Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn VŨ THỊ THANH THỦY NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG VẢI HÙNG LON
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
VŨ THỊ THANH THỦY
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG
VẢI HÙNG LONG TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
VŨ THỊ THANH THỦY
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC
VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG VẢI
HÙNG LONG TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Trồng trọt
MÃ SỐ: 62.62.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Ngô Xuân Bình
2 GS.TS Nguyễn Thế Đặng
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp
kỹ thuật đối với giống vải Hùng Long tại Thái Nguyên", mã số 62.62.01.01 là
công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận án đã sử dụng một số thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin này đều được trích dẫn rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào hoặc chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào
Thái Nguyên, ngày… tháng năm 2010
Tác giả luận án
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Công trình nghiên cứu “Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học
và biện pháp kỹ thuật đối với giống vải Hùng Long tại Thái Nguyên", được
thực hiện từ năm 2005-2008 Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học, các cán bộ, các hộ nông dân tại địa phương mà đề tài triển khai
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, khoa Sau đại học, phòng Đào tạo, các thầy cô giáo khoa Nông học, khoa Tài Nguyên Môi trường, bộ môn Rau quả, Bộ môn Sinh lý - Sinh hóa, phòng Thí nghiệm trung tâm cùng các em sinh viên thực tập tốt nghiệp các khóa 33,34,35,36 khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài nghiên cứu trong suốt những năm qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai thầy hướng dẫn PGS TS Ngô Xuân Bình, GS.TS Nguyễn Thế Đặng đã tận tình giúp đỡ, cho nhiều ý kiến chỉ bảo tận tình, cặn kẽ trong suốt quá trình thực hiện đề tài Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn thầy PGS.TS Đào Thanh Vân, thầy PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông đã có nhiều ý kiến đóng góp quý báu về mặt chuyên môn và tạo điều kiện giúp đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành bản luận án này
Nhân dịp này xin gửi tới các bạn bè thân hữu trong và ngoài cơ quan, người thân và gia đình lời cảm ơn thân thiết của tôi về sự giúp đỡ vô tư và những lời động viên, khích lệ nhiệt tình đã dành cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận án này
Thái Nguyên, ngày… tháng… năm 2010
Tác giả luận án
Vũ Thị Thanh Thủy
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Lời cam đoan……… i
Lời cám ơn……… ii
Mục lục……… iii
Danh mục các bảng số liệu……… vi
Danh mục các sơ đồ………
ix Danh mục các hình……… ix
Danh mục các biểu đồ……… x
Danh mục các chữ viết tắt……… xi
MỞ ĐẦU……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4 Những đóng góp mới của luận án……… 3
Ch-¬ng 1: Tæng quan tµi liÖu
4 1.1 Nguồn gốc và phân loại cây vải 4
1.1.1 Nguồn gốc câyvải 4
1.1.2 Phân loại cây vải 4
1.2 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ vải trên thế giới và trong nước 9
1.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và chế biến vải trên thế giới 9
1.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ vải ở Việt Nam 15
1.2.3 Tình hình sản xuất tiêu thụ vải ở Thái Nguyên 18
1.3 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về cây vải 21
1.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm thực vật học của cây vải……… 21
1.3.2 Nghiên cứu về tỷ lệ C/N của cây vải……… 26
1.3.3 Yêu cầu sinh thái của cây vải……… 28
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
1.3.4 Nghiên cứu trên thế giới và trong nước liên quan đến kỹ thuật
trồng trọt và chăm sóc vải 30
1.4 Những kết luận về phân tích tổng quan 42
Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45 2.1.Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 45
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu 45
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 46
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 46
2.2 Nội dung nghiên cứu 46
2.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của giống vải Hùng Long 46
2.2.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với giống vải Hùng Long… 46 2.2.3 Nghiên cứu thời vụ và phương pháp ghép cải tạo vườn vải bằng giống vải Hùng Long 46
2.3 Phương pháp nghiên cứu 46
2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của giống vải Hùng Long 46 2.3.2 Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật đối với giống vải Hùng Long 48 2.3.3 Nghiên cứu thời vụ và phương pháp ghép cải tạo vườn vải bằng giống vải Hùng Long 54
2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu… 55
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN… 56
3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của giống vải Hùng Long 56 3.1.1 Một số yếu tố khí hậu năm 2005-2008……… 56
3.1.2 Nghiên cứu đặc điểm thân cành giống vải Hùng Long… 59
3.1.3 Nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh và sinh trưởng của các đợt lộc 60
3.1.4 Mối liên hệ giữa sinh trưởng, tuổi cành mẹ với khả năng ra hoa và năng suất vụ sau… 69 3.1.5 Nghiên cứu khả năng ra hoa và đậu quả của giống vải Hùng Long 73
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
3.1.6 Ảnh hưởng của tỷ lệ C/N qua các thời kỳ sinh trưởng trong năm
tới năng suất giống vải Hùng Long… 75
3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với giống vải Hùng Long 80 3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nguồn hạt phấn khác nhau đến tỷ lệ đậu quả và năng suất vải… 80
3.2.2 Nghiên cứu một số biện pháp tác động cơ giới……… 85
3.2.3 Ảnh hưởng của GA3 và phân bón qua lá đến năng suất giống vải Hùng Long……… 99
3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến năng suất, chất lượng của giống vải Hùng Long……… 104
3.2.5 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp đối với giống vải Hùng Long… 112
3.3 Nghiên cứu ghép cải tạo vườn vải có hiệu quả kinh tế thấp bằng giống vải Hùng Long 117
3.3.1 Nghiên cứu thời vụ ghép thay tán 117
3.3.2 Nghiên cứu phương pháp ghép thay tán 121
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 125
1 Kết luận 125 2 Đề nghị 126
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 127 TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
PHỤ LỤC 140
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1.1 Diện tích, sản lượng của một số nước trồng vải chính trên
trong các năm từ 2004-2008 tại Thái Nguyên 57 3.2 Diễn biến lượng mưa, số ngày có mưa của một số tháng
trong các năm từ 2004-2008 tại Thái Nguyên 58 3.3 Đặc điểm thân cành giống vải Hùng
Long
60
3.4 Thời gian phát sinh và sinh trưởng lộc hè năm 2005 61 3.5 Thời gian xuất hiện và sinh trưởng của lộc thu năm 2005 63 3.6 Thời gian xuất hiện và sinh trưởng của lộc đông năm 2005 64 3.7 Kết quả phân hóa lộc xuân năm 2006 67 3.8 Mối liên hệ giữa sinh trưởng cành mẹ và năng
suất
69
3.9 Đặc điểm hoa và tỷ lệ đậu quả của giống vải Hùng 73
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Long
