nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên đai bàn huyện võ nhai tỉnh quảng ninh nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên đai bàn huyện võ nhai tỉnh quảng ninhnâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên đai bàn huyện võ nhai tỉnh quảng ninh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
DƯƠNG VĂN HÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người giáo viên hướng dẫn: TS Phạm Thị Minh Nguyệt
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác
Tác giả luận văn
Dương Văn Hào
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô của trường Đại học Kinh tế - Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô Phòng đào tạo sau đại học trường Đại học kinh tế - quản trị kinh doanh,
đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chương trình học và thực tế, viết khoá luận
tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn TS Phạm Thị Minh Nguyệt đã nhiệt
tình hướng dẫn hướng dẫn tôi hoàn thành tốt khóa thực tập Trong quá trình học tập, cũng như là trong quá trình làm bài báo cáo, khó tránh khỏi sai sót, rất mong các Thầy, Cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến nhận xét của Thầy, Cô để tôi có thêm được nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Dương Văn Hào
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 4
5 Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 5
6 Bố cục của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 6
1.1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về đất đai 6
1.1.1 Khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về đất đai 6
1.1.2 Đất đai 8
1.1.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai 9
1.1.4 Chủ thể quản lý nhà nước về đất đai 12
1.1.5 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai 12
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất đai 13
1.1.7 Công cụ quản lý nhà nước về đất đai 17
1.1.8 Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai 20
1.2 Cơ sở thực tiễn của quản lý nhà nước về đất đai 23
1.2.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên thế giới và Việt Nam 23
1.2.2 Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về đất đai 31
Trang 5Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 34
2.1.1 Vì sao phải nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai? 34
2.1.2 Vấn đề quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai hiện nay có những hạn chế, tồn tại gì? vì sao có những vấn đề đó? 34
2.1.3 Để đảm bảo quản lý nhà nước về đất đai cần có những giải pháp gì? 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.2.2 Phương pháp tổng hợp số liệu 37
2.2.3 Phương pháp thống kê, phân tích số liệu 37
2.3 Hệ thống chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu 38
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI 40
3.1 Tình hình cơ bản của huyện Võ Nhai 40
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 40
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Võ Nhai 45
3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế xã hội huyện Võ Nhai giai đoạn 2011 - 2013 48
3.2 Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 50
3.2.1 Thông tin chung về mẫu điều tra 50
3.2.2 Tình hình QLNN đối với đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 51
3.3 Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 76
3.3.1 Những kết quả đạt được 76
Trang 63.3.2 Những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân của hạn chế, tồn tại 80
Chương 4 GIẢ ẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI 87
4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu hoàn nâ lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 87
4.1.1 Quan điể ản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 87
4.1.2 Định hướng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 88
4.1.3 Mục tiêu quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 90
4.2 Một số giải pháp quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 90
4.2.1 Hoàn thiện công cụ và phương pháp quản lý nhà nước về đất đai 91
4.2.2 Thực hiện tốt nội dung quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai 93
4.3 Kiến nghị, đề nghị 97
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân bổ phiếu điều tra theo vùng 37 Bảng 3.1: Tình hình phân bố và sử dụng đất đaihuyện Võ Nhai 2011- 2013 43 Bảng 3.2: Nhân khẩu và lao động của huyện Võ Nhai 2011 - 2013 45 Bảng 3.3: Cơ cấu kinh tế huyện Võ Nhai năm 2011-2013 49 Bảng 3.4: Các thông tin chung về mẫu điều tra 50 Bảng 3.5: Kết quả điều tra việc thực hiện quy hoạch,kế hoạch sử dụng đối
với một số loại đất 57 Bảng 3.6: Nguyên nhân của việc lập quy hoạch,kế hoạch sử dụng đất chưa tốt 60 Bảng 3.7: Kết quả công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 66
Trang 8DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
HÌNH
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Võ Nhai 41
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Đánh giá chung về công tác quản lý, sử dụng đất 52
Biểu đồ 3.2 Sự khác biệt giữa các nhóm về đánh giá chung công tác quản lý sử dụng đất 53
Biểu đồ 3.3 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 56
Biểu đồ 3.4 Đánh giá việc lập quy hoạch và kế hoạch 59
Biểu đồ 3.5 Việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch đất 62
Biểu đồ 3.6 Tham gia ý kiến vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 62
Biểu đồ 3.7 Việc công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 63
Biểu đồ 3.8 Về tình trạng quy hoạch “treo” 64
Biểu đồ 3.9 Đánh giá việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 68
Biểu đồ 3.10 Ý thức chấp hành pháp luật về đất của nhân dân 71
Biểu đồ 3.11 Việc xử lý các hành vi vi phạm về đất đai 73
Biểu đồ 3.12 Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về đất đai 74
Biều đồ 3.13 Năng lực, phẩm chất cán bộ 75
Biểu đồ 3.14 Giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo 76
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựng và phát triển dân sinh, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh Vai trò của đất đai đối với con người và các hoạt động sống rất quan trọng nhưng lại giới hạn về diện tích và cố định về vị trí Do vậy, việc sử dụng đất phải hết sức tiết kiệm và hợp lý trên cơ sở hiệu quả, lâu bền
Theo các nhà kinh tế học, lao động được coi là cha, đất đai được coi là
mẹ của mọi của cải vật chất, do vậy việc quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả sẽ đem lại những thành tựu to lớn, góp phần vào công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, là yếu tố quan trọng cho nền tảng một xã hội phát triển ổn định
Khi nước ta trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, đất đai mới chỉ được coi như là hiện vật, việc quản lý và khai thác có hiệu quả các tiềm năng về đất đai chưa được coi trọng, việc sử dụng khai thác nguồn lực từ đất chưa mang lại hiệu quả cao, kết quả mang lại từ nguồn lực đất cho nền kinh tế
và xã hội chưa lớn Kể từ khi Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới, với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là từ khi có luật đất đai ra đời, đất đai đã thật sự là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước Từ đó vai trò đại diện chủ sở hữu về đất đai của nhà nước không chỉ thể hiện ở việc quản lý, khai thác, sử dụng như một tư liệu sản xuất mà còn được xác định là một tài sản, một nguồn lực tài chính vô cùng đặc biệt, không thể thay thế, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh
tế của đất nước
Đất nước ta đang đứng trước những thử thách của công cuộc hội nhập trong quá trình toàn cầu hoá, chúng ta phải tự khẳng định mình, điều đó đòi hỏi Nhà nước ta phải có một đường lối chính trị ổn định, một nền kinh tế
