1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tieu luan dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiên tệ 2014

24 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 42,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản. Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là một trong những công cụ của ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ.Thông thường, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được các ngân hàng trung ương trên thế giới quy định là tỷ lệ giữa dự trữ tiền mặt so với tiền gửi vãng lai là một bộ phận cấu thành của M1 mà không quy định tỷ lệ giữa dự trữ tiền mặt với tiền gửi có kỳ hạn (tiền gửi tiết kiệm..., một bộ phận cấu thành của M2). Dữ trữ bắt buộc có thể được gửi ở ngân hàng trung ương hoặc giữ tại két dự trữ của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, thông thường các ngân hàng thương mại sẽ gửi ở ngân hàng trung ương để được hưởng lãi suất. Ở Việt nam, tỷ lệ dữ trữ bắt buộc được quy định cho hai loại tiền gửi: tiền gửi không kỳ hạn cộng với tiền gửi có kỳ hạn dưới 1 năm và tiền gửi có thời hạn từ 1 năm đến 2 năm, trong đó tỷ lệ dữ trữ bắt buộc so với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 đến 2 năm thấp hơn. Ngoài ra tỷ lệ dữ trữ bắt buộc còn được quy định khác nhau đối với những loại ngân hàng khác nhau có thể theo quy mô, tính chất hoạt động... Ngân hàng trung ương của một số quốc gia như các nước thuộc Anh, Thuỵ Sỹ,... đã không còn áp dụng quy định tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nữa.

Trang 1

Ti u lu n: ể ậ

Trang 2

CÔNG C D TR B T BU C TRONG Ụ Ự Ữ Ắ Ộ

I U HÀNH CHÍNH SÁCH TI N T C A

NHTWI Khái quát chung về công cụ dự trữ bắt buộc

1 Khái niệm về dữ trữ bắt buộc.

DTBB là số tiền mà các NHTM Việt Nam buộc phải duy trì trên tài khoản tiền gửi tại NHTW.

2 Đối tượng thực hiện dự trữ bắt buôc

- Ngân hàng thương mại quốc doanh

- Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị

- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam

- Công ty Tài chính

3 Phương pháp quản lý dự trữ bắt buộc

Phương pháp quản lý dự trữ bắt buộc căn cứ vào mức độ chênh lệch về thời gian giữa kỳ xác định và kỳ duy trì

3.1 Phương pháp nối tiếp

- Khái niệm:Phương pháp nối tiếp là phương pháp mà kỳ xác định và kỳ duy trì nối tiếp nhau

- Đặc điểm:

+Đối tượng phải dự trữ bắt buộc chủ động hoàn toàn trong việc sử dụng dự trữ vì vào đầu kỳ họ đã biết được mức dự trữ bắt buộc phải thực hiện trong kỳ

+ Số dư tiền gửi để tính dự trữ bắt buộc biến động không ngừng

+ Lãi suất ngắn hạn có thể biến động lớn, gây bất ổn định cho thị trường tiền tệ

Trang 3

=> Công cụ dự trữ bắt buộc không thể kiểm soát được khả năng cho vay của các đối tượng phải dự trữ.

+ Số dư tiền gửi để tính dự trữ bắt buộc ít biến động

+ Lãi suất thị trường ít biến động

=> Công cụ dự trữ bắt buộc phát huy hiệu quả cao hơn so với phương pháp nối tiếp trong việc thực thi CSTT

3.3 Phương pháp trùng hoàn toàn

- Khái niệm: Về mặt lý thuyết phương pháp trùng hoàn toàn quy định kỳ duy trì đồng thời cũng là kỳ xác định, còn trên thực tế không có sự trùng khớp hoàn toàn mà luôn có một độ trễ nhất định (có thể từ 2 đến 3 ngày)

- Đặc điểm:

+ Đối tượng chịu sự quản lý về dự trữ bắt buộc phải chủ động duy trì dự trữ

ở mức cụ thể mà không thể sử dụng dự trữ vì mục tiêu lợi nhuận một cách tuỳ ý

=> Công cụ dự trữ bắt buộc phát huy được hiệu quả cao nhất

Lưu ý:

- Thời hạn của kỳ xác định và kỳ duy trì càng ngắn thì công cụ dự trữ bắt buộc càng có hiệu quả cao vì trong thời gian ngắn, số dư tài khoản biến động không lớn, việc xác định dự trữ bắt buộc sẽ chính xác hơn

- Thông thường, kỳ xác định và kỳ duy trì có khoảng thời gian trung bình là một tháng với kỳ xác định thưòng chậm hơn kỳ duy trì là một hoặc nửa kỳ

Trang 4

4 Ưu điểm và nhược điểm của công cụ dự trữ bắt buôc.

- Việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể ảnh hưởng ngay đến khả năng thanh khoản của ngân hàng -> có thể đẩy ngân hàng đến chỗ phá sản -> gây tác động dây truyền đến các ngân hàng khác

- Việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc làm cho chi phí điều chỉnh bảng cân đối tài sản rất tốn kém vì ngân hàng có thể phải đi vay với lãi suất cao, bán chứng khoán với giá rẻ hoặc giảm bớt phần vốn cho vay

- Dự trữ bắt buộc giống như một hình thức thuế thu nhập vô hình đối với các ngân hàng vì các ngân hàng phải giữ lại một phần tiền gửi theo yêu cầu mà không được sử dụng cho mục đích sinh lời trong khi vẫn phải trả lãi tiền gửi cho khách hàng

- Công cụ dự trữ bắt buộc rất ít khi được NHTW sử dụng để điều chỉnh những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ

- Xu hướng ngày nay ngày càng ít sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều tiết tiền tệ Công cụ này thường được sử dụng kết hợp với các công cụ khác để điều chỉnh lượng vốn khả dụng của các TCTD khi cần thiết

Trang 5

II) THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ DỰ TRỮ BẮT BUỘC TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.

1 Các văn bản hiện hành về quản lý dự trữ bắt buộc của NHNN Việt Nam

- Quyết định số 581/2003/QĐ-NHNN ngày 9 tháng 6 năm 2003 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Về việc ban hành quy chế dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng

- Thông tư 27/2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 581/2003/QĐ-NHNN ngày 09/06/2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

- Q Đ 379/Q Đ- NHNN ngày 24/2/2009( áp dụng kỳ dự trữ tháng 3/2009), tỷ

lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng USD áp dụng theo Q Đ1925/Q Đ- NHNN ngày 26/8/2011( áp dụng từ kỳ dự trữ tháng 9/2011)

2 Các loại tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc

Căn cứ vào điều 12 quyết định 581/2003/Q Đ – NHNN

• Đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam:

 Tiền gửi kho bạc nhà nước

 Tiền gửi của khách hàng

 Tiền gửi không kỳ hạn

 Tiền gửi của khách hàng trong nước

 Tiền gửi có kỳ hạn thuộc loại phải tính dự trữ bắt buộc

 Tiền gửi vốn chuyên dùng

 Tiền gửi tiết kiệm:

 Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thuộc loại phải dự trữ bắt buộc

 Tiền gửi tiết kiệm khác

 Tiền gửi của khách hàng nước ngoài:

 Tiền gửi không kỳ hạn

 Tiền gửi có kỳ hạn thuộc loại phải dự trữ bắt buộc

 Tiền thu được từ việc phát hành giấy tờ có giá có kỳ hạn thuộc loại dự trữ bắt buộc

• Đối với tiền gửi bằng ngoại tệ:

Trang 6

 Tiền gửi của kho bạc nhà nước

 Tiền gửi của khách hàng trong nước:

 Tiền gửi không kỳ hạn

 Tiền gửi có kỳ hạn thuộc loại phải dự trữ bắt buộc

 Tiền gửi vốn chuyên dung

 Tiền gửi tiết kiệm:

 Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thuộc loại phải dự trữ bắt buộc

 Tiền gửi của khách hàng nước ngoài:

 Tiền gửi không kỳ hạn

 Tiền gửi có kỳ hạn thuộc loại phải dự trữ bắt buộc

 Tiền thu được từ việc phát hành giấy tờ có giá có kỳ hạn thuộc loại dự trữ bắt buộc

( Số hiệu tài khoản được hướng dẫn tại phụ lục đính kèm muc 1)