3.10 Ảnh hưởng của tỷ lệ C/N qua các thời kỳ sinh trưởng chính
tới năng suất giống vải Hùng Long
3.20 Ảnh hưởng của thời vụ khoanh cành đến thời gian xuất
hiện và phân hóa lộc xuân của giống vải Hùng Long 91 3.21 Ảnh hưởng của thời vụ khoanh cành đến tỷ lệ C/N……… 92 3.22 Ảnh hưởng của thời vụ khoanh cành đến khả năng ra hoa
và tỷ lệ đậu quả của giống vải Hùng Long năm 2006 93 3.23 Ảnh hưởng của thời vụ khoanh cành đến năng suất và thời
gian thu hoạch của giống vải Hùng Long
94 3.24 Sơ bộ hạch toán kinh tế của các công thức thí nghiệm 96
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
3.25 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành theo thời gian xuất hiện
các đợt lộc thu đến khả năng ra hoa của giống vải Hùng Long 97 3.26 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành theo thời gian xuất
hiện của lộc thu đến năng suất 98 3.27 Ảnh hưởng của GA3 và phân bón qua lá đến tổng số hoa và
tỷ lệ hoa cái của giống vải Hùng Long 100 3.28 Ảnh hưởng của phun GA3 và phân bón qua lá đến năng suất 101 3.29 Ảnh hưởng của phun GA3 và phân bón qua lá đến tỷ lệ đậu
3.30 Ảnh hưởng của phun GA3 và phân bón qua lá đến chất lượng 103 3.31 Kết quả phân tích một số nguyên tố vi lượng trong đất thí
nghiệm 105 3.32 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến tổng số hoa
và hoa cái của giống vải Hùng Long 106 3.33 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến tỷ lệ đậu quả 107 3.34 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến một số yếu
tố cấu thành năng suất quả của giống vải Hùng Long 108 3.35 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến năng suất 109 3.36 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến thời vụ thu
hoạch của giống vải Hùng Long 110 3.37 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến chất lượng
quả vải Hùng Long 111 3.38 Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm 112 3.39 Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp đến
thời vụ nở hoa và thu hoạch của giống vải Hùng Long 113 3.40 Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất
giống vải Hùng Long 114 3.41 Sơ bộ hạch toán kinh tế của các biện pháp kỹ thuật áp dụng
với giống vải Hùng Long 117
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
3.42 Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ sống của cành ghép 118
3.43 Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến sinh trưởng của mầm ghép 119 3.44 Ảnh hưởng của đường kính gốc cành ghép đến chỉ số đường kính cành ghép/đường kính gốc ghép 120
3.45 Ảnh hưởng của thời vụ ghép thay tán đến hoa và năng suất 121 3.46 Ảnh hưởng của phương pháp ghép thay tán đến tỷ lệ sống của cành ghép 122
3.47 Ảnh hưởng của phương pháp ghép thay tán đến năng suất
123 3.48 Sơ bộ hạch toán kinh tế của phương pháp ghép cải tạo thay tán 124 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ STT TÊN SƠ ĐỒ Trang Sơ đồ 3.1 Nguồn gốc phát sinh lộc thu năm 2005 64
Sơ đồ 3.2 Nguồn gốc phát sinh lộc đông 2005 66
Sơ đồ 3.3 Nguồn gốc phát sinh lộc xuân 2006 67
Sơ đồ 3.4 Nguồn gốc phát sinh lộc mang hoa vụ xuân 2006 68
DANH MỤC CÁC HÌNH STT TÊN HÌNH Trang Hình 1.1 Cơ cấu tiêu thụ vải tươi tại Lục Ngạn và Bắc Giang 17
Hình 3.1.a Tương quan giữa chiều dài cành mẹ đến năng suất 70
Hình 3.1.b Tương quan giữa tuổi cành mẹ đến năng suất 71
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Hình 3.1.c Tương quan giữa đường kính cành mẹ đến năng suất 71 Hình 3.1.d Tương quan giữa số lá/ cành mẹ đến năng suất 72 Hình 3.1.e Tương quan giữa số hoa cái/cành mẹ đến năng suất 72 Hình 3.2.a Tương quan giữa tỷ lệ C/N của thời kỳ lộc hè với
Hình 3.2.c Tương quan giữa tỷ lệ C/N của thời kỳ phân hóa hoa
với năng suất
78
Hình 3.2.d Tương quan giữa tỷ lệ C/N của thời kỳ rụng quả sinh
lý với năng suất
79
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Ảnh hưởng của khoanh cành đến tỷ lệ C/N qua các thời
kỳ sinh trưởng chính trong năm của giống Hùng Long…… 93 Biểu đồ 3.2 Ảnh hưởng của thời vụ khoanh cành đến năng suất 95 Biểu đồ 3.3 Ảnh hưởng của phun GA3 kết hợp phân bón dinh dưỡng
qua lá đến năng suất giống vải Hùng Long………
102
Biểu đồ 3.4 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tổng hợp đến năng
suất giống vải Hùng Long……… 115
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây vải (Litchi chinensis Sonn) có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc
và Bắc Việt Nam, thuộc họ Bồ Hòn Vải là cây ăn quả với hương vị thơm ngon, có nhiều chất dinh dưỡng như đường, vitamin C và chất khoáng, được xác định là cây ăn quả đặc sản trên thị trường trong nước và thế giới Với bộ tán lớn, cành lá xum xuê quanh năm, cây vải còn là cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn, rửa trôi, tạo cảnh quan môi trường sinh thái
Việt Nam có diện tích trồng vải phát triển nhanh so với 20 nước trồng vải trên thế giới Giai đoạn 1997-2004, tốc độ tăng diện tích vải của các tỉnh miền Bắc là 19,6%, tốc độ tăng sản lượng đạt 36,5% Tính đến năm 2007, tổng diện tích vải của cả nước đạt 92.337 ha, sản lượng 408.444 tấn trong đó diện tích cho sản phẩm 85.992 ha với giống trồng chủ yếu là vải thiều Thanh Hà Giống Thanh Hà có thời gian chín và thu hoạch quả ngắn, người trồng vải chưa đủ trình
độ, vốn, thiết bị để chế biến và bảo quản nên đã gây ra hiện tượng tồn đọng vải quả tươi trong thời gian thu hoạch Những năm gần đây, giá vải quả vào lúc chính vụ xuống chỉ còn 1.500-2000 đ/1kg, làm giảm hiệu quả kinh tế của người trồng vải Một trong những giải pháp kéo dài thời gian cung cấp vải tươi cho thị trường và tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng là bố trí cơ cấu giống hợp lý, bao gồm các giống chín sớm, chín chính vụ và chín muộn.Theo định hướng phát triển giai đoạn 2005-2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cơ cấu các giống vải sẽ bao gồm 10-15% diện tích giống chín sớm, 70-75% diện tích giống chính vụ, 5-10% diện tích giống chín muộn (Ngô Hồng Bình, 2004 [1];
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
giống Thanh Hà nên giá vải quả vào lúc chính vụ thấp, hiệu quả kinh tế của vườn quả giảm Diện tích trồng vải từ năm 2004 giảm xuống đến nay chỉ còn 4.754 ha.Trước thực trạng đó, các khu vực có diện tích trồng vải lớn như Đồng Hỷ, Đại Từ, thành phố Thái Nguyên đã triển khai dự án trồng một số giống vải chín sớm trong đó có giống Hùng Long Giống vải Hùng Long được phát hiện, tuyển chọn tại xã Hùng Long, huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ, giống đã được công nhận là giống quốc gia vào năm 2000 Tuy nhiên, giống Hùng Long có năng suất không ổn định do tỷ lệ đậu quả thấp, tỷ lệ cây ra hoa cách năm cao Do vậy, để giống vải Hùng Long phát triển ổn định và bền vững tại Thái Nguyên cần có những nghiên cứu cụ thể về đặc điểm sinh học, khả năng thích nghi cũng như các biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất và chất lượng quả, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng vải Xuất phát từ thực tiễn sản xuất trên địa bàn chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật đối với giống vải Hùng Long tại Thái Nguyên”
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
*Mục đích của đề tài
Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học quan trọng liên quan đến khả năng ra hoa, kết quả từ đó làm cơ sở để xác định các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng giống vải chín sớm Hùng Long
*Yêu cầu của đề tài
+ Theo dõi đặc điểm sinh vật học của giống vải Hùng Long bao gồm đặc điểm sinh trưởng, khả năng ra hoa, thời gian xuất hiện các đợt lộc mối quan hệ giữa các đợt lộc với năng suất, tỷ lệ C/N tại các thời kỳ sinh trưởng chính trong năm liên quan đến khả năng cho năng suất
+ Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật dựa trên cơ sở các nghiên cứu
về đặc điểm nông sinh học nhằm nâng cao năng suất và chất lượng giống vải Hùng Long
+ Nghiên cứu thời vụ ghép và phương pháp ghép phù hợp nhằm cải tạo một số diện tích trồng vải Thanh Hà của Thái Nguyên sang giống vải Hùng Long
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài bổ sung thêm những dẫn liệu có cơ sở khoa học lý luận cho việc khẳng định đặc tính sinh trưởng phát triển và phục vụ cho chương trình thâm canh tăng năng suất các giống vải chín sớm tại Việt Nam nói chung và Thái Nguyên nói riêng
Đề tài góp phần hoàn thiện quy trình trồng và chăm sóc giống vải chín sớm Hùng Long góp phần tăng năng suất và chất lượng quả, tăng thu nhập cho người làm vườn
4 Những đóng góp mới của luận án
Giống vải Hùng Long có khả năng sinh trưởng tốt ở điều kiện khí hậu của Thái Nguyên Một năm vải ra 4 đợt lộc là xuân, hè, thu, đông, các đợt lộc
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Lộc thu là cành mẹ quan trọng của cành mang hoa, mang quả của vụ xuân năm sau Nếu đợt lộc thu thành thục sớm khả năng phát sinh lộc đông là rất lớn do vậy cần có các biện pháp kỹ thuật khống chế thời gian ra lộc Tuổi cành mẹ có tương quan chặt đến năng suất của cành quả Năng suất đạt cao nhất khi tuổi cành mẹ từ 3,5 - 4 tháng tuổi
Nguồn hạt phấn khác nhau có ảnh hưởng đến năng suất vải Hùng Long Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài nguồn hạt phấn của cây vải nhỡ là nguồn hạt phấn thích hợp đối với vải Hùng Long Do vậy có thể lựa chọn cây vải nhỡ trồng xen với vải Hùng Long để bổ sung nguồn hạt phấn
Cắt tỉa, phun GA3 nồng độ 50ppm kết hợp phân bón dinh dưỡng qua lá Yogen-N02 hoặc phân vi lượng kết hợp (ZnS04.7H20 1%+H3B03.5H20 0,05%) làm tăng năng suất ở cả hai nhóm vải xuất hiện đợt lộc thu sớm và lộc thu muộn Nhóm lộc thu sớm năng suất tăng từ 94,93-144,33%, nhóm lộc thu muộn năng suất tăng 31,57-35,09% so với đối chứng (nhóm vải ra lộc thu sớm phải kết hợp biện pháp khoanh cành)
Ghép thay tán giống vải Hùng Long trên giống vải Thanh Hà có thể tiến hành vào vụ xuân hoặc vụ thu Áp dụng phương pháp ghép trực tiếp hoặc ghép trên mầm tái sinh đối với vườn vải còn ít tuổi.Vườn vải đã trồng lâu năm nên áp dụng phương pháp ghép thay tán trên mầm tái sinh
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc và phân loại cây vải
1.1.1 Nguồn gốc cây vải
Cây vải có tên khoa học là Litchi chinenis Sonn (Nephelium Litchi Cambess) thuộc họ Bồ hòn có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc, Bắc Việt
Nam (Võ Văn Chi, 1978 [7]; Menzel C.M và cs, 2005 [82]) Tài liệu đầu tiên có liên quan đến cây vải là một người Trung Quốc ở triều đại nhà Hán (năm 148 đến 86) trước công nguyên Đời nhà Tống vào năm 1059 Thái Tương viết “Lệ Chi Phổ” mô tả lịch sử vùng trồng, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc, chế biến và đặc điểm giống được coi là công trình đầu tiên trên thế giới về cây vải (Trần Thế Tục, 2004 [45]; Ghosh, SP., 2000 [61]) Đến cuối thế kỷ 17 vải được mang sang Burma, 100 năm sau được đưa sang Ấn Độ vào năm 1775 Cây vải được trồng
ở Hawai năm 1873 bởi một thương gia người Trung Quốc, Florida năm 1883, Califonia năm1897 và đến Israen năm 1914 Vào khoảng những năm từ 1875 -
1876 cây vải được đưa sang các nước châu Phi là Madagasca và Morihiuyt (Mitra S.K., 2003) [85] Ngày nay vải được trồng ở các nước nằm trong phạm vi
vĩ độ 200
-300 Bắc và vùng cận nhiệt đới
Tại Việt Nam theo các tài liệu cũ, cây vải đã được trồng cách đây 2000 năm Điều tra cây ăn quả ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung có gặp một số cây vải dại, vải rừng Ở khu vực chân núi Tam Đảo có nhiều cây vải dại quả giống vải nhà nhưng hương vị kém hơn (Vũ Công Hậu, 1999) [26] Một số tài liệu nước ngoài cho rằng cây vải cũng có nguồn gốc ở miền Bắc Việt Nam (Mitra S.K., 2002) [84]
1.1.2 Phân loại cây vải
Cây vải thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae) Đây là một họ lớn có khoảng
140 chi và 1600 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, đặc biệt
là ở châu Á và châu Mỹ Vải có bộ nhiễm sắc thể 2n bằng 28 hoặc 30, gồm 3
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
loài phụ: Litchi chinensis, Litchi philippinnensis, Litchi javennensis (Grof
G.W.,1954 [63], Menzel C.M và Simpson D.R., 1992 [79])
Ở Việt Nam hiện nay biết được 25 chi, 91 loài mọc khắp cả nước Trong họ này có nhiều loài cây cho ăn quả như vải, nhãn và chôm chôm Cây vải là cây gỗ nhỡ, lá kép lông chim, hoa nhỏ và lưỡng tính, không có cánh hoa, vỏ quả mỏng, màu nâu đỏ, mặt ngoài sần sùi, hoa vải có công thức:
K5C5A5+5G4 (Võ Văn Chi, 1978) [7]
1.1.2.1 Một số giống vải chính trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có nhiều giống vải khác nhau, trong đó Trung Quốc được coi là nơi có nhiều giống vải nhất Từ những năm 1960, một số lượng lớn nguồn gen của các giống vải đã được phân lập và nghiên cứu trong một thời gian dài Tuy nhiên, chỉ có 13 giống trong hơn 200 giống được nghiên cứu có ý nghĩa kinh tế và được phát triển rộng rãi Ở tỉnh Quảng Đông các giống vải như: Baila, Baitangying, Heiye, Fezixiao, Guiwei, Nuomici và Huazhi được trồng với diện tích khá lớn khoảng hơn 140.000 ha, trong đó giống Guiwei, Nuomici chiếm hơn 80% diện tích.Tỉnh Phúc Kiến trồng chủ yếu giống vải Lanzhu với diện tích khoảng hơn 25.000 ha Phân theo chất lượng các giống vải ở Trung Quốc có hai nhóm chính: đó là nhóm khi chín thịt quả thường nhão và ướt còn nhóm kia khi chín thì cùi ráo và khô Phân
theo vụ thu hoạch thì có 3 nhóm:
Nhóm chín sớm và cực sớm: giống Feizixiao, Edanli, Ziliangxi, các giống này được trồng tập trung chủ yếu ở tỉnh Haina
Nhóm chín chính vụ: Baila, Baitangying, Heiye, các giống này được trồng tập trung ở phía Tây tỉnh Quảng Đông, Zhanjiang, Maoming, Yangjiang
Nhóm chín muộn: Guiwei, Nuomici, Huazhi, Feizixiao, Lanzhu, các giống này được trồng tập trung ở trung tâm tỉnh Quảng Đông, đông nam tỉnh Guangxi và tỉnh Phúc Kiến (Ghosh S.P., 2000 [60]; Mitra S.K., 2002 [84])
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Tại Đài Loan, giống vải chủ yếu là giống Hap Ip, chiếm hơn 90% tổng diện tích ngoài ra còn có giống Yuher Pau được trồng ở miền Nam và giống
No Mi Tsu được trồng ở miền Trung (Anonymous, 2000) [50]
Tại Nam Phi giống vải chủ yếu là Kwaimi nhưng thường được gọi là
“Mauritius” vì có nguồn gốc từ hòn đảo này, giống có kích thước quả trung bình, tán cây thấp, chất lượng tốt (Mitra S.K., 2002) [84]
Các giống vải được trồng ở Ấn Độ hiện nay là: Shadi, Bombai, Rose, China, Scented và Mazaffarpur (Chen H và Huang H., 2000) [57]