Trang 10vững mạnh, một xã hội văn minh, trong đó việc quản lý tốt tài nguyên đất có vai trò quan trọng cho sự ổn định và phát triển đó
Trong thực tiễn cho thấy Quản lý nhà nước về đất đai tốt hay xấu có tác động rất lớn đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, nhất
là trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường, đất đai không những là tư liệu sản xuất quan trọng mà còn được xem như là hàng hoá, nguồn lực tài chính (thể hiện qua việc thế chấp, góp vốn, ), chúng ta đang thực hiện các giải pháp nhằm thu hút đầu tư (trong đó yếu tố bằng đất đai là vấn đề quan trọng),
ổn định chính trị - xã hội (liên quan đến thu nhập của người dân, tình hình khiếu kiện, tranh chấp đất đai, ) vì vậy việc quản lý đất đai có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển
Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về đất đai nhằm cụ thể hoá quyền sở hữu toàn dân về đất đai, khởi nguồn là luật đất đai năm 1987, tiếp
đó là luật đất đai năm 1993, đã được sửa đổi bổ sung năm 1998, 2003, mới đây nhất là Luật đất đai năm 2013 cùng với hệ thống các văn bản dưới luật Những văn bản đó là định hướng quan trọng để nhà nước thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước về đất đai trong những năm qua
Mặc dù các quy định, các văn bản phục vụ công tác quản lý nhà nước
về đất đai đã tương đối đầy đủ, các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương đã cụ thể hoá các văn bản về đất đai để quản lý và khai thác có hiệu quả các tiềm năng từ đất song vấn đề quản lý và sở hữu đất đai vẫn luôn là nội dung phức tạp Cùng với xu hướng phát triển của đất nước, diễn biến quan hệ về đất đai luôn xuất hiện những vấn đề mới và phức tạp, những quy định về công tác quản lý đất đai hiện hành mặc dù đã được điều chỉnh, bổ sung thường xuyên nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập Bên cạnh đó vai trò quản lý của nhà nước về đất đai trên cơ sở các quy định của luật với
Trang 11tình hình thực tế tại mỗi địa phương có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo sự
ổn định để phát triển kinh tế xã hội
Đối với huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, trong những năm qua việc quản lý và sử dụng đất đai được thực hiện khá tốt, đã đem lại những hiệu quả
rõ nét góp phần quan trọng vào sự phát triển của địa phương Tuy nhiên cùng với tình trạng chung của cả nước, đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai cũng đang có những vấn đề phức tạp mà hiện nay cơ quan quản lý nhà nước đang phải đối mặt, đang từng bước nghiên cứu, đưa ra các giải pháp phù hợp để thực hiện nhiệm vụ quản lý Đó là tình trạng vi phạm luật đất đai, vi phạm trong quản lý, sử dụng đất còn khá phổ biến, thị trường bất động sản yếu và khó kiểm soát, vấn đề sử dụng đất lãng phí còn diễn ra ở nhiều nơi, việc tranh chấp đất đai dẫn đến khiếu kiện có nhiều phức tạp và luôn là vấn đề nóng bỏng Vai trò quản lý nhà nước về đất đai ở một số cơ sở yếu dẫn đến có nhiều hoạt động vi phạm về đất đai không kiểm soát được
Xuất phát từ những hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về đất đai của địa phương, bản thân là người đang công tác trên địa bàn huyện
Võ Nhai, cá nhân tôi mong muốn nghiên cứu các quy định của nhà nước về vấn đề quản lý đất đai, tình hình thực tế của địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp, biện pháp góp phần quản lý tốt hơn về đất đai trên phạm vi địa bàn
huyện Chính vì vậy vấn đề “ quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” đã được tôi lựa chọn là đề
tài nghiên cứu của Luận văn này
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với vấn đề đất đai ở huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất ra một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương
2.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 12- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý và
quản lý nhà nước về đất đai
- Chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai, nguyên nhân của những tồn tại, những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất đai, từ đó đề ra giải pháp khắc phục
- Thông qua kết quả thu thập số liệu sơ cấp xác định sự hài lòng của cán bộ, nhân dân đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò quản lý của nhà nước đối với
lĩnh vực đất đai bao gồm cả công tác quản lý và khai thác tài nguyên đất phục
vụ phát triển kinh tế xã hội tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai tại huyện Võ Nhai tỉnh thái Nguyên, bao gồm hệ thống bộ máy quản lý nhà nước, việc cụ thể hoá các văn bản Luật và hệ thống văn bản hướng dẫn vào công tác quản lý nhà nước, những kết quả đạt được, chưa đạt được từ đó
đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai
Về không gian: Nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước đối với đất đai trong phạm vi huyện Võ Nhai
Về thời gian: từ năm 2011 đến năm 2013
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Từ nội dung nghiên cứu nêu ra được các vấn đề lý luận về đất đai, các nội dung quản lý nhà nước về đất đai, những hạn chế, tồn tại cần khắc phục
Trang 13Đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai, từ đó khai thác tốt nguồn lực này phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế, an sinh xã hội
5 Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
Cụ thể hoá các Luật và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành luật vào tình hình thực tế của một địa phương Trên cơ sở kết quả điều tra chỉ ra được các hạn chế, tồn tại của cơ quan quản lý nhà nước trong việc triển khai và tổ chức thi hành luật, từ đó đưa ra được các giải pháp cụ thể, phù hợp, đảm bảo người dân hiểu và chấp hành tốt quy định của pháp luật
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 4 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về đất đai; Chương 2 Phương pháp nghiên cứu;
Chương 3 Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên;
Chương 4 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
1.1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về đất đai
1.1.1 Khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó đến trạng thái cần đạt được Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước khi có Nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động
Như vậy, quản lý không phải là sản phẩm của sự phân chia quyền lực,
mà là sản phẩm của sự phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp hoạt động chung của con người
Quản lý nhà nước là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, quản lý nhà nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở
và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước) Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai, đó là các hoạt động: Nhà nước nắm chắc về tình hình đất đai, Nhà nước thực hiện phân phối và phân phối lại đất đai theo quy hoạch, kế hoạch, Nhà
Trang 15nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra về chế độ quản lý, sử dụng đất đai, Nhà nước thực hiện điều tiết các nguồn lợi từ đất
Công tác quản lý nhà nước về đất đai gắn liền với quyền sở hữu đất đai
và quan hệ đất đai được quy định bởi các Luật và các văn bản dưới luật
Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm: quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản phẩm do sử dụng đất mà có,
Bộ Luật Dân sự quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiến hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” Từ khi luật đất đai thừa nhận quyền sử dụng đất là một tài sản dân
sự đặc biệt (1993) thì quyền sở hữu đất đai thực chất cũng là quyền sở hữu một loại tài sản dân sự đặc biệt Vì vậy khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các quyền năng của sở hữu nhà nước về đất đai bao gồm: quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai Các quyền năng này được nhà nước thực hiện trực tiếp bằng việc xác lập các chế độ pháp