• Tiền gửi bằng ngoại tệ làm cơ sở tính dự trữ bắt buộc là các loại ngoại tệ, được quy đổi thành USD để dự trữ bắt buộc bằng USD Tỷ giá quy đổi các loại ngoại tệ để tính dự trữ bắt buộc là tỷ giá hạch toán ngoại tệ của kỳ xác định dự trữ bắt buộc do

bộ tài chính thông báo hàng tháng

• Trường hợp tổ chức tín dụng có số dư tiền gửi huy động bằng EURO, hoắc JPY, hoặc GBP, CHF chiếm trên 50% tổng nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ thì có thể

dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đó

Chú ý: không tính DTBB đối với tiền gửi của các TCTD khác và tiền vay từ NHNN

3 Phương pháp tính dự trữ bắt buộc của Việt Nam hiện nay:

Căn cứ vào điều 4 Quyết định 581/Q Đ/2003- NHNN

Dự trữ bắt buộc được tính toán trên cơ sở số dư tiền gửi huy động bình quân của từng loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc tại Hội sở chính và các chi nhánh của tổ chức tín dụng trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc và tỷ lệ dự trữ bắt buộc tương ứng được Thống đốc NHNN quy định trong từng thời kỳ

Căn cứ vào điều 12 Quyết đinh 581/Q Đ/2003- NHNN

Cách tính dự trữ bắt buộc cho kỳ duy trì dự trữ bắt buộc.

Trang 7

a Dự trữ bắt buộc cho kỳ duy trì dự trữ bắt buộc được tính bằng cách lấy số

dư bình quân các loại tiền gửi huy động phải dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng (quy định tại Điều 12 Quy chế này) trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc nhân với tỷ

lệ dự trữ bắt buộc quy định cho từng loại hình tổ chức tín dụng và cho từng loại tiền gửi tương ứng

b Số dư bình quân các loại tiền gửi huy động phải tính dự trữ bắt buộc trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc được tính bằng cách cộng các số dư tiền gửi huy động phải tính dự trữ bắt buộc cuối mỗi ngày trong kỳ đem chia cho tổng số ngày trong kỳ

4 Căn cứ xác định tỷ lệ DTBB mà NHNN Việt Nam đang áp dụng, phương pháp quản lý dự trữ bắt buộc

• Căn cứ xác định tỷ lệ DTBB của Việt Nam

Ở nước ta, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được phân chia theo tùy từng tính chất kỳ hạn, loại tiền gửi và thông thường, loại tiền gửi kỳ hạn ngắn, tiền gửi bằng ngoại tệ phải duy trì một tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao hơn Ngoài ra, tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn

có thể quy định theo từng quy mô và mức độ an toàn chung của một ngân hàng…Bên cạnh đó, sự khác biệt về tỷ lệ dự trữ bắt buộc giữa các ngân hàng cũng được quan tâm Theo quy định tại quyết định số 379/Q Đ- NHNN áp dụng từ ngày 24/2/2009( đối với VND) và quyết định 79/Q Đ- NHNN áp dụng từ ngày 01/2/2010( đối với ngoại tệ) thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định như sau:

Để khuyến khích một số NHTM cho vay nông nghiệp và nông thôn ngày 08/12/2010, NHNN đã ban hành thông báo số 457, 458, 459, 460, 461 về việc áp dụng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng có cho vay nông nghiệp và nông thôn cao theo thông tư 20/2010/TT- NHNN ngày 29/09/2010 của NHNN Theo đó quỹ tín dụng nhân dân trung ương được áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 1/20 so với tỷ lệ dự trữ thông thường, Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, NHTM cổ phần quốc tế Việt Nam, NHTM cổ phần Kiên Long, NHTM cổ phần Mê Kông được áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 1/5 so

Trang 8

với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường Với quy định này NHNN đã bổ sung them

cơ sở mới cho việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn phụ thuộc vào đối tượng đầu

tư của các NHTM

• Phương pháp quản lý dự trữ bắt buộc của Việt Nam hiện nay:

 Phương pháp nối tiếp là phương pháp mà kỳ xác định và kỳ duy trì nối tiếp nhau

Độ dài của kì duy trì và kì xác định là 1 tháng

• Đặc điểm

• Đối với NHNN, cách xác định và tính toán đơn giản

• Đối với TCTD- đối tượng phải dự trữ bắt buộc chủ động hoàn toàn trong viêc sử dụng dự trữ vì đầu kỳ họ đã biết được mức dự trữ bắt buộc phải thực hiện trong kỳ

