Đến khi thực tập tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam — chỉ nhánh TP.HCM, em nhận thấy hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu đã được ngân hàng xem là một trong những hoạt động chủ yếu tron
Trang 1LOI MO DAU
1/ Ly do chon dé tai
Lý luận cũng như thực tiễn phát triển kinh tế thế giới đã cho thấy hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những lĩnh vực trung tâm quan trọng nhất trong toàn bộ các hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia Hoạt động xuất nhập khâu đã góp phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách, đặc biệt là thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán giải quyết công ăn việc làm cho người dân, thúc đây nhanh quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là một hoạt động hết sức phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro Nó không chỉ chịu tác động của chính sách kinh tế trong nước mà còn chịu sự điều chỉnh của nhiều quy phạm, nguồn luật khác nhau và bị ảnh hưởng
mạnh theo sự biến động của thị trường quốc tế
Để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (XNK) cần phải nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các mặt hàng, muốn Vậy có sự đầu tư thích đáng cho quá
trình sản xuất, kinh doanh như đổi mới công nghệ, máy móc, trang thiết bị Nhưng
trên thực tế, khả năng của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trên lĩnh vực này
còn ít ỏi, các doanh nghiệp khó có thể tự đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng, gia
tăng thị phần xuất nhập khẩu Nắm bắt nhu cầu này các ngân hàng đã tham gia tích cực trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu
Việc mở cửa hội nhập với nền kinh tế Thế giới, đặc biệt là sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ mang lại nhiều điều kiện thuận lợi
cho hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta phát triển, hơn nữa còn tạo những cơ hội
cho hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng TMCP Công Thương chi nhánh TP.HCM nói riêng Đồng thời cũng đặt ra những thách thức, thậm chí là nguy cơ bị thâu tóm, sáp nhập và phải rút khỏi thị trường nếu không đủ sức cạnh tranh với hệ thống ngân hàng nước ngoài
Trong quá trình học tập tại trường, được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã tiếp thu được những kiến thức cơ bản về ngân hàng thương mại Đến khi thực tập tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam — chỉ nhánh TP.HCM,
em nhận thấy hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu đã được ngân hàng xem là một trong
những hoạt động chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của mình Chính vì thế em đã
Trang 2mạnh dạn chọn đề tài “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam — chỉ nhánh TP.HCM” Với nhận thức còn hạn chế, thực tế còn ít, vì vậy đề tài còn nhiều khiếm khuyết Vậy em kính mong được sự tham gia chỉ dẫn của thầy giáo hướng dẫn và
giáo viên các bộ môn, Ban lãnh đạo và tập thể CBCNV ngân hàng TMCP Công Thương - chỉ nhánh TP.HCM góp ý kiến cho dé tài của em có được những vấn đề xác thực nhất
2/ Ý nghĩa thực tiễn và lí luận
Tài trợ xuất nhập khâu là một hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng, hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khâu, doanh nghiệp nhập khẩu đây mạnh hoạt động ngoại thương trong thời gian tới đang là định hướng của các ngân hàng thương mại và các
ngân hàng trong nước
“Nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam — chỉ nhánh TP.HCM” là cần thiết cho sự phát triển kinh tế đất nước
3/ Kết quả đạt được và những tồn tại
Với những giải pháp tôi đưa ra như: mở rộng và thu hút nguồn vốn huy động,