lý về quản lý và sử dụng đất đai Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền năng này mà thông quan hệ thống các cơ quan nhà nước do nhà nước thành lập và thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo các quy định và theo sự giám sát của nhà nước
Các nội dung về thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất đai tập trung vào 4 lĩnh vực cơ bản sau:
Thứ nhất: Nhà nước nắm chắc về tình hình đất đai, tức là nhà nước biết
rõ các thông tin chính xác về số lượng đất đai, chất lượng đất đai, tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất đai
Thứ hai: Nhà nước thực hiện phân phối và phân phối lại đất đai theo
quy hoạch, kế hoạch sử dụng chung nhất Nhà nước chiếm hữu toàn bộ quỹ đất đai nhưng lại không trực tiếp sử dụng mà giao cho các tổ chức, cá nhân
sử dụng
Thứ ba: Nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra về chế độ quản lý,
sử dụng đất đai
Trang 16Thứ tư: Nhà nước thực hiện điều tiết các nguồn lợi từ đất (thông qua
cho thuê đất, thu tiền sử dụng từ đất, )
1.1.2 Đất đai
1.1.2.1 Khái niệm đất đai
Ðất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người Ðất có hai nghĩa: đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sản xuất nông lâm nghiệp
Ðất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, hợp chất humic 5%, không khí 20% và nước 35% Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì (độ mầu mỡ thích hợp cho trồng cây công nghiệp và lương thực)
1.1.2.2 Vai trò, đặc điểm của đất đai
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người, các sinh vật khác trên trái đất Nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay
Đất đai có tính cố định vị trí, không thể di chuyển được, tính cố định vị trí quyết định tính giới hạn về quy mô theo không gian và chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường nơi có đất Mặt khác, đất đai không giống các hàng hóa khác có thể sản sinh qua quá trình sản xuất do đó, đất đai là có hạn Đất đai là một tài sản không hao mòn theo thời gian và giá trị đất đai luôn có xu hướng tăng lên theo thời gian
Trang 17Đất đai có tính đa dạng phong phú tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng đất đai và phù hợp với từng vùng địa lý Đất đai là một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con người
Trong nền kinh tế thị trường, đất được trao đổi, mua bán, chuyển nhượng và hình thành một thị trường đất đai Lúc này, đất đai được coi như là một hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt
1.1.2.3 Sự cần thiết phải quản lý đất đai
Quản lý đất đai là quá trình lưu giữ và cập nhật những thông tin về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và những thông tin khác liên quan đến đất Là quá trình đảm bảo theo luật pháp cho việc sử dụng, phát triển quỹ đất, khai thác lợi nhuận thu được từ đất (thông qua thuế, cho thuê, chuyển nhượng quyền sử dụng) và giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai Đối tượng quản lý đất đai liên quan đến cả 2 đối tượng đất công và đất tư bao gồm các công việc: đo đạc đất đai, đăng ký đất đai, định giá đất đai, giám sát sử dụng, lưu giữ và cập nhật các thông tin đất đai, cung cấp các thông tin đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai
Quản lý đất đai là quản lý tài nguyên đất, được xem xét trên cả phương diện môi trường và kinh tế
Xuất phát từ vai trò, đặc điểm của đất đai cho thấy đất đai có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, đất đai cũng là nơi phát sinh
ra nhiều mối quan hệ, ràng buộc phức tạp Do đó cần có sự quản lý, can thiệp, điều chỉnh của nhà nước bằng các công cụ, chính sách hợp lý nhằm phát huy những tích cực và hạn chế những tiêu cực trong quan hệ sở hữu, sử dụng và khai thác tài nguyên đất Quản lý nhà nước về đất đai là để đảm bảo 3 mục đích cơ bản:
- Đảm bảo sử dụng đất có hiệu quả
- Đảm bảo tính công bằng trong quản lý và sử dụng
- Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ đất
1.1.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai
- Nguyên tắc đảm bảo sự tập trung và thống nhất của quản lý nhà nước
Trang 18Đất đai là tài nguyên quốc gia, là tài sản chung của toàn dân, vì vậy không thể có bất cứ cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành của riêng mình được Chỉ có Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có quyền quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng Vấn đề này được quy định tại điều 18, Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”
và được cụ thể hơn tại Luật đất đai “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu”, “ Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai”, “Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất thông qua các chính sách tài chính về đất đai” (Điều 5 Luật đất đai năm 2003)
- Nguyên tắc đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng
Theo Luật dân sự thì quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu đất đai Quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai của chủ sở hữu đất đai hoặc chủ sử dụng đất đai khi được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng Từ khi Hiến pháp 1980 ra đời quyền sở hữu đất đai ở nước ta chỉ nằm trong tay Nhà nước còn quyền sử dụng đất đai vừa có ở Nhà nước, vừa có ở trong từng chủ sử dụng cụ thể Nhà nước không trực tiếp
sử dụng đất đai mà thực hiện quyền sử dụng đất đai thông qua việc thu thuế, thu tiền sử dụng từ những chủ thể trực tiếp sử dụng đất đai Vì vậy, để sử dụng đất đai có hiệu quả, Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp sử dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi ích cho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước Vấn đề này được thể hiện ở Luật đất đai "Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người
Trang 19sử dụng thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụngđất đối với người đang sử dụng ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất" (Điều 5, Luật Đất đai 2003)
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả
Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh tế Thực chất quản lý đất đai cũng là một dạng của quản lý kinh tế nên cũng phải tuân theo nguyên tắc này Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả Nguyên tắc này trong quản lý đất đai được thể hiện bằng việc:
+ Xây dựng tốt các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tính khả thi cao;
+ Quản lý và giám sát tốt việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Có như vậy, quản lý nhà nước về đất đai mới phục vụ tốt cho chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo sử dụng tiết kiệm đất đai nhất mà vẫn đạt được mục đích đề ra
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc tập trung dân chủ có tầm quan trọng đặc biệt Một mặt, nó bảo đảm sự thống nhất ý chí và lợi ích vì những mục đích và nhiệm vụ của toàn xã hội Mặt khác, nó bảo đảm phát huy tính chủ động và sáng tạo của các tổ chức, cá nhân trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể, trong những hoàn cảnh và cơ sở cụ thể
Trong lĩnh vực đất đai sự quản lý thống nhất của Nhà nước không những không hạn chế mà còn bao hàm và phát huy cao độ tính đa dạng của các ngành, các địa phương, các đơn vị cơ sở Nguyên tắc này đòi hỏi một mặt giữ vững quyền tập trung quản lý về đất đai trong tay Nhà nước ở Trung ương (Chính phủ, các Bộ); mặt khác, phát huy dân chủ một cách mạnh mẽ, giao đầy
đủ quyền và trách nhiệm giải quyết cho các cấp ở địa phương
Trang 20Những biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện trong năm điểm sau:
+ Sự phụ thuộc của cơ quan quản lý nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp
+ Sự tuân thủ của địa phương đối với Trung ương, của cấp dưới đối với cấp trên
+ Sự phân cấp quản lý
+ Sự hướng về cơ sở
+ Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương
1.1.4 Chủ thể quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai được xây dựng và phân cấp gồm các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương Hệ thống này bao gồm các cơ quan có thẩm quyền chung là Chính phủ, UBND (Uỷ ban nhân dân) cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, UBND cấp huyện, thành phố, thị
xã trực thuộc tỉnh, UBND xã, phường, thị trấn; Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền riêng gồm Bộ Tài nguyên - Môi trường, Sở Tài nguyên - Môi trường, Phòng Tài nguyên - Môi trường, cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn Bên cạnh đó còn có sự tham gia của hệ thống cơ quan quyền lực vào hoạt động quản lý nhà nước về đất đai với vai trò đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng giám sát
1.1.5 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai là một trong các hoạt động quản lý của nhà nước mang tính chất chuyên ngành Công tác quản lý nhà nước về đất đai gắn liền với quyền sở hữu đất đai được quy định bởi các luật và các văn bản dưới luật
Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm: quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản phẩm do sử dụng đất mà có,
Trang 21Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Luật đất đai năm 2003, gồm 13 nội dung, có thể chia thành 7 nhóm chính như sau:
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiên các văn bản đó
- Công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính
- Quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất
lý Một hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ ràng, cụ thể làm cho công tác quản
lý được hiệu quả và thuận lợi Vì các cơ quan quản lý theo đúng pháp luật quy định mà thực hiện, không gặp những vướng mắc trở ngại nào nếu như
Trang 22văn bản pháp luật đó mang tính khoa học và cụ thể Pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Cơ cấu kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng cùng với các mối quan hệ sử dụng đất đai phức tạp đòi hỏi pháp luật nói chung và luật đất đai nói riêng phải tạo nên một môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động tự do kinh doanh phát triển, tạo cơ hội cho mọi người làm ăn sinh sống theo pháp luật Bên cạnh đó, pháp luật còn tạo điều kiện để nhà nước thực hiện được vai trò người điều hành nền kinh tế thị trường, pháp luật còn là công cụ để nhà nước kiểm tra các hoạt động kinh doanh, trừng trị các hành vi vi phạm pháp luật Ngoài ra, pháp luật còn xác lập, củng cố và hoàn thiện những cơ sở pháp lý của nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai nhằm phát huy cao nhất hiệu lực của cơ quan quản lý Để đạt được điều đó, pháp luật phải xác định rõ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động cũng như thẩm quyền của cơ quan Nhà nước Pháp luật của nhà nước ta hiện nay phải là cơ sở để hoàn thiện bộ máy nhà nước phù hợp với cơ chế mới mà trước hết phải cải cách một bước nền hành chính quốc gia Nhưng thực tế luật đất đai hiện nay cho thấy vẫn còn có một số hạn chế làm giảm hiệu lực của cơ quan nhà nước Đó là do luật đất đai được xây dựng trong điều kiện kinh tế đang từng bước hoàn thiện, chưa lường trước được sự chuyển biến tình hình vì vậy luật còn quy định chung chung, mặt khác việc hướng dẫn thực hiện luật còn chậm, thiếu đồng bộ và cụ thể làm cho các cấp lúng túng trong việc thi hành bởi vậy hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai vẫn còn thấp Từ đó ta có thể thấy nhân tố pháp luật có tác động mạnh đến công tác quản lý đất đai Nó có thể làm nâng cao hiệu quả hoặc làm giảm hiệu lực quản lý Chính vì thế kiện toàn hệ thống pháp luật là vấn đề cấp bách hiện nay
- Nhân tố xã hội
Trang 23Nhân tố xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức điều hành quản lý xã hội và tăng cường chức năng quản lý của nhà nước về mọi lĩnh vực nói chung cũng như về lĩnh vực đất đai nói riêng Một chính sách quản lý đất đai đúng đắn phải đề cập đến các yếu tố xã hội, từ đó nó không những làm ổn định xã hội mà còn tăng cường vai trò quản lý của nhà nước và cơ quan quản
lý Các yếu tố xã hội như việc làm, xoá đói giảm nghèo, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, ưu đãi người có công với cách mạng, văn hoá, y tế, dân tộc … cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng Giải quyết được việc làm sẽ góp phần đảm bảo trật tự an ninh trong xã hội, giảm bớt các tệ nạn xã hội do thiếu việc làm gây ra, điều đó sẽ thể hiện rõ bản chất của một chế độ do con người, vì con người và tạo mọi điều kiện để con người tự do sáng tạo nuôi sống mình, đóng góp cho sự tiến bộ của xã hội Yếu tố này làm cho công tác quản lý đất đai được nhẹ nhàng hơn và hiệu lực quản lý từng bước được nâng cao Các tệ nạn xã hội được kiềm chế, công bằng xã hội được thiết lập là điều kiện thuận lợi đảm bảo cho cơ quan quản lý thực hiện trách nhiệm quản lý dễ dàng hơn Việc thực hiện chính sách người
có công như tặng nhà tình nghĩa, không phải nộp tiền thuê đất … là công việc quản lý thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta Tập trung đầu tư cho giáo dục, văn hoá để nâng cao nhận thức về pháp luật cho mọi người là việc làm quan trọng, để cho mọi người thấy rõ được chủ trương, đường lối chính sách của Đảng trong công tác quản lý Sự ổn định về mặt xã hội là yếu tố để nâng cao hiệu quả quản lý đất đai Một yếu tố quan trọng khác cũng có ảnh hưởng đến quản lý đất đai đó là phong tục tập quán của người dân cũng như tâm lý của họ trong đời sống xã hội Tập quán sinh sống làng xã, cộng đồng, nhiều thế hệ cùng chung sống trong một gia đình, đất đai
do ông bà tổ tiên để lại không có giấy tờ hợp pháp cũng chẳng làm cho họ bận tâm vì họ nghĩ chẳng ai có thể đuổi họ đi chỉ vì không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay sở hữu nhà ở Mặt khác đất sử dụng lại không có chủ
Trang 24cụ thể do chuyển đổi từ nhiều đời không có giấy tờ chứng minh vì vậy gây khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai nhất là ở khu vực nông thôn hiện nay
- Nhân tố kinh tế
Công tác quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng phải có cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc hiện đại để đáp ứng cho yêu cầu quản lý hiện nay Đào tạo nhân lực là cốt lõi để thực hiện quản lý Thực hiện những nội dung trên phải có một nguồn kinh phí lớn Sự phát triển của nền kinh tế với nhịp độ cao và ổn định tạo ra được giá trị sản phẩm to lớn từ đó có thể tập trung nguồn lực để đầu tư cho việc đào tạo nhân lực Mặt khác một nền kinh tế phát triển sẽ kích thích sự phát triển của khoa học công nghệ, kích thích sự phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy chuyên môn hoá sản xuất và phân công lao động xã hội,… giúp cho công tác quản lý được thuận lợi hơn, giảm bớt được những khó khăn phức tạp trong quản lý Việc chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
có sự quản lý của nhà nước tác động rất lớn đến quản lý và sử dụng đất Trên phạm vi cả nước, từ khi chưa tiến hành đổi mới thì hầu hết đều sống dựa vào nông nghiệp là chính với việc trồng lúa, hoa màu… còn công nghiệp- dịch vụ
- thương mại chưa phát triển Diện tích đất được tập trung để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản Nhưng từ khi thực hiện cơ chế mở cửa, đổi mới đối với nền kinh tế, cơ cấu kinh tế đã chuyển đổi từ nông nghiệp sang hướng công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ - thương mại Đó là điều đáng mừng vì kết quả của sự chuyển dịch đã đóng góp không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế Vấn đề đặt ra là sự chuyển dịch cơ cấu như vậy đã tác động trực tiếp tới đất đai Một phần diện tích đất nông nghiệp đã được chuyển mục đích thành đất phát triển công nghiệp, dịch vụ, giao thông, xây dựng các trụ sở, khu dân cư, … làm cho diện tích đất nông nghiệp giảm đi, tác động tới nguồn cung cấp lương thực cho người dân