Giống vải trồng chủ yếu ở Thái Lan là giống Hap Ip, Tai So, Waichee ngoài ra còn khoảng hơn 30 giống khác Giống vải của Thái Lan được chia làm hai nhóm: nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh trong mùa đông chặt chẽ được trồng ở khu vực trung tâm của Thái Lan, nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh trong mùa đông ít hơn được trồng ở các tỉnh phía Bắc (Anupunt P., 2003 [51]; Teng Y., 2003 [99]
Ở Nam Mỹ trong 43 giống vải nhập nội từ Ấn Độ và Trung Quốc chỉ
có hai giống hiện nay còn tồn tại và được trồng phổ biến đó là Hap Ip và Kwaimi (Zeng Q và cs, 2002) [108]
Ở Hawai giống trồng phổ biến là giống Hap Ip, Kwaimi và Brewster Năm 1942, Groff tiến hành lai tạo giữa 3 giống vải trên nhằm tìm ra một giống vải tốt nhất và đến năm 1953 đã chọn ra được một giống mang tên Groff Giống có tính di truyền ổn định, chín muộn, quả có kích cỡ trung bình, thịt quả trắng và ráo, hương vị thơm ngon, hầu hết các hạt đều bị teo nên rất nhỏ (Groff, G.W., 1954) [63] Ở Florida giống vải được trồng chủ yếu
là giống Brewster (Yee W., 1972) [106]
Có hơn 40 giống vải ở Australia, các giống trồng phổ biến ở đảo Queensland bao gồm Kwai May Pink, FayZee Siu và Souey Tung, giống Kwai May Pink được trồng ở miền Trung, miền Nam trồng chủ yếu giống Waichee Cây vải được trồng ở bang Qeensland cách đây 130 năm nhưng gần đây
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
mới phát triển Tuy diện tích vải nhỏ, tổng sản lượng chỉ khoảng 5-6 nghìn tấn nhưng do thu hoạch vào dịp lễ giáng sinh nên có giá trị hàng hóa cao (Dixon L.W và cộng sự, 2003) [59]
Các nhà khoa học hiện nay đang nghiên cứu lai tạo nhằm chọn ra các giống vải mới, tuy nhiên kết quả đem lại chưa khả quan Conchie C.A., Batten D.J (1994) [58] đã dùng hạt phấn của một số giống nhãn thụ phấn cho vải nhưng cây con phát triển từ hạt lai lại sinh trưởng rất kém (Xiang X và cộng
sự, 2002) [102] khi thụ phấn cho hai giống Guiwei và Nuomici bằng hạt phấn của 7 giống vải khác nhau cho thấy: có sự thay đổi về trọng lượng hạt của quả vải sau khi thụ phấn, giống Nuomici trọng lượng hạt sau khi được thụ phấn bằng giống Xuhuaizi giảm xuống còn 50%, tuy nhiên năng suất cũng thấp hơn
Lu L.X (2002) [74] nghiên cứu kỹ thuật chuyển gen cho cây vải từ
tế bào trần nhưng cây chưa sống được ở môi trường bên ngoài Changhe
Yu (2004) [54] khi tách các tế bào nguyên sinh từ phôi của vải và nuôi cấy trong môi trường thích hợp thì phôi có thể phân chia và mang thông tin trực tiếp từ tế bào thể xoma, tuy nhiên tỷ lệ sống của cây con cũng rất kém
RahaJo S.H.T.và Litz R.E (2007) [89] đã nuôi cấy thành công tế bào từ thể xoma của một số giống vải và các cây con đã được trồng thành công trong nhà kính Hy vọng trong tương lai với những nghiên cứu có ứng dụng công nghệ sinh học thì có thể tạo ra được các giống vải chuyển đổi gen có nhiều ưu điểm
1.1.2.2 Một số giống vải chính của Việt Nam
Ở Việt Nam, các giống vải được phân theo thời vụ thu hoạch như sau:
Các giống vải chín sớm: các giống có thời gian chín từ 5/5 đến 25/5
hàng năm Đặc điểm hoa có phủ một lớp lông thưa màu nâu, quả hình tim hoặc trứng, trọng lượng quả từ 30-40 g Các giống thuộc nhóm này là: vải tu
hú, Hùng Long, Bình Khê, Yên Hưng
Các giống vải chín chính vụ: Các giống có thời gian chín từ 1/6 đến
25/6 trong điều kiện các tỉnh miền Bắc Chùm hoa có phủ lớp lông màu trắng,
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
khối lượng quả trung bình 25 g, cùi ráo, vị thơm năng suất khá cao Các giống thuộc nhóm này là: thiều Thanh Hà, thiều Phú Hộ
Các giống vải chín muộn: Là giống có thời gian chín khoảng từ 30/6
đến 15/7 hàng năm theo điều kiện các tỉnh miền Bắc Chùm hoa có phủ lớp lông màu trắng, khối lượng quả trung bình khoảng 35 g, phẩm chất khá ngon Tuy nhiên ở nước ta hiện nay những nghiên cứu để phân lập nguồn gen của các giống chín muộn chưa có do vậy các giống chín muộn hiện nay vẫn có thể
là các giống chín chính vụ do sử dụng các biện pháp kỹ thuật mà quả chín muộn hơn Các giống vải chín muộn hiện nay có các giống: chín muộn Thanh
Hà, chín muộn Lục Ngạn (Trần Thế Tục, 2004) [45]
Năm 1991 nước ta nhập nội một số giống vải từ Trung Quốc là các giống: Quế Vị, Nhu Mê Tu, Hoài Chi, Hắc Diệp, Tam Nguyệt Hồng, Phi Tử Tiếu, Đại Tào Năm 1991, dự án VIE86- 003 đã nhập một số giống từ Úc về Lục Ngạn như: Waichee, Taiso, Salathit, Kwaipink… nhưng qua theo dõi các giống này đều sinh trưởng kém hơn vải thiều Thanh Hà Năm 1998, huyện Lục Ngạn nhập giống Bạnh Đường Anh, năm 2001 tổng công ty rau quả nhập giống Đại Bi Hồng và trồng tại Lục Ngạn các giống này đang tiếp tục được theo dõi [40]
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Văn Dũng và Vũ Mạnh Hải (2005) [18] tại 13 huyện của 7 tỉnh miền Bắc Việt Nam có tập đoàn vải khá phong phú Đã thu thập được 31 giống, trong đó tuyển chọn được 8 giống có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, có tính chống chịu sâu bệnh khá, năng suất cao và
ổn định Trong đó hai giống được công nhận giống quốc gia là thiều Thanh Hà
và Hùng Long, các giống Đường Phèn, Hoa Hồng, Lai Bình Khê, Lai Yên Hưng, Phú Điền và Phúc Hòa đang được tiến hành khảo nghiệm Các giống có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất, chất lượng quả tương đương với nơi nguyên sản là Bình Khê, Yên Hưng và Yên Phú
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Hiện nay hơn 95% diện tích trồng vải của nước ta trồng giống vải Thanh
Hà, là giống chính vụ chín rất tập trung, gây trở ngại cho chế biến và tiêu thụ Chính vì vậy, để có thể nâng cao hiệu quả kinh tế của vườn quả cần có một cơ cấu giống vải hợp lý với thời gian thu hoạch khác nhau, trong đó giống chín sớm được tập trung ưu tiên mở rộng diện tích do khả năng tiêu thụ và giá bán cao (Vũ Mạnh Hải, 2005) [26]
1.2 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ vải trên thế giới và trong nước 1.2.1 Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ vải trên thế giới
* Tình hình sản xuất: Trên thế giới có hơn 20 quốc gia có diện tích trồng
vải, các nước này chủ yếu thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong đó Trung Quốc có diện tích và sản lượng lớn nhất Cây vải được trồng rộng khắp miền Nam Trung Quốc, ở đây cây vải đã trở cây ăn quả chủ lực từ những năm
1980, khoảng hơn 3 triệu người dân địa phương có liên quan đến nghề trồng và chế biến vải Diện tích vải tăng nhanh chóng trong giai đoạn 1983-1999, tăng mạnh nhất từ năm 1990-1999, nhưng sau đó diện tích vải ổn định trong khoảng 590.000 ha Sản lượng năm 2003 đạt 1.123.000 tấn, 1.558.400 tấn vào năm 2004
và 1.392.000 tấn vào năm 2005 (Menzel C.M., 2005) [82]
Ở Ấn Độ vải được trồng chủ yếu ở bang Bihar, tây Bengal diện tích khoảng 56.200 ha, sản lượng 429.000 tấn (Chen, H và Huang, H., 2000 [57]; Ghosh, SP., 2000 [62]) Thái Lan cây vải được trồng chủ yếu ở miền Bắc, vùng trồng chính là Chiang mai, Chiang Rai Việt Nam là nước có diện tích và sản lượng vải đứng thứ ba trên thế giới với diện tích năm 2004 khoảng 22.937 ha, sản lượng hơn 300.000 tấn (Menzel C.M và cs, 2005) [82] Cây vải cũng là một trong những cây trồng chủ yếu ở trung tâm và miền nam của Đài Loan, diện tích vào khoảng 11.961 ha, sản lượng hơn 10.000 tấn (Teng Y., 2003) [98] Cây vải được trồng rải rác ở Banglađét nhưng diện tích chiếm rất ít chỉ khoảng hơn 4000 ha, sản lượng hơn 10.000 tấn Mặc dù cây vải được đưa đến