đa dạng hóa các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu, mở rong đối tượng được tài trợ, hạn chế rủi ro, đây mạnh hoạt động Marketing Mix, cải tiến quy trình thủ tục, đổi mới công nghệ và nâng cao chất lương phục vụ, trình độ chuyên môn, nâng cao chất lượng thâm định dự án chỉ mới khắc phục được một số khó khăn và hạn chế về hoạt động Marketing, nguồn vốn tài trợ, nguồn nhân lực Mặt tồn tại là vẫn còn một số khó khăn chưa khắc phục như: khó khăn trong tiếp cận các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài mới, sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng trên địa bàn hoạt động và
các ngân hàng nước ngoài
4/ Dự kiến nghiên cứu tiếp tục
Với nội dung tôi nghiên cứu trên, tôi sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu đề cố gắng
khắc phục các khó khăn còn tổn tại vì thời gian nghiên cứu không nhiều và chưa đủ kiến thức để tìm ra những giải pháp hay để khắc phục những khó khăn đó Và tôi muốn nghiên cứu thêm về nội dung thâm định trong tài trợ xuất nhập khẩu vừa để nâng cao hoạt động tài trợ, vừa tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp XNK nói riêng và cho hoạt động XNK của cả nước nói chung
Trang 3CHUONG 1: TONG QUAN VE DE TAI
1.1/ Giới thiệu tống quát về đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được cấu trúc thành 4 chương Với chương đầu giới thiệu
một cách tổng quát về đề tài nghiên cứu Ba chương sau là nội dung chính của đề tài
Với chương II nội dung chính của nó là cơ sở lí luận của tài trợ xuất nhập khẩu sẽ
góp phần làm nền tảng để có thể đi sâu nghiên cứu hoạt động tài trợ XNK thực tế tại
ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM Qua những lí luận
được chọn làm cơ sở tôi đã vận dụng ở chương III để phân tích thực trạng hoạt động
tài trợ XNK tại chi nhánh, qua đó phát hiện những khó khăn ton tai trong Chi nhanh,
từ đó dé xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quá của hoạt động tài trợ XNK tại Chỉ nhánh Những giải pháp mà tôi đưa ra, dự kiến sẽ đạt hiệu quả trong 3 năm tới từ năm 2010- 2012
1.2/ Tổng quan lịch sử nghiên cứu
Đối với đề tài của tôi trong lĩnh vực tài trợ XNK, đã có những anh chị đi trước
đã làm như:
Các Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Tài Trợ Xuất Khẩu Tại Chỉ Nhánh Ngân Hàng Ngoại Thương Đồng Nai
Giải Pháp Và Kiến Nghị Nhằm Nâng Cao Hiệu Quá Tín Dụng Tại Eximbank
Một Số Giải Pháp Mở Rộng Và Nâng Cao Hiệu Quả Tín Dụng Đối Với Các
Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Tại NHCT KCN Biên Hòa
Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Tài Trợ XK Tại Chi Nhánh NHCT KCN
Biên Hòa
Mở Rộng Và nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chiết Khấu Bộ Chứng Từ Thanh Toán Hàng XK Tại NHCT- Sở Giao Dịch II
Ngoài ra còn một số đề tài nữa, tuy nhiên đối với ngân hàng TMCP Công
Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM - nơi tôi thực tập và viết bài nghiên cứu khoa học thì tôi là người đầu tiên viết về đề tài “Một số giái pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam — chỉ nhánh TP.HCM”
Trang 41.3/ Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá hiệu quả hoạt động tài trợ XNK tại ngân hàng Vietinbank, chi nhánh TP.HCM Từ đó phát hiện ra những mặt hạn chế và đề xuất những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tài trợ XNK của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM
1.4/ Những tư liệu được sử dụng
Các báo cáo về tình hình nhân sự, tình hình hoạt động kinh doanh, tình hình huy động vốn của chỉ nhánh trong thời gian qua, tình hình xuất khẩu theo phương thức .được lấy từ phòng Kế hoạch tông hợp, phòng Kinh doanh, phòng Xuất nhập khẩu của ngân hàng qua các năm 2007, 2008, 2009