Trang 25Để phục vụ cho phát triển kinh tế, nhu cầu sử dụng đất cho tất cả các ngành kinh tế là rất lớn và có thể thấy rõ sự bù trừ lẫn nhau giữa các loại đất Khi loại đất này tăng lên thì loại đất kia giảm đi đồng thời sẽ có một loại đất khác được khai thác để bù vào sự giảm đi của loại đất đó Mọi loại đất được khai thác tiềm năng mạnh mẽ để phục vụ cho nhu cầu sử dụng đất mở rộng sản xuất, làm văn phòng, nhà xưởng, cửa hàng dịch vụ Sự luân chuyển đất thuận lợi sẽ là xúc tác tích cực cho các hoạt động kinh tế, là cơ sở để tạo ra các sản phẩm xã hội Công tác quản lý đất đai cũng phải đổi mới để cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai trước tình hình thực tế Quá trình đổi mới kinh tế làm cho vấn đề sử dụng đất đai có nhiều biến động vì vậy không thể áp dụng mô hình quản lý cũ được Việc đầu tư cơ
sở hạ tầng mở mang đô thị đã làm cho giá đất tăng lên một cách đáng kể Một con đường mới mở do nhà nước đầu tư sẽ mang lại sự gia tăng giá trị cho các
lô đất hai bên đường Đất nông nghiệp trước khi chưa được lấy để phục vụ cho phát triển đô thị thì giá đất đó chỉ tính theo giá đất nông nghiệp trong khung giá do nhà nước ban hành, nhưng khi đã chuyển sang để phục vụ cho phát triển đô thị thì giá đất đã tăng gấp nhiều lần so với trước Từ sự phân tích trên có thể thấy yếu tố kinh tế có tác động mạnh đến quản lý sử dụng đất, đến giá trị của đất nhất là trong sự phát triển kinh tế với nhịp độ cao như hiện nay
1.1.7 Công cụ quản lý nhà nước về đất đai
Trang 26Trong quản lý đất đai, Pháp luật là công cụ duy trì trật tự Trong hoạt động xã hội, vấn đề đất đai gắn chặt với lợi ích vật chất và tinh thần của mọi chủ thể sử dụng đất nên vấn đề này dễ nảy sinh nhiều mâu thuẫn Trong các mâu thuẫn đó có những vấn đề phải dùng đến pháp luật mới xử lý được Pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và các nghĩa vụ khác Trong sử dụng đất đai, nghĩa vụ nộp thuế
là nghĩa vụ bắt buộc, nhưng không phải lúc nào nghĩa vụ đó cũng được thực hiện một cách đầy đủ có rất nhiều trường hợp phải dùng biện pháp cưỡng chế
và bắt buộc thì nghĩa vụ đó mới được thực hiện
Pháp luật là công cụ mà qua đó Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa những người sử dụng đất Nhờ những điều khoản bắt buộc, thông qua các chính sách miễn giảm, thưởng, phạt cho phép Nhà nước thực hiện được sự bình đẳng cũng như giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích trong lĩnh vực đất đai giữa những người sử dụng đất Pháp luật là công cụ tạo điều kiện cho các công cụ quản lý khác, các chế độ, chính sách của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả hơn
Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các công cụ pháp luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản
lý đất đai cụ thể như: Hiến pháp, Luật đất đai, Luật dân sự, các pháp lệnh, các nghị định, các quyết định, các thông tư, các chỉ thị, các nghị quyết, của Nhà nước, của Chính phủ, của các bộ, các ngành có liên quan và các văn bản quản
lý của các cấp, các ngành ở chính quyền địa phương
- Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Là công cụ không thể thiếu trong quản lý, sử dụng đất đai Mọi hoạt động liên quan đến đất đai đều phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 27Trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý quan trọng "Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật" (Luật Đất đai 2003)
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là cơ sở để lãnh đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong quản lý nhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc sử dụng các loại đất được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình hình đất đai, từ
đó ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng phí Đây cũng là cơ sở
để xác định các đối tượng sử dụng đất có sử dụng đúng quy định được pháp luật cho phép hay không
Quy hoạch đất đai được lập theo vùng lãnh thổ và theo các ngành Quy hoạch sử dụng đất đai theo vùng lãnh thổ là quy hoạch sử dụng đất đai được lập theo các cấp hành chính, gồm: quy hoạch sử dụng đất đai của cả nước, quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện, quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã
Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là quy hoạch sử dụng đất đai được lập theo các ngành như: quy hoạch sử dụng đất đai ngành nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai ngành công nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai ngành giao thông,
- Công cụ tài chính
Tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính của các chủ thể kinh tế - xã hội
Tài chính là công cụ để các đối tượng sử dụng đất đai thực hiện nghĩa
vụ và trách nhiệm của họ, thông qua các loại thuế, lệ phí, xác định giá cả, các
cơ quan tài chính như Ngân hàng Nhà nước tác động đến các đối tượng sử
Trang 28dụng đất làm cho họ thấy được nghĩa vụ và trách nhiệm của họ trong việc sử dụng đất đai Các đối tượng sử dụng đất đều phải có trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Tài chính là công cụ quản lý quan trọng cho phép thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng sử dụng đất và kết hợp hài hoà giữa các lợi ích Tài chính là công cụ cơ bản để Nhà nước tăng nguồn thu ngân sách
1.1.8 Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai
Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích của Nhà nước lên hệ thống đất đai và chủ sử dụng đất nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong những điều kiện cụ thể về không gian và thời gian nhất định Các phương pháp quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về đất đai nói riêng có vai trò rất quan trọng trong hệ thống quản lý Nó thể hiện mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước với đối tượng và khách thể quản lý Mối quan hệ giữa Nhà nước với các đối tượng và khách thể quản lý rất đa dạng và phức tạp Vì vậy, các phương pháp quản lý thường xuyên thay đổi tuỳ theo tình huống cụ thể nhất định, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng
Các phương pháp quản lý nhà nước về đất đai được hình thành từ các phương pháp quản lý nhà nước nói chung Vì vậy, về cơ bản nó bao gồm các phương pháp quản lý nhà nước nhưng được cụ thể hoá trong lĩnh vực đất đai, bao gồm các phương pháp:
- Phương pháp hành chính: Là phương pháp tác động mang tính trực tiếp Phương pháp này dựa vào mối quan hệ của hệ thống quản lý, mà thực chất đó là mối quan hệ quyền uy và phục tùng Phương pháp quản lý hành chính về đất đai cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước đến các chủ thể trong quan hệ đất đai, bao gồm các chủ thể là cơ quan quản lý đất đai của Nhà nước và các chủ thể là người sử dụng đất (các hộ gia đình, các cá nhân, các tổ
Trang 29chức, các pháp nhân) bằng các biện pháp, các quyết định mang tính mệnh lệnh bắt buộc Nó đòi hỏi người sử dụng đất phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật Trong quản lý nhà nước về đất đai phương pháp hành chính có vai trò to lớn, xác lập được kỷ cương trật tự trong
xã hội Nó khâu nối được các hoạt động giữa các bộ phận có liên quan, giữ được bí mật hoạt động và giải quyết được các vấn đề đặt ra trong công tác quản lý một cách nhanh chóng kịp thời