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
trồng ở Úc từ khá lâu song mãi cho đến những năm 1970 mới trở thành cây trồng có tính hàng hóa [82]
Ở Brazil vải được trồng chủ yếu ở phía tây bang Sanpaolo Giống vải trồng chủ yếu là giống "Bengal" có năng suất trung bình 125 kg/cây đối với cây trưởng thành được tưới nước Thời gian thu hoạch từ tháng 12-1 Tuy nhiên do chỉ trồng tập trung một giống nên giá vải giảm mạnh từ 8,5 USD/1kg vào năm
1995 xuống còn 3,7 USD/1kg vào năm 2000 Vấn đề của sản xuất vải tại Brazil cũng chính là thiếu một tập đoàn giống có thời gian thu hoạch khác nhau (Yamanisi O.K và cs, 2005) [105]
Sản xuất vải ở Nam Phi có chung khó khăn như Brazil đó là thiếu giống vải chín sớm và chín muộn Thời vụ thu hoạch vải chính vụ của Nam Phi rất ngắn chỉ kéo dài từ 6-8 tuần đúng vào dịp nghỉ lễ Giáng sinh do vậy rất khó thuê nhân công lao động cũng như vận chuyển, vì vậy các dự án phát triển cây vải tại đây đều tập trung vào tuyển chọn các giống vải địa phương hoặc nhập nội có thời gian thu hoạch không trùng với giống chính vụ (Jahiel M và cs, 2005) [68])
Vải được trồng ở Madagasca năm 1802 và được xuất khẩu vào năm 1960 Ban đầu, vải được xuất khẩu bằng đường hàng không với khối lượng nhỏ do vậy giá vải rất cao Đến năm 1987, sau khi được xử lý bằng khí S02, vải có thể bảo quản được 4 tuần và được vận chuyển bằng đường biển do vậy giá thành đã giảm xuống Trong vài năm Madagasca đã trở thành một trong những nước xuất khẩu vải hàng đầu trên thế giới Tuy nhiên, hiện nay xuất khẩu vải của Madagasca đang gặp nhiều khó khăn như: sự gia tăng các nhà xuất khẩu vải trong nước cũng như yêu cầu chặt chẽ hơn về chất lượng sản phẩm từ phía châu
Âu, với yêu cầu giảm tối đa hàm lượng chất hóa họccòn tồn dư sau bảo quản (Lemmer D và Kruger F.J., 2002) [71]
Diện tích, sản lượng của một số nước trồng vải chính được trình bày ở bảng 1.1
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 1.1: Diện tích, sản lượng của một số nước trồng vải chính trên thế giới
STT Tên nước Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Nguồn: Litchi and longan, Bonta ny, production and uses
*Chế biến bảo quản sau thu hoạch
Nghiên cứu bảo quản vải sau thu hoạch được nhiều ngày để vận chuyển đi
xa hoặc kéo dài thời gian cung cấp vải tươi là vấn đề có ý nghĩa kinh tế lớn Sau thu hoạch từ 2-3 ngày vỏ quả vải thường bị chuyển sang màu nâu làm giảm giá trị của sản phẩm Ở Úc, vải được xử lý bằng thuốc chống nấm Benlate ở 500C, sau đó bảo quản ở nhiệt độ 50
C Ở Trung Quốc, vải được bảo quản trong túi P.E buộc kín để ở nhiệt độ 2-40C Xử lý sau thu hoạch bằng khí S02là phương pháp bảo quản vải được lâu nhất hiện nay Tuy nhiên, hàm lượng chất S còn tồn dư sau bảo quản đang làm khách hàng lo ngại, nhất là thị trường các nước châu Âu,
vì vậy nghiên cứu bảo quản theo hướng làm giảm tối đa hàm lượng S tồn dư cũng như tìm ra phương pháp khác an toàn hơn cho người sử dụng đang được tiến hành ở nhiều nước trồng vải, (Jahiel và cs, 2005 [68]; ShiJ.X và Wang C.S., 2000 [93])
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Nghiên cứu của Lemmer D và cộng sự (2002) [71] cho thấy: khả năng tồn dư của S02 sau bảo quản phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường và sinh lý của quả Nếu độ ẩm của quả trước khi thu hoạch cao kết hợp với sau thu hoạch một đêm mới xử lý thì hàm lượng S tồn dư rất cao Vì vậy nếu kết hợp đồng bộ giữa việc thu hái và bảo quản thì có thể giảm được hàm lượng S trong vỏ quả
Nghiên cứu kéo dài thời vụ thu hoạch cho vải ở Israenl cho thấy: giống vải Maritius khi được che bớt ánh sáng từ 30-50% khoảng một tháng trước khi thu hoạch đã chín muộn hơn so với bình thường từ 7-10 ngày (Tomer E., 2002) [101]
Nghiên cứu phương pháp bảo quản của Xu X và cộng sự (2006) [103] cho 3 giống vải là Huaizhi, Nuomici và Guiwei ở nhiệt độ 40 C cho thấy: có sự quan hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ và khả năng ô xy hóa cũng như sự chuyển hóa giữa các enzym trong tế bào của thịt quả, sự thay đổi nhiệt độ đột ngột từ kho bảo quản lạnh ra môi trường bên ngoài dẫn đến vỏ quả bị chuyển sang màu nâu một cách nhanh chóng.Thay đổi nhiệt độ từ kho bảo quản ra môi trường bên ngoài một cách từ từ sẽ giảm được sự mất màu của quả vải
Nghiên cứu của Kaewchana và cộng sự (2007) [70] cho thấy: độ ẩm có liên quan đến sự chuyển màu nâu của vỏ quả vải Hong huay Sau thu hoạch, nếu bảo quản vải ở nhiệt độ 200 C ở độ ẩm 90% các vết nâu sẽ xuất hiện sau 9 ngày, ở độ ẩm 50 % các vết nâu xuất hiện chỉ sau 3 ngày Kết quả cho thấy ở nhiệt độ thường muốn vải tươi lâu nên giữ ẩm cho quả vải
Archibal A.j và Bower J.P (2008) [52] cho biết: trước đây 97% vải của Nam Phi xuất khẩu sang châu Âu được bảo quản bằng khí S02, tuy nhiên những năm gần đây thị trường châu Âu không chấp nhận sản phẩm có tồn dư chất S02
nên nhiều phương pháp bảo quản mới được nghiên cứu để thay thế Sau khi thu hoạch, vải được phân loại và xử lý chống nấm và được đặt từng lớp ngăn cách trong hộp bằng giấy hút ẩm, sau đó được đóng kín trong túi polyetylen chuyên dụng, bảo quản ở nhiệt độ lạnh từ 1-50 C Với phương pháp này vải giữ được
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
màu sắc, hương vị như lúc mới thu hoạch được hơn 40 ngày Bảo quản ở nhiệt
Ấn Độ cũng xuất khẩu vải sang thị trường này vào thời gian tháng 6-7 nhưng chỉ vào khoảng 600-700 tấn/năm (Menzel CM và cs, 2005) [82]
Số lượng nhập khẩu vải của các nước Châu Âu được trình bày qua bảng 1.2
Số liệu bảng 1.2 cho thấy Madagasca xuất khẩu vải nhiều nhất sang thị trường châu Âu, sau đó là Nam Mỹ Trung Quốc có diện tích và sản lượng vải lớn nhất nhưng số lượng vải xuất khẩu trung bình mỗi năm khoảng gần 200 tấn Việt Nam đến năm 2004 mới bắt đầu xuất khẩu vải tươi sang thị trường châu Âu với số lượng chỉ vài chục tấn Tuy nhiên đây là một thị trường đầy tiềm năng nếu chúng ta biết tập trung vào khâu chăm sóc, bảo quản, nâng cao chất lượng vải quả tươi thì hoàn toàn có thể nâng cao được số lượng vải xuất khẩu sang các nước châu Âu
Các thị trường mới như các nước Ả Rập, Saudi Arabia, Yemen, Dubai hàng năm cũng nhập khẩu vài trăm tấn vải tươi Tuy nhiên, so với tổng sản lượng vải xuất khẩu vẫn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, ngoại trừ Úc là nước xuất khẩu khoảng 25-30 % tổng sản lượng còn các nước khác chỉ chiếm từ 0,2-5,5 % Số lượng vải được đóng hộp và bảo quản lạnh khoảng 2.500 tấn ở Trung Quốc,
500 tấn ở Đài Loan và được xuất khẩu sang các nước Mỹ, Canada, Hàn Quốc
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Tuy nhiên, sản phẩm vải đóng hộp thường không được ưa chuộng trên thị trường vì hương vị kém hơn vải tươi, vải bảo quản trong nhiệt độ lạnh cũng gặp khó khăn vì vỏ quả thường bị chuyển màu sau một thời gian ngắn
Bảng 1.2 Số lượng vải các nước xuất khẩu vào châu Âu
Nguồn: European market fruitrop- Statitics yearbook 2007 [95]
Hiện nay các nước muốn mở rộng thị trường tiêu thụ vải tươi cần phải chú trọng một số yếu tố sau: nghiên cứu tuyển chọn thêm nhiều giống vải khác nhau với chất lượng cao, thời kỳ thu hoạch kéo dài Những vùng sản xuất vải chính đã được xác định đó là các nơi có vải thu hoạch tháng 12-1 là Úc,