Các tài tiệu lý thuyết tham khảo được trích dẫn trong các tài liệu đáng tin cậy:
- _ Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương- TS Nguyễn Văn Nam
- _ Nghiệp vụ ngân hàng thương mại - TS Nguyễn Minh Kiều
-_ Quản trị rủi ro tài chính ngân hàng —- TS Nguyễn Minh Kiều
Ngoài ra, đề tài nghiên cứu còn tham khảo các tạp chí sách báo, luận văn khóa trước, tài liệu trên thư viện ĐH Lạc Hồng, thư viện Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chỉ nhánh TP.HCM cùng một số trang web như: www.mofa.gov.vn, www.tuoitre.com.vn, www.saga.com., www.vietinbank.vn
1.5/ Phuong phap nghién ciru
+Phuong pháp thu thập thông tin
+Phương pháp quan sát
+Phương pháp phỏng vấn
+Phương pháp phân tích, so sánh
1.6/ Giới hạn phạm vi đề tài nghiên cứu
- Về không gian: đề tài được thực hiện tại ngân hàng TMCP Công Thương, chỉ
nhánh TP.HCM
- Về thời gian: số liệu hoạt động của Chi nhánh cùng số liệu có liên quan trong
năm 2007, 2008 và 2009
- Nội dung nghiên cứu: một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài
trợ XNK tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM
Trang 5CHUONG 2:MOT SO VAN DE CO BAN VE TAI TRO XUAT NHAP KHAU TAI NGAN HANG THUONG MAI
2.1/ Một số vẫn đề cơ bản về hoạt động xuất nhập khẩu
2.1.1/ Sự cần thiết của hoạt động xuất nhập khẩu
Sự phát triển chung của xã hội nền kinh tế loài người trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa Trong đó sản xuất hàng
hóa là bước phát triển của xã hội loài người khi nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều
hàng hóa của nhau tăng cao Ban đầu chỉ là trao đổi hàng hóa giữa những người trong vùng, rồi tới miễn, rồi lãnh thổ dần dần vượt qua biên giới quốc gia mà ngày nay gọi
là hoạt động thương mại quốc tế Không biết chính xác từ bao giờ đã xuất hiện hành
vi trao đổi hàng hóa giữa các thương nhân ở các quốc gia khác nhau nhưng trên bản
đồ thế giới thì từ thế ki thứ II Trước Công Nguyên đã vẽ nên huyết mạch thông thương buôn bán giữa những “thương nhân lạc đà” — đó là huyền thoại nổi tiếng về
con đường tơ lụa nối liền Trung Hoa rộng lớn với vùng Tây Á kì bí Con đường tơ
lụa được coi là một hệ thống những con đường thương mại lớn nhất thế giới thời cổ
đại, nó được coi là cầu nối giữa hai nền văn minh Đông — Tây
Ngày nay, các dòng chảy hàng hóa không chỉ gói gọn trong vùng, miền hay bộ
phận nhỏ trên bản đồ thế giới mà nó trải dài hầu như ở tất cả các quốc gia và ngày càng đa dạng bởi không chỉ hàng hóa hữu hình mới có thể lưu thông mà bao gồm cả
những hàng hóa vô hình cũng được trao đổi Hoạt động thương mại quốc tế hiện nay
được tăng cường như là xu hướng chung của sự phát triển và được xem như là ý nghĩa cơ bản của “toàn cầu hóa” Tuy đã trải qua hàng thế kỷ hình thành và phát
triển, nhưng hoạt động thương mại quốc tế cơ bản chỉ là hành vi mua bán — trao đổi
hàng hóa, dịch vụ qua biên giới quốc gia hay lãnh thổ mà việc đưa hàng hóa từ trong nước ra tiêu thụ ở nước khác gọi là xuất khâu và mua hàng hóa của nước ngoài vào trong nước gọi là nhập khẩu
2.1.1.1.Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế 2.1.1.1 Hoạt động xuất khẩu:
Trong lí luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước
ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF
là việc bán hàng hóa cho nước ngoài
Trang 6¢ Cac nhân tố tác động:
Khi các nhân tố liên quan đến chi phi sản xuất hàng xuất khâu ở trong nước
không thay đổi, trị giá xuất khâu phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và vào tỷ giá
hối đoái Thu nhập của nước ngoài tăng (cũng có nghĩa là tăng trưởng kinh tế của
nước ngoài tăng dốc) thì giá trị xuất khẩu có cơ hội tăng lên Tỷ giá hối đoái tăng (tức