Khi sử dụng phương pháp hành chính phải gắn chặt chẽ quyền hạn và trách nhiệm của các cấp quản lý nhà nước về đất đai khi ra quyết định Đồng thời phải làm rõ, cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước và từng cá nhân Mọi cấp chính quyền, mọi tổ chức, mọi cá nhân khi ra quyết định phải hiểu rõ quyền hạn của mình đến đâu và trách nhiệm của mình như thế nào khi sử dụng quyền hạn đó Các quyết định hành chính do con người đặt ra muốn có kết quả và đạt hiệu quả cao thì chúng phải
là các quyết định có tính khoa học, có căn cứ khoa học, tuyệt đối không thể là
ý muốn chủ quan của con người Để quyết định có căn cứ khoa học người ra quyết định phải nắm vững tình hình, thu thập đấy đủ các không tin cần thiết
có liên quan, cân nhắc tính toán đầy đủ các lợi ích, các khía cạnh khác chịu ảnh hưởng đảm bảo quyết định hành chính có căn cứ khoa học vững chắc
- Phương pháp kinh tế: là phương pháp tác động gián tiếp lên đối tượng bị quản lý Phương pháp quản lý kinh tế của Nhà nước về quản lý đất đai là cách thức tác động của Nhà nước một cách giản tiếp vào đối tượng bị quản lý, thông qua các lợi ích kinh tế để đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động của mình sao cho có hiệu quả nhất Trong công tác quản lý, phương pháp kinh tế là phương pháp mềm dẻo nhất, dễ thu hút đối tượng quản lý, do vậy nó ngày càng mang tính phổ biến và được coi trọng Mặt mạnh của phương pháp kinh tế là ở chỗ nó tác động vào lợi ích của đối tượng bị quản lý làm cho họ phải suy nghĩ, tính toán và
Trang 30lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất vừa đảm bảo lợi ích của mình, vừa đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội
Phương pháp kinh tế nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân giúp cho Nhà nước giảm bớt được nhiều công việc hành chính như công tác kiểm tra, đôn đốc có tính chất sự vụ hành chính Vì vậy, sử dụng phương pháp này vừa tiết kiệm được chi phí quản lý, vừa giảm được tính cứng nhắc hành chính, vừa tăng cường tính sáng tạo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Một trong những thành công lớn của Nhà nước trong công tác quản lý đất đai là việc áp dụng phương pháp khoán trong nông nghiệp
và giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho các tổ chức, hộ gia đình và
cá nhân, đã tạo ra động lực to lớn cho phát triển sản xuất nông nghiệp và cho phép sử dụng có hiệu quả đất đai Đây chính là Nhà nước đã áp dụng phương pháp kinh tế trong quản lý đất đai
- Phương pháp tuyên truyền, giáo dục: là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và lòng nhiệt tình của họ trong quản lý đất đai nói riêng và trong hoạt động kinh
kế - xã hội nói chung Tuyên truyền, giáo dục là một trong các phương pháp không thể thiếu được trong công tác quản lý nhà nước bởi vì mọi đối tượng quản lý suy cho cùng cũng chỉ là quản lý con người mà con người là tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội và ở họ có những đặc trưng tâm lý rất đa dạng
Do đó, cần phải có nhiều phương pháp tác động khác nhau trong đó có phương pháp giáo dục Trong thực tế, phương pháp giáo dục thường được kết hợp với các phương pháp khác, hỗ trợ cùng với phương pháp khác để nâng cao hiệu quả công tác
Nếu chúng ta tách rời phương pháp giáo dục với các phương pháp khác, tách rời giáo dục với khuyến khích lợi ích vật chất, tách rời giáo dục với
sự cưỡng chế bắt buộc thì hiệu quả của công tác quản lý không cao, thậm chí
Trang 31có những việc còn không thực hiện được Nhưng nếu chúng ta kết hợp tốt, kết hợp một cách nhịp nhàng, linh hoạt phương pháp giáo dục với các phương pháp khác thì hiệu quả của công tác quản lý sẽ rất cao
Nội dung của phương pháp giáo dục rất đa dạng, nhưng trước hết phải giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung, chính sách, pháp luật về đất đai nói riêng thể hiện qua các luật và các văn bản dưới luật
1.2 Cơ sở thực tiễn của quản lý nhà nước về đất đai
1.2.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên thế giới và Việt Nam
1.2.1.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai ở một số nước trên thế giới
a Tình hình quản lý nhà nước về đất đai của Trung Quốc
Cũng như Việt Nam, Trung Quốc là quốc gia thuộc hệ thống các nước XHCN trước đây và hiện nay là quốc gia xây dựng mô hình phát triển nhà nước theo hình thái XHCN, nhưng mang đặc sắc Trung Quốc
Là quốc gia nông nghiệp được xếp vào nhóm các nước đang phát triển, kinh nghiệm của Trung Quốc trong cuộc phát triển kinh tế đất nước là bài học lớn cho nhiều quốc gia trên thế giới Trung Quốc có dân số đông nhất thế giới, trong đó dân số nông nghiệp chiếm gần 80% Tổng diện tích đất đai toàn quốc là 9.632.796 km2, trong đó diện tích đất canh tác là trên 100 triệu ha (chiếm 7% diện tích đất canh tác toàn thế giới) trung Quốc bắt đầu công cuộc 4 hiện đại hoá, trong đó có Công nghiệp hoá là mũi nhọn
từ năm 1978, đến năm 1988 tốc độ Công nghiệp hoá của Trung Quốc có những bước phát triển vượt bậc, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc luôn ở mức cao nhất thế giới liên tục trong gần 20 năm qua Việc giải quyết quan hệ xã hội về đất đai ở Trung Quốc trong quá trình CNH - HĐH với đảm bảo an ninh lương thực cho gần 1/5 dân số thế giới của Trung Quốc là mô hình thành công lớn đóng góp cho thế giới Quản lý nhà nước về đất đai ở Trung Quốc có một số đặc điểm nổi bật là:
Trang 32<1> Về quan hệ sở hữu đất đai
Từ năm 1949, Trung Quốc tiến hành cải cách ruộng đất, chia ruộng đất của địa chủ phong kiến cho nông dân, tuy nhiên, hình thức sở hữu tư nhân về đất đai cũng chỉ tồn tại một thời gian ngắn Từ đầu những năm 1950, ở Trung Quốc đã tiến hành phong trào tập thể hóa nông nghiệp với việc hình thành hàng vạn nông trang tập thể trong khắp cả nước Sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước về đất đai đã được thiết lập ở Trung Quốc từ thập kỷ 50 thế kỷ XX Cũng như ở Việt Nam, mô hình kinh tế tập trung kế hoạch hóa đã gây ra tình trạng kìm hãm lực lượng sản xuất ở Trung Quốc trong vài thập niên liên tiếp, Trung Quốc là quốc gia chậm phát triển và trong tình trạng thiếu lương thực triền miên
Từ năm 1978, Trung Quốc đã khôi phục kinh tế tư nhân, thừa nhận hộ nông dân là một thành phần kinh tế, Nhà nước tiến hành giao đất cho hộ nông dân để tổ chức sản xuất (thay cho mô hình nông trang tập thể) Quyền sở hữu đất Trung Quốc toàn bộ thuộc về sở hữu nhà nước, phân làm 2 hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, trong đó toàn bộ đất đai thành thị thuộc về sở hữu nhà nước Đất nông thôn và ngoại ô thành phố, ngoài đất do pháp luật quy định thuộc về sở hữu nhà nước, còn lại là sở hữu tập thể
Hiến pháp năm 1988 (Điều 2) quy định việc Nhà nước giao đất cho
tổ chức cá nhân sử dụng dưới dạng giao quyền sử dụng đất và cho phép quyền sử dụng đất được chuyển nhượng trên thị trường Quyền sử dụng đất đã được phép chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp…tức là đã cho phép người sử dụng đất được quyền định đoạt về đất đai, Nhà nước chỉ khống chế bằng quy định mục đích sử dụng đất và thời gian sử dụng đất (quy định là từ 40 - 70 năm) Chủ sử dụng đất nếu không thực hiện đúng các quy định sẽ bị thu hồi đất
<2> Về quy hoạch sử dụng đất: Nhà nước thực hiện quản lý bằng quy hoạch Quy hoạch tổng thể là kế hoạch có tính tổng thể, tính lâu dài,
Trang 33tính chiến lược, tính chỉ đạo về phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm các nội dung chính là:
- Tính chất, mục tiêu và quy mô phát triển
- Các quy hoạch chuyên ngành và quy hoạch xây dựng trước mắt… Luật cũng quy định cụ thể quy hoạch của cấp dưới phải tuân thủ quy hoạch của cấp trên và phải được cấp có thẩm quyền phê chuẩn mới được thi hành
<3> Về thống kê, phân loại đất đai: Đất đai của Trung Quốc được chia làm 3 loại chính:
- Đất dùng cho nông nghiệp: là đất đai trực tiếp sử dụng cho sản xuất nông nghiệp bao gồm đất canh tác, đồng cỏ, đất nuôi trồng thủy sản