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Madagatsca, tháng 5-8 là Ấn Độ, Đài Loan, Việt Nam, Thái Lan, cùng với thí nghiệm ở các nước như Israen, Mauritius, Trung Quốc cho thấy kéo dài hơn nữa thời vụ thu hoạch của vải là điều hoàn toàn có thể làm được Bên cạnh đó các công nghệ điều khiển nhiệt độ trong quá trình bảo quản cũng như vận chuyển đang được nghiên cứu một cách tích cực Vì vậy, các nhà sản xuất có thể cung cấp vải tươi chất lượng cao cho thị trường nhiều tháng trong năm trong một tương lai gần, (Menzel CM và cs, 2005 [82], Mitra SK và cs, 2003 [85]
1.2.2 Tình hình sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ vải ở Việt Nam
* Tình hình sản xuất: Cây vải được trồng ở hầu hết các tỉnh miền Bắc, qua nhiều
năm đã hình thành các vùng trồng có diện tích tương đối lớn Dựa trên yêu cầu sinh thái của cây vải đã phân ra làm các vùng trồng vải chính như sau:
Vùng S1 (rất thích hợp): Thanh Hà, Chí Linh (Hải Dương), Đông
Triều, Vân Đồn (Quảng Ninh), Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang (Bắc Giang), Lạng Sơn khu vực từ đèo Sìn Hồ trở xuống Hữu Lũng, Phú Lương, Đại Từ, Phổ Yên, TP Thái Nguyên (Thái Nguyên) Tổng diện tích có thể phát triển cây vải lên tới 41.259 ha
Vùng S2 (thích hợp): Vùng này tập trung tại các huyện Hoành Bồ, Tiên
Yên, Móng Cái (Quảng Ninh), Sơn Động (Bắc Giang), Đình Lập, Lộc Bình,Tràng Định (Lạng Sơn), phía Bắc của Thái Nguyên, vùng thấp của Cao Bằng bao gồm Nguyên Bình, Hà Quảng Diện tích khu vực này 26.566 ha (Trần Thế Tục, Vũ Thiện Chính, 1997) [44]
Tình hình sản xuất vải của một số tỉnh miền Bắc trình bày qua bảng 1.3
Số liệu bảng 1.3 cho thấy tỉnh Bắc Giang có diện tích và sản lượng lớn nhất chiếm tới 43,14 % diện tích và 55,96 % sản lượng vải trong cả nước, sau
đó là tỉnh Hải Dương chiếm 15,39 % diện tích và 11,66 % tổng sản lượng.Thái Nguyên có diện tích 5.421 ha, trong đó diện tích cho thu hoạch hơn 4 nghìn ha, sản lượng khoảng hơn 18 nghìn tấn
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất vải ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam
tích (ha)
Diện tích thu hoạch (ha)
Sản lƣợng (tấn)
Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2007
* Tình hình bảo quản và chế biến: Hiện nay bảo quản và chế biến quả vải
của nước ta chủ yếu dưới các hình thức sau:
- Bảo quản lạnh: Vải sau khi thu hoạch được chở bằng xe lạnh vận
chuyển vào phía Nam, hoặc được bảo quản trong nhà lạnh, cuối vụ mới bán hoặc xuất khẩu (Nguyễn Tiến Định, 2005) [22]
Nghiên cứu của Trần Văn Lài (2005) [32] cho thấy: vải được làm lạnh
sơ bộ, sau đó xử lý bằng HCl, đóng túi PE có đục lỗ là biện pháp bảo quản duy trì được màu sắc tự nhiên của vải, tỷ lệ hao hụt thấp, chất lượng cảm quan được đánh giá cao Quy trình bảo quản này được áp dụng ở Thanh Hà và Lục Ngạn với quy mô 50 tấn/lượt cho thấy hiệu quả kinh tế tăng 20% so với bán quả tươi
- Sấy khô: Quả vải được sấy khô theo phương pháp thủ công truyền thống (chiếm khoảng 95% sản lượng vải thiều sấy khô), còn 5% được sấy theo phương pháp lò hơi cưỡng bức
- Đóng hộp và chế biến rượu: một lượng nhỏ quả vải được đóng hộp
và chế biến rượu, tuy nhiên do thời vụ thu hoạch ngắn, thị trường tiêu thụ
Trang 30Số húa bởi Trung tõm Học liệu – Đại học Thỏi Nguyờn htt://www.lrc-tnu.edu.vn
vải đúng hộp hạn chế nờn lượng vải thiều đúng hộp và chế biến rượu chỉ khoảng 2500 tấn/năm
*Thị trường tiờu thụ
Hầu hết vải được bỏn tươi, phục vụ nhu cầu tiờu thụ trong nước, vải xuất khẩu và chế biến chiếm một tỷ trọng rất nhỏ Cơ cấu tiờu thụ vải của Hải Dương và Bắc Giang được minh họa qua hỡnh 1.1:
Hỡnh 1.1: Cơ cấu sản phẩm tiờu thụ 2004 - 2005 của Hải Dương và Bắc Giang [21]
Qua hỡnh 1 cho thấy vải tiờu thụ dưới dạng quả tươi chiếm hơn 50% tổng sản lượng, vải sấy khụ khoảng 18-48% Do hương vị của quả vải thường khụng
ngon như lỳc ban đầu nờn sản phẩm vải đúng hộp chỉ khoảng 2%
Vải sấy khụ của Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc và tiờu thụ trong nước, tuy nhiờn do chất lượng vải kộm, phương phỏp sấy chủ yếu là cỏc lũ sấy bằng than nờn chất lượng khụng được đảm bảo, do vậy giỏ vải khụ cũng lờn xuống rất thất thường Một vài doanh nghiệp ở Bắc Giang và Hải Dương xõy dựng cỏc kho bảo quản lạnh nhưng cụng suất thấp nờn số lượng vải được bảo quản tươi chỉ chiếm một phần nhỏ Khả năng xuất khẩu hạn chế do hệ thống thu mua phõn phối cũn thiếu tớnh chuyờn nghiệp, sản xuất thiếu đồng bộ nờn chưa đỏp ứng được đũi hỏi về mẫu mó, chất lượng an toàn thực phẩm của thị trường nhất là cỏc nước chõu Âu Vừa qua, cựng với việc vải thiều Thanh Hà
Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ nă m 2004
Chế biến
đóng hộp
2%
Vải t- ơi 50%
Vải khô
18%
Vải t- ơi 80%
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
được cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý vào ngày 8.6.2007, một mô hình liên kết 4 nhà trong sản xuất và tiêu thụ vải thiều đã được hình thành Mô hình bước đầu đã mang lại hiệu quả nhất định, cần tiếp tục phát triển, hoàn thiện
để mở rộng trong thời gian tới trên phạm vi toàn quốc (Nguyễn Văn Hoa, 2006) [28]
1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải ở Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc Bộ,
có diện tích tự nhiên 3.541,50 km2, dân số khoảng 1.108.775 người Theo đánh giá Thái Nguyên là một trong những khu vực có điều kiện khí hậu và đất đai thích hợp cho cây vải phát triển [46] Diện tích cây ăn quả chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số diện tích đất nông nghiệp của tỉnh, diện tích một số loại cây ăn quả của Thái Nguyên trình bày qua bảng 1.4
Bảng 1.4 Diện tích một số cây ăn quả của tỉnh Thái Nguyên
Loại cây
ăn quả
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Nhãn 1.543 16,29 1.428 15,79 1.313 17,05 1.227 17,63 Vải 7.044 74,37 6.718 74,29 5.421 70,40 4.754 68,29
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Số liệu bảng 1.4 cho thấy diện tích cây vải chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các cây ăn quả, tuy nhiên có xu hướng giảm dần Diện tích năm 2004 là 7.044 ha nhưng đến năm 2007 diện tích cây vải chỉ còn 4.754 ha, giảm 2.290 ha Nguyên nhân của sự sụt giảm diện tích là do trong giai đoạn 2000-2004 diện tích cây vải phát triển quá nhanh lại chỉ trồng chủ yếu giống vải Thanh Hà nên gây hiện tượng tồn đọng vải quả tươi trong vụ thu hoạch, do lợi nhuận thu được thấp nên nông dân đã chuyển dần diện tích sang trồng loại cây trồng khác Mặc dù diện tích có xu hướng giảm nhưng diện tích cây vải hiện nay vẫn chiếm 68,29 % trong tổng số diện tích cây ăn quả trong toàn tỉnh Diện tích, sản lượng cây vải của Thái Nguyên trình bày trong bảng 1.5
Bảng 1.5 Diện tích, sản lƣợng cây vải của Thái Nguyên qua các năm
Đơn vị
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Số liệu bảng 1.5 cho thấy nhiều vùng của Thái Nguyên có diện tích trồng vải, nhưng vùng tập trung trồng nhiều là Đồng Hỷ, Phú Bình và thành phố Thái Nguyên Diện tích trong những năm qua tuy bị giảm mạnh, nhưng sản lượng vải năm 2007 vẫn đạt hơn 22 nghìn tấn
Năm 2000, tỉnh Thái Nguyên lập phương án quy hoạch diện tích trồng một số loại cây ăn quả đến 2010 Thực trạng phát triển cây vải trong những năm qua của Thái Nguyên có sự thay đổi so với quy hoạch, với diện tích vải tăng rất nhanh trong giai đoạn từ năm 2000-2004, sau đó diện tích vải có xu hướng giảm dần Kết quả so sánh giữa thực trạng phát triển diện tích cây vải trên địa bàn so với phương án quy hoạch trình bày trong bảng 1.6