là tiền tệ trong nước mất giá so với ngoại tệ) thì giá trị xuất khẩu cũng có thê tăng nhờ giá hàng tính bằng ngoại tệ trở nên thấp đi
© _ Xuất khẩu với tăng trưởng kinh tế:
Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài (ngoại nhu) Mức độ phụ thuộc vào một nền kinh tế vào xuất khâu được đo bằng tỷ lệ giữa
giá trị nhập khẩu và tông thu nhập quốc dân Đối với những nền kinh tế mà nhu cầu
nội địa yếu, thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Chính vì
thế nhiều nước đang phát triển theo đuôi chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất
khẩu Tuy nhiên xuất khâu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm báo tăng
trưởng kinh tế ôn định và bền vững, IMF thường khuyến khích các nước phải dựa nhiều hơn nữa vào nhu cầu nội địa.[ 13]
2.1.1.1.2, Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền
kinh tế Việt Nam:
Kinh tế Việt Nam trong những năm đầu sau chiến tranh là một nền kinh tế đóng theo chế độ tập trung bao cấp, trì trệ, kiểm hãm sự phát triển của các thành phần
kinh tế Có thể nói Đại hội Đảng lần thứ X năm 1986 là một bước ngoặc đưa kinh tế
nước ta sang trang mới, công nhận nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ
nghĩa, cho phép các thành phần kinh tế tự do hoạt động theo khuôn khổ pháp luật
Bên cạnh đó Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ , chấm dứt hoạt động
cắm vận đối với Việt Nam đã tạo điều kiện thông thương hàng hóa giữa Việt Nam
với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới
Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta nhận thấy rõ việc mở cửa hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội để nước ta phát triển chủ trương đẩy mạnh lực lượng, phát huy hết mọi khả năng để thu hút đầu tư nước ngoài và một phần không thể thiếu của kinh tế đối ngoại là lấy xuất khâu làm mũi nhọn đẩy nhanh hoạt động sản xuất
Trang 7kinh doanh Hoạt động xuất khẩu đã mang lại nhiều lợi ích cho sự phat triển kinh tế
xã hội Việt Nam như sau:
- Góp phần đây nhanh sản xuất của các doanh nghiệp trong nước, tăng sản lượng sản phẩm, tạo nhiều việc làm cho nhiều lao động trình độ thấp, giải quyết phần nào tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn đầu khó khăn của đất nước
- Tạo nguồn thu ngoại tệ dồi dào cho nền kinh tế, là cơ sở cho các hoạt động buôn bán ngoại tệ điễn ra sôi động cũng như các hoạt động về ngoại hối của các ngân
hàng thương mại
- Là động cơ để nâng cao vị thế cạnh tranh của nước ta trên trường quốc tế, mở
rộng quan hệ với nhiều quốc gia, tạo cơ hội cho hợp tác đầu tư song phương, đa
phương giữa Việt Nam và thế giới
- Tận dụng được lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với nguồn nhân lực trẻ, dồi
dào, năng động, tài nguyên phong phú và các ngành nghề truyền thống để quảng bá
về hình ảnh của Việt Nam với thế giới
- Là một kênh quan trọng tạo điều kiện giao lưu, hợp tác về kinh tế, xã hội,
văn hóa với các nền văn hóa tiên tiến Tiếp thu những tiến bộ dé phục vụ cho việc đây nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .[3 - trang 147]
2.1.1.2, Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế: 2.1.1.2.1, Hoạt động nhập khẩu:
Trong lí luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch
vụ từ quốc gia khác Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung
cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước Tuy nhiên theo cách thức biên
soạn cán cân thanh toán của IME, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán cân phi thương mại
¢ Don vi tinh khi thống kê về nhập khâu
Thường là đơn vị tiền tệ (Dollar, triệu Dollar hay tỷ Dollar) và thường tính
trong một khoảng thời gian nhất định Đôi khi nếu chỉ xét trong một mặt hàng cụ thể,
đơn vị tính có thể là đơn vị số lượng hoặc trọng lượng (cái, tấn )
Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối đoái Thu nhập của người dân trong nước càng cao thì nhu cầu của người dân đối với
Trang 8hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu ngày càng cao Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng cao, do đó nhu cầu nhập khẩu giảm di
e_ Mức độ nhập khẩu của một quốc gia được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhập khẩu
và tông thu nhập quốc dân
2.1.1.2.2, Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền
kinh tế Việt Nam:
e Nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu sẽ làm thâm hụt cán cân thanh toán của một
quốc gia, tuy chính sách của Đảng và Nhà nước ta luôn đẩy mạnh xuất khâu, hạn chế
nhập khẩu nhưng chúng ta không thể phủ nhận một số vai trò tích cực của hoạt động
nhập khâu đối với chúng ta
e Đứng trên cương vị là người tiêu dùng, nhập khẩu hàng hóa của nước khác
tạo cho họ nhiều sự lựa chọn hơn
se Nhập khẩu còn tạo ra động lực nhằm tăng tính năng động của thị trường vì khi đó cạnh tranh sẽ buộc những nhà sản xuất trong nước phải nhập cuộc để giành lại thị phan
e Nước ta đang trên đà phát triển, đây nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước nên nhất thiết không thể thiếu các sản phẩm khoa học, công nghệ
hiện đại được nhập khâu từ các nước tiên tiến Do đó, bên cạnh xuất khâu thì nhập khẩu cũng có một số ảnh hường tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế nước ta
e Chúng ta cần có quan điểm rõ ràng về hoạt động xuất nhập khâu để có những
chính sách phù hợp với những cam kết khi gia nhập WTO, vừa có lợi cho nền sản xuất trong nước, vừa tận dụng được cơ hội mở rộng thị trường, phục vụ tốt cho sự nghiệp phát triển đất nước [16]
2.1.2/ Nhu cầu tài trợ xuất nhập khẩu
Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, hoạt động thương mại quốc
tế hay ngoại thương không còn đơn giản như việc mua bán hàng hóa thông thường trong nội địa vì khi hàng hóa đi chuyển từ nước này sang nước khác phải trải qua
nhiều khâu Quá trình đó phức tạp hơn bởi các đặc thù sau:
- Hàng hóa phải di chuyển qua biên giới quốc gia
- Áp dụng các phương thức thanh toán quốc tế như: chuyền tiền, ghi số, nhờ
thu hay tín dụng chứng từ Phổ biến hiện nay là nhờ thu và tín dụng chứng từ.
Trang 9- Liên quan đén các đồng tiền khác nhau, dẫn đến việc mua bán, chuyển đổi
ngoại tỆ
- Quy tắc giao dịch tuân thủ luật lệ quốc tế, tuy nhiên không loại trừ những đặc điểm luật lệ riêng mang tính quốc gia
- Thủ tục buôn bán mang tính quốc tế là chủ yếu
Ngày nay, trình độ phát triển nền kinh tế kéo theo sự cải thiện và nâng cao
trong hoạt động ngoại thương, các nhà xuất nhập khẩu không trực tiếp giao dịch và
thanh toán với nhau mà thông qua một định chế tài chính trung gian đó là ngân hàng
để hợp thức hóa theo chuẩn mực quốc tế nhằm giảm thiểu thời gian, chỉ phí và rủi ro
Do hoạt động ngân hàng đối ngoại gắn chặt hoạt động ngoại thương, hơn nữa, một thương vụ trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, do đó sự tham gia của ngân hàng trong hoạt động ngoại thương gần như là tất yếu, đóng vai trò chủ chốt trong từng nghiệp
vụ phát sinh, cụ thể như sau:
- Trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, ngân hàng sẽ tham gia với vai trò là ngân hàng mở và nhận kí quỹ hay thông báo và xác nhận L/C
- Trên cơ sở đặt hàng hay một thư tín dụng, ngân hàng sẽ tham gia tài trợ cho nhà xuất khâu
- Do các bên xuất khẩu - nhập khâu ở xa nhau lại bị chỉ phối bởi các luật pháp khác nhau nên để bảo đảm thực hiện hợp đồng, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải phát hành thư bảo lãnh thưc hiện hợp đồng cho nhà xuất khẩu và nhập khẩu