- Đất xây dựng: là đất được sử dụng để xây dựng công trình kiến trúc, nhà cửa đô thị, dùng cho mục đích công cộng, khai thác khoáng sản, đất sử dụng trong các công trình an ninh quốc phòng
- Đất chưa sử dụng: là loại đất còn lại không thuộc 2 loại đất nêu trên Nhà nước quy định tổng kiểm kê đất đai 5 năm 1 lần và có thống kê đất đai hàng năm theo đơn vị hành chính từ trung ương đến địa phương; Hồ sơ đất đai được thiết lập đến từng chủ sử dụng đất và cập nhật biến động liên quan tới từng chủ sử dụng đất đến từng mảnh đất
<4> Về tài chính đất:
Nhà nước thực hiện thu tiền khi giao đất (ở Trung Quốc không có hình thức giao đất ổn định lâu dài không thời hạn), người sử dụng đất phải nộp đủ tiền sử dụng đất cho nhà nước mới được thực hiện các quyền; Nhà nước coi việc giao đất thu tiền là biện pháp quan trọng để tạo nguồn thu ngân sách đáp ứng nhu cầu về vốn để phát triển
- Do đất nông thôn, ngoại thành là thuộc sở hữu tập thể, vì vậy để phát triển đô thị, Nhà nước Trung Quốc phải tiến hành trưng dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp thành đất đô thị Ngoài việc luôn đảm bảo diện
Trang 34tích đất canh tác để ổn định an ninh lương thực bằng biện pháp yêu cầu bên được giao đất phải tiến hành (có thể trực tiếp hoặc nộp tiền) khai thác đất chưa sử dụng, bù vào đúng diện tích canh tác bị mất đi Nhà nước Trung Quốc còn ban hành quy định về phí trưng dụng đất Công tác giải phóng mặt bằng ở Trung Quốc tiến hành thuận lợi là do Nhà nước chủ động được vấn đề tái định cư cho người bị thu hồi đất và nhờ có biện pháp chuyên chính mạnh Đặc biệt với sự sửa đổi bổ sung Hiến pháp năm 2002, Nhà nước Trung Quốc
đã công nhận quyền sở hữu tư nhân về bất động sản, công nhận và có chính sách để thị trường bất động sản hoạt động hợp pháp Với những quy định mang tính cải cách lớn như vậy, Trung Quốc đã tạo ra được một thị trường bất động sản khổng lồ với quy mô 1,3 tỷ dân Trong công tác quản lý, Trung Quốc cũng quy định mỗi hộ gia đình ở nông thôn chỉ được phép sử dụng một nơi làm đất ở và không vượt quá hạn mức quy định của cấp tỉnh, thành Người dân ở nông thôn sau khi đã bán nhà hoặc cho thuê nhà sẽ không được Nhà nước cấp thêm Quyền sử dụng đất thuộc sở hữu tập thể không được phép chuyển nhượng hoặc cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp Tuy nhiên
do đặc thù của quan hệ sở hữu nhà nước về đất đai XHCN, ở Trung Quốc nạn tham nhũng tiêu cực trong quản lý sử dụng đất cũng khá phức tạp và nặng nề,
vì cơ chế xin cho, cấp, phát, đặc biệt là trong việc khai thác đất đai thành thị Mặc dù Trung Quốc cũng đã quy định để khai thác đất đai thành thị buộc phải thông qua các công ty dưới dạng đấu thầu hoặc đấu giá
b Tình hình quản lý nhà nước về đất đai của Pháp
Pháp là quốc gia phát triển thuộc hệ thống quốc gia TBCN, tuy thể chế chính trị khác nhau, nhưng ảnh hưởng của phương pháp tổ chức quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai của Cộng hoà Pháp có những nét khá gần đối với nước ta Vấn đề này có thể lý giải vì Nhà nước Việt Nam hiện đang khai thác khá hiệu quả những tài liệu quản lý đất đai do chế độ thực dân để lại, đồng thời ảnh hưởng của hệ thống quản lý đất đai thực dân còn khá rõ nét trong ý
Trang 35thức của một bộ phận công dân Việt Nam hiện nay Quản lý đất đai của nước Cộng hòa Pháp có một số đặc điểm đặc trưng là:
<1> Về chế độ sở hữu trong quan hệ đất đai
Luật pháp quy định quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Ở Pháp hiện còn tồn tại song song hai hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước về đất đai (đối với đất đai và công trình xây dựng công cộng) Tài sản công cộng (bao gồm cả đất đai công cộng) có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất cho các mục đích công cộng, Nhà nước có quyền yêu cầu chủ sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng
<2> Về công tác quy hoạch
Ở Pháp công tác quy hoạch được quan tâm chú ý từ rất sớm và được thực hiện rất nghiêm ngặt Ngay từ năm 1919, ở Pháp đã ban hành Đạo luật
về quy hoạch cho các thành phố có từ 10.000 dân trở lên Năm 1973 và năm
1977, Nhà nước đã ban hành các Nghị định quy định các quy tắc về quy hoạch và phát triển đô thị Đặc biệt là vào năm 1992, ở Pháp đã có Luật về phân cấp quản lý, trong đó có sự xuất hiện của một tác nhân mới rất quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước về quy hoạch đó là cấp xã
<3> Về công tác quản lý nhà nước đối với đất đai
Mặc dù là quốc gia duy trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai nhưng công tác quản lý nhà nước về đất đai của Pháp được thực hiện rất chặt chẽ Điều đó được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính Hệ thống này rất phát triển, rất logic và khoa học, mang tính thời sự để quản lý tài nguyên đất đai và thông tin lãnh thổ, trong đó thông tin về từng thửa đất được mô tả đầy
đủ về kích thước, vị trí địa lý, thông tin về tài nguyên và lợi ích liên quan đến thửa đất, thực trạng pháp lý của thửa đất Hệ thống này cung cấp đầy đủ thông
Trang 36tin về hiện trạng sử dụng đất, phục vụ nhiệm vụ quy hoạch, quản lý và sử dụng đất có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, đảm bảo cung cấp thông tin cho hoạt động của ngân hàng và tạo cơ sở xây dựng hệ thống thuế đất và bất động sản công bằng
c Tình hình quản lý nhà nước về đất đai của Mỹ
Nước Mỹ có diện tích tự nhiên gần 9,3 triệu km2
, dân số gần 300 triệu người Là một quốc gia phát triển, Mỹ có một hệ thống pháp luật về đất đai rất phát triển, có khả năng điều chỉnh được các quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp nhất Luật đất đai của Mỹ quy định công nhận và khuyến khích quyền sở hữu tư nhân về đất đai; các quyền này được pháp luật bảo hộ rất chặt chẽ như là một quyền cơ bản của công dân Các quy định này đang phát huy có hiệu quả trong việc phát triển kinh tế đất nước
Tuy công nhận quyền sở hữu tư nhân nhưng Luật đất đai của Mỹ vẫn khẳng định vai trò ngày càng lớn và có vị trí quyết định của Nhà nước trong quản lý đất đai Các quyền định đoạt của Nhà nước bao gồm: Quyền quyết định về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quyền quy định về quy hoạch kiến trúc đô thị và công trình xây dựng; quyền quy định về mục đích sử dụng đất; quyền xử lý các tranh chấp về quyền sử dụng đất và quyền ban hành các quy định về tài chính đất; Quyền thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân để phục vụ các lợi ích công cộng trên cơ sở đền bù công bằng cho người bị thu hồi…Về bản chất quyền quyền sở hữu tư nhân về đất đai ở Mỹ giống như quyền sử dụng đất ở Việt Nam
Như vậy có thể nói, hầu hết các quốc gia trên thế giới (dù quy định chế
độ sở hữu đối với đất đai khác nhau) đều có xu hướng ngày càng tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai Xu thế này phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ kinh tế, chính trị theo xu thế toàn cầu hóa Mục tiêu của mỗi quốc gia là nhằm quản lý chặt chẽ, hiệu quả tài nguyên trong nước, tăng cường khả năng cạnh tranh, để phục vụ cao nhất cho quyền
Trang 37lợi của quốc gia, đồng thời có những quy định phù hợp với xu thế mở cửa, phát triển, tạo điều kiện để phát triển hợp tác đầu tư giữa các quốc gia thông qua các chế định pháp luật thông thường, cởi mở nhưng vẫn giữ được ổn định
về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia
1.2.1.2 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai ở một số địa phương trong nước
a Tình hình quản lý nhà nước về đất đai của thành phố Hồ Chí Minh:
là trung tâm kinh tế số 1 của cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2095,2 km2 với dân số 5.891 triệu người với 19 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành, 254 phường, 5 thị trấn và 58 xã Nghị quyết số 01 tháng 9 năm 1992 của Bộ chính trị BCHTW Đảng khóa VIII đã đánh giá vị trí của Thành phố là:
