, lượng chất khô… Nhóm thứ 3 là các chỉ tiêu tương quan nghịch với năng suất như: Tỷ lệ quả 1 hạt, tỷ lệ quả lép, tỷ lệ bệnh virus, tỷ lệ bệnh đốm lá do

vi khuẩn và tỷ lệ sâu đục quả Trên cơ sở đó mô hình cây đậu tương có năng suất cao được tác giả đề xuất là có khối lượng 1000 hạt lớn, tỷ lệ 2-3 quả cao,

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

diện tích lá thời kỳ vào chắc lớn, lượng chất khô tích lũy cao và số lượng nốt sần trên cây nhiều

Nhìn chung tương quan giữa năng suất với các tính trạng hình thái biểu hiện cũng rất phức tạp, phụ thuộc vào giống, kỹ thuật trồng như mật độ, phân bón… và điều kiện sinh thái (Rubaihayo, 1973) [71] Vì vậy nghiên cứu đặc tính nông học và sinh lý liên quan đến năng suất hạt của cây đậu tương là cơ

sở quan trọng cho quá trình chọn tạo giống

1.7 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC ĐẾN NĂNG SUẤT ĐẬU TƯƠNG

Trong sản xuất nông nghiệp để tăng năng suất cây trồng, có thể có hai cách:

- Chọn tạo giống mới bằng cách làm thay đổi đặc tính của thực vật, làm thực vật biến dị, sau đó củng cố và tích lũy những biến dị có lợi

- Tạo điều kiện môi trường phù hợp với giống

Mỗi giống cây trồng phù hợp với chế độ canh tác nhất định Chính vì vậy các biện pháp kỹ thuật canh tác như thời vụ, bón phân, tưới nước… đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng của giống

1.7.1 Ảnh hưởng của phân bón đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây đậu tương

Đậu tương là cây trồng có nhu cầu dinh dưỡng lớn nhất là đạm để tạo protein cao Tuy nhiên nhu cầu bón đạm của đậu tương rất thấp nhờ có vi khuẩn nốt sần ở rễ có khả năng đồng hóa được đạm khí trời để cung cấp cho cây Nhiều tác giả cho thấy bón đạm không hợp lý, bón nhiều đạm hoặc bón không đúng thời kỳ sẽ ức chế sự hình thành, phát triển và hoạt động của vi khuẩn nốt sần Trên đất giàu dinh dưỡng, đáp ứng đủ nhu cầu đạm cho cây đậu tương thì bón đạm không có tác dụng tăng năng suất Tuy nhiên trên đất nghèo chất hữu cơ, kém thoát nước, đất chua thì bón đạm với lượng 50-110 kg/ha có tác dụng tăng năng suất (Ngô Thế Dân, 1999) [9]

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Lượng dinh dưỡng cây đậu tương sử dụng để tạo ra năng suất bao gồm nhiều thành phần rất khác nhau Để tạo ra năng suất 1 tấn hạt cây đậu tương lấy đi từ đất 81 kg N, 14 kg P2O5, 33 kg K2O, 18 kg MgO, 24 kg CaO, 3 kg S, 366g Fe 90 g Mn, 61 g Zn, 25 g Cu, 39 g Bo và 7 g Mo Chính vì vậy, ở Việt Nam, lượng phân bón khuyến cáo sử dụng cho 1 ha đậu tương là: Phân chuồng 5-8 tấn, vôi bột 300-500kg, 20-40 kg N, 25-60 kg P2O5, 50-90 kg K2O (Lê Xuân Đính) [12]

Đường Hồng Dật, (2003) [10] cho rằng cây đậu tương cần được cung cấp đầy đủ và cân đối các yếu tố dinh dưỡng thiết yếu Mặc dù nhu cầu dinh dưỡng của đậu tương không lớn nhưng việc cung cấp một lượng đạm, lân vào giai đoạn đầu khi nốt sần ở rễ chưa hình thành là rất cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn cố định đạm hoạt động và tạo lập nốt sần trên rễ cây đậu tương Lượng phân bón cho đậu tương là 30 kg N, 90 kg P2O5, 90 kg K2O trên 1 ha

Kết quả nghiên cứu của Công Thị Yến và cs (1995) [50] cho thấy trên đất bạc màu bón các dạng phân có chứa lưu huỳnh ảnh hưởng rất rõ đến năng suất và phẩm chất của cây đậu tương, làm số quả trên cây tăng 2,1 -2,7 quả,

số hạt chắc/cây tăng 3,0-6,6 hạt đối với 2 giống V74 và ĐH4 Bón dạng phân K2SO4 làm tăng năng suất protein từ 4,4 đến 22,1 kg/ha

Phạm Văn Thiều (2002) [36] cho rằng trên đất chua vụ xuân nên bón với lượng 200-350 kg lân supe và 300-350 kg vôi bột/ha Bón lót toàn bộ trước khi gieo sẽ có tác dụng tăng năng suất đậu tương

1.7.2 Ảnh hưởng của thời vụ, mật độ đến khả năng sinh trưởng phát triển của cây đậu tương