• Số dư tiền gửi để tính dự trữ bắt buộc biến động không ngừng

• Lãi suất ngắn hạn có thể biến động lớn, gây bất ổn cho thị trường tiền tệ

 Đối với NHNN: Công cụ DTBB không thể kiểm soát được khả năng cho vay của các đối tượng phải dự trữ, dẫn đến hậu quả quản lý là không tốt tác động đến CSTT của NHNN

 Đối với các NHTM: Nếu tính toán không tốt sẽ phải chấp nhận lãi suất cao tại thời điểm phải đảm bảo DTBB dẫn tới lợi nhuận bị ảnh hưởng

5 Việc sử dụng công cụ DTBB từ năm 2008 đến nay và tỷ lệ DTBB tại Việt Nam hiện hành.

• Cơ sở xác định DTBB

NHTW các nước thường sử dụng tỷ lệ DTBB trong vai trò là công cụ điều hành CSTT, giúp NHTW kiểm soát hệ số nhân tiền và trên cơ sở đó kiểm soát khối lượng tiền cung ứng, do đó, tùy vào mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ mà tỷ

lệ DTBB được quy định khác nhau Điều này được chứng minh rất rõ ở nước ta trong thời gian qua

• Thực trạng sử dụng công cụ DTBB ở Việt Nam

Tại Việt Nam, để ngăn ngừa sự tăng trưởng tín dụng quá nóng nhằm kiểm soát lạm phát, tỷ lệ DTBB đã được điều chỉnh khá mạnh vào năm 2007( từ

Trang 9

5% lên 10%) và năm 2008 – khi tình hình dần bình ổn trở lại, tỷ lệ DTBB đã được điều giảm dần một cách linh hoạt.

Bảng 01: Tỷ lệ DTBB đối với các TCTD Việt Nam từ tháng 01/2008 – 01/2011.

(1): Đối với TG KKH và kỳ hạn dưới 12 tháng

(2): Đối với TG kỳ hạn 12 tháng trở lên

Nguồn: http://www.sbv.gov.vn

Bảng 01 cho thấy từ tháng 01/2008 – 01/2011 đến nay, tỷ lệ DTBB được điều chỉnh giảm Việc điều chỉnh này của NHNN một mặt nhằm đưa ra tín hiệu nới lỏng tiền tệ, mặt khác thông qua việc nâng cao hệ số nhân tiền chính thức mở rộng khả năng cho vay, kích thích các NHTM đẩy mạnh hoạt động tín dụng

Đánh về những thay đổi tỷ lệ dự trữ năm buộc từ năm 2008 đến 2011 của Việt

Nam

Năm 2008: Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số

187/2008/QĐ-NHNN ngày 16/01/2008 về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu mở rộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn so với quy đinh hiện nay là áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ

24 tháng trở xuống

Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1% đối với các loại tiền gửi so với tỷ lệ quy định hiện nay Cụ thể là: đối với tiền VND không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12

Trang 10

tháng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn

từ 12 tháng trở lên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 4% lên 5%; đối với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng từ 4% lên 5%

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước không điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động trên địa bàn nông nghiệp nông thôn

Nguyên nhân: đó là năm 2008 tỷ lệ lạm phát cao là 8,1% và có xu hướng ngày

càng tăng nên để kiềm chế lạm phát ổn định nền kinh tế, NHNN đã tập trung vào 2 mục tiêu chủ yếu là kiểm soát tổng phương tiện thanh toán ở mức hợp lý và kiểm soát dư nợ tín dụng và tính đến hết tháng 10/ 2008 các chỉ tiêu này lần lượt đạt là 10,59% (cùng kỳ năm ngoái tăng 32%) và 19,6% (cùng kỳ năm ngoái tăng 37%)

Từ việc kiểm soát 2 chỉ tiêu chủ yếu này, NHNN đã rút về một lượng lớn tiền mặt khỏi lưu thông và từ đó giảm bớt áp lực của sự tăng lạm phát Việc rút bớt một lượng tiền mặt khỏi lưu thông được thực hiện thông qua việc siết chặt các khoản vay không hiệu quả để tập trung tăng trưởng tín dụng cho sản xuất, xuất khẩu, cho lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn, cho hộ chính sách và đặc biệt là đối với các dự án dang dở có hiệu quả phải đầu tư nhanh để phát huy hiệu quả Đồng thời NHNN đã linh hoạt kịp thời nới lỏng CSTT bằng cách hạ lãi suất cơ bản, giảm

tỷ lệ dự trữ bắt buộc… khi có dấu hiệu giảm áp lực lạm phát và tăng trưởng khó khăn, nhất là khi tình trạng suy thoái kinh tế đang lan tỏa ra toàn cầu và có thể tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam trong năm 2009 nếu Việt Nam không có giải pháp ứng phó