“…Một trung tâm kinh tế lớn, trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của nước
ta Thành phố Hồ Chí Minh có một vị trí chính trị quan trọng sau Thủ đô Hà Nội” Là Thành phố đặc biệt, vì vậy công tác quản lý nhà nước về đất đai của thành phố Hồ Chí Minh có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế của Thành phố Từ khi có Luật đất đai năm 1987, Thành ủy, UBND Thành phố đã ban hành hàng trăm văn bản về công tác Quản lý đất đai
và quản lý quy hoạch nhằm thể chế hóa chính sách và pháp luật đất đai của đảng và nhà nước trên địa bàn Trong đó đặc biệt là ban hành Quyết định số 4755/QĐ-UB ngày 26/9/1998 về khung giá các loại đất theo quy định của Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ Quyết định về khung giá đất theo Nghị định số 188/CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ
Hệ thống hồ sơ địa chính của Thành phố được xây dựng khá bài bản, toàn Thành phố đã được đo đạc và thành lập bản đồ địa chính chính qui ở các
tỷ lệ 1/500 và 1/1000 (1/500 ở các quận nội thành và 1/1000 ở các huyện ngoại thành) Thành phố cũng đã được xây dựng quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 đến 2010 và đã được Chính phủ phê duyệt Vào năm
2005, Thành phố đã công bố cơ bản hoàn thành công tác triển khai cấp GCN QSDĐ ở đô thị Trong giai đoạn sốt đất năm 2002, UBND Thành phố đã ban
Trang 38hành Chỉ thị số 08/CT-UB ngày 22/4/2002 nhằm chấn chỉnh và tăng cường quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Hàng nghìn vụ việc vi phạm tổ chức pháp luật của tổ chức và cá nhân trên địa bàn Thành phố đã được xử lý Nhìn chung các văn bản của Thành ủy và UBND Thành phố đã góp phần ổn định công tác Quản lý đất đai ở địa phương Từ khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, Thành phố cũng đã ban hành nhiều văn bản để triển khai thực hiện Luật và các Nghị định của Chính phủ Tuy nhiên công tác quản lý nhà nước về đất đai, đô thị ở Thành phố cũng có nhiều bức xúc, phức tạp Thị trường bất động sản trong khu vực Thành phố có chiều hướng “trầm lắng” do nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là yếu tố đầu cơ của một số tổ chức và cá nhân
Hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành chưa đồng bộ và chưa có khả năng đáp ứng được yêu cầu của tình hình thực tế xã hội hiện nay
b Tình hình quản lý nhà nước về đất đai của thành phố Hải Phòng: là
Thành phố cảng quan trọng của vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc, Thành phố Hải phòng có diện tích 1.526,3 km2 và dân số là 1.793 triệu người với 5 quận,
1 thị xã và 8 huyện; 57 phường, 9 thị trấn, 152 xã Trong nhiều năm qua, quản
lý nhà nước về đất đai ở Thành phố có nhiều vấn đề phức tạp Đặc biệt là nơi
có nhiều điểm nóng khiếu kiện tranh chấp đất đai gay gắt Nguyên nhân cơ bản là do giá đất bị đẩy lên rất cao, trong khi Thành phố chưa có biện pháp kiên quyết để ngăn chặn kịp thời tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai Đặc biệt tình trạng tự chuyển mục đích sử dụng đất khác thành đất ở, mua bán đất đai trái quy định của pháp luật diễn ra khá phổ biến Hệ thống hồ sơ địa chính không được lưu trữ đầy đủ và cập nhật thường xuyên Vì vậy công tác QLNN
về đất đai gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu thông tin pháp lý về nguồn gốc sử dụng đất làm cơ sở để thực hiện giao đất, đền bù thiệt hại về đất và xử
lý vi phạm trong quản lý sử dụng đất Từ năm 2001 đến năm 2002, Thành phố
đã ban hành 12 văn bản thể chế hóa các quy định của Luật và Nghị định của Chính phủ để triển khai công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn
Trang 39Ngày 11/10/1994 Thành phố đã thành lập Sở Địa chính nhà đất để thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Thành phố
Công tác lập quy hoạch sử dụng đất triển khai chậm do chưa có sự đầu
tư thỏa đáng Năm 2001 HĐND Thành phố đã ban hành Nghị quyết số 20 ngày 5/7/2001 “Phê duyệt quy hoạch sử dụng đất Thành phố Hải Phòng giai đoạn 2000-2010” Theo quy hoạch này, đến năm 2010 diện tích đất chuyên dùng của Thành phố sẽ tăng 2062 ha, chủ yếu sử dụng vào các loại đất nông nghiệp: 1176 ha, đất lâm nghiệp: 528ha…Cũng như một số tỉnh, thành phố phía Bắc, Công tác Quản lý đất đai của Thành phố sau khi Luật đất đai 2003
có hiệu lực cơ bản dần ổn định Tuy nhiên việc khai thác sử dụng đất còn kém hiệu quả và việc triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất còn chậm, do công tác bồi thường giải phóng mặt bằng có nhiều vướng mắc, thị trường bất động sản khá trầm lắng Từ năm 2003 đến nay, công tác triển khai cấp GCN QSDĐ còn chậm cả về đất ở và đất cho các tổ chức sử dụng đất, đây là một nhược điểm lớn của quản lý nhà nước về đất đai ở Thành phố Hải Phòng
1.2.2 Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về đất đai
Từ việc nghiên cứu tình hình Quản lý đất đai ở một số quốc gia trên thế giới và một số tỉnh thành trong nước, bài học kinh nghiệm rút ra cho công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta nói chung và đối với tỉnh Thái Nguyên, trong đó có huyện Võ Nhai nói riêng là:
(1) Hệ thống các văn bản pháp luật phải được nghiên cứu sâu sắc, khoa học và được ban hành đồng bộ, kịp thời, mang tính chất ổn định (tuy chỉ là tương đối nhưng vẫn phải đảm bảo trong thời gian nhất định 5 đến 10 năm), đồng thời các quy định pháp luật dù có điều chỉnh nhưng vẫn phải đảm bảo tính kế thừa
Đây là một yêu cầu quan trọng nhất trong quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta, tính không đồng bộ, thiếu ổn định trong chính sách pháp luật về đất đai là nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng mất ổn định trong
Trang 40quan hệ sử dụng đất trong xã hội Thực tế cho thấy cả 2 đợt “sốt đất” xảy
ra ở nước ta vào hai giai đoạn khác nhau đều có nguyên nhân là sự tác động rõ nét của cơ chế, chính sách lên tâm lý người dân ( đợt sốt đất lần đầu vào năm 1992 là do có Hiến pháp mới sửa đổi bổ sung và đang chuẩn
bị xây dựng bộ luật đất đai mới năm 1993, trong đó có quy định mở rộng quyền của người sử dụng đất; đợt sốt đất lần thứ hai vào năm 2001 đến năm 2003 cũng tương tự như vậy)
(2) Phải xây dựng được hệ thống dữ liệu thông tin đất đai thống nhất, đồng bộ trên cơ sở công nghệ tin học điện tử hiện đại từ Trung ương đến địa phương Muốn đạt được điều đó cần phải đầu tư đồng bộ để có được hồ sơ địa chính cơ sở (hồ sơ gốc) có độ tin cậy cao ở tất cả các địa phương trong cả nước Thống nhất phương pháp phân loại, quản lý hồ sơ đất đai và công khai thông tin từ Trung ương đến địa phương Thực tế cho thấy hệ thống hồ sơ địa chính được lưu trữ ở nước ta rất kém, chắp vá, không đáp ứng được yêu cầu quản lý Việc triển khai lập hồ sơ địa chính ở các địa phương khác nhau đã không được tiến hành vào cùng một thời điểm như chỉ đạo của Trung ương,
số liệu tổng hợp của tất cả các cấp có độ chính xác thấp Các thông tin về đất (như thay đổi về loại đất, diện tích, chủ sử dụng đất và giá cả của đất trong cùng thời điểm…), không được cập nhật thường xuyên đầy đủ vì vậy Nhà nước không thể quản lý chặt chẽ đất đai
(3) Cần phải xác định việc đăng ký quyền về tài sản không chỉ là lợi ích của người dân mà đó chính là lợi ích của Nhà nước Để làm tốt việc này cần phải có những biện pháp mạnh để tạo ra những sự thay đổi về mặt nhận thức của cả bộ máy quản lý và đội ngũ công chức nhà nước Dân giàu thì nước mạnh, có tạo thuận lợi để các cá nhân và tổ chức được đăng ký quyền về tài sản (sở hữu bất động sản trong đó có sử dụng đất), thì người dân mới có đầy đủ cơ sở pháp lý để đẩy mạnh việc khai thác giá trị của tài sản cho phát triển kinh tế Nhà nước có nguồn thu ngân sách từ các chủ thể sử dụng đất