- Sau khi giao hàng, để đáp ứng vốn ngắn hạn cho nhà xuất khẩu duy trì hoạt
động bình thường, ngân hàng tham gia tài trợ cho nhà xuất khâu thông qua nghiệp vụ chiết khâu bộ chứng từ hàng xuất
- Nếu là xuất khâu trả chậm thì ngân hàng sẽ tài trợ cho nhà xuất khâu thông qua nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu đã được chấp nhận còn thời hạn
- Nếu đồng tiền thanh toán không phải là bản tệ thì ngân hàng sẽ cung cấp các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ dé:
+ Nha nhap khẩu mua ngoại tệ thanh toán cho hàng xuất khẩu
+ Nhà xuất khẩu bán ngoại tệ nhận bản tệ dé trang trai các chi phí đầu
vào
- Thông qua ngân hàng việc thanh toán giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu được thực hiện
Trang 1010
Bên cạnh đó với hệ thống các ngân hàng đại lí rộng khắp được củng cố quan
hệ chặt chẽ và cơ sở vật chất trang bị đầy đủ, hệ thống kĩ thuật và công nghệ hiện đại;
các ngân hàng cấp nhiều hơn cho các khách hàng của họ các dịch vụ tiện ích phục vụ
hoạt động xuất nhập khẩu Do đó, vai trò quan trọng của ngân hàng trong hoạt động thông thương của các quốc gia ngày càng được khẳng định nhất là đối với lĩnh vực xuất nhập khâu — một trong những ngành mũi nhọn để phát triển kinh tế các nước đang phát triển
2.1.3/ Các nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu
- Nguồn tín dụng tài trợ thương mại từ Ngân hàng Phát trién Chau A (ADB), đặc biệt vào năm 2009 Việt Nam được lựa chọn vào Chương trình hỗ trợ tài chính thương mại của ADB
- Các khoản vay có bảo lãnh từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong và
ngoài nước giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực hiện hợp đồng thương mại
được dễ dàng và nhanh chóng
- Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu của Chính phủ giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh để xuất khâu
- Các dự án phát triển kinh tế do các đối tác nước ngoài tài trợ
2.2/ Khái quát về ngân hàng thương mại
2.2.1/ Ngân hàng thương mại:
Luật Các Tổ Chức tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua ngày 12 tháng 12
năm 1997, định nghĩa:
Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Luật này còn định nghĩa:
Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt đông kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch cụ thanh toản.|4 — trang 15]
Luật Tổ chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động ngân hàng vì khái niệm này đã được định nghĩa trong Luật Ngân Hàng Nhà Nước cũng do Quốc hội khóa X
thông qua cùng ngày Luật Ngân Hàng Nhà Nước định nghĩa: Hoạt động ngân hàng
là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
Trang 11chức năng tạo tiền là chức năng cơ bản của NHTM
- Chức năng trung gian tài chính: NHTM đóng vai trò trung gian giữa các khách hàng với nhau hoặc trung gian giữa ngân hàng Trung Ương và công chúng khi
thực hiện các nghiệp vụ bao gồm nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ bao thanh toán,
nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và nhiều hoạt động môi giới khác
- Chức năng tạo tiền: tức là chức năng sáng tạo ra bút tệ, góp phần gia tăng
khối tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế
- Chức năng sản xuất: bao gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo
ra “sản phẩm” và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế Các sản phẩm và dịch
+ Các sản phẩm thẻ như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ ATM
+ Các dịch vụ ngân hàng như dịch vụ chuyên tiền, thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán quốc tế
+ Các sản phẩm kinh doanh ngoại tệ như các hợp đồng giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, giao sau, quyén chọn [ 4 -trang 20; 21]