Bảng 1.6 Diện tích cây vải của Thái Nguyên năm 2007 so với
quy hoạch năm 2010
STT Đơn vị hành chính
Diện tích (ha) Diện tích 2007
so với 2010 (ha)
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Số liệu bảng 1.6 cho thấy tổng diện tích cây vải toàn tỉnh so với quy hoạch đến năm 2010 vẫn còn thiếu 1474 ha Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm hiện nay đối với thực trạng phát triển cây vải của Thái Nguyên không phải chú trọng tăng nhanh về diện tích mà chính là cơ cấu giống Theo Đào Thanh Vân (2002) [49], giống vải của Thái Nguyên được chia 3 nhóm chính: đó là vải chua (vải tu hú), vải nhỡ (vải lai) và vải thiều Vải thiều Thanh Hà có diện tích lớn nhất, chiếm hơn 70,99% diện tích vải, vải chua chiếm 5,53%, vải nhỡ khoảng 11,37%, còn lại là diện tích vải thiều Phú Hộ Hiện nay giống Hùng Long được ưu tiên đưa vào cơ cấu diện tích trồng vải, tạo thị trường vải trước thời vụ thu hoạch rộ của vải Thanh Hà
1.3 Một số nghiên cứu trên thế giới và trong nước về cây vải
1.3.1 Nghiên cứu đặc điểm thực vật học của cây vải
Nghiên cứu các đặc điểm thực vật thông qua chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển của cây trong điều kiện khí hậu của một khu vực qua nhiều năm có thể đánh giá được mức độ thích nghi, khả năng bảo tồn các đặc tính vốn có của giống cũng như tiềm năng cho năng suất
Rễ: Cây vải có bộ rễ rất khỏe gồm rễ ăn đứng và rễ ăn ngang, bộ rễ ăn sâu,
nông, rộng, hẹp tùy thuộc vào cách nhân giống, đất trồng, nước phân bón, không khí và chế độ nhiệt trong đất Đại bộ phận rễ tơ tập trung trong và phạm vi ngoài tán 10-50 cm, độ sâu 0-50 cm Hoạt động của bộ rễ vải chia làm 3 thời kỳ: thứ nhất sau lúc hoa nở rộ đến giữa tháng 6, đây là thời kỳ bộ rễ hoạt động mạnh mẽ
và nhiều rễ nhất Thứ hai vào giữa tháng 8, thứ ba sau khi lộc thu thành thục vào khoảng trung tuần tháng 10 Với bộ rễ phát triển, có khả năng hấp thụ mạnh nên vải có khả năng chịu hạn Yuan và Huang (1993) [107] khi nghiên cứu sự phát triển bộ rễ của giống Nuamici cho thấy đợt rễ xuất hiện vào tháng 5 là nguyên nhân gây rụng quả trầm trọng, Zhou và cộng sự (1996) [109] cũng nhận thấy nếu đợt rễ mới không phát triển vào tháng 5 đối với hai giống Huaizu và Nuamici thì
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
tỷ lệ rụng quả sẽ giảm hẳn Kết quả cho thấy nghiên cứu đối với sự sinh trưởng của bộ rễ có thể góp phần làm giảm bớt tỷ lệ rụng quả sinh lý cho vải
Thân, cành: Cây trưởng thành cao tới 10-15 m, tán hình mâm xôi hoặc
bán cầu, đường kính tán từ 8-10 m.Thân có đường kính lớn, vỏ nhẵn, màu tối,
gỗ màu nâu Đối với cây vải tuỳ vào điều kiện sinh thái, khả năng trồng trọt một năm cây thường ra 3 đến 4 đợt lộc Các đợt lộc có liên quan chặt chẽ với nhau, quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho việc ra hoa kết quả ở năm sau Thông thường cành mẹ của cây vải là cành thu, tùy theo giống, tùy tuổi cây
mà một năm có thể có từ 1-2 đợt cành thu (Hieke S Menzel C.M., 2001 [64]) Hoa vải ra chủ yếu từ lộc xuân mọc từ cành thu năm trước, nhưng không phải
có lộc thu là có hoa Nếu lộc thu ra quá muộn, sinh trưởng tích lũy kém, dù gặp điều kiện khí hậu thuận lợi cũng không thể phân hoá mầm hoa được Nếu lộc thu ra sớm mà ngay sau đó là đợt lộc đông thì cây cũng không có khả năng ra hoa Phân hóa mầm hoa sớm hay muộn còn do tuổi cành mẹ chi phối, cành mẹ thành thục sớm thì phân hóa mầm hoa sớm, cành mẹ thành thục muộn thì phân hóa mầm hoa muộn Nghiên cứu của Ngô Xuân Bình (2005) [4], Menzel C.M (1992) [79] cho thấy cành mang hoa vụ xuân có ba loại: một loại có hoa hoàn toàn, một loại có hoa lẫn lộc, loại phát triển thành cành dinh dưỡng Loại cành có hoa lẫn lộc thường có tỷ lệ đậu quả thấp hơn Do vậy, khống chế được thời gian hình thành và tốc độ sinh trưởng của cành thu có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phân hóa mầm hoa (Zeng Q và cs, 2002) [108] Vì vậy, nghiên cứu thời gian ra lộc của cây, xác định đợt lộc có khả năng ra hoa và cho năng suất cao nhất, tìm ra sự liên hệ giữa các đợt lộc để lấy đó làm nền tảng cho các biện pháp kỹ thuật nhằm thúc đẩy đợt lộc tốt, hạn chế đợt lộc có khả năng cho năng suất thấp Nghiên cứu sinh trưởng của các giống vải chín sớm trồng tại Viện Nghiên cứu rau quả cho thấy: các giống vải chín sớm có khả năng ra lộc tốt, thời gian hoàn thành các đợt lộc hè từ 36-49 ngày, lộc
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
thu từ 38-50 ngày Các chỉ tiêu về đường kính, chiều dài, số lá của các đợt lộc của vải chín sớm đều cao hơn vải Thanh Hà (Nguyễn Văn Dũng, 2005) [19]
Lá: Lá vải thuộc lá kép lông chim gồm 2-4 đôi, mọc so le, lá chét cứng,
dai có chất sừng Cuống lá ngắn, mặt lá xanh đậm, phản quang, rìa lá không gợn sóng, nhẵn bóng, mặt dưới lá mầu trắng xám, gân nhẵn, không nổi rõ lên trên lá Mút lá nhọn, gốc lá hơi tù, lá non khi mới ra màu tím đỏ, khi cành thành thục màu xanh đậm Kích thước lá của các giống vải chín sớm lớn hơn so với vải Thanh Hà, màu sắc lá non lúc mới ra cũng sẫm hơn Theo Nguyễn Văn Dũng (2005) [19] kích thước lá vải chín sớm dài từ 13-15 cm, rộng 3-4 cm trong khi vải Thanh Hà lá chỉ dài từ 9-10 cm, rộng từ 3,4- 3,6 cm Nghiên cứu của Lê Đình Danh và Nguyễn Quang Huy (1999) [15] cũng cho thấy lá vải Hùng Long
có kích thước to, lộc non lúc mới ra có mầu sẫm hơn so với vải Thanh Hà
Hoa: Vải có ba loại hoa cơ bản: hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính, hoa vải
bé, không có cánh Hoa đực có khả năng tung phấn để thụ tinh, hoa cái thường có hai bầu, sau khi thụ tinh xong thì quả phát triển, thường chỉ có một bầu phát triển thành quả (Võ Văn Chi và cs, 1978 [7]; Trần Thế Tục, 2004 [45])
Hoa cái: hoa phát triển hoàn toàn, ba bộ phận bầu nhụy, vòi nhụy và đầu nhụy phân hóa khá rõ Bầu nhụy phát triển thường có 2-3 tâm bì Khi nhụy chín đầu nhụy tiết ra dịch là thời điểm thụ phấn tốt nhất Với sản xuất hoa cái rất quan trọng, tuy nhiên tỷ lệ hoa cái nhiều hay ít tùy thuộc vào từng giống, điều kiện thời tiết và dinh dưỡng Nhiệt độ thấp vào thời kỳ phân hóa mầm hoa sẽ tăng tỷ lệ hoa cái Trong một chùm hoa số hoa cái có khả năng đậu quả cũng chỉ chiếm từ 15-20% tổng số hoa Thông thường cành hoa ngắn,
có tỷ lệ đậu quả cao, mật độ quả dầy và đều hơn so với loại hình cành hoa dài Tuy nhiên tỷ lệ đậu quả của các giống vải lại liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ hoa cái và hoa lưỡng tính Quan sát của cho thấy các chùm hoa nở sớm thường có
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
chùm hoa lớn, tỷ lệ hoa đực cao và tỷ lệ đậu quả kém Các chùm hoa nở muộn hơn thường là chùm hoa nhỏ, với tỷ lệ hoa đực ít hơn và đậu quả tốt hơn (Mezel C.M., 1988) [77]
Yuan và Huang (1993) [107] khi nghiên cứu sự nở hoa của vải cho thấy
có sự tương quan chặt giữa số lượng lá trên cành mẹ với số quả đậu/chùm, trên một chùm hoa nếu có nhiều lộc tỷ lệ đậu quả sẽ thấp và ngược lại Khi nghiên cứu về khả năng ra hoa của 7 giống vải chín sớm được tuyển chọn so với Thanh Hà cho thấy các giống vải chín sớm có số lượng hoa/chùm dao động từ 2.832,5-3758,4 hoa/chùm so với 940,5 hoa/chùm của giống Thanh