Ngoài biện pháp thâm canh, để khai thác tiềm năng năng suất của cây đậu tương cần chú ý đến thời vụ và mật độ gieo trồng Thời vụ và mật độ trồng đậu tương phụ thuộc vào vùng sinh thái và đặc điểm của giống

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trong điều kiện nhiệt đới, nóng ẩm ở Việt Nam, mật độ thay đổi rất lớn giữa các giống và thời vụ gieo trồng Nghiên cứu mật độ gieo trồng của giống ĐVN9, Dương Văn Dũng và cs (2006) [11] cho biết ở cả ba vụ xuân, hè và đông, khi mật độ tăng số cành cấp 1, số quả/cây, số hạt/quả và khối lượng

1000 hạt đều giảm

Kết quả nghiên cứu mật độ gieo trồng giống ĐT2006 của Tạ Kim Bính

và cs (2006) [3] cho thấy: với giống có khả năng thích nghi rộng như ĐT2006

có thể trồng nhiều vụ trong năm từ 20/1 đến 30/9 và mật độ thích hợp 30 -35 cây/m2 trong vụ xuân, 20-25 cây/m2 vụ hè, 40-50 cây/m2 trong vụ đông

Ở miền núi giống đậu tương DT84 có khả năng phát triển tốt đạt năng suất 21,0 -22,5 tạ/ha khi trồng ở vụ hè thu với thời vụ từ 10/6 đến 5/8 và mật

độ 30-35 cây/m2

(Nguyễn Việt Chinh, 2004) [7]

Theo Lê Tuấn Phong (2007) [32] đối với giống Đ2004 và ĐT12 mật độ gieo thích hợp trong vụ xuân là 30 cây/m2, trong vụ hè là 50 cây/m2

Nhìn chung xác định mật độ gieo trồng của đậu tương cần căn cứ vào đặc tính của giống, thời vụ gieo trồng, độ phì đất và mức độ thâm canh

Thực tiễn sản xuất cho thấy để tăng năng suất cây trồng cần chọn tạo giống mới có tiềm năng năng suất cao và cải tiến các biện pháp kỹ thuật canh tác cho phù hợp với yêu cầu của giống Vì vậy nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng trọt là đòi hỏi quan trọng đối với các nhà khoa học

1.8 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH LÀO CAI 1.8.1 Điều kiện tự nhiên

1.8.1.1 Vị trí địa lý

Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ Tỉnh Lào Cai được tái lập tháng 10/1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn Từ 01/01/2004 (sau khi tách huyện Than Uyên sang