2.2.2/ Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại:
[4- trang 29 — 36]
NHTM là tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động tiền gửi của công chúng,
sử dụng tiền gửi huy động được cấp tín dụng và thực hiện các dịch vụ tài chính khác
Các hoạt đông cơ bản của NHTM bao gồm:
- Hoạt động huy động vốn: dưới các hình thức:
Trang 1212
+ Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tô chức, cá nhân trong và ngoài nước
+Vay vốn của các tô chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của
các tô chức tín dụng nước ngoài
+ Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng Nhà Nước
+ Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân Hàng Nhà Nước
- Hoạt động cấp tín dụng
+ Cho vay
+ Bảo lãnh
+ Chiết khấu
+ Cho thuê tài chính
+ Bao thanh toán
+ Tài trợ nhập khẩu
+ Tài trợ xuất khẩu
+ Cho vay thấu chỉ
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng
- Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: bao gồm các hoạt động:
+ Cung cấp các phương tiện thanh toán
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
+ Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân Hàng
Nhà Nước
+ Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân Hàng Nhà Nước
cho phép
+ Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
+ Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán
liên ngân hàng trong nước
+ Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân Hàng Nhà Nước cho phép
Trang 1313
- Các hoạt động khác bao gồm:
+ Góp vốn và mua cô phần
+ Tham gia thị trường tiền tệ
+ Kinh đoanh ngoại hồi
+ Ủy thác và nhận ủy thác
+ Cung ứng dịch vụ bảo hiểm
+ Tư vấn tài chính
+ Bảo quản vật quý giá
2.3./ Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại 2.3.1/ Hoạt động tài trợ xuất khẩu
2.3.1.1/ Khái niệm tài trợ xuất khẩu:
Tài trợ xuất khâu của ngân hàng thương mại là một hình thức tài trợ thương mai, kỳ hạn gắn với thời gian thực hiện thương vụ xuất khâu, đối tượng nhận tải trợ là các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp hoặc ủy thác, giá trị tài trợ thường ở mức vừa và
lớn [4 — trang 516]
Tài trợ xuất khẩu của NHTM là một bộ phận trong tài trợ ngoại thương Tài
trợ ngoại thương bao gồm các hoạt động mang tính chất tài trợ của ngân hàng nhằm
đáp ứng nhu cầu đặc thù về tài chính và uy tín trong kinh đoanh của các doanh nghiệp
xuất khâu trong quá trình giao dịch ngoại thương
Quá trình giao dịch ngoại thương là toàn bộ diễn biến của thương vụ xuất khẩu (đối với bên bán) và nhập khẩu (đối với bên mua) bao hàm cả các giao dịch kinh doanh trước và sau thương vụ xuất khâu, có tính chất gắn liền với thương vụ xuất khẩu đó Đối với người xuất khẩu, đó là quá trình thu mua hàng xuất khẩu, mua vật tư nguyên liệu để xuất khẩu, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ xuất khẩu hoặc gia hạn bảo hành, bảo trì đối với dự án xuất khẩu máy móc hoặc xây dựng cơ xưởng ở nước ngoài [2- trang 423]
2.3.1.2/ Đối tượng được tài trợ xuất khẩu: [2 - trang 425]
Là những nhu cầu vốn tạm thời thiếu hụt của khách hàng trong quá trình kinh doanh xuất khâu (quá trình thu gom hàng cũng như chế biến hàng hóa chuẩn bị xuất khẩu), nhất là đối với những khách hàng là các tổ chức xuất khẩu lớn, có uy tín, có
Trang 1414
những hợp đồng xuất khẩu liên tục, thường có nhu cầu vốn ngay dé tiếp tục sản xuất kinh doanh bình thường
Và khách hàng để nhận được tài trợ phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Doanh nghiệp phải được phép kinh doanh xuất khẩu
- Nếu doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh xuất khẩu thì phải có hợp
đồng ủy thác xuất khẩu
- Dự án phải có hiệu quả kinh tế, xác định được nguồn trả nợ, kết quả sản xuất