Hà (Nguyễn Văn Dũng, 2005) [19]
Hoa đực: bao gồm hoa đực mà nhị cái hoàn toàn thái hóa và nhị cái phát triển không hoàn toàn, nhụy thoái hóa chỉ còn dấu vết nhị được mọc trên mầm hoa, phần nhiều 6-8 nhị Chỉ nhị dài, bao phấn to, phấn hoa khi chín có màu vàng, hoa đực tiêu hao nhiều dinh dưỡng, nên cần có biện pháp giảm tỷ
lệ hoa đực [45]
Hoa lưỡng tính: có nhị đực và nhụy cái phát triển, nhị có thể tung phấn bình thường, đầu nhụy có thể nứt ra để thụ phấn, thụ tinh Đây là loại hoa hoàn toàn có thể kết thành quả, nhưng số lượng hoa lưỡng tính không nhiều
Đối với trang trại sản xuất cây ăn quả nếu chỉ trồng đơn độc một giống thường có hiện tượng đậu quả thấp hơn những trang trại có trồng xen thêm một
số giống khác cùng loài Điều này chứng tỏ hạt phấn của giống khác đôi khi góp phần làm tăng tỷ lệ đậu quả Một số nghiên cứu về canh tác ở các trang trại trồng hồng cũng như chôm chôm, xoài và vải cho thấy: trồng xen làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả Tuy nhiên mỗi giống lại yêu cầu một loại cây trồng xen khác nhau Trong một chùm hoa vải, số lượng hoa đực chiếm khoảng 70-80% tổng số hoa, mặt khác hoa đực và hoa cái không nở cùng một lúc mà
nở xen kẽ đôi khi hoa đực nở trước sau đó hoa cái mới nở Nếu trong vườn
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
chỉ trồng thuần một loại giống sẽ xảy ra thụ phấn không đều làm cho tỷ lệ đậu quả kém.Theo Limangkura (1996) để vải tự thụ phấn, tỷ lệ đậu quả là 4,2%, nếu thụ phấn chéo đạt 6,9% Thời gian vải nở hoa, nếu cách ly không cho côn trùng lui tới tỷ lệ đậu chỉ đạt 0,026-0,105%, để côn trùng tự do hoạt động tỷ lệ này là 0,17-11,25% (Trần Thế Tục, 2004) [45] Sự thiếu hụt
số lượng hạt phấn cũng như các hạt phấn khỏe mạnh vào thời điểm hoa cái
nở là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ đậu quả thấp hoặc gây rụng quả sinh lý (Kadman A.,1982) [69] Theo Goren M (2000) [62] cho thấy: một số trang trại trồng vải của Israel mặc dù đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật như bón phân, phun chất điều hòa sinh trưởng, khoanh cành
mà năng suất vẫn thấp, nguyên nhân do vải không được thụ phấn đầy đủ
Do vậy, khi được trồng thêm các cây thụ phấn bổ khuyết, năng suất đã tăng
từ 20-30% Nghiên cứu của Singh B và Chaudhary D.K., (2004) [94] ở Ấn
Độ cũng cho thấy: các cây vải thụ phấn tự do có tỷ lệ quả đậu cao hơn so với các cây tự thụ phấn Kích thước quả của cây thụ phấn tự do cũng lớn hơn so với tự thụ Theo Trần Thế Tục (2004) [45] Việt Nam chưa áp dụng thụ phấn nhân tạo cho vải nhưng ở Trung Quốc đã có kinh nghiệm thụ phấn cho vải: trên cây vải khi hoa đực nở thu gom tất cả các hạt phấn chế thành dung dịch rồi phun cho cây vào thời kỳ hoa cái nở rộ Kết quả có thể làm tăng tỷ lệ đậu quả ở thời kỳ đầu từ 129-314% so với thụ phấn tự nhiên Phương pháp này thực tế khó áp dụng vì mất nhiều công sức, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết Một trong những phương pháp kinh tế, hiệu quả đó là trồng thêm cây thụ phấn Giống vải Hùng Long được trồng ở Thái Nguyên mấy năm gần đây, nhưng số lượng vườn có diện tích lớn ít,
đa số vải được trồng rải rác nên tỷ lệ đậu quả thấp, các biện pháp kỹ thuật tăng cường tỷ lệ đậu quả cũng như giống vải trồng xen phù hợp vẫn chưa được nghiên cứu
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
Quả: Có nhiều dạng: hình trứng, hình bầu dục, hình trái tim, hình
cầu tùy từng giống Cùi vải thường chiếm 60-70%, vỏ hạt chiếm 20-30% khối lượng quả, lúc còn xanh quả có màu xanh nhạt, khi chín màu đỏ thẫm, cùi vải mầu trắng vị ngọt pha chua hoặc rất chua tùy theo giống Hạt vải hình bầu dục dài, màu nâu bóng Thời gian từ lúc hoa cái bắt đầu nở đến lúc thu hái được quả ngắn nhất cũng mất 70 ngày, dài đến hơn 100 ngày, quả vải phát dục có ba giai đoạn và có ba lần rụng quả:
Giai đoạn 1: Tế bào tăng trưởng mạnh để phát triển phôi vỏ hạt, vỏ quả Sau hoa cái nở 10 ngày, quả bằng hạt đậu thì rụng quả sinh lý đợt 1
Giai đoạn 2: Hạt phát triển nhanh, tăng nhanh về thể tích và trọng lượng, vỏ hạt cứng dần cho đến lúc thịt quả bao kín hạt Lúc thịt quả bao kín hạt từ 1/3 đến 2/3 do thiếu dinh dưỡng hoặc bên trong thiếu các chất kích thích sinh trưởng, xuất hiện rụng quả lần 2
Giai đoạn 3: Thịt quả phát triển rất nhanh và quả đến giai đoạn chín Từ lúc thịt quả bao kín hạt cho đến khi quả chín thời gian từ 19-25 ngày Thời gian này dinh dưỡng và khoáng tích lũy nhanh vào quả, vỏ quả đã có phần chuyển màu Do cường độ tích lũy nhanh nếu gặp thời tiết bất thuận (nắng hạn, mưa to) sẽ làm rụng quả (Trần Thế Tục, 2004) [45]
1.3.2 Nghiên cứu về tỷ lệ C/N của cây vải
Cây ăn quả nói chung và cây vải nói riêng đều hấp thu dinh dưỡng từ hai nguồn: Bộ rễ cung cấp nhựa nguyên (nước và chất khoáng) trong đó chất tượng trưng nhất là đạm nên nguồn thức ăn này gọi theo nghĩa quy ước là nguồn đạm (N) Bộ lá cung cấp nhựa luyện nhờ hoạt động quang hợp và chất tượng trưng nhất là các bon, nên gọi theo nghĩa quy ước là nguồn các bon (C)
Cây muốn sinh trưởng và phát triển tốt cần có sự cân đối giữa hai nguồn thức ăn này Tỷ lệ C/N là yếu tố quan trọng quyết định quá trình sinh trưởng, phát triển và phân hoá mầm hoa Tỷ lệ C/N thích hợp cây sẽ phát triển
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
cân đối và ra hoa kết quả bình thường Tỷ lệ C/N quá thấp hoặc quá cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng ra hoa và cho năng suất (Phạm Văn Côn, 2004) [10] Đối với cây vải, yếu tố nội tại chủ yếu ảnh hưởng đến phân hóa mầm hoa do
sự tích lũy dinh dưỡng khác nhau, bao gồm các sản phẩm quang hợp, các chất khoáng và sự chuyển hóa giữa chúng để tạo ra các sản phẩm như: axit amin, protein, các chất điều hòa sinh trưởng
Nghiên cứu của Menzel C.M (1983) [76] kết luận rằng sự phân hóa mầm hoa vải chịu ảnh hưởng trực tiếp của hàm lượng đường bột trong cành Nghiên cứu của Yuan và cộng sự (1993) [107] về tỷ lệ C/N cho những cây vải nhiều hoa có hàm lượng đạm toàn phần và đạm protein trong lá vào tháng 12
và tháng 1 năm sau giảm còn đường khử và đường tổng số tăng Menzel C.M (1988) [77] cho thấy: Đối với giống vải nếp hàm lượng tinh bột tích lũy trong
lá đạt cao nhất vào thời kỳ ngủ nghỉ đến thời kỳ phân hóa mầm hoa
Theo Batten D.J và Conchie C.A (1995) [53] một trong những nguyên nhân của hiện tượng vải ra hoa cách năm là do sự mất cân đối giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực Nghiên cứu của Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1991) [34] cho thấy: tỷ lệ đường ở trong lá vải vụ thu có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành hoa Nếu lá màu xanh đậm, hàm lượng đường 1,28% tỷ lệ hình thành hoa cao nhất, nếu lá xanh vàng hàm lượng đường 1,075% tỷ lệ hình thành hoa ít, nếu lá có hàm lượng đường 0,592 % cây hoàn toàn không nở hoa Theo Lê Đình Danh và Nguyễn Thị Thanh (1999) [16]: đối với giống vải Phú Hộ tỷ lệ C/N cao vào thời kỳ phân hóa mầm hoa làm tăng tỷ lệ hoa cái, tăng số chùm hoa và tỷ lệ đậu quả
Xuất phát từ các nghiên cứu về tỷ lệ C/N cho thấy cần nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ C/N đối với sinh trưởng và phát triển của vải Hùng Long, từ
đó đề ra biện pháp kỹ thuật điều chỉnh tỷ lệ C/N nhằm tăng khả năng ra hoa góp phần tăng năng suất vải