Ngày đăng: 19/09/2014, 18:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Tạ Kim Bính và cs (2006), “Kết quả tạo nguồn gen cao sản ĐT2006”,Tạp chí NN &amp; PTNT, (18), tr.60-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả tạo nguồn gen cao sản ĐT2006”
Tác giả: Tạ Kim Bính và cs
Năm: 2006
4. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2008), 575 Giống cây trồng nông nghiệp mới, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.224 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 575 Giống cây trồng nông nghiệp mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2008
5. Bùi Chí Bửu và cs (2005), Nghiên cứu và chọn tạo giống cây trồng gắn với tăng trưởng kinh tế nông nghiệp giai đoan 1986 - 2005, Tạp chí NN&amp;PTNT, (13), tr. 10 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và chọn tạo giống cây trồng gắn với tăng trưởng kinh tế nông nghiệp giai đoan 1986 - 2005
Tác giả: Bùi Chí Bửu và cs
Năm: 2005
6. Luyện Hữu Chỉ và cs (1997), “Giáo trình giống cây trồng”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1997, Tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giống cây trồng
Tác giả: Luyện Hữu Chỉ và cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
7. Nguyễn Việt Chinh (2004), “Kỹ thuật trồng đậu tương ở miền núi”, Những điều nông dân cần biết, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2004, Tr. 89-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỹ thuật trồng đậu tương ở miền núi”, Những điều nông dân cần biết
Tác giả: Nguyễn Việt Chinh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
8. Vũ Đình Chính (1995), “Nghiên cứu tập đoàn giống đậu tương để chọn giống đậu tương thích hợp cho vụ hè Đồng bằng trung du Bắc bộ”, Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tập đoàn giống đậu tương để chọn giống đậu tương thích hợp cho vụ hè Đồng bằng trung du Bắc bộ”
Tác giả: Vũ Đình Chính
Năm: 1995
9. Ngô Thế Dân và CS(1999), Cây Đậu tương, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây Đậu tương
Tác giả: Ngô Thế Dân và CS
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
10. Đường Hồng Dật (2003), “Số tay hướng dẫn sử dụng phân bón”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, Trang 101-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số tay hướng dẫn sử dụng phân bón
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
11. Dương Văn Dũng và cs (2006), “Giống đậu tương ngắn ngày cho năng suất cao ĐVN-9”, Tạp chí NN&amp;PTNT(9), tr 35-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống đậu tương ngắn ngày cho năng suất cao ĐVN-9”
Tác giả: Dương Văn Dũng và cs
Năm: 2006
12. Lê Xuân Đính, “Sử dụng phân bón cho cây đậu tương”, http://www.phanbonmiennam.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phân bón cho cây đậu tương
13. Trần Văn Điền (2007), Giáo trình cây đậu tương, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây đậu tương
Tác giả: Trần Văn Điền
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2007
14. Trần Đình Đông (1994), “Ứng dụng đột biến trong chọn giống đậu tương”, Tạp chí khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng đột biến trong chọn giống đậu tương”
Tác giả: Trần Đình Đông
Năm: 1994
15. Nguyễn Văn Đồng (2009) Hiện trạng nghiên cứu và ứng dụng CNSH trong chọn tạo giống cây trồng, báo cáo tại hội nghị khoa học Viện nghiên cứu ngô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng nghiên cứu và ứng dụng CNSH trong chọn tạo giống cây trồng
16. Trần Thị Cúc Hòa, 2007, Nghiên cứu khả năng đáp ứng chuyển nạp gen của các giống đậu tương trồng ở Việt Nam, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 18, tháng 11/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng đáp ứng chuyển nạp gen của các giống đậu tương trồng ở Việt Nam
17. Nguyễn Xuân Hách (2006), “Xây dựng mô hình trình diễn giống đậu tương lai Tạp Hoàng số 4”, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình trình diễn giống đậu tương lai Tạp Hoàng số 4”
Tác giả: Nguyễn Xuân Hách
Năm: 2006
18. Vũ Thúy Hằng và cs (2007), “Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến một số tính trạng và tương quan giữa chúng với một số cá thể đậu tương”, Tạp chí NN &amp; PTNT(12 +13), tr. 47-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến một số tính trạng và tương quan giữa chúng với một số cá thể đậu tương”
Tác giả: Vũ Thúy Hằng và cs
Năm: 2007
19. Bùi Hiếu và Lê Thị Nguyên (2004), Kỹ thuật tưới nước cho một số cây công nghiệp, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật tưới nước cho một số cây công nghiệp
Tác giả: Bùi Hiếu và Lê Thị Nguyên
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2004
20. Nguyễn Tấn Hinh (1992), „Phân tích mối quan hệ giữa năng suất và các tính trạng số lượng của đậu tương”, Nghiên cứu cây Lương thực và Cây thực phẩm (1986-1990), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 115-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích mối quan hệ giữa năng suất và các tính trạng số lượng của đậu tương”
Tác giả: Nguyễn Tấn Hinh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1992
21. Nguyễn Tấn Hinh (1992), “Sử dụng chỉ số chọn lọc và các tham số ổn định kiểu hình trong công tác chọn tạo giống đậu tương”, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Viện KHKTNNVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sử dụng chỉ số chọn lọc và các tham số ổn định kiểu hình trong công tác chọn tạo giống đậu tương
Tác giả: Nguyễn Tấn Hinh
Năm: 1992
22. Nguyên Khê (2009), “Giống đậu tương cao sản ĐT 2006”, http://www.nongnghiep.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giống đậu tương cao sản ĐT 2006”
Tác giả: Nguyên Khê
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.1: Diện tích cây trồng CNSH trên toàn cầu - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
th ị 1.1: Diện tích cây trồng CNSH trên toàn cầu (Trang 22)
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Lào Cai  Năm  Diện tích (1000 - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Lào Cai Năm Diện tích (1000 (Trang 43)
Bảng 2.1: Nguồn gốc và đặc điểm của các giống thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 2.1 Nguồn gốc và đặc điểm của các giống thí nghiệm (Trang 45)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm (Trang 47)
Bảng 3.1: Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển  của các giống thí nghiệm vụ xuân và hè thu năm 2009 - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 3.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm vụ xuân và hè thu năm 2009 (Trang 54)
Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái của các giống thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 3.2 Đặc điểm hình thái của các giống thí nghiệm (Trang 58)
Bảng 3.3: Khả năng hình thành nốt sần  của các giống thí nghiệm vụ xuân và hè thu năm 2009 - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 3.3 Khả năng hình thành nốt sần của các giống thí nghiệm vụ xuân và hè thu năm 2009 (Trang 62)
Bảng 3.4: Chỉ số diện tích lá của các giống thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 3.4 Chỉ số diện tích lá của các giống thí nghiệm (Trang 65)
Bảng 3.5: Khả năng tích lũy vật chất khô  của các giống thí nghiệm vụ xuân và hè thu năm 2009 - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 3.5 Khả năng tích lũy vật chất khô của các giống thí nghiệm vụ xuân và hè thu năm 2009 (Trang 67)
Bảng 3.7: Khả năng chống đổ của các giống thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 3.7 Khả năng chống đổ của các giống thí nghiệm (Trang 72)
Bảng 3.8: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 3.8 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết (Trang 74)
Bảng 3.10: Năng suất thực thu của các giống thí nghiệm vụ Xuân - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 3.10 Năng suất thực thu của các giống thí nghiệm vụ Xuân (Trang 78)
Bảng 3.11: Tỷ lệ protein và lipid trong hạt của các giống thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của một số giống đậu tương tại huyện mường khương, tỉnh lào cai
Bảng 3.11 Tỷ lệ protein và lipid trong hạt của các giống thí nghiệm (Trang 80)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w