kinh doanh của khách hàng không bị lỗ, không có nợ quá hạn ngân hàng
2.3.1.3/ Vai trò tài trợ xuất khẩu của ngân hàng thương mại:
Với hoạt động xuất khẩu ngày càng đa đạng, phức tạp và có sự cạnh tranh gay gắt, vai trò hỗ trợ của các ngân hàng thương mại là cực kì quan trọng Các ngân hàng không những hỗ trợ về mặt tài chính (cấp tín dung ) dé hoàn tất nghĩa vụ thanh toán
và sản xuất trong quan hệ kinh tế đối ngoại mà còn hỗ trợ về mặt kĩ thuật, đảm bảo
các quá trình thanh toán cho những hoạt động chu chuyên với nước ngoài, đồng thời đảm nhận những rủi ro gắn liền với những hoạt động đó [2 - trang 147]
Với những hợp đồng xuất khẩu có giá trị lớn và vừa, vốn lưu động của khách hàng (các doanh nghiệp) thường là không đủ để thực hiện hợp đồng, họ sẽ nhờ đến nguồn vốn của ngân hàng thông qua việc tài trợ Ngân hàng khi đó sẽ vừa đóng vai trò ngân hàng phục vụ cho nhà xuất khẩu, vừa là ngân hàng tài trợ cho việc thực hiện hợp đồng Đồng thời với quá trình tài trợ, để bảo đảm nguồn vốn tài trợ được sử dụng đúng mục đích, quản lí được nguồn thu, ngân hàng sẽ tham gia thanh toán quốc tế với vai trò là ngân hàng thương lượng (negotiating bank), ngân hàng nhờ thu (collecting bank) [4 — trang 517]
Là một thành viên hoạt động trong lĩnh vực quốc tế, hoạt động ngân hàng trong tài trợ xuất khâu đã có đóng góp đáng kể đối với nền kinh tế đất nước trên nhiều phương diện Trong đó bằng việc cung cấp các dịch vụ ở nước ngoài (gọi là xuất khẩu vô hình ) đã đóng góp ngày càng lớn vào thu nhập quốc gia và điều quan
trọng hơn là hoạt động tài trợ này đã thúc đây việc xuất khẩu hàng hóa, mang lại một
nguồn thu nhập lớn cho quốc gia, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế [4 - trang
517]
Trang 1515
2.3.1.4/ Các hình thức tài trợ xuất khẩu
2.3.1.4.1/Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C
đã mở
Khi nhận được LC do ngân hàng mở LC phát hành theo yêu cầu của nhà nhập
khẩu thì nhà nhập khẩu được bảo đảm thanh toán sau khi giao hàng nếu xuất trình bộ
chứng từ phù hợp điều kiện ghi trong LC Mỗi lô hàng giao ra nước ngoài đều đòi hỏi một loại tài trợ nào đó trong quá trình sản xuất và vận chuyển Nhà xuất khâu có thể dựa vào LC đã mở để yêu cầu ngân hàng phục vụ mình cấp một khoản tín dụng nhằm
thực hiện xuất khẩu hàng theo các điều khoản đã quy định trong LC Trên cơ sở LC
đã được chấp nhận ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu dé tiếp tục sản
xuất [ 4— trang 518]
Đối tượng được tài trợ là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ xuất khẩu có nhu cầu bổ sung vốn lưu động để thu mua, sản xuất, gia công, cung ứng hàng hóa dịch vụ xuất khâu
Trị giá khoản tài trợ thường từ 60-70% giá trị hợp đồng xuất khẩu Doanh nghiệp có uy tín có thể thế chấp, đảm bảo khoản tài trợ bằng hợp đồng xuất khẩu hoặc LC
2.3.1.4.2/ Chiết khấu hối phiếu
Chiết khấu hối phiếu là một hình thức tín dụng của ngân hàng cấp cho khách hàng dưới hình thức mua lại hối phiếu trước khi đến hạn thanh toán bằng việc khách
hàng chuyển quyền sở hữu hối phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số
tiền bằng mệnh giá hối phiếu trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu mà ngân hàng chiết khâu hưởng [ 4 - trang 518]
Chiết khấu hồi phiếu tạo điều kiện thuận lợi cho nhà xuất khẩu nhận được tiền sớm hơn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn đối với khoản tín dụng (bán chịu hàng hóa) cung ứng hàng đã cấp cho nhà nhập khẩu
Nét đặc trưng của nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu là ngân hàng sẽ khấu trừ tiền lãi ngay khi chiết khấu và chỉ chuyển cho khách hàng số tiền còn lại
Công thức xác định chiết khấu:
Lek Tck=M(1- — —- *t)—P
360