Năm 2009: NHNN giữ lãi suất cơ bản 7% và hạ 1% tỷ lệ dự trữ bắt buộc

bằng VND trong một số trường hợp Đó là nội dung trong quyết định số 379 QĐ- NHNN ngày 24/2 Quyết định có hiệu lực từ 1/3/2009

Trang 11

Theo đó, tỷ lệ dự trữ bắt buộc với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn được điều chỉnh hạ từ 3,6% xuống các mức 1% và 3% Cụ thể, tỷ lệ dự trữ bắt buộc với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn 12 thángđiều chỉnh như sau:

Các Ngân hàng thương mại Nhà nước (không bao gồm Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn), Ngân hàng Thương Mại cổ phần ngoại thương Việt Nam, NHTMCP đô thị, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, ngân hàng100% vốn nước ngoài, công ty tài chính là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn, Qũy tín dụng nhân dân Trung Ương , Ngân hàng hợp tác

là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng: đối với các Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP đô thị, Ngân hàng TMCP nông thôn, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng hợp tác, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là 1% trên tổng số dư tiền gửi dự trữ phải bắt buộc

Về lãi suất cơ bản, theo quyết định số 378/QĐ NHNN ngày 24/2, lãi suất cơ bản đồng Việt Nam là 7%, lãi suất cho vay tối đa của các Tổ chức tín dụng là 7% Theo Ngân hàng Nhà nước, mục đích của việc thực hiện giải pháp trên là nhằm ổn định thị trường tiền tệ, lãi suất, tỷ giá và nhằm hỗ trợ vốn khả dụng cho các tổ chức tín dụng có điều kiện mở rộng huy động vốn và tín dụng có hiệu quả đối với nền kinh tế, kể cả cho vay đối với các dự án đầu tư theo chương trình

Nguyên nhân: Năm 2009 lạm phát được kiềm chế kiềm chế ở một con số là

6,97% so với năm 2008 nhưng kéo theo đó là tăng trưởng kinh tế chỉ đạt chỉ đạt 5,23% giảm so với năm 2008 đặc biệt là các ngành nông nghiệp thủy sản tốc độ

Trang 12

tăng ít NHNN giảm tỷ lệ dữ trữ bắt buộc để giúp các ngân hàng có thể mở rộng vốn tín dụng có hiệu quả nhằm khuyến khích sản xuất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Năm 2010, nhằm phù hợp với tình hình thực tế hiện nay nhiều ngân hàng

thương mại hoạt động theo mô hình công ty mẹ- con và nhằm tiến thêm một bước trong việc tuân thủ 25 nguyên tắc thanh tra cơ bản của Ủy ban Basel, các tổ chức tín dụng cần duy tŕ tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ và hợp nhất Tỷ lệ an toàn được điều chỉnh lên 9% thay vì 8% như quy định đang áp dụng

Ngoài ra, Thông tư cũng sửa đổi các tỷ lệ khả năng chi trả cụ thể hơn và phù hợp với thông lệ quốc tế Bổ sung thêm tỷ lệ về dự trữ thanh khoản nhằm đánh giá được mức độ dự trữ của các tổ chức tín dụng để xử lý kịp thời khi gặp khó khăn về thanh khoản Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động cũng được bổ sung nhằm tăng cường quản lý thanh khoản và khả năng huy động vốn của các tổ chức tín dụng

Năm 2011: Kể từ tháng 9, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ sẽ 8%, thay vì 7% như trước đó

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành Quyết định số 1925/QĐ-NHNN về điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng (TCTD)

Theo Quyết định này, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và

có kỳ hạn dưới 12 tháng bằng ngoại tệ là 8% trên tổng số dư tiền gửi, tăng 1% so với trước Quy định này áp dụng đối với các NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh,chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Riêng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 7% trên tổng số dư tiền

Ngày đăng: 19/09/2